1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo pháp luật việt nam

191 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thanh Tùng
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Quế Anh, TS. Vương Thanh Thúy
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Thể loại Luận án tiến sĩ luật học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 191
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài (10)
  • 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (13)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (14)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (15)
  • 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án (15)
  • 6. Những đóng góp mới của luận án (16)
  • 7. Kết cấu của luận án (18)
    • 1.1. Các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố liên quan đến đề tài luận án (19)
      • 1.1.1. Luận án, luận văn (19)
      • 1.1.2. Bài viết trên các tạp chí khoa học (27)
      • 1.1.3. Sách chuyên khảo, sách tham khảo (33)
      • 1.1.4. Tài liệu nước ngoài (34)
    • 1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án (37)
      • 1.2.1. Về mặt lý luận (38)
      • 1.2.2. Về mặt pháp luật (44)
    • 1.3. Câu hỏi nghiên cứu của nghiên cứu sinh đối với luận án (49)
    • 1.4. Lý thuyết nghiên cứu (50)
  • CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG NHÃN HIỆU (53)
    • 1.1 Những vấn đề lý luận về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (53)
      • 1.1.1 Khái niệm về nhãn hiệu (53)
      • 1.1.2 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu (61)
      • 1.1.3 Khái niệm, đặc điểm quyền sử dụng nhãn hiệu (67)
      • 1.1.4 Khái niệm, đặc điểm chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (70)
      • 1.1.5 Hình thức chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (74)
      • 1.1.6 Khái niệm, đặc điểm hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (76)
        • 1.1.6.1 Khái niệm hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (76)
        • 1.1.6.2 Đặc điểm của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (77)
      • 1.1.7. Phân loại hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (79)
      • 1.1.8 Vai trò của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (81)
      • 1.1.9 Phân biệt hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu với một số loại hợp đồng khác (83)
        • 1.1.9.1 Phân biệt hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu với hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu (83)
        • 1.1.9.2 Phân biệt hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu với hợp đồng chuyển nhượng tên thương mại (84)
        • 1.1.9.3 Phân biệt hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu với hợp đồng nhượng quyền thương mại (86)
    • 1.2 Khái quát pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu của Liên (88)
      • 1.2.1 Pháp luật của Liên minh châu Âu (88)
      • 1.2.2 Pháp luật của Đức (90)
      • 1.2.3 Pháp luật của Hoa Kỳ (92)
      • 1.2.4 Pháp luật của Trung Quốc (93)
    • 1.3 Sự hình thành và phát triển của pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (94)
      • 1.3.1 Sự hình thành và phát triển của chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (94)
        • 1.3.1.1 Công ước Paris (95)
        • 1.3.1.2 Hiệp định TRIPS (96)
        • 1.3.1.3 Các hiệp định song phương, đa phương (97)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG NHÃN HIỆU (106)
    • 2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu . 97 (106)
      • 2.1.1 Những quy định chung của pháp luật Việt Nam về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (106)
        • 2.1.1.1 Phạm vi chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (106)
        • 2.1.1.2 Những giới hạn trong chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (107)
        • 2.1.1.3 Hình thức chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (109)
      • 2.1.2 Thực trạng pháp luật Việt Nam về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (110)
        • 2.1.2.1 Đối tượng của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (110)
        • 2.1.2.2 Chủ thể trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (114)
        • 2.1.2.3 Hình thức của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (120)
        • 2.1.2.4 Nội dung của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (123)
        • 2.1.2.5 Đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (132)
        • 2.1.2.6 Hiệu lực của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (137)
        • 2.1.2.7 Giới hạn trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (138)
        • 2.1.2.8 Về xử lí hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu liên (140)
    • 2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam (144)
      • 2.2.1 Một số kết quả đạt được trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam (144)
        • 2.2.2.1 Vấn đề xác định giá trị của nhãn hiệu trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (147)
        • 2.2.2.2 Về việc dùng quyền sử dụng nhãn hiệu để góp vốn vào công ty khác (150)
        • 2.2.2.3 Về việc kiểm soát chất lượng của sản phẩm đối với bên nhận chuyển (152)
        • 2.2.2.4 Về việc thực hiện hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (155)
        • 2.2.2.5 Về vấn đề giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (156)
        • 2.2.2.6 Về vấn đề xác định quyền sở hữu đối với “giá trị vô hình” tăng lên của nhãn hiệu sau khi các bên chấm dứt hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (157)
        • 2.2.2.7 Về việc áp dụng quy định không được có các điều khoản hạn chế bất hợp lý quyền của bên được chuyển quyền (158)
      • 2.2.3 Nguyên nhân phát sinh một số hạn chế, bất cập trong thực tiễn thực hiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển (160)
  • CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN, NÂNG (165)
    • 3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam (165)
      • 3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu phải phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ (165)
      • 3.1.3 Hoàn thiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu phải được đặt trong mối tương (168)
      • 3.1.4 Hoàn thiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu phải có những quy định mang tính dự liệu, bắt kịp và đón đầu xu thế phát triển để áp dụng lâu dài (169)
    • 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (169)
    • 3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Việt Nam về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (176)

Nội dung

Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, bất cập trong hoạt động chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu là do các vấn đề lý luận về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu chưa được xây dựng, phân tí

Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài

Ngày nay, các nhà kinh doanh nhận thức rằng tài sản của doanh nghiệp không chỉ bao gồm tài sản hữu hình mà còn cả tài sản vô hình như quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ và bí quyết kỹ thuật Trong số các tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là quyền sở hữu công nghiệp và nhãn hiệu, đang thu hút sự quan tâm đặc biệt từ các doanh nghiệp và nhà làm luật trong bối cảnh phát triển của nền kinh tế tri thức hiện nay.

