1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÂU HỎI NHẬN ĐỊNH ĐÚNG SAI LUẬT CHỨNG KHOÁN 2019 (SECURITIES LAW)

18 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Câu Hỏi Nhận Định Đúng Sai Luật Chứng Khoán 2019 (Securities Law)
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 100,91 KB
File đính kèm 123doc_luật chứng khoán.rar (94 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật chứng khoán (Securities law) được dùng để chỉ bộ phận pháp luật liên quan đến chứng khoán và giao dịch chứng khoán trong một môi trường cụ thể, tương ứng với một trật tự kinh tế xã hội của nền kinh tế thị trường trong những giai đoạn phát triển nhất định. Pháp luật chứng khoán (Securities law) được dùng để chỉ bộ phận pháp luật liên quan đến chứng khoán và giao dịch chứng khoán trong một môi trường cụ thể, tương ứng với một trật tự kinh tế xã hội của nền kinh tế thị trường trong những giai đoạn phát triển nhất định.

Trang 1

CÂU HỎI NHẬN ĐỊNH ĐÚNG SAI LUẬT CHỨNG KHOÁN

1 Tất cả các trường hợp chào bán chứng khoán ra công chúng đều trở thành công ty đại chúng.

 Nhận định SAI

Căn cứ theo khoản 1 Điều 15 LCK 2019 quy định về Điều kiện chào bán

chứng khoán ra công chúng thì Điều kiện chào bán cổ phiếu lần đầu ra công

chúng của công ty cổ phần bao gồm các quy định tại khoản 1 thì mới đủ điều kiện trở thành công ty đại chúng.

Căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 32 LCK 2019 quy định về Công ty đại

chúng thì Công ty đại chúng là công ty cổ phần thuộc một trong hai trường hợp

sau đây: Công ty đã thực hiện chào bán thành công cổ phiếu lần đầu ra công chúng thông qua đăng ký với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật này.

 Như vậy, công ty thực hiện chào bán thành công cổ phiếu lần đầu ra công chúng qua đăng ký với UBCKNN thì mới đủ điều kiện trở thành công ty đại chúng và không phải trường hợp chào bán chứng khoán ra công chúng đều trở thành công ty đại chúng

2 Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán có thể dùng tài sản của quỹ để cho vay.

 Nhận định SAI

Căn cứ theo điểm e khoản 1 Điều 110 LCK 2019 quy định về Hạn chế đối

với quỹ đại chúng thì Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán không được sử

dụng vốn và tài sản của quỹ đại chúng để thực hiện các hoạt động sau đây: Cho vay hoặc bảo lãnh cho bất kỳ khoản vay nào.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 25 Thông tư 98/2020/TT-BTC quy định về hoạt

động vay, cho vay, giao dịch mua bán lại, giao dịch ký quỹ thì Công ty quản lý

quỹ không được sử dụng vốn và tài sản của quỹ để cho vay hoặc bảo lãnh cho bất kỳ khoản vay nào.

 Như vậy, Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán không được dùng tài sản của quỹ để cho vay

Trang 2

3 Chứng chỉ hành nghề chứng khoán chỉ có hiệu lực khi người được cấp chứng chỉ đó làm việc tại công ty chứng khoán hoặc ngân hàng thương mại.

Nhận định SAI

 Căn cứ theo khoản 2 Điều 97 LCK 2019 quy định về Chứng chỉ hành

nghề chứng khoán thì Chứng chỉ hành nghề chứng khoán được cấp cho cá nhân

đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không thuộc trường hợp đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang bị cấm hành nghề chứng khoán theo quy định của pháp luật; b) Có trình độ từ đại học trở lên; c) Có trình độ chuyên môn về chứng khoán; d) Đạt yêu cầu trong kỳ thi sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề chứng khoán phù hợp với loại chứng chỉ hành nghề chứng khoán đề nghị cấp Người nước ngoài có chứng chỉ chuyên môn về chứng khoán hoặc những người đã hành nghề chứng khoán hợp pháp ở nước ngoài phải đạt yêu cầu trong kỳ thi sát hạch pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán của Việt Nam.

 Như vậy, chứng chỉ hành nghề chứng khoán được cấp khi đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên chứ không phải khi người được cấp chứng chỉ đó làm việc tại công ty chứng khoán hoặc ngân hàng thương mại thì mới được chứng chỉ hành nghề chứng khoán

4 Theo quy định pháp luật chứng khoán hiện hành, điều kiện về vốn điều lệ khi đăng ký niêm yết của cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp tại cùng 1 SGDCK là giống nhau.

