1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Câu hỏi nhận định đúng sai luật tố tụng hình

45 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Câu hỏi nhận định đúng sai luật tố tụng hình
Trường học Học viện Tư pháp
Chuyên ngành Luật tố tụng hình sự
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tất cả các Cơ quan tiến hành tố tụng đều có quyền khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can. => Sai, vì: Theo Đ33 BLTTHS, cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm: CQĐT, Viện kiểm sát; Tòa án. Theo Đ104 BLTTHS thì tất cả các cơ quan trên đều có quyền khởi tố vụ án hs. Tuy nhiên, về thẩm quyền khởi tố bị can, theo Đ126 BLTTHS thì Tòa án không có quyền khởi tố bị can. Như vậy, không phải tất cả các cơ quan tiến hành tố tụng đều có quyền khởi tố bị can. 2. Tất cả những người có quyền giải quyết vụ án hình sự đều là những người tiến hành tố tụng. => Sai, vì: Những cơ quan khác không phải cơ quan tiến hành tố tụng như: Bộ đội biên phòng, Kiểm lâm, Hải quan, Cảnh sát biển và những cơ quan khác trong CAND và QĐND được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được quy định tại Đ111 BLTTHS cũng có quyền tham gia giải quyết vụ án hình sự theo những trường hợp luật định.

Trang 1

CÂU HỎI NHẬN ĐỊNH ĐÚNG SAI LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2015 (CÓ ĐÁP ÁN)

PHẦN 1

1 Tất cả các Cơ quan tiến hành tố tụng đều có quyền khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can

=> Sai, vì: Theo Đ33 BLTTHS, cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm: CQĐT, Viện kiểm sát; Tòa án.Theo Đ104 BLTTHS thì tất cả các cơ quan trên đều có quyền khởi tố vụ án hs Tuy nhiên, về thẩmquyền khởi tố bị can, theo Đ126 BLTTHS thì Tòa án không có quyền khởi tố bị can

Như vậy, không phải tất cả các cơ quan tiến hành tố tụng đều có quyền khởi tố bị can

2 Tất cả những người có quyền giải quyết vụ án hình sự đều là những người tiến hành tố tụng

=> Sai, vì: Những cơ quan khác không phải cơ quan tiến hành tố tụng như: Bộ đội biên phòng,Kiểm lâm, Hải quan, Cảnh sát biển và những cơ quan khác trong CAND và QĐND được giaonhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được quy định tại Đ111 BLTTHS cũng có quyềntham gia giải quyết vụ án hình sự theo những trường hợp luật định

3 Tất cả những người tham gia tố tụng có quyền và nghĩa vụ pháp lý trong vụ án hình sự đều

có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng

=> Sai, tại vì: Căn cứ vào Đ43 BLTTHS quy định những người có quyền đề nghị thay đổi ngườitiến hành tố tụng bao gồm: Kiểm sát viên; bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơndân sự và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của haị; người bào chữa, người bảo vệ quyền lợicủa người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự Theo quy định trên thì những người tham gia

tố tụng khác như người làm chứng, người giám định, người phiên dịch…không có quyền đề nghịthay đổi người tiến hành tố tụng

Như vậy, không phải tất cả những người tham gia tố tụng có quyền và nghĩa vụ pháp lý trong vụ ánhình sự đều có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng

4 Trong mọi trường hợp người bào chữa phải bị thay đổi nếu là người thân thích của người tiến hành tố tụng

Sai, tại vì: Căn cứ vào mục 1, phần II NQ 03 thì căn cứ vào thời điểm mà người bào chữa tham gia

để quyết định thay đổi hoặc không thay đổi Nếu người bào chữa không tham gia trong các giaiđoạn tố tụng ngay từ đầu mà có quan hệ thân thích với người đã và đang tiến hành tố tụng thì sẽ từchối cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho người được nhờ bào chữa đó Còn nếu người bàochữa tham gia trong các giai đoạn tố tụng ngay từ đầu thì sẽ được cấp giấy chứng nhận người bàochữa và người bị thay đổi trong trường hợp này là người tiến hành tố tụng có mối quan hệ thânthích với người bào chữa

Như vậy, không phải trong mọi trường hợp, người bào chữa phải bị thay đổi nếu là người thânthích của người tiến hành tố tụng

5 Một người khi thực hiện tội phạm là người chưa thành niên, nhưng khi khởi tố vụ án hình

sự đã đủ 18 tuổi thì họ không thuộc trường hợp quy định tại K2 Đ57 BLTTHS

Đúng, tại vì: Căn cứ vào điểm a mục 3 phần II NQ 03 quy định thì trường hợp khi phạm tội làngười phạm tội là người chưa thành niên, nhưng khi khởi tố, truy tố, xét xử họ đã đủ 18 tuổi thì họkhông thuộc trường hợp quy định tại điểm b, khoản 2 điều 57 BLTTHS

6 Trong trường hợp bào chữa bắt buộc quy định tại Điểm b K2 Đ57 BLTTHS, khi bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ yêu cầu thay đổi người bào chữa thì yêu cầu đó luôn được chấp nhận

Sai, tại vì: Căn cứ vào Điểm c.1 mục 3 phần II NQ 03 quy định trường hợp yêu cầu thay đổi ngườibào chữa thì thẩm phán được phân công làm chủ tòa phiên tòa căn cứ vào khoản 2 và khoản 3 Điều

Trang 2

56 BLTTHS, hướng dẫn tại mục 1 phần II nghị quyết để xem xét, quyết định chấp nhận hoặckhông chấp nhận

7 Người làm chứng có thể là người thân thích của bị can, bị cáo

Đúng, tại vì: Theo quy định tại K2 Đ55 BLTTHS quy định về những người không được làm chứngkhông liệt kê người thân thích của bị can bị cáo Căn cứ theo khoản 1 Đ55 BLTTHS, nếu ngườithân thích của bị can bị cáo biết được tình tiết liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đếnlàm chứng

8 Người dưới 14 tuổi không được làm chứng

Sai, tại vì: Căn cứ vào K2 Đ55 BLTTHS không liệt kê người dưới 14 tuổi không được làm chứng

Và căn cứ theo Khoản 1 Điều 55 BLTTHS nếu người dưới 14 tuổi biết được tình tiết liên quan đến

vụ án đều có thể được triệu tập đến làn chứng

9 Người giám định có thể là người thân thích của bị can bị cáo

Sai, tại vì: Điểm a Khoản 4 Điều 60 và căn cứ vào Khoản 1 Điều 42 BLTTHS thì khi người giámđịnh là người thân thích của bị can, bị cáo thì người giám định phải từ chối hoặc bị thay đổi

10 Người phiên dịch có thể là người thân thích của bị can, bị cáo

Sai, tại vì: Căn cứ vào Điểm a Khoản 3 Điều 61 và Khoản 1 Điều 42 BLTTHS thì khi người phiêndịch là người thân thích của bị can, bị cáo thì phải từ chối hoặc bị thay đổi

11 Trong mọi trường hợp, thẩm phán, hội thẩm phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu đã được phân công tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm vụ án đó

Sai, tại vì: Căn cứ vào Điểm b Mục 6 Phần I NQ03, đã tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩmtrong vụ án là đã tham gia giải quyết vụ án và đã ra bản án sơ thẩm hoặc bản án phúc thẩm hoặcquyết định đình chỉ vụ án Nếu thẩm phán, hội thẩm được phân công tham gia xét xử sơ thẩm hoặcphúc thẩm nhưng chỉ tham gia ra các quyết định: trả hồ sơ để điều tra bổ sung, tạm đình chỉ vụ án,hủy quyết định đình chỉ vụ án, hoãn phiên tòa thì vẫn được tiếp tục giải quyết vụ án