Các doanh nghiệp ngày càng sáng tạo và đổi mới công nghệ sản xuất, tạo ra sản phẩm chất lượng cao và mẫu mã đẹp, tiện ích cho người tiêu dùng Để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của mình, họ đã gắn nhãn hiệu đặc trưng cho từng sản phẩm Khi sản phẩm được nhiều người biết đến, doanh thu và thị phần của doanh nghiệp tăng lên, đồng thời uy tín cũng được khẳng định Nhãn hiệu không chỉ đơn thuần là công cụ phân biệt mà còn trở thành tài sản có giá trị, được định giá bằng tiền mặt trong tâm trí người tiêu dùng và đối thủ cạnh tranh Trên thế giới, nhiều nhãn hiệu nổi tiếng như Amazon, Google, và Apple mang lại giá trị tài sản khổng lồ cho doanh nghiệp Tại Việt Nam, các nhãn hiệu như Viettel và Vinamilk cũng được công nhận với giá trị đáng kể.

1 Hà Thu, Amazon là thương hiệu giá trị nhất thế giới, truy cập ngày 10/5/2021 https://vnexpress.net/amazon- la-thuong-hieu-gia-tri-nhat-the-gioi-4123362.html

Viettel đã đạt giá trị thương hiệu trên 6 tỷ USD, tăng 32 bậc trong bảng xếp hạng thương hiệu toàn cầu Thông tin này được công bố vào ngày 10/5/2021, khẳng định vị thế vững mạnh của Viettel trong ngành viễn thông.

3 Xuân Hương, Vinamilk vào 4 bảng xếp hạng toàn cầu về giá trị và sức mạnh thương hiệu, truy cập ngày 10/5/2021

Trong nhiều thương vụ, giá trị nhãn hiệu thường cao hơn các tài sản cố định khác của doanh nghiệp Công ty Bia Huế (Huda), thành lập năm 1990, đã liên doanh với tập đoàn Carlsberg vào năm 1994 để vượt qua khó khăn Đến cuối năm 2011, Carlsberg mua lại phần vốn của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế với giá 1.800 tỷ đồng, trong đó giá trị thương hiệu chiếm khoảng 1.100 tỷ đồng Điều này cho thấy giá trị lớn mà nhãn hiệu mang lại, đồng thời yêu cầu bảo vệ và mở rộng thị trường để tăng doanh thu Tuy nhiên, không phải lúc nào chủ sở hữu cũng có đủ nguồn lực để thực hiện điều này, dẫn đến việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu qua hợp đồng li-xăng Việc này giúp mở rộng thị trường, tăng doanh thu và bảo vệ nhãn hiệu hiệu quả hơn.

4 Những thương hiệu Việt bán mình sau nổi danh, truy cập ngày 10/5/2021 https://vietnamnet.vn/vn/kinh- doanh/nhung-thuong-hieu-viet-ban-minh-sau-noi-danh-163693.html

Việc xâm phạm nhãn hiệu có ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp, trong khi bên nhận chuyển giao sẽ được hưởng lợi từ việc gắn nhãn hiệu của bên chuyển giao Tuy nhiên, nhiều chủ sở hữu nhãn hiệu, đặc biệt là doanh nghiệp tại Việt Nam, vẫn chưa nhận thức đầy đủ về giá trị và lợi ích của việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu Mặc dù các doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư lớn cho thiết bị và công nghệ mới, nhưng họ lại rất khiêm tốn trong việc đầu tư cho việc xây dựng, bảo vệ và quảng bá nhãn hiệu.

Nguyên nhân chính dẫn đến những hạn chế trong hoạt động chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu là do thiếu sót trong lý luận về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, bao gồm khái niệm và đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp, quyền sử dụng nhãn hiệu, và hợp đồng chuyển nhượng Bên cạnh đó, nhiều quy định pháp luật hiện hành về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu còn tồn tại bất cập, như phạm vi, hình thức, và nội dung của hợp đồng chuyển nhượng Thực tiễn thực hiện pháp luật cũng gặp phải vấn đề, đặc biệt là trong trường hợp bên chuyển nhượng là doanh nghiệp bị phá sản, cũng như việc xác định giá trị nhãn hiệu và kiểm soát chất lượng sản phẩm để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

4 nhãn hiệu để góp vốn vào công ty khác; về vấn đề xác định quyền sở hữu đối với

Giá trị vô hình của nhãn hiệu sẽ tăng lên sau khi các bên chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu Đồng thời, cần áp dụng quy định nghiêm ngặt để đảm bảo không có các điều khoản hạn chế bất hợp lý quyền lợi của bên nhận chuyển nhượng.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, việc Việt Nam ký kết các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới yêu cầu sửa đổi pháp luật về sở hữu trí tuệ, đặc biệt là về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, để đảm bảo tính tương thích với các Hiệp định đã ký Điều này thể hiện sự nghiêm túc trong việc thực thi các cam kết quốc tế Mặc dù có nhiều nghiên cứu về quyền sở hữu trí tuệ, nhưng chưa có công trình nào chuyên sâu về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu ở tầm luận án tiến sĩ Do đó, cần phân tích và đánh giá các vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện để đề xuất giải pháp hữu ích, tạo điều kiện cho hoạt động chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu phát triển an toàn, mang lại lợi ích cho các chủ thể kinh doanh và xã hội.