 Nhận định SAI

Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 109 Nghị định 155/2020/NĐ-CP quy

định về Điều kiện niêm yết cổ phiếu thì Là công ty cổ phần có vốn điều lệ đã

góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 30 tỷ đồng trở lên căn cứ trên báo cáo tài chính gần nhất được kiểm toán, đồng thời giá trị vốn hóa đạt tối thiểu 30 tỷ đồng tính theo bình quân gia quyền giá thanh toán cổ phiếu trong đợt chào bán

ra công chúng gần nhất theo quy định của Nghị định này hoặc giá tham chiếu

cổ phiếu giao dịch trên hệ thống giao dịch Upcom trung bình 30 phiên gần nhất

Trang 3

trước thời điểm nộp hồ sơ đăng ký niêm yết hoặc bình quân gia quyền giá thanh toán trong đợt bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp cổ phần hóa.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 118 Nghị định 155/2020/NĐ-CP quy định về

Niêm yết trái phiếu doanh nghiệp thì Trái phiếu doanh nghiệp niêm yết trên Sở

giao dịch chứng khoán là trái phiếu đã chào bán ra công chúng.

 Như vậy, điều kiện về vốn điều lệ khi đăng ký niêm yết của cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp tại cùng 1 SGDCK là khác nhau

5 Theo quy định của pháp luật chứng khoán hiện hành, công ty chứng khoán có thể thực hiện các hình thức bảo lãnh phát hành chứng khoán: Bảo lãnh cam kết chắc chắn; Bảo lãnh cố gắng tối đa; Bảo lãnh tất cả hoặc không.

 Nhận định SAI

Căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 72 LCK 2019 quy định về Nghiệp vụ

kinh doanh của công ty chứng khoán thì Công ty chứng khoán được cấp phép

thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh sau đây: Bảo lãnh phát hành chứng khoán Do đó:

Căn cứ theo khoản 31 Điều 4 LCK 2019 Bảo lãnh phát hành chứng khoán

là việc cam kết với tổ chức phát hành nhận mua một phần hoặc toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết hoặc cố gắng tối đa để phân phối số chứng khoán cần phát hành của tổ chức phát hành.

Căn cứ theo khoản 2 Điều 17 LCK 2019 quy định về Điều kiện thực hiện

bảo lãnh phát hành chứng khoán ra công chúng thì Tổ chức thực hiện bảo lãnh

phát hành chứng khoán ra công chúng thực hiện bảo lãnh theo phương thức nhận mua một phần hoặc toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành chỉ được phép bảo lãnh phát hành tổng giá trị chứng khoán không được lớn hơn vốn chủ

sở hữu và không quá 15 lần hiệu số giữa giá trị tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn tính theo báo cáo tài chính quý gần nhất.

 Như vậy, công ty chứng khoán có thể thực hiện các hình thức bảo lãnh phát hành chứng khoán: Bảo lãnh cam kết chắc chắn; Bảo lãnh cố gắng tối đa;

Trang 4

Bảo lãnh tất cả hoặc không là không đúng mà chỉ được nhận bảo lãnh theo phương thức mua một phần hoặc toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành

6 Biên độ dao động giá trên thị trường chứng khoán VN do Chủ tịch UBCKNN quyết định sau khi có sự chấp thuận của Bộ trưởng Bộ tài chính.

 Nhận định SAI

Căn cứ theo khoản 1 Điều 4 Thông tư 120/2020/TT-BTC quy định về biên

độ giao động giá thì Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam quyết định biên độ dao

động giá sau khi được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận.

 Như vậy, Biên độ dao động giá trên thị trường chứng khoán do SGDCK

VN quyết định sau khi được UBCKNN chấp thuận chứ không phải là do chủ tịch UBCKNN quyết định sau khi có sự chấp thuận của Bộ trưởng Bộ tài chính

7 Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tất cả các trường hợp chào bán chứng khoán ra công chúng đều phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 Nhận định SAI

Căn cứ theo khoản 2 Điều 16 LCK 2019 quy định về Đăng ký chào bán

chứng khoán ra công chúng thì Các trường hợp sau đây không phải đăng ký

chào bán chứng khoán ra công chúng: a) Chào bán công cụ nợ của Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh do ngân hàng chính sách phát hành, trái phiếu chính quyền địa phương; b) Chào bán trái phiếu của tổ chức tài chính quốc tế được Chính phủ Việt Nam chấp thuận; c) Chào bán cổ phiếu ra công chúng để chuyển doanh nghiệp nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần; d) Việc bán chứng khoán theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định của Trọng tài hoặc việc bán chứng khoán của người quản lý hoặc người được nhận tài sản trong trường hợp phá sản hoặc mất khả năng thanh toán.