12 Những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích pháp lý trong vụ án đều có quyền nhờ luật sư bào chữa cho mình

Sai, tại vì: Theo quy định tại chương IV BLTTHS về người tham gia tố tụng, thì chỉ có người bịtạm giữ, bị can, bị cáo mới có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa bởi họ là người bịbuộc tội, còn những người tham gia tố tụng khác không có quyền này

13 Khai báo là quyền của người làm chứng

Sai, tại vì: Căn cứ vào Điểm b, Khoản 4 Điều 55 BLTTHS quy định: khai báo là nghĩa vụ củangười làm chứng

14 Người thân thích của thẩm phán không thể tham gia tố tụng với tu cách là người làm chứng trong vụ án đó

Sai tại vì: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 55 BLTTHS về những người không được làm chứng đãkhông liệt kê về người thân thích của thẩm phán Do đó căn cứ vào Khoản 1 Điều 55 BLTTHS nếungười than thích của thẩm phán biết được tình tiết liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tậpđến làm chứng

15 Thẩm phán và hội thẩm đều phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu là người thân thích với nhau trong cùng một vụ án

Sai, tại vì: Theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 46 BLTTHS nếu thẩm phán, hội thẩm trongcùng một hội đồng xét xử là người thân thích với nhau thì phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thayđổi Và theo hướng dẫn tại điểm a, mục 6 phần I NQ03 thì khi có hai người thân thích với nhau thìchỉ có một ngừơi phải từ chối hoặc bị thay đổi

Trang 3

16 Chỉ có kiểm sát viên viện kiểm sát thực hành quyền công tố mới có quyền trình bày lời buộc tội tại phiên tòa

Sai, tại vì: Căn cứ vào Khoản 3 Điều 51 BLTTHS, trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêucầu của người bị hại quy định tại Điều 105 BLTTHS thì người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của

họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa

17 Người biết được các tình tiết liên quan đến vụ án sẽ không được làm chứng nếu là người bảo vệ quyền lợi ích của người bị hại

Đúng, tại vì: Căn cứ vào Khoản 2 Điều 55 BLTTHS quy định về những người không được làmchứng không liệt kê người bảo vệ quyền lợi ích của người bị hại Tuy nhiên đây là một điểm thiếusót trong phần quy định về người không được làm chứng của BLTTHS Bởi nếu cho phép ngườibảo vệ quyền lợi ích của người bị hại làm chứng thì khi họ đưa ra những tình tiết sự thật mà tìnhtiết đó có thể không có lợi chống lại người bị hại thì không phù hợp với chức năng công việc của

họ Theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao về người bảo vệ quyền lợi của đương sự thì ngườilàm chứng trong vụ án không được chấp nhận làm người bảo vệ quyền lợi của đương sự

Như vậy, người biết các tình tiết liên quan đến vụ án sẽ không được làm chứng nếu là người bảo vệquyền lợi ích của người bị hại

2 Quan hệ pháp luật mang tính quyền lực nhà nước là QHPL TTHS

Sai, phải thỏa các điều kiện khác (chủ thể: người THHT, CQ THTT, người tham gia tố tụng; kháchthể: các QH giữa các chủ thể của luật TTHS, đối tượng điều chỉnh: QH TTHS); ngoài ra QHPLmang tính QTLNN có thể là QHPL khác (QHPL TTHC, HS…)

3 Phương pháp phối hợp chế ước chỉ điều chỉnh các mối quan hệ giữa các CQTHTT

Đúng

4 Nguyên tắc “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” là nguyên tắc đặc thù mà chỉ Luật TTHS mới có

Đúng, điều 11 định nghĩa bị can, bị cáo… chỉ có luật TTHS có

4 Người THTT và người TGTT có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trong các phiên tòa xét xử VAHS

Đúng, điều 11 định nghĩa bị can, bị cáo… chỉ có luật TTHS có

5 Người THTT và người TGTT có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trong các phiên tòa xét xử VAHS

Sai, chỉ người tham gia tố tụng only (điều 24)

6 Nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật” là nguyên tắc đặc thù của luật TTHS?

Trang 4

=> Nhận định này sai, vì: Theo Điều 33 BLTTHS, cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm: Cơ quanđiều tra, Viện kiểm sát; Tòa án Theo Điều 104 BLTTHS thì tất cả các cơ quan trên đều có quyềnkhởi tố vụ án hình sự Tuy nhiên, về thẩm quyền khởi tố bị can, theo Điều 126 BLTTHS thì Tòa ánkhông có quyền khởi tố bị can

Như vậy, không phải tất cả các cơ quan tiến hành tố tụng đều có quyền khởi tố bị can 5

2 Tất cả những người có quyền giải quyết VAHS đều là những người tiến hành tố tụng

=> Nhận định này sai, vì: Những cơ quan khác không phải cơ quan tiến hành tố tụng như: Bộ độibiên phòng, Kiểm lâm, Hải quan, Cảnh sát biển và những cơ quan khác trong CAND và QĐNDđược giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được quy định tại Đ111 BLTTHS cũng cóquyền tham gia giải quyết vụ án hình sự theo những trường hợp luật định

3 Tất cả những người tham gia tố tụng có quyền và nghĩa vụ pháp lý trong VAHS đều có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng

=> Nhận định này sai, tại vì: Căn cứ vào Đ43 BLTTHS quy định những người có quyền đề nghịthay đổi người tiến hành tố tụng bao gồm: Kiểm sát viên; bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơndân sự, bị đơn dân sự và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của haị; người bào chữa, người bảo

vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự Theo quy định trên thì nhữngngười tham gia tố tụng khác như người làm chứng, người giám định, người phiên dịch…không cóquyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng

Như vậy, không phải tất cả những người tham gia tố tụng có quyền và nghĩa vụ pháp lý trong vụ ánhình sự đều có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng

4 Trong mọi trường hợp người bào chữa phải bị thay đổi nếu là người thân thích của người tiến hành tố tụng

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào mục 1, phần II NQ 03 thì căn cứ vào thời điểm mà người bàochữa tham gia để quyết định thay đổi hoặc không thay đổi Nếu người bào chữa không tham giatrong các giai đoạn tố tụng ngay từ đầu mà có quan hệ thân thích với người đã và đang tiến hành tốtụng thì sẽ từ chối cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho người được nhờ bào chữa đó Còn nếungười bào chữa tham gia trong các giai đoạn tố tụng ngay từ đầu thì sẽ được cấp giấy chứng nhậnngười bào chữa và người bị thay đổi trong trường hợp này là người tiến hành tố tụng có mối quan

hệ thân thích với người bào chữa

Như vậy, không phải trong mọi trường hợp, người bào chữa phải bị thay đổi nếu là người thânthích của người tiến hành tố tụng

5 Một người khi thực hiện tội phạm là người chưa thành niên, nhưng khi khởi tố vụ án hình

sự đã đủ 18 tuổi thì họ không thuộc trường hợp quy định tại K2 Đ57 BLTTHS

=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ vào điểm a mục 3 phần II NQ 03 quy định thì trường hợp khiphạm tội là người phạm tội là người chưa thành niên, nhưng khi khởi tố, truy tố, xét xử họ đã đủ 18tuổi thì họ không thuộc trường hợp quy định tại điểm b, khoản 2 điều 57 BLTTHS