Trên cơ sở những phân tích nêu trên, tác giả lựa chọn thực hiện đề tài

“Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam” để làm đề tài luận án tiến sĩ.

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận án, tác giả sử dụng đến các phương pháp chủ yếu như:

Phương pháp tổng hợp là kỹ thuật quan trọng trong nghiên cứu, giúp thu thập và tổ chức tất cả tài liệu liên quan đến đối tượng nghiên cứu Phương pháp này đặc biệt hữu ích trong việc hỗ trợ quá trình thực hiện luận án, nhất là trong chương 1 và chương 2.

Phương pháp phân tích được áp dụng liên tục trong tất cả các chương của luận án, nhằm làm rõ các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn trong quá trình nghiên cứu.

Phương pháp thống kê và so sánh luật học, cùng với đánh giá và phương pháp pháp lý điển hình, được áp dụng chủ yếu trong chương 2 và chương 3 của luận án Phương pháp này giúp tạo ra cái nhìn đa chiều, toàn diện và sâu sắc về vấn đề nghiên cứu, từ đó rút ra những kết luận và giải pháp chính xác, khoa học Điều này thể hiện rõ tư duy, tính mới, tính sáng tạo và cách lập luận của tác giả.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Luận án này là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên tại Việt Nam về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo pháp luật, do đó, kết quả nghiên cứu sẽ góp phần quan trọng vào việc bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp lý liên quan đến nhãn hiệu.

Bài viết này trình bày 7 vấn đề lý luận khoa học pháp lý liên quan đến chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu và hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, nhằm làm phong phú thêm kiến thức về sở hữu trí tuệ Luận án phân tích và làm rõ các khái niệm, đặc điểm của nhãn hiệu, quyền sở hữu công nghiệp, quyền sử dụng nhãn hiệu và quy trình chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu Đồng thời, bài viết cũng xây dựng và phân loại hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam và so sánh với pháp luật quốc tế Qua đó, chỉ ra những hạn chế trong thực tiễn và đề xuất giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi liên quan đến chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam.

Luận án có giá trị thực tiễn cao, có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong lĩnh vực khoa học luật tại các cơ sở đào tạo Ngoài ra, luận án cũng hỗ trợ thương nhân trong hoạt động kinh doanh và các cơ quan thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn hiện nay.

Những đóng góp mới của luận án

Dựa trên nghiên cứu lý luận và thực tiễn về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, luận án đã đưa ra những đóng góp mới đáng chú ý.

Hệ thống hóa và phát triển cơ sở lý luận về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam bao gồm các khái niệm cơ bản như quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, quyền sử dụng nhãn hiệu, và chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu Bên cạnh đó, cần làm rõ đặc điểm và vai trò của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, cũng như phân loại các loại hợp đồng này Việc phân biệt các hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu là rất quan trọng để hiểu rõ hơn về quy trình và các yếu tố liên quan.

Hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu và hợp đồng giao quyền sử dụng nhãn hiệu có những điểm khác biệt quan trọng Cần phân biệt rõ giữa hợp đồng chuyển nhượng tên thương mại và hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, cũng như giữa hợp đồng nhượng quyền thương mại và hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu Bài viết cũng sẽ khái quát về pháp luật chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Liên minh châu Âu và một số quốc gia khác, đồng thời điểm qua quá trình hình thành và phát triển của pháp luật này tại Việt Nam.

Bài viết phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, so sánh với quy định của một số quốc gia khác Nội dung bao gồm phạm vi, giới hạn, hình thức và đối tượng của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu Bên cạnh đó, bài viết cũng đề cập đến các chủ thể, nội dung, đăng ký, hiệu lực và giới hạn trong hợp đồng này Thực tiễn thực hiện pháp luật tại Việt Nam được phân tích qua việc xác định giá trị nhãn hiệu trong hợp đồng, thực hiện hợp đồng khi bên chuyển giao gặp khó khăn tài chính, kiểm soát chất lượng sản phẩm, giải quyết tranh chấp và xác định quyền sở hữu đối với giá trị vô hình của nhãn hiệu sau khi hợp đồng chấm dứt Cuối cùng, bài viết nhấn mạnh việc áp dụng quy định về các điều khoản không được hạn chế quyền của bên nhận chuyển quyền.

Đề xuất các giải pháp cụ thể và khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật về việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng.

Việc sử dụng nhãn hiệu và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam là rất quan trọng Điều này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu cần được xây dựng rõ ràng và tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả trong việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ.

Kết cấu của luận án

Các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố liên quan đến đề tài luận án

Luận án tiến sỹ Luật học của Nguyễn Thanh Tâm (2005) tại Đại học Luật Hà Nội nghiên cứu về "Quyền sở hữu công nghiệp dưới góc độ thương mại – những vấn đề lý luận và thực tiễn" Nghiên cứu này tập trung vào các khía cạnh lý thuyết và thực tiễn liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp trong bối cảnh thương mại, góp phần làm rõ những vấn đề pháp lý quan trọng trong lĩnh vực này.