 Như vậy, không phải tất cả các trường hợp chào bán chứng khoán ra công chúng đều phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 5

8 Đối với chứng khoán niêm yết, đăng ký giao dịch trên SGDCK, việc chuyển quyền sở hữu chứng khoán bắt buộc phải thông qua hệ thống giao dịch của SGDCK.

 Nhận định SAI

Căn cứ theo khoản 1 Điều 63 LCK 2019 quy định về Xác lập, chuyển

quyền sở hữu và quyền khác đối với chứng khoán thì Việc xác lập, chuyển

quyền sở hữu, quyền khác đối với chứng khoán đã đăng ký tập trung tại Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 6 Thông tư 119/2020/TT-BTC quy định về

Chuyển quyền sở hữu chứng khoán thì Việc chuyển quyền sở hữu chứng khoán

đã đăng ký tập trung tại Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam

do Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam thực hiện.

 Như vậy, việc chuyển quyền sở hữu chứng khoán bắt buộc phải thông qua hệ thống giao dịch của SGDCK là sai mà phải do Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam thực hiện

9 Cổ phiếu là chứng khoán nợ

 Nhận định SAI

Căn cứ theo khoản 2 Điều 4 LCK 2019 Cổ phiếu là loại chứng khoán xác

nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 121 LDN 2020 quy định về Cổ phiếu thì Cổ

phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó.

 Như vậy, cổ phiếu đóng vai trò xác nhận quyền đối với một số cổ phần của công ty, tổ chức phát hành, do đó cổ phiếu là chứng khoán vốn, không phải

là chứng khoán nợ

10 Mọi doanh nghiệp đều được quyền phát hành quyền mua cổ phần

 Nhận định SAI

Trang 6

Căn cứ theo khoản 7 Điều 4 LCK 2019 Quyền mua cổ phần là loại chứng

khoán do công ty cổ phần phát hành nhằm mang lại cho cổ đông hiện hữu quyền được mua cổ phần mới theo điều kiện đã được xác định Quyền mua cổ phần là một loại chứng khoán đặc trưng chỉ được phát hành bởi công ty cổ phần.

 Như vậy, không phải tất cả các doanh nghiệp đều có quyền phát hành quyền mua cổ phần mà chỉ có công ty cổ phần mới có quyền đó

11 Mọi doanh nghiệp đều được chào bán chứng khoán ra công chúng.

 Nhận định SAI

Căn cứ theo Điều 15 LCK 2019 quy định về Điều kiện chào bán chứng

khoán ra công chúng thì Một doanh nghiệp tùy thuộc vào hình thức doanh

nghiệp và loại chứng khoán muốn chào bán ra công chúng phải đáp ứng các điều kiện về quy mô của công ty, tổ chức phát hành, hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các thành viên sáng lập phải có cam kết nắm giữ một tỷ lệ nhất định vốn cổ phần của công ty trong một thời gian nhất định

 Như vậy, không phải mọi doanh nghiệp đều được chào bán chứng khoán ra công chúng mà doanh nghiệp đó phải đáp ứng các điều kiện nêu trên mình mới được quyền chào bán chứng khoán ra công chúng

12 Mọi công ty cổ phần đều được quyền chào bán cổ phiếu ra công chúng

 Nhận định SAI

Căn cứ theo khoản 1 Điều 15 LCK 2019 quy định về Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng thì Chào bán cổ phiếu ra công chúng là một hoạt động bán chứng khoán ra công chúng của tổ chức phát hành chứng khoán Thông thường, để được chào bán cổ phiếu ra công chúng, công ty cổ phần phải thoả mãn tất cả các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 15 LCK 2019 như vốn điều lệ, thời gian hoạt động,…

 Như vậy, không phải mọi công ty cổ phần đều có quyền chào bán cổ phiếu ra công chúng mà công ty cổ phần đó phải đáp ứng được tất cả các điều kiện quy định trên thì mới được chào bán cổ phiếu ra công chúng