6 Trong trường hợp bào chữa bắt buộc quy định tại điểm b K2 Đ57 BLTTHS, khi bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ yêu cầu thay đổi người bào chữa thì yêu cầu đó luôn được chấp nhận

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Điểm c.1 mục 3 phần II NQ03 quy định trường hợp yêu cầuthay đổi người bào chữa thì thẩm phán được phân công làm chủ tòa phiên tòa căn cứ vào khoản 2

và khoản 3 Điều 56 BLTTHS, hướng dẫn tại mục 1 phần II nghị quyết để xem xét, quyết định chấpnhận hoặc không chấp nhận

7 Người làm chứng có thể là người thân thích của bị can, bị cáo

Trang 5

=> Nhận định này đúng, vì: Theo quy định tại K2 Đ55 BLTTHS quy định về những người khôngđược làm chứng không liệt kê người thân thích của bị can bị cáo Căn cứ theo khoản 1 Đ55BLTTHS, nếu người thân thích của bị can bị cáo biết được tình tiết liên quan đến vụ án đều có thểđược triệu tập đến làm chứng

8 Người dưới 14 tuổi không được làm chứng

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào K2 Đ55 BLTTHS không liệt kê người dưới 14 tuổi khôngđược làm chứng Và căn cứ theo Khoản 1 Điều 55 BLTTHS nếu người dưới 14 tuổi biết được tìnhtiết liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làn chứng

9 Người giám định có thể là người thân thích của bị can bị cáo

=> Nhận định này sai, vì: Điểm a Khoản 4 Điều 60 và căn cứ vào Khoản 1 Điều 42 BLTTHS thìkhi người giám định là người thân thích của bị can, bị cáo thì người giám định phải từ chối hoặc bịthay đổi

10 Người phiên dịch có thể là người thân thích của bị can, bị cáo

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Điểm a Khoản 3 Điều 61 và Khoản 1 Điều 42 BLTTHS thìkhi người phiên dịch là người thân thích của bị can, bị cáo thì phải từ chối hoặc bị thay đổi

11 Trong mọi trường hợp, thẩm phán, hội thẩm phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu đã được phân công tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm vụ án đó

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Điểm b Mục 6 Phần I NQ03, đã tham gia xét xử sơ thẩmhoặc phúc thẩm trong vụ án là đã tham gia giải quyết vụ án và đã ra bản án sơ thẩm hoặc bản ánphúc thẩm hoặc quyết định đình chỉ vụ án Nếu thẩm phán, hội thẩm được phân công tham gia xét

xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm nhưng chỉ tham gia ra các quyết định: trả hồ sơ để điều tra bổ sung,tạm đình chỉ vụ án, hủy quyết định đình chỉ vụ án, hoãn phiên tòa thì vẫn được tiếp tục giải quyết

vụ án

12 Những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích pháp lý trong vụ án đều có quyền nhờ luật sư bào chữa cho mình

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại chương IV BLTTHS về người tham gia tố tụng, thì chỉ

có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mới có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa bởi họ

là người bị buộc tội, còn những người tham gia tố tụng khác không có quyền này

13 Khai báo là quyền của người làm chứng

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Điểm b, Khoản 4 Điều 55 BLTTHS quy định: khai báo lànghĩa vụ của người làm chứng

14 Người thân thích của thẩm phán không thể tham gia tố tụng với tu cách là người làm chứng trong vụ án đó

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 55 BLTTHS về những người khôngđược làm chứng đã không liệt kê về người thân thích của thẩm phán Do đó căn cứ vào Khoản 1Điều 55 BLTTHS nếu người than thích của thẩm phán biết được tình tiết liên quan đến vụ án đều

16 Chỉ có kiểm sát viên viện kiểm sát thực hành quyền công tố mới có quyền trình bày lời buộc tội tại phiên tòa

Trang 6

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Khoản 3 Điều 51 BLTTHS, trong trường hợp vụ án đượckhởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Điều 105 BLTTHS thì người bị hại hoặc đại diệnhợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa

17 Người biết được các tình tiết liên quan đến vụ án sẽ không được làm chứng nếu là người bảo vệ quyền lợi ích của người bị hại

=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ vào Khoản 2 Điều 55 BLTTHS quy định về những ngườikhông được làm chứng không liệt kê người bảo vệ quyền lợi ích của người bị hại.Tuy nhiên đây làmột điểm thiếu sót trong phần quy định về người không được làm chứng của BLTTHS Bởi nếucho phép người bảo vệ quyền lợi ích của người bị hại làm chứng thì khi họ đưa ra những tình tiết

sự thật mà tình tiết đó có thể không có lợi chống lại người bị hại thì không phù hợp với chức năngcông việc của họ Theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao về người bảo vệ quyền lợi củađương sự thì người làm chứng trong vụ án không được chấp nhận làm người bảo vệ quyền lợi củađương sự

Như vậy, người biết các tình tiết liên quan đến vụ án sẽ không được làm chứng nếu là người bảo vệquyền lợi ích của người bị hại

CHƯƠNG III: CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1 Mọi sự vật tồn tại khách quan mà có liên quan đến VAHS thì là chứng cứ

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Khoản 1Điều 64 BLTTHS: “chứng cứ là những gì có thật,được thu thập theo trình tự, thủ tục do bộ luật này quy định mà CQĐT, Viện kiểm sát và Tòa ándung làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tộicũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án” Như vậy, theo quyđịnh trên thì chứng cứ phải bao gồm tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp Nếu một sựvật tồn tại khách quan có liên quan đến vụ án hình sự nhưng không được thu thập theo trình tự, thủtục luật định (tính hợp pháp) thì không được coi là chứng cứ

2 Kết quả thu được từ hoạt động nghiệp vụ (trinh sát, đặc tình, sổ đen) là chứng cứ

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 64 BLTTHS thì chứng cứ phải có đầy đủ cácđặc điểm: phải tồn tại khách quan, có tính liên quan và tính hợp pháp Đối với kết quả thu được từhoạt động nghiệp vụ (trinh sát, đặc tình, sổ đen), đặc điểm của hoạt động nghiệp vụ này là bí mật,lén lút nên không thỏa mãn được tính hợp pháp (được thu thập theo trình tự thủ tục luật định) Dovậy, kết quả thu được tù hoạt động nghiệp vụ (trinh sát, đặc tình, sổ đen) không được sử dụng làmchứng cứ mà chỉ là căn cứ để định hướng giải quyết vụ án

3 Tất cả những người THTT đều là những người có nghĩa vụ chứng minh VAHS

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 33 BLTTHS những người tiến hành tốtụng gồm có: Thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra, điều tra viên; viện trưởng, phó việntrưởng viện kiểm sát, kiểm sát viên; chánh án, phó chánh án tòa án, thẩm phán, hội thẩm, thư kýtòa án Nhưng không phải tất cả những người trên đều có nghĩa vụ chứng minh vụ án hình sự, nhưthư ký tòa án, theo quy định tại Điều 41 BLTTHS về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của thư

ký tòa án không quy định về nghĩa vụ chứng minh vụ án hình sự Và căn cứ vào Điều 66 BLTTHSquy định về việc đánh giá chứng cứ_ một hoạt động quan trọng trong chứng minh vụ án cũngkhông đề cập đến nghĩa vụ của thư ký tòa án