Trong luận án, tác giả đã phân tích quyền sở hữu công nghiệp từ góc độ thương mại, nhấn mạnh sự phát triển và khái niệm của quyền này Tác giả nghiên cứu tính thương mại của quyền sở hữu công nghiệp, bao gồm các nội dung cơ bản theo pháp luật Việt Nam hiện hành Các vấn đề được đề cập bao gồm quyền sử dụng và chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh, và quyền thực thi quyền sở hữu công nghiệp để bảo vệ lợi ích thương mại Cuối cùng, tác giả đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về sở hữu công nghiệp trong bối cảnh thương mại tại Việt Nam.

Trong Luận án này, có một số luận điểm có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của luận án Cụ thể:

Tác giả trên trang 43 nhấn mạnh rằng, ngoài việc sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp trong kinh doanh, các chủ thể quyền sở hữu công nghiệp cũng thực hiện việc chuyển giao quyền sử dụng đối tượng này thông qua hợp đồng.

11 đồng li – xăng (licence) hoặc chuyển giao quyền sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp

Mặc dù một số văn bản pháp luật tại Việt Nam cho phép các bên tham gia doanh nghiệp góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu công nghiệp, nhưng hiện vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện hình thức góp vốn này.

Tác giả chỉ ra rằng, trong văn bản pháp luật Việt Nam, không có sự phân biệt rõ ràng giữa hai loại hoạt động chuyển giao quyền sở hữu và chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp.

Luận án tiến sỹ của Vương Thanh Thúy (2011) tại Đại học Luật Hà Nội nghiên cứu về "Dấu hiệu mang chức năng trong pháp luật về nhãn hiệu", phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Hoa Kỳ, Châu Âu và Việt Nam.

Luận án trình bày khái quát về lịch sử phát triển của nhãn hiệu và các văn bản quy định liên quan, bao gồm các Điều ước quốc tế và pháp luật về nhãn hiệu tại Hoa Kỳ, Châu Âu và Việt Nam Tác giả phân tích vai trò, điều kiện bảo hộ và các loại dấu hiệu có thể được bảo hộ nhãn hiệu, đồng thời giới thiệu về dấu hiệu mang chức năng trong pháp luật Tại Hoa Kỳ, dấu hiệu mang chức năng được chia thành hai loại: dấu hiệu hữu ích và dấu hiệu thẩm mỹ, mỗi loại có đặc trưng và cách áp dụng riêng Tác giả đã trình bày chi tiết các tiêu chí xác định và phân loại dấu hiệu qua phán quyết của Tòa án và quy định pháp luật Ngoài ra, luận án cũng đề cập đến các quan điểm trái chiều và ý kiến phản bác từ các chuyên gia sở hữu trí tuệ về quy định này, cùng với những vấn đề liên quan đến dấu hiệu mang chức năng trong pháp luật về nhãn hiệu tại Châu Âu.

Luận án khảo sát 12 ích của việc phân định và cân bằng quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh Dấu hiệu mang chức năng được chia thành hai loại: hữu ích và thẩm mỹ, nhưng không được quy định rõ ràng tại Châu Âu như ở Mỹ Nội dung chính bao gồm đặc trưng, cơ sở hình thành và phát triển của dấu hiệu này, cùng với các chính sách áp dụng Tác giả nêu ra những tồn tại chưa được giải quyết tại các tòa án Châu Âu và đề cập đến quy định về dấu hiệu mang chức năng tại Việt Nam, nơi chưa có quy định cụ thể So sánh giữa pháp luật Hoa Kỳ và Châu Âu, tác giả phân tích và đưa ra kiến nghị cho Việt Nam Tóm lại, luận án đề xuất quy định dấu hiệu mang chức năng trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam dựa trên kinh nghiệm từ Hoa Kỳ và Châu Âu, phù hợp với đặc thù kinh tế, xã hội của Việt Nam.

Luận án này bao gồm những nội dung quan trọng liên quan đến nghiên cứu nhãn hiệu, bắt đầu với khái quát lịch sử phát triển nhãn hiệu từ trang 21 đến trang 22 Tiếp theo, luận án hệ thống hóa các văn bản pháp luật về nhãn hiệu, bao gồm các điều ước quốc tế, luật nhãn hiệu của Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và Việt Nam, từ trang 22 đến trang 37 Cuối cùng, luận án phân tích rõ các vai trò của nhãn hiệu từ trang 37 đến trang 41.

Luận án tiến sỹ của Phan Ngọc Tâm (2011) tại Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu về "Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng", so sánh pháp luật giữa Liên minh Châu Âu và Việt Nam.

Luận án cung cấp cái nhìn tổng quát về nhãn hiệu như nền tảng lý luận cho cơ chế pháp lý bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng, bao gồm khái niệm, chức năng và đặc điểm của nhãn hiệu Tác giả phân tích khung pháp lý bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng từ góc độ quốc tế, khu vực và quốc gia, tập trung vào hệ thống pháp luật của Liên minh Châu Âu và Việt Nam Việc so sánh giữa pháp luật hai khu vực này giúp làm rõ các nguyên tắc pháp lý và phạm vi bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng Tác giả cũng đề cập đến những thách thức trong việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng trong bối cảnh toàn cầu hóa, đồng thời đánh giá thực trạng bảo hộ tại Việt Nam và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Những kiến nghị này dựa trên phân tích và so sánh giữa các hệ thống pháp luật, nhằm củng cố và nâng cao hiệu quả bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam.