Trang 7

13 Mọi công ty chứng khoán đều có quyền bảo lãnh phát hành chứng khoán

 Nhận định SAI

Căn cứ theo khoản 1 Điều 17 LCK 2019 quy định về Điều kiện thực hiện

bảo lãnh phát hành chứng khoán ra công chúng thì Tổ chức thực hiện bảo lãnh

phát hành chứng khoán ra công chúng là công ty chứng khoán, tổ chức đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp phép thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán theo quy định của Luật này; b) Đáp ứng các chỉ tiêu an toàn tài chính theo quy định của pháp luật; c) Không phải là người có liên quan với tổ chức phát hành.

Căn cứ theo khoản 3 Điều 72 LCK 2019 quy định về Nghiệp vụ kinh doanh

của công ty chứng khoán thì Công ty chứng khoán chỉ được cấp phép thực hiện

nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán khi được cấp phép thực hiện nghiệp

vụ tự doanh chứng khoán.

 Như vậy, không phải mọi công ty chứng khoán đều có quyền bảo lãnh phát hành chứng khoán mà phải đáp ứng các điều kiện nêu trên thì mới có quyền bảo lãnh phát hành chứng khoán

14 Mọi nhà đầu tư đều có quyền yêu cầu công ty quản lý mua lại chứng chỉ quỹ.

 Nhận định SAI

Căn cứ theo khoản 40 Điều 4 LCK 2019 Quỹ đóng là quỹ đại chúng mà

chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng không được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư.

Căn cứ theo khoản 2 Điều 111 LCK 2019 quy định về Quỹ mở thì Công ty

quản lý quỹ đầu tư chứng khoán không phải thay mặt quỹ mở thực hiện việc mua lại chứng chỉ quỹ mở khi xảy ra một trong các sự kiện sau đây: a) Không thể thực hiện việc mua lại chứng chỉ quỹ mở do nguyên nhân bất khả kháng; b) Không thể xác định giá trị tài sản ròng của quỹ mở vào ngày định giá mua lại

do có quyết định đình chỉ giao dịch chứng khoán trong danh mục đầu tư của quỹ; c) Sự kiện khác do Điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán quy định.

Trang 8

 Như vậy, mọi nhà đầu tư đều có quyền yêu cầu công ty quán lý quỹ mua lại chứng chỉ quỹ là sai mà đối với quỹ đóng thì nhà đầu tư không được yêu cầu công ty quản lý mua lại chứng chỉ quỹ, đối với quỹ mở thì nhà đầu tư vẫn có thể yêu cầu công ty quản lý quỹ mua lại chứng chỉ quỹ nhưng ngoại trừ một số trường hợp nêu trên

15 Quỹ mở là một dạng của quỹ thành viên

 Nhận định SAI

Căn cứ theo khoản 39 Điều 4 LCK 2019 Quỹ mở là quỹ đại chúng mà

chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng phải được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư.

Căn cứ theo khoản 2 Điều 99 LCK 2019 quy định về Các loại hình quỹ đầu

tư chứng khoán thì Quỹ đại chúng bao gồm quỹ mở và quỹ đóng.

 Như vậy, quỹ mở là một dạng của quỹ đại chúng chứ không phải là quỹ thành viên

16 Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền tham gia thành lập quỹ thành viên

 Nhận định SAI

Căn cứ vào khoản 41 Điều 4 LCK 2019 Quỹ thành viên là quỹ đầu tư

chứng khoán có số thành viên tham gia góp vốn từ 02 đến 99 thành viên và chỉ bao gồm thành viên là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp.

Căn cứ vào Điều 11 LCK 2019 quy định về Nhà đầu tư chứng khoán

chuyên nghiệp thì Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp là nhà đầu tư có

năng lực tài chính hoặc có trình độ chuyên môn về chứng khoán.

 Như vậy, không phải mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền tham gia thành lập quỹ thành viên do đó tổ chức, cá nhân phải đáp ứng được các điều kiện trên thì mới có quyền tham gia thành lập quỹ thành viên

17 Công ty đầu tư chứng khoán là một dạng của công ty chứng khoán.

 Nhận định SAI

Căn cứ theo khoản 1 Điều 114 LCK 2019 quy định về Công ty đầu tư

chứng khoán thì Công ty đầu tư chứng khoán là quỹ đầu tư chứng khoán được

tổ chức theo loại hình công ty cổ phần để đầu tư chứng khoán Công ty đầu tư

Trang 9

chứng khoán có hai hình thức là công ty đầu tư chứng khoán riêng lẻ và công ty đầu tư chứng khoán đại chúng.