4 Kết luận giám định là nguồn chứng cứ có thể thay thế được

=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ Khoản 2 Điều 73 và Điều 159 BLTTHS thì cơ quan THTT cóthể quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại theo thủ tục chung nếu kết luận giám địnhchưa rõ hoặc chưa đầy đủ Do đó, kết luận giám định là nguồn chứng cứ có thể thay thế được

5 Kết luận giám định là chứng cứ trong tố tụng hình sự

Trang 7

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ Điểm c, Khoản 2, Điều 64 BLTTHS thì kết luận giám định lànguồn dùng để xác định chứng cứ chứ không phải là chứng cứ Kết luận chỉ được coi là chứng cứkhi: thông tin trong kết luận là có thật, được tiến hành theo trình tự thủ tục theo pháp luật quy định

và được cơ quan có thẩm quyền dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội,người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn

vụ án

6 Lời khai của người bào chữa không phải là nguồn chứng cứ trong TTHS

=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ Khoản 2 Điều 64 BLTTHS quy định về nguồn của chứng cứkhông liệt kê lời khai của người bào chữa Do vậy, lời khai của người bào chữa không phải lànguồn của chứng cứ trong TTHS

7 Lời khai của người tham gia tố tụng là nguồn chứng cứ có thể thay thế được

=> Nhận định này sai, vì: Lời khai của người tham gia tố tụng có thể xem là duy nhất, chính họ làngười biết tình tiết sự thật của vụ án do đó không thể lấy lời khai của người này thay thế cho lờikhai của người khác Do đó, lời khai của người tham gia tố tụng là nguồn chứng cứ không thể thaythế được Và theo quy định của BLTTHS thì chỉ có một nguồn chúng cứ duy nhất có thể thay thếđược đó là kết quả giám định

8 Vật chứng là nguồn chứng cứ không thể thay thế được

=> Nhận định này đúng, vì: Theo quy định tại Điều 74 BLTTHS thì “vật chứng: là vật được dùnglàm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu hiệu tội phạm, vật là đối tượng của tội phạmcũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội” Như vậy, vậtchứng chứa đựng sự thật của vụ án do đó không thể thay thế được

9 Vật chứng chỉ có thể trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp khi vụ án đã được giải quyết xong

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ theo Khoản 3, Điều 76 BLTTHS thì trong quá trình điều tra, truy

tố, xét xử, cơ quan có thẩm quyền có quyền quyết định trả lại những vật chứng cho chủ sở hữuhoặc người quản lý hợp pháp, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án

Như vậy, vật chứng không chỉ có thể trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp khi vụ án

đã được giải quyết xong mà có thể trả lại trong qua trình điều tra, truy tố, xét xử

10 Thư ký tòa án có quyền chứng minh trong vụ án hình sự

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ Điều 41 BLTTHS quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và tráchnhiệm của thư ký tòa án không quy định về quyền chứng minh của thư ký trong VAHS và căn cứvào Điều 66 BLTTHS quy định về đánh giá chứng cứ, một hoạt động quan trọng trong quá trìnhchứng minh VAHS cũng không quy định về quyền của thư ký tòa án trong hoạt động này

CHƯƠNG IV: NHỮNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1 Biện pháp ngăn chặn chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ Điều 79 BLTTHS các BPNC được áp dụng để kịp thời ngăn chặntội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét

xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như cần đảm bảo thi hành án

Theo quy định này thì trường hợp áp dụng BPNC để kịp thời ngăn chặn tội phạm thì đối tượng bị

áp dụng BPNC không phải là bị can, bị cáo Cụ thể, đối với BPNC bắt người trong trường hợp khẩncấp thì đối tượng bị áp dụng không phải là bị can, bị cáo mà khi các chủ thể thực hiện các hành viquy định tại Khoản 1 Điều 81 BLTTHS thì có thể bị áp dụng BPNC này Và đối với các BPNCkhác như : bắt người phạm tội quả tang, biện pháp tạm giữ cũng có thể áp dụng đối với người chưaphải là bị can, bị cáo

2 VKS có quyền áp dụng tất cả các biện pháp ngăn chặn trong TTHS

Trang 8

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Đ79 BLTTHS thì BPNC bao gồm: bắt, tạm giữ, tạmgiam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Trong tất cả cácbiện pháp ngăn chặn trên không phải biện pháp nào VKS cũng có quyền áp dụng Theo quy địnhtại K2 Đ81 BLTTHS quy định về thẩm quyền ra lệnh bắt

người trong trường hợp khẩn cấp thì VKS không có quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn này Vàcăn cứ vào k2 Đ86 BLTTHS quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ thì VKS cũngkhông có quyền áp dụng biện pháp này

3 VKS không có quyền hủy bỏ BPNC trái pháp luật của Tòa án

=> Nhận định này đúng, vì: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 94 BLTTHS thì đối với những BPNC

do VKS phê chuẩn thì việc hủy bỏ hoặc thay thế phải do VKS quyết định Theo quy định về thủ tục

áp dụng trong các BPNC được quy định tại chương VI BLTTHS thì các BPNC do Tòa án áp dụngkhông cần có sự phê chuẩn của VKS Do vậy VKS không có quyền hủy bỏ BPNC trái pháp luậtcủa Tòa án

4 Biện pháp tạm giữ vẫn có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo

=> Nhận định này đúng, vì:Căn cứ K1 Đ86 BLTTHS thì biện pháp tạm giữ có thể được áp dụngđối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội đầu thú,

tự thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã Đối với trường hợp người phạm tội đã cóquyết định khởi tố VAHS hoặc bị tòa án quyết định đưa ra xét xử nhưng bỏ trốn sau đó cơ quan cóthẩm quyền quyết định ra lệnh truy nã và bị bắt thì có thể bị áp dụng biện pháp tạm giữ Như vậy,đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ trong trường hợp này là bị can, bị cáo Do đó, biện pháptạm giữ có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo

5 Biện pháp tạm giữ là biện pháp ngăn chặn duy nhất có thể được áp dụng ngay sau khi bắt được người đang bị truy nã

=> Nhận định này sai, tại vì: Căn cứ vào điểm a K2 Đ88 BLTTHS thì bị can bị cáo bỏ trốn và bịbắt theo lệnh truy nã thì cũng có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam Và căn cứ vào K2 Đ83 thìbiện pháp tạm giam có thể được áp dụng ngay sau khi bắt được người đang bị truy nã Cụ thể là saukhi nhận được thông báo, cơ quan đã ra quyết định truy nã có thẩm quyền bắt để tạm giam phải rangay lệnh tạm giam và gửi ngay lệnh tạm giam đã được VKS cùng cấp phê chuẩn cho CQĐT nhậnngười bị bắt Sau khi nhận được lệnh tạm giam, CQĐT nhận người bị bắt có trách nhiệm giải ngayngười đó đến trại tạm giam nơi gần nhất

Như vậy, biện pháp tạm giữ không phải là biện pháp ngăn chặn duy nhất có thể được áp dụng ngaysau khi bắt được người đang bị truy nã

6 Thời hạn tạm giữ không được tính vào thời hạn tạm giam

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ K4 Đ87 BLTTHS thì thời hạn tạm giữ được trừ vào thời hạn tạmgiam Một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam

7 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp có quyền ra quyết định tạm giữ

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ Khoản 2 Điều 86 BLTTHS quy định về những chủ thể có quyền

ra quyết định tạm giữ bao gồm: những người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp quy định tại k2 Đ81BLTTHS, chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển Và trong các chủ thể quy định tại k2 Đ81 BLTTHSkhông quy định thẩm quyền của VTVKSND các cấp