Luận án này bao gồm những nội dung quan trọng liên quan đến phạm vi nghiên cứu, đặc biệt là phần nghiên cứu tổng quan về nhãn hiệu, trong đó tác giả đã trình bày chi tiết các khía cạnh cần thiết.

Nhãn hiệu được định nghĩa là bất kỳ dấu hiệu nào có thể nhận biết, bao gồm từ ngữ, tên gọi, chữ cái, con số, biểu tượng, thiết kế, hình vẽ, hoặc sự kết hợp của chúng, cùng với kiểu dáng hay bao bì hàng hóa, nhằm xác định và phân biệt hàng hóa hay dịch vụ của một chủ thể với những chủ thể khác Bài viết cũng phân tích đặc điểm và chức năng của nhãn hiệu từ trang 37 đến trang 44, đồng thời giới thiệu pháp luật về nhãn hiệu và các nguyên tắc cơ bản của pháp luật này từ trang 52 đến trang 55.

Luận văn thạc sỹ của Đặng Thị Thu Huyền (2004) tại Đại học Luật nghiên cứu về "Pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa theo quy định của Việt Nam và Cộng Hòa Pháp" Nghiên cứu này phân tích các quy định pháp lý liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa, so sánh giữa hai hệ thống pháp luật, nhằm làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong việc bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu nhãn hiệu.

Luận văn phân tích tổng quan về nhãn hiệu hàng hóa, bao gồm khái niệm, phân loại và sự khác biệt với các dấu hiệu khác liên quan đến hàng hóa và dịch vụ Tác giả cũng nghiên cứu quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa theo pháp luật Việt Nam và Cộng hòa Pháp, tập trung vào quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu, cũng như bảo vệ nhãn hiệu chống độc quyền và cạnh tranh không lành mạnh Cuối cùng, tác giả đánh giá thực tiễn bảo hộ quyền sở hữu nhãn hiệu ở Việt Nam, so sánh với kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp, và đề xuất các phương hướng hoàn thiện pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam.

Trong luận văn này, có một số luận điểm có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của luận án Cụ thể:

Đánh giá tình hình nghiên cứu các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án

Nghiên cứu sinh nhận thấy rằng chưa có công trình nào tại Việt Nam nghiên cứu một cách cụ thể và toàn diện về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam Một số công trình chỉ dừng lại ở việc so sánh với pháp luật của các quốc gia khác mà chưa đi sâu vào các vấn đề lý luận và thực tiễn Ngoài ra, một số sách chỉ đề cập chung về chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp mà không phân tích chuyên biệt về nhãn hiệu Mặc dù có một số nghiên cứu liên quan, nhưng chúng không hoàn toàn phù hợp với luận án của nghiên cứu sinh.

Nghiên cứu sinh có thể dựa vào 29 định nghĩa để phân tích và luận giải các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu Qua việc đánh giá các công trình khoa học đã thu thập, nghiên cứu sinh nhận thấy có thể kế thừa và phát triển thêm một số vấn đề từ những nghiên cứu đó Cụ thể, các vấn đề này sẽ được xem xét từ góc độ lý luận.

Mặc dù các công trình nghiên cứu đã đề cập đến một số vấn đề lý luận cơ bản về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, vẫn còn nhiều vấn đề quan trọng cần được hoàn thiện trong luận án.

Nhãn hiệu là một khái niệm quan trọng đã được nhiều tác giả nghiên cứu, như Đặng Thị Thu Huyền trong luận văn thạc sỹ về pháp luật nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam và Cộng Hòa Pháp, hay Bùi Thị Minh với nghiên cứu về hợp đồng Li-xăng nhãn hiệu trong thương mại quốc tế Các tác phẩm như "Sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ" của Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang cũng đề cập đến vấn đề này Tuy nhiên, một số tác giả vẫn chỉ đưa ra khái niệm nhãn hiệu dựa hoàn toàn vào quy định của khoản 16 điều 4 Luật.

Sở hữu trí tuệ định nghĩa nhãn hiệu là dấu hiệu phân biệt hàng hóa và dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau Một số tác giả phân biệt giữa nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ Tuy nhiên, nghiên cứu sinh cho rằng các khái niệm này chưa bao quát hết nội hàm của nhãn hiệu và chưa thể hiện sự độc lập trong nghiên cứu Do đó, cần có một khái niệm nhãn hiệu mới, tiến bộ hơn để khắc phục những hạn chế trong quy định của luật hiện hành.

Trong Luận án tiến sỹ Luật học của Phan Ngọc Tâm (2011) tại Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã đưa ra khái niệm về nhãn hiệu riêng, nhấn mạnh rằng nhãn hiệu là bất kỳ dấu hiệu nào Nghiên cứu này tập trung vào việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng và so sánh giữa pháp luật Liên minh Châu Âu và Việt Nam.

Khái niệm về nhận diện thương hiệu bao gồm từ ngữ, tên gọi, chữ cái, con số, biểu tượng, thiết kế, hình vẽ, và các sự kết hợp của chúng, cùng với kiểu dáng hay bao bì hàng hóa Những yếu tố này được sử dụng trong thương mại để xác định và phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một chủ thể với những chủ thể khác Theo quan điểm của nghiên cứu sinh, khái niệm này chi tiết và cụ thể hơn so với định nghĩa nhãn hiệu trong Luật.