Căn cứ theo khoản 37 Điều 4 LCK 2019 Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ

hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích thu lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc vào các tài sản khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hằng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ.

Mà căn cứ theo khoản 1 Điều 72 LCK 2019 quy định về nghiệp vụ kinh

doanh của công ty chứng khoán thì Công ty chứng khoán được cấp phép thực

hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh sau đây: a) Môi giới chứng khoán; b) Tự doanh chứng khoán; c) Bảo lãnh phát hành chứng khoán; d) Tư vấn đầu tư chứng khoán

 Như vậy, công ty đầu tư chứng khoán được tổ chức theo loại hình công

ty cổ phần là một pháp nhân thực hiện công việc đầu tư chứng khoán trên cơ sở nhận đầu tư từ các nhà đầu tư riêng lẻ còn công ty chứng khoán là tổ chức cung cấp dịch vụ trên thị trường chứng khoán, do đó công ty đầu tư chứng khoán là một dạng của công ty chứng khoán là sai

18 Công ty đầu tư chứng khoán có quyền lựa chọn hoặc tự quản lý đầu tư chứng khoán hoặc thuê công ty quản lý quỹ để quản lý việc đầu tư chứng khoán

 Nhận định ĐÚNG

Căn cứ theo khoản Điều 114 LCK 2019 quy định về Công ty đầu tư chứng

khoán thì Công ty đầu tư chứng khoán là quỹ đầu tư chứng khoán được tổ chức

theo loại hình công ty cổ phần để đầu tư chứng khoán.

Căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 115 LCK 2019 quy định về Thành lập và

hoạt động của công ty đầu tư chứng khoán thì Điều kiện cấp Giấy phép thành

lập và hoạt động của công ty đầu tư chứng khoán bao gồm: Tổng giám đốc (Giám đốc) và nhân viên làm việc tại bộ phận nghiệp vụ có chứng chỉ hành nghề chứng khoán trong trường hợp công ty đầu tư chứng khoán tự quản lý vốn đầu tư.

Trang 10

 Như vậy, Trong trường hợp công ty đầu tưchứng khoán tự quản lý vốn đầu tư thì Tổng giám đốc (Giám đốc) và nhân viên làm việc tại bộ phận nghiệp

vụ có chứng chỉ hành nghề chứng khoán Do đó, Công ty đầu tư chứng khoán có thể tự quản lý đầu tư chứng khoán hoặc thuê công ty quản lý quỹ để quản lý việc đầu tư chứng khoán

19 Bảo lãnh phát hành chứng khoán và đại lý phát hành chứng khoán là khác nhau.

 Nhận định ĐÚNG

Căn cứ theo khoản 31 Điều 4 LCK 2019 Bảo lãnh phát hành chứng khoán

là việc cam kết với tổ chức phát hành nhận mua một phần hoặc toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết hoặc cố gắng tối đa để phân phối số chứng khoán cần phát hành của tổ chức phát hành.

Không có quy định pháp luật về Đại lý phát hành cổ phiếu

 Như vậy, có thể hiểu đại lý phát hành chứng khoán là chủ thể, còn bảo lãnh phát hành chứng khoán là hoạt động của tổ chức phát hành chứng khoán

20 Công ty quản lý quỹ được toàn quyền quyết định đầu tư trong mọi lĩnh vực đối với tiền của các quỹ do nó quản lý mà không bất kỳ sự giới hạn nào.

 Nhận định SAI

Căn cứ theo khoản 6 Điều 86 LCK 2019 quy định về Hoạt động của công

ty quản lý quỹ thì Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán được huy động và

quản lý các quỹ đầu tư nước ngoài có mục tiêu đầu tư vào Việt Nam, quản lý quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện theo quy định của pháp luật có liên quan, cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến

Căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 87 LCK 2019 quy định về Những hoạt

động phải được UBCKNN chấp thuận thì Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng

khoán phải được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận bằng văn bản trước khi thực hiện các hoạt động sau đây: Đầu tư gián tiếp ra nước ngoài.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 110 LCK 2019 quy định về Hạn chế đối với quỹ

đại chúng thì Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán không được sử dụng vốn

Ngày đăng: 25/12/2023, 20:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w