8 Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú không áp dụng đối với người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại K1 Đ91 BLTTHS thì biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú

có thể được áp dụng đối với bị can bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nhằm đảm bảo sự có mặt của họtheo giấy triệu tập của CQĐT, VKS, Tòa án Như vậy, việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư

Trang 9

trú không căn cứ vào bị can, bị cáo là người Việt Nam hay là người nước ngoài Do đó, nếu ngườinước ngoài phạm tội mà có nơi cư trú rõ ràng thì cũng có thể áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cưtrú

9 Biện pháp bảo lĩnh chỉ áp dụng cho bị cáo là người chưa thành niên

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại K1 Đ92 BLTTHS thì biện pháp bảo lĩnh là biện phápngăn chặn được áp dụng thay thế cho biện pháp tạm giam Và căn cứ vào Đ88 BLTTHS thì biệnpháp tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, rấtnghiêm trọng; bị can bị cáo phạm tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt

tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xửhoặc có thể tiếp tục phạm tội

Như vậy, biện pháp bảo lĩnh có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo nêu trên chứ không phải chỉ ápdụng cho bị cáo là người chưa thành niên

10 Biện pháp bảo lĩnh chỉ áp dụng cho bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng => Nhận định

này sai, vì: Giải thích tương tự câu 9

11 Không được áp dụng biện pháp bảo lĩnh đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

=> Nhận định này sai, vì: Giải thích tương tự câu 9

12 Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản để đảm bảo được áp dụng không phụ thuộc vào việc bị can, bị cáo phạm loại tội gì

=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ K1 Đ93 BLTTHS thì biện pháp đặt tiền hoặc tài sản để bảođảm được áp dụng để thay thế biện pháp tạm giam mà căn cứ vào K1 Đ88 BLTTHS thì biện pháptạm giam có thể được áp dụng đối với mọi loại tội phạm Do đó

Do đó, không phải mọi quyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm đều phải đượcViện trưởng VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành

14 Biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với tất cả các loại tội phạm

=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ Đ88 BLTTHS thì biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đốivới bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng; bị can, bị cáo phạmtội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm

và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra truy tố, xét xử hoặc có thểtiếp tục phạm tội Mặt khác, theo quy định của BLHS thì tất cả các loại tội phạm (ít nghiêm trọng,nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng) đều có khung hình phạt trên hai năm Do

đó đối với loại tội nghiêm trọng ít nghiêm trọng mà có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặccản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội thì có thể áp dụng biện pháp tạmgiam

Do đó, biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với tất cả các loại tội phạm

Trang 10

15 Lệnh bắt người của CQĐT trong tất cả các trường hợp đều phải có sự phê chuẩn của VKS cùng cấp trước khi thi hành

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Đ81 BLTTHS thì lệnh bắt người của cơ quan điều tratrong trường hợp khẩn cấp thì không cần có sự phê chuẩn của VKS cùng cấp trước khi thi hành

16 Lệnh bắt người của CQĐT trong tất cả các trường hợp đều phải có sự phê chuẩn của Viện trưởng VKS cùng cấp

=> Nhận định này đúng, vì: Theo quy định của BLTTHS thì có hai trường hợp bắt người CQĐTphải ra lệnh bắt người đó là: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam được quy định tại Điểm d K1 Đ80BLTTHS và bắt người trong trường hợp khẩn cấp được quy định tại Điểm a K2 Đ81 BLTTHS Và

cả hai trường hợp này đều phải có sự phê chuẩn của Viện trưởng VKS cùng cấp (bắt bị can, bị cáo

để tạm giam thì phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành còn bắt người trong trườnghợp khẩn cấp thì phải thông báo ngay cho VKS và phê chuẩn sau khi thi hành)

17 Tất cả các trường hợp bắt người đều phải có lệnh

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Đ82 BLTTHS về bắt người phạm tội quả tang hoặcđang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan có thẩm quyền

Do đó trong trường hợp bắt người này không cần phải có lệnh

18 Tất cả các lệnh tạm giam đều phải được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 88 BLTTHS thì những người có thẩmquyền ra lệnh bắt được quy định tại Điều 80 BLTTHS thì có quyền ra lệnh tạm giam Tuy nhiên,không phải tất cả các lệnh tạm giam do những người có thẩm quyền trên ra lệnh đều phải đượcVKS phê chuẩn trước khi thi hành mà chỉ lệnh tạm giam của những người được quy định tại Điểm

d K1 Đ80 BLTTHS mới phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành

19 Biện pháp tạm giam không được áp dụng đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên

=> Nhận định này sai, vì: Bị can, bị cáo là người chưa thành niên vẫn có thể bị áp dụng biện pháptạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại K1, K2 Đ303 và Đ88 BLTTHS, cụ thể là:

- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại Đ88BLTTHS nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặcbiệt nghiêm trọng

- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại Đ88BLTTHS nhưng chỉ trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọnghoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

20 Biện pháp tạm giam không được áp dụng đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng

=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ vào Đ303 BLTTHS thì không có trường hợp nào người chưathành niên phạm tội ít nghiêm trọng bị áp dụng biện pháp tạm giam

21 Biện pháp tạm giam không được áp dụng đối với bị can, bị cáo là phụ nữ đang mang thai, người già yếu

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào K2 Đ88 BLTTHS thì bị can, bị cáo là phụ nữ có thai, ngườigià yếu mà có nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng BPNS khác ngoại trừ nhữngtrường hợp:

- Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã

- Bị can, bị cáo được áp dụng BPNC khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêmtrọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử

Trang 11

- Bị can, bị cáo phạm tội an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họthì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia

Như vậy, biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo là phụ nữ đang mang thai,người già yếu

22 Biện pháp tạm giam được áp dụng đối với mọi loại tội phạm

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Đ88 BLTTHS thì đối với bị can, bị cáo phạm tội đặcbiệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng thì có thể được áp dụng trong mọi trường hợp Cònđối với bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng thì chỉ có thể được áp dụngkhi thỏa mãn điều kiện : phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quyđịnh hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điềutra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội

Như vậy, không phải biện pháp tạm giam được áp dụng đối với mọi loại tội phạm mà đối với loạitội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng phải thỏa mãn được các điều kiện trên mới được áp dụng

Lưu ý: Nếu biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với mọi loại tội phạm thì nhận định này làđúng

23 Người chưa thành niên chỉ bị tạm giam khi họ phạm tội rất nghiêm trọng

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Đ303 BLTTHS thì người chưa thành niên cũng có thể bị tạmgiam khi phạm tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng, cụ thể:

- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại Đ88BLTTHS nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặcbiệt nghiêm trọng

- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều 88BLTTHS nhưng chỉ trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọnghoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

24 Tất cả các trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang đều phải

ra quyết định tạm giữ

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại k1 Đ83 BLTTHS sau khi bắt hoặc nhận người bị bắttrong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang không phải trong mọi trường hợp cơ quan điềutra đều phải ra quyết định tạm giữ mà còn có thể trả tự do cho người bị bắt

25 Trong mọi trường hợp việc hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn đã được áp dụng đều phải do viện kiểm sát quyết định