Khái niệm sở hữu trí tuệ chưa đủ để bao quát toàn bộ nội hàm của nhãn hiệu, do đó cần làm rõ bản chất và nội hàm của vấn đề để định nghĩa nhãn hiệu một cách chính xác Luận án này sẽ hoàn thiện khái niệm nhãn hiệu dựa trên thực tiễn và cơ sở pháp lý Việc nghiên cứu khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là cần thiết, vì nó giúp xác định nội hàm quyền sở hữu công nghiệp, từ đó khẳng định quyền chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu của chủ sở hữu Trong số các công trình nghiên cứu, một số tác phẩm như cuốn sách của Nguyễn Thanh Tâm (2006) và các tác giả Phạm Văn Tuyết đã đề cập đến vấn đề quyền sở hữu công nghiệp.

Lê Kim Giang (2008) trong tác phẩm “Sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ” đã chỉ ra rằng các nghiên cứu hiện tại chỉ đề cập đến quyền sở hữu công nghiệp một cách tổng quát mà chưa có công trình nào xác định rõ khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu Luật sở hữu trí tuệ hiện hành cũng chưa cung cấp định nghĩa cụ thể về vấn đề này Do đó, nghiên cứu sinh nhận thấy cần thiết phải xây dựng khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, đồng thời phân tích căn cứ xác lập và nội dung của quyền này, nhằm tạo cơ sở vững chắc cho việc thực hiện quyền chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu của chủ sở hữu.

Khái niệm và đặc điểm chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, cùng với hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, là những nội dung lý luận quan trọng và chủ đạo trong chương lý luận của luận án Nghiên cứu này dựa trên các công trình như cuốn sách chuyên khảo của Nguyễn Thanh Tâm (2006) mang tên “Quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại” do Nhà xuất bản Tư pháp phát hành, cùng với tác phẩm của Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang (2008).

Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Hạnh Lê, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 05, tập trung vào "Pháp luật Liên minh châu Âu về hợp đồng Li-xăng nhãn hiệu và một số bài học kinh nghiệm" Nội dung này thuộc lĩnh vực "Sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ", do Nhà xuất bản Tư pháp phát hành.

Trong bài viết T3/2014, vấn đề chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu được đề cập nhưng không đưa ra khái niệm cụ thể Qua nghiên cứu, chỉ có ba công trình nêu rõ khái niệm này Thứ nhất, Hoàng Lan Phương (2019) trong bài viết “Pháp luật quốc tế về chuyển quyền sử dụng đối với nhãn hiệu và những khuyến nghị cho Việt Nam” định nghĩa “Chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu (li-xăng nhãn hiệu)” là việc bên li-xăng cho phép bên nhận li-xăng sử dụng nhãn hiệu trong một khoảng thời gian và phạm vi lãnh thổ nhất định Thứ hai, Bùi Thị Minh (2015) trong luận văn thạc sỹ cho rằng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu là việc chủ sở hữu cho phép cá nhân, tổ chức khác sử dụng nhãn hiệu của mình trên một vùng lãnh thổ và thời gian nhất định Cuối cùng, Hoàng Lan Phương (2019) cũng chỉ ra những bất cập trong pháp luật về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu.

Chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu là việc chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền cho phép cá nhân, tổ chức khác sử dụng nhãn hiệu trong một khoảng thời gian và phạm vi nhất định Tuy nhiên, các khái niệm hiện có chưa phản ánh đúng bản chất của việc này Cụ thể, khái niệm trong bài viết của tác giả Hoàng Lan Phương không nhấn mạnh rằng việc chuyển quyền sử dụng phải do chính chủ sở hữu thực hiện, và việc chuyển nhượng cho bên thứ ba chỉ là hợp đồng thứ cấp Hơn nữa, quyền sử dụng nhãn hiệu chỉ được chuyển trong phạm vi thời gian và không gian phù hợp với quyền của chủ sở hữu, không phải "theo thỏa thuận của hai bên" Tương tự, khái niệm của tác giả Bùi Thị Minh cũng thiếu sự nhấn mạnh về giới hạn thời gian và không gian trong việc chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu.

Phương đã giới thiệu một chủ thể mới trong khái niệm "người được chủ sở hữu đồng ý", cho rằng chủ thể này có thể không phải là người đang có quyền sử dụng nhãn hiệu nhưng vẫn được ủy quyền để li xăng nhãn hiệu Tuy nhiên, tác giả chưa làm rõ ai là người nhận ủy quyền từ chủ sở hữu nhãn hiệu, dẫn đến khái niệm này thiếu sức thuyết phục Do đó, nghiên cứu sinh nhận thấy cần phải đưa ra các lập luận hợp lý và xác thực để xây dựng khái niệm chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu từ cả hai phương diện lý thuyết và thực tiễn.

Nghiên cứu sinh nhận thấy rằng chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về đặc điểm và nội dung chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu Vì vậy, việc nghiên cứu này sẽ góp phần củng cố cơ sở lý luận về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu.