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tai K2 Đ94 BLTTHS thì chỉ đối với những biện phápngăn chặn do viện kiểm sát phê chuẩn thì việc hủy bỏ hoặc thay thế mới phải do viện kiểm sátquyết định Như vậy, không phải trong mọi trường hợp việc hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngănchặn đã được áp dụng đều phải do viện kiểm sát quyết định như trường hợp biện pháp ngăn chặn(bắt bị can, bị cáo để tam giam ; tạm giam ; cấm đi khỏi nơi cư trú ) do tòa án áp dụng không cần

có sự phê chuẩn của viện kiểm sát thì khi hủy bỏ hoặc thay thế không do viện kiểm sát quyết định

mà do tòa án quyết định

CHƯƠNG V: KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

1 Tố giác của công dân là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào K1 Đ100 BLTTHS thì tố giác của công dân không phải làcăn cứ để khởi tố VAHS mà là cơ sở để xác định dấu hiệu tội phạm

2 Cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án là cơ quan tiến hành tố tụng

=> Nhận định này sai, vì: Ngoài CQTHTT thì một số cơ quan khác cũng có thẩm quyền KTVAnhư: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác trong

Trang 12

CAND, QĐND được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được quy định tại Điều

4 Trong mọi trường hợp việc KTVAHS không phụ thuộc vào ý chí của người bị hại

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Điều 105 BLTTHS thì những vụ án về các tội phạm quy địnhtại khoản 1 các Điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 171 BLHS chỉ được khởi tố khi

có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thànhniên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất Và trong trường hợp người đã yêu cầu khởi

tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ

5 KTVAHS theo yêu cầu của người bị hại chỉ áp dụng đối với tội ít nghiêm trọng

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại k1 Đ105 BLTTHS thì KTVAHS theo yêu cầu củangười bị hại được áp dụng đối với những vụ án án về các tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều

104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 171 BLHS Mà theo quy định tại khoản 1 Điều 111 cómức hình phạt tù tối đa là 7 năm và khoản 1 Điều 113 có mức hình phạt tù tối đa là 5 năm đã thuộcloại tội nghiêm trọng được quy định tại Điều 8 BLHS

Như vậy, KTVAHS theo yêu cầu của người bị hại không chỉ được áp dụng đối với tội ít nghiêmtrọng mà còn đối với tội nghiêm trọng

6 Trong mọi trường hợp khi người bị hai rút yêu cầu trước khi mở phiên tòa thì vụ án phải được đình chỉ

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ K2 Đ105 BLTTHS: trường hợp có căn cứ để xác định người đãyêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc cưỡng bức thì tuy người

đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền vẫn có thể tiến hành tố tụng đối với vụ án Lưu ý: Trong mọi trường hợp khi người bị hại rút yêu cầu khởi tố một cách hợp pháp thì cơ quan

có thẩm quyền phải đình chỉ vụ án => Nhận định này sai, vì: tùy vào giai đoạn mà người bị hại rútyêu cầu để ra quyết định Nếu trong giai đoạn điều tra thì ra quyết định đình chỉ điều tra theo quyđịnh tại đa k2 Đ164 BLTTHS Nếu trong giai đoạn truy tố thì ra quyết định đình chỉ vụ án theo quyđịnh tại k1 Đ169 BLTTHS Nếu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thì ra quyết định đình chỉ vụ ántheo quy định tại Điều 180 BLTTHS

7 HĐXX có thể thực hiện đồng thời việc yêu cầu VKS khởi tố và tự mình khởi tố vụ án đó

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ đoạn 3 k1 Đ104 BLTTHS thì HĐXX ra quyết định khởi tố hoặcyêu cầu viện kiểm sát KTVAHS nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặcngười phạm tội mới cần phải điều tra Như vậy, Tòa án chỉ có thể thực hiện một trong hai hành vi

là yêu cầu VKS khởi tố hoặc tự mình khởi tố chứ không được đồng thời thực hiện hai hành vi trên

8 Tất cả các hoạt động chứng minh tội phạm chỉ được thực hiện sau khi có quyết định khởi tố

vụ án hình sự của cơ quan có thẩm quyền

=> Nhận định này sai, vì: Khám nghiệm hiện trường là một hoạt động chứng minh tội phạm và căn

cứ vào k2 Đ150 thì hoạt động khám nghiệm hiện trường có thể tiến hành trước khi KTVAHS

Trang 13

9 Trong mọi trường hợp, căn cứ khởi tố vụ án hình sự là dấu hiệu tội phạm

=> Nhận định này sai, vì: Đối với trường hợp KTVAHS theo yêu cầu của người bị hại quy định tạiĐ105 thì căn cứ để KTAHS không chỉ là dấu hiệu tội phạm mà còn có căn cứ là yêu cầu khởi tốcủa người bị hại

10 Khi thực hiện chức năng công tố, VKS có quyền hủy bỏ mọi quyết định không khởi tố không có căn cứ của các cơ quan có thẩm quyền

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ khoản 1 Điều 108 BLTTHS thì HĐXX có quyền ra quyết địnhkhông KTVA và căn cứ vào khoản 3 Điều 109 BLTTHS thì cũng tương tự như quyết định KTVAkhông có căn cứ thì đối với quyết định không KTVA không có căn cứ của HĐXX thì VKS không

có quyền hủy bỏ mà chỉ được kháng nghị lên Tòa án cấp trên Tuy nhiên, trên thực tế HĐXXkhông ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự

11 Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì có quyền thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án không có căn cứ

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ Điều 104 BLTTHS thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết địnhKTVAHS bao gồm: CQĐT, VKS, HĐXX và ngoài ra căn cứ vào Điều 111 BLTTHS thì các cơquan như Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác củaCAND, QĐND được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng có quyền ra quyếtđịnh KTVA Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định KTVA nhiều như vậy nhưng không phải tất cảcác cơ quan trên đều có quyền thay đổi bổ sung mà theo quy định tại Điều 106 BLTTHS thì chỉ cóCQĐT và VKS mới có quyền thay đổi, bổ sung quyết định KTVAHS

Mặt khác, theo quy định tại Điều 109 BLTTHS thì đối với các quyết định KTVA không có căn cứcủa HĐXX thì VKS kháng nghị với TA cấp trên còn đối với các quyết định khởi tố không có căn

cứ của các chủ thể còn lại thì VKS ra quyết định hủy bỏ đối với các quyết định khởi tố đó chứkhông phải thay đổi, bổ sung Việc thay đổi bổ sung chỉ áp dụng đối với những quyết định khởi tố

có căn cứ nhưng khởi tố không đúng với hành vi phạm tội được quy định tại Điều 106 BLTTHS

CHƯƠNG VI ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ

1 Mọi trường hợp thường dân phạm tội đều do CQĐT thuộc lực lượng CAND điều tra

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào K2 Đ3 PLTCTAQS thì trường hợp thường dân phạm tộinhưng phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội thì TAQS có thẩmquyền xét xử Và căn cứ vào K2 Đ110 BLTTHS quy định: “CQĐT trong QĐND điều tra các tộiphạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS Do đó trong trường hợp thường dân phạm tội nhưngphạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội thì do CQĐT trongQĐND điều tra Như vậy, không phải trong mọi trường hợp thường dân phạm tội đều do CQĐTthuộc lực lượng CAND điều tra,

2 Trong mọi trường hợp, quân nhân phạm tội đều do CQĐT trong QĐND tiến hành điều tra

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Đ4 PL TCTAQS thì đối với trường hợp người đang phục vụtrong quân đội mà phát hiện hành vi phạm tội của họ đã được thực hiện trước khi vào quân độinhưng tội phạm mà họ thực hiện không liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quânđội thì thuộc thẩm quyền xét xử của TAND Do đó căn cứ Khoản 2 Điều 110 BLTTHS quy định

“CQĐT trong QĐND điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS” thì trong trườnghợp này mặc dù là quân nhân phạm tội nhưng CQĐT trong QĐND không có thẩm quyền điều tra Như vậy, không phải trong mọi trường hợp, quân nhân phạm tội đều do CQĐT trong QĐND tiếnhành điều tra

Trang 14

3 Trong mọi trường hợp khi Cán bộ ngành tư pháp thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm hoạt động tư pháp đều do CQĐT trong VKSNDTC thực hiện việc điều tra

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ Điều 18 PLTCĐTHS thì VKSNDTC điều tra các vụ án hình sự

về một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tưpháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND Do đó, nếu cán bộ ngành tư phápthực hiện hành vi phạm tội xâm phạm hoạt động tư pháp nhưng tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét

xử của TAQS thì cơ quan điều tra trong VKSNDTC không có thẩm quyền điều tra

Như vậy, không phải trong mọi trường hợp khi cán bộ ngành tư pháp thực hiện hành vi phạm tộixâm phạm hoạt động tư pháp đều do CQĐT trong VKSNDTC thực hiện điều tra

4 Tất cả các cơ quan có thẩm quyền KTVA đều có thẩm quyền điều tra vụ án

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Đ104 và Đ111 BLTTHS có nhiều cơ quan có thẩmquyền khởi tố vụ án: VKS, TA, CQĐT, Bộ đội biên phòng, Kiểm lâm, Hải quan…Tuy nhiên, căn

cứ vào K1 Đ5 PLTCĐTHS thì chỉ CQĐT và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạtđộng điều tra mới được tiến hành điều tra các VAHS Do đó, không phải tất cả các cơ quan cóthẩm quyền KTVAHS đều có thẩm quyền điều tra vụ án

5 Tất cả các cơ quan có thẩm quyền điều tra vụ án đều có quyền khởi tố bị can

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào K1 Đ5 PLTCĐTHS thì CQĐT và cơ quan được giao nhiệm

vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền điều tra VAHS Tuy nhiên, căn cứ vào Điều

111 BLTTHS thì trong một số trường hợp cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt dộngđiều tra không có thẩm quyền khởi tố bị can Do đó không phải tất cả các cơ quan có thẩm quyềnđiều tra vụ án đều có thẩm quyền khởi tố bị can

6 Các cơ quan khác của CAND được giao một số hoạt động điều tra có quyền khởi tố bị can

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào K2 Đ111 BLTTHS thì cơ quan khác của CAND được giaomột số hoạt động điều tra không có quyền khởi tố bị can mà sau khi khởi tố vụ án, tiên hành nhữnghoạt động điều tra ban đầu thì phải chuyển hồ sơ cho CQĐT có thẩm quyền trong thời hạn 7 ngày

kể từ ngày ra quyết định KTVA

7 VKS không được quyền ra quyết định khởi tố bị can

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào K5 Đ126 BLTTHS thì sau khi nhận được hồ sơ và kết luậnđiều tra mà VKS phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tốthì VKS quyết định khởi tố bị can

8 Tất cả các hoạt động điều tra chỉ được tiến hành sau khi có quyết định KTVA 19

=> Nhận định này sai, vì: Khám nghiệm hiện trường là một trong những hoạt động điều tra quantrọng Căn cứ K2 Đ150 thì hoạt động khám nghiệm hiện trường có thể tiến hành trước khiKTVAHS

Như vậy, không phải tất cả các hoạt động điều tra chỉ được tiến hành sau khi có quyết định khởi tố

vụ án hình sự

9 Việc ủy thác điều tra chỉ được tiến hành giữa các CQĐT với nhau

=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ vào Đ118 BLTTHS quy đinh “khi cần thiết, cơ quan điều tra

có thể ủy thác cho cơ quan điều tra khác tiến hành một số hoạt động điều tra” Như vậy, việc ủythác điều tra chỉ được tiến hành giữa các cơ quan điều tra với nhau

10 Trong một số trường hợp cần thiết, CQĐT được ủy thác có quyền từ chối việc ủy thác

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Đ118 BLTTHS thì CQĐT được nhận ủy thác có trách nhiệmthực hiện đầy đử những việc được ủy thác theo thời hạn mà cơ quan điều tra ủy thác yêu cầu Đây

là nghĩa vụ của CQĐT nhận ủy thác do đó không được thừ chối việc ủy thác

Trang 15

11 Trong mọi trường hợp kết thúc điều tra, CQĐT phải ra bản kết luận điều tra

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ K2 Đ32 BLTTHS quy định về điều tra theo thủ tục rút gọn thì khikết thúc điều tra, CQĐT không phải làm bản kết luận điều tra mà ra quyết định đề nghị truy tố vàgủi hồ sơ vụ án cho VKS Như vậy, không phải trong mọi trường hợp kết thúc điều tra, CQĐT phải

ra bản kết luận điều tra

12 Mọi hoạt động điều tra đều phải có người chứng kiến

=> Nhận định này sai, vì: Trong một số hoạt động điều tra như khởi tố bị can được quy định tạiĐ126 BLTTHS, hỏi cung được quy định tại Đ131 BLTTHS thì không cần phải có người chứngkiến

13 Người chứng kiến là người biết được tình tiết vụ án nhưng không được triệu tập để trở thành người làm chứng

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Đ123 BLTTHS thì người chứng kiến không phải là ngườibiết được tình tiết của vụ án nhưng không được triệu tập để trở thành người làm chứng, mà tư cáchcủa người chứng kiến được hiểu là người được mời tham dự hoạt động điều tra trong một số trườnghợp do BLTTHS quy định Trách nhiệm của người chứng kiến là xác nhận nội dung và kết quảcông việc mà điều tra viên đã tiến hành trong khi mình có mặt

14 Mọi hoạt động điều tra đều phải lập thành biên bản

=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ vào K1 Đ95 và K1 Đ125 BLTTHS thì mọi hoạt động điều traphải lập thành biên bản do tính chất quan trọng của nó là một trong những loại nguồn của chứng cứđược quy định tại Đ d, K2, Đ64 BLTTHS

15 Trong mọi trường hợp, khi khám xét phải có lệnh

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào K3 Đ142 BLTTHS thì trong trường hợp bắt người hoặc khi

có căn cứ để khẳng định người có mặt tại nơi khám xét giấu trong người đồ vật, tài liệu cần thu giữthì có thể tiến hành khám người mà không cần có lệnh

16 Lệnh khám xét bao giờ cũng phải được VKS phê chuẩn

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào K1 Đ141 BLTTHS thì chỉ lệnh khám xét của những ngườiđược quy định tại điểm d K1 Đ80 BLTTHS thì mới phải được VKS phê chuẩn

17 Đối chất chỉ được áp dụng với những người có tư cách tố tụng giống nhau

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại K1 Đ138 BLTTHS thì đối chất không phụ thuộc vàoviệc người có tư cách tố tụng có giống nhau hay không mà khi có sự mâu thuẫn trong lời khai giữahai hay nhiều người thì ĐTV tiến hành đối chất Do vậy, đối chất không chỉ được áp dụng vớinhững người có tư cách tố tụng giống nhau