Câu hỏi nghiên cứu của nghiên cứu sinh đối với luận án

Sau khi khảo cứu và đánh giá các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án, nghiên cứu sinh nhận thấy nhiều quan điểm đánh giá về pháp luật thực định Các quan điểm này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án, nhưng cũng tồn tại nhiều vấn đề cần hoàn thiện Nghiên cứu sinh nhận thức cần tiếp thu những luận điểm khoa học đúng đắn và đồng thời giải quyết những mâu thuẫn giữa các tác giả, cũng như những ý kiến trái chiều và vướng mắc trong thực tiễn thực hiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu Luận án được triển khai với các câu hỏi trọng tâm: i) Mô hình lý thuyết của chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu là gì? ii) Những yếu tố cơ bản của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu bao gồm những yếu tố nào? iii) Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu diễn ra như thế nào? iv) Cần có phương hướng và giải pháp cụ thể nào để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu?

Để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Việt Nam về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng, cần có các giải pháp cụ thể như tăng cường công tác tuyên truyền, đào tạo về quyền sở hữu trí tuệ, cải thiện quy trình đăng ký và quản lý nhãn hiệu, cũng như thiết lập cơ chế giám sát và xử lý vi phạm hiệu quả hơn.

Lý thuyết nghiên cứu

Để hoàn thành luận án, tác giả dựa vào các lý thuyết nghiên cứu chủ yếu như sau: i) Lý thuyết về tài sản sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, giúp làm rõ quyền sử dụng nhãn hiệu, nguồn gốc và khả năng chuyển giao quyền này ii) Lý thuyết về cân bằng lợi ích trong chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, nhấn mạnh vai trò và sự hài hòa lợi ích của các bên liên quan iii) Lý thuyết về hợp đồng, tập trung vào hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, là công cụ thiết lập quan hệ chuyển giao và cần xem xét các đặc điểm chung và riêng của nó iv) Lý thuyết pháp luật chuyên ngành về thương mại và dân sự, cung cấp cái nhìn toàn diện về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, từ đó hỗ trợ tác giả trong việc đưa ra nhận định chính xác trong nghiên cứu.

Trong phần tổng quan về tình hình nghiên cứu, tác giả đã hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án, bao gồm luận án, luận văn, bài viết trên tạp chí khoa học, sách chuyên khảo và tài liệu nước ngoài Mặc dù các công trình này đã đề cập đến một số vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật Việt Nam cũng như quy định quốc tế liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp, thương mại hóa quyền sở hữu công nghiệp, nhãn hiệu và định giá nhãn hiệu, nhưng chúng chỉ dừng lại ở mức độ sơ lược và chưa đi sâu vào các khía cạnh chuyên biệt và toàn diện của đề tài nghiên cứu.

Dựa trên việc kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu từ các công trình đã đề cập trong phần tổng quan, tác giả đã tiến hành đánh giá và chỉ ra những vấn đề lý luận và pháp luật mà luận án cần giải quyết.

Tác giả cần phân tích và làm rõ các khái niệm liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, bao gồm quyền sử dụng nhãn hiệu và đặc điểm của nó Bên cạnh đó, cần nhấn mạnh vai trò của việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu và phân biệt hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu với các loại hợp đồng khác như hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu, hợp đồng chuyển nhượng tên thương mại và hợp đồng nhượng quyền thương mại.

Tác giả cần giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến quy định của pháp luật Việt Nam về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu Các vấn đề này bao gồm phạm vi, giới hạn, hình thức chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, cũng như các chủ thể và đối tượng trong hợp đồng chuyển giao Ngoài ra, nội dung và hình thức của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu cũng cần được xem xét, cùng với việc đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu.

Bài viết đề cập đến các vấn đề hạn chế và bất cập trong thực tiễn thực hiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam, bao gồm việc thực hiện hợp đồng khi bên chuyển giao là doanh nghiệp hoặc hợp tác xã bị phá sản, xác định giá trị nhãn hiệu trong hợp đồng, kiểm soát chất lượng sản phẩm để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, sử dụng quyền nhãn hiệu để góp vốn vào công ty khác, và xác định quyền sở hữu đối với giá trị vô hình của nhãn hiệu sau khi chấm dứt hợp đồng Tác giả cũng nêu ra các câu hỏi nghiên cứu trọng tâm và lý thuyết nghiên cứu để định hướng cho quá trình viết luận án.

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG NHÃN HIỆU

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG NHÃN HIỆU

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN, NÂNG

Ngày đăng: 02/06/2023, 10:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Lê Nết (2006), Tập bài giảng về Quyền sở hữu trí tuệ, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng về Quyền sở hữu trí tuệ
Tác giả: Lê Nết
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
15. Hoàng Tố Như (2010), Nhượng quyền thương mại và chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu, http://www.dinhgia.com.vn, 21/01/2010 10:22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhượng quyền thương mại và chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu
Tác giả: Hoàng Tố Như
Năm: 2010
16. Trần Thị Thanh Ngân (2014) về “Các vấn đề pháp lý về chuyển giao các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ trong hợp đồng nhượng quyền thương mại”, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề pháp lý về chuyển giao các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
Tác giả: Trần Thị Thanh Ngân
Nhà XB: Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
17. Hồ Thúy Ngọc về “Pháp luật về hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp của Việt Nam và Hoa Kỳ dưới góc nhìn so sánh”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 7/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp của Việt Nam và Hoa Kỳ dưới góc nhìn so sánh
Tác giả: Hồ Thúy Ngọc
Nhà XB: Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Năm: 2014
18. Hồ Thúy Ngọc về “Quy định cấm các điều khoản hạn chế quyền trong pháp luật về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp ở Việt Nam: những bất cập”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 7/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định cấm các điều khoản hạn chế quyền trong pháp luật về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp ở Việt Nam: những bất cập
Tác giả: Hồ Thúy Ngọc
Nhà XB: Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Năm: 2015
19. Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ, Nhà xuất bản Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 2021
20. Hoàng Lan Phương (2012), Góp vốn bằng nhãn hiệu công cụ để phát triển nhãn hiệu của doanh nghiệp, http://www.ngheandost.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp vốn bằng nhãn hiệu công cụ để phát triển nhãn hiệu của doanh nghiệp
Tác giả: Hoàng Lan Phương
Năm: 2012
21. Hoàng Lan Phương (2011), “Pháp luật Việt Nam về thương mại hóa quyền Sở hữu trí tuệ”, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Việt Nam về thương mại hóa quyền Sở hữu trí tuệ
Tác giả: Hoàng Lan Phương
Nhà XB: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
22. Hoàng Lan Phương (2019) về “Pháp luật quốc tế về chuyển quyền sử dụng đối với nhãn hiệu và những những khuyến nghị cho Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 12 (388), tháng 6/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật quốc tế về chuyển quyền sử dụng đối với nhãn hiệu và những những khuyến nghị cho Việt Nam
Tác giả: Hoàng Lan Phương
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp
Năm: 2019
23. Hoàng Lan Phương (2019) về “Pháp luật về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu: những bất cập cần khắc phục”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 61 (10), tháng 10/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu: những bất cập cần khắc phục
Tác giả: Hoàng Lan Phương
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Năm: 2019
25. Nguyễn Thanh Tâm (2006), “Quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại”, Nhà xuất bảnTư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại
Tác giả: Nguyễn Thanh Tâm
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp
Năm: 2006
26. Nguyễn Thanh Tâm (2005) , “Quyền sở hữu công nghiệp dưới góc độ thương mại – những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận án tiến sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền sở hữu công nghiệp dưới góc độ thương mại – những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Thanh Tâm
Nhà XB: Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2005
27. Vương Thanh Thúy (2011) về “Dấu hiệu mang chức năng trong pháp luật về nhãn hiệu. Quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Hoa Kỳ, Châu Âu và Việt Nam”, Luận án tiến sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu hiệu mang chức năng trong pháp luật về nhãn hiệu. Quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Hoa Kỳ, Châu Âu và Việt Nam
Tác giả: Vương Thanh Thúy
Nhà XB: Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2011
28. Phan Ngọc Tâm (2011) về “Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng - nghiên cứu so sánh giữa pháp luật Liên minh Châu Âu và Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Luật học, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng - nghiên cứu so sánh giữa pháp luật Liên minh Châu Âu và Việt Nam
Tác giả: Phan Ngọc Tâm
Nhà XB: Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2011
29. Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang (2008), “Sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ”, Nhà xuất bản Tư pháp.II. Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ
Tác giả: Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp
Năm: 2008
30. Irene Calboli và Jacques De Werra (2016),“The Law and Practice of Trademark Transactions: A global and local outlook”, Nhà xuất bản Edward Elgar Publishing Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Law and Practice of Trademark Transactions: A global and local outlook
Tác giả: Irene Calboli, Jacques De Werra
Nhà XB: Edward Elgar Publishing
Năm: 2016
31. Irene Calboli, The Sunset of “Quality Control” in Modern Trademark Licensing, 57 AM. U. L. REV. 341, 344 (2007); Irene Calboli, What if, After All, Trademarks were “Traded in Gross”?, 2008 MICH. ST. L. REV. 345, 348 (2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Sunset of “Quality Control” in Modern Trademark Licensing
Tác giả: Irene Calboli
Nhà XB: AM. U. L. REV.
Năm: 2007
32. Interpretation by the Supreme People’s Court of Several Issues Relating to Application of Law to Trial of Case of Civil Dispute Over Trademark (promulgated by Adjudication Comm. of the Supreme People’s Court, 12 October 2002, effective 16 October 2002) 32 SUP. PEOPLE’S CT. GAZ, art. 4 (China) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Interpretation by the Supreme People’s Court of Several Issues Relating to Application of Law to Trial of Case of Civil Dispute Over Trademark
Nhà XB: SUP. PEOPLE’S CT. GAZ
Năm: 2002
34. Geoffrey Loades và Alison Southby biên tập (2004) “Những điều chưa biết về sở hữu trí tuệ - Tài liệu hướng dẫn dành cho các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ” dưới sự bảo trợ của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới và Trung tâm thương mại quốc tế, xuất bản tại Geneva, được dịch bởi Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều chưa biết về sở hữu trí tuệ - Tài liệu hướng dẫn dành cho các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ
Tác giả: Geoffrey Loades, Alison Southby
Nhà XB: Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới
Năm: 2004
35. Sindhura Chakravarty (2009), “Importance of Assignment Agreements under Intellectual Property Laws in India” được đăng trong ấn phẩm Journal of Intellectual property rights Vol.14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Importance of Assignment Agreements under Intellectual Property Laws in India
Tác giả: Sindhura Chakravarty
Nhà XB: Journal of Intellectual Property Rights
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w