18 Hoạt động khám nghiệm hiện trường chỉ do CQĐT thực hiện

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Đa K1 Đ19 BLTTHS thì mặc dù bộ đội biên phòng khôngphải là cơ quan điều tra nhưng cũng có thẩm quyền tiến hành hoạt động khám nghiệm hiện trường

Do đó, không phải hoạt động khám nghiệm hiện trường chỉ do CQĐT thực hiện

19 Những người có thẩm quyền ra lệnh khám xét thì có quyền ra lệnh kê biên tài sản

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Đ141 BLTTHS thì những người có thẩm quyền ra lệnhkhám xét là những người được quy định tại K1 Đ80 và K2 Đ81 BLTTHS nhưng theo quy định tạiK1 Đ146 BLTTHS thì người có quyền ra lệnh kê biên tài sản là những người được quy định tại K1Đ80 BLTTHS Do đó những người có thẩm quyền ra lệnh khám xét quy định tại K2 Đ81 BLTTHS

sẽ không có quyền ra lệnh kê biên tài sản

Như vậy, không phải những người có thẩm quyền ra lệnh khám xét thì có quyền ra lệnh kê biên tàisản

20 Trong mọi trường hợp thời hạn tạm giam để điều tra luôn ngắn hơn thời hạn điều tra

Trang 16

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào khoản 1 Đ119 và K1 Đ120 BLTTHS thì trong trường hợpkhông gia hạn thì thời hạn tạm giam để điều tra bằng thời hạn điều tra Do đó, không phải mọitrường hợp thời hạn tạm giam để điều tra luôn ngắn hơn thời hạn điều tra

21 Trong mọi trường hợp, CQĐT phải ra quyết định phục hồi điều tra khi có căn cứ hủy bỏ quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào K1 Đ165 BLTTHS thì CQĐT chỉ ra quyết định phục hồiđiều tra khi có căn cứ hủy bỏ quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra và chưa hết thời hiệu truycứu TNHS Do đó, nếu có căn cứ hủy bỏ quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ diều tra nhưng hết thờihiệu truy cứu TNHS thì CQĐT không thể ra quyết định phục hồi điều tra Như vậy, không phảitrong mọi trường hợp, CQĐT phải ra quyết định phục hồi điều tra khi có căn cứ hủy bỏ quyết địnhđình chỉ, tạm đình chỉ điều tra

CHƯƠNG VII XÉT XỬ SƠ THẨM

1 Tòa án cấp huyện có quyền xét xử tất cả các tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào quy định tại K1 Đ170 BLTTHS thì tòa án cấp huyện xét xử

sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tộ phạmrất nghiêm trọng Tuy nhiên, những tội phạm: các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia,các tội pháhoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;

các tội phạm quy định tại các Đ 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224, 225, 226,

263, 293, 294, 295, 296, 322, và 323 BLHS mặc dù những tội phạm này có thể thuộc vào nhữngloại tội phạm trên nhưng tòa án cấp huyện không có quyền xét xử

2 TAND cấp huyện không được tuyên bị cáo quá 15 năm tù;

=> Nhận định này sai, vì: Mặc dù theo quy định tại Điều 170 BLTTHS thì đối với loại tội cao nhất

mà tòa án cấp huyện có thể xét xử là tội phạm rất nghiêm trọng có mức hình phạt tối đa là 15 năm

tù nhưng giới hạn 15 năm tù này chỉ giới hạn đối với một tội Do đó, nếu tổng hợp nhiều tội thìmức phạt tù có thể quá 15 năm tù

3 Tòa án nhân dân chỉ xét xử dân thường phạm tội

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Đ4 PLTCTAQS thì TAND có thể xét xử quân nhân phạm tộitrong trường hợp hành vi phạm tội của quân nhân thực hiện trước khi vào quân nhân và tội màquân nhân vi phạm không xâm phạm đến bí mật quân sự, không xâm phạm đến tài sản quân đội

4 Trong mọi trường hợp nếu có bị cáo thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS, có bị cáo thuộc thẩm quyền của TAND thì để đảm bảo bí mật quân sự, TAQS xét xử toàn bộ

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ Đ5 PLTCTAQS thì trong trường hợp có bị cáo thuộc thẩm quyềnxét xử của TAQS, có bị cáo thuộc thẩm quyền của TAND nếu có thể tách được vụ án thì TAQS xét

xử bị cáo thuộc thẩm quyền của mình, TAND xét xử bị cáo thuộc thẩm quyền của mình Còn nếukhông tách được vụ án thì TAQS mới xét xử toàn bộ vụ án Do đó không phải trong mọi trườnghợp nếu có bị cáo thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS vừa có bị cáo thuộc thẩm quyền xét xử xủaTAND thì TAQS xét xử toàn bộ

5 Tòa án cấp sơ thẩm không được quyền xét xử bị cáo theo tội danh khác với tội danh VKS

đã truy tố

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào quy định tại đoạn 2 Đ196 BLTTHS và mục 2.2 phần II NQ

04 thì TA có thể xét xử bị cáo về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố

6 Tòa án cấp sơ thẩm được quyền xét xử bị cáo theo tội danh khác nặng hơn tội danh VKS đã truy tố

Trang 17

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào quy định tại đoạn 2 Đ196 BLTTHS và mục 2.2 phần II NQ

04 thì TA chỉ có thể xét xử bị cáo về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố

7 Tòa án cấp sơ thẩm không được quyền xét xử bị cáo theo khoản khác nặng hơn khoản mà VKS đã truy tố

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào đoạn 2 Đ196 BLTTHS và mục 2.1 phần II NQ04 thì tòa án

có thể xét xử bị cáo theo khoản khác có thể nặng hơn hoặc nhẹ hơn so với khoản mà VKS đã truy

tố trong cùng một điều luật

8 Mọi trường hợp chuyển vụ án cho Tòa án khác chỉ áp dụng khi vụ án chưa được đưa ra xét

xử

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào đoạn 2 Đ174 BLTTHS thì trong trường hợp vụ án thuộcthẩm quyền xét xử của TAQS hoặc tòa án cấp trên thì mặc dù vụ án đã được đưa ra xét xử vẫn phảichuyển cho tòa án có thẩm quyền

9 Trong mọi trường hợp, thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử tính từ ngày nhận hồ sơ vụ

▪ Trường hợp bị can đang được tại ngoại, nếu sau khi nhận hồ sơ vụ án hoặc trong thời hạn nghiêncứu hồ sơ vụ án thấy cần thiết áp dụng biện pháp tạm giam đối với họ thì đề nghị chánh án hoặcphó chánh án ra lệnh bắt và tạm giam ngay Trong trường hợp này thời hạn tạm giam được tính kể

từ ngày bắt bị can để tạm giam

10 Tòa án có quyền xét xử vắng mặt bị cáo trong một số trường hợp luật định

=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ K2 Đ187 BLTTHS thì TA có thể xét xử vắng mặt bị cáo trongtrường hợp:

+ Bị cao trốn tránh và việc truy nã không có kết quả

+ Bị cáo đang ở nước ngoài và không thể triệu tập đến phiên tòa

+ Nếu sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại việc xét xử và họ đã được giao giấy triệu tập hợp lệ

11 Trong mọi trường hợp khi thành viên của HĐXX vắng mặt thì Tòa án phải hoãn phiên tòa

=> Nhận định này sai, vì: Theo tinh thần của Đ186 BLTTHS nếu có thành viên dự khuyết thìkhông phải hoãn

12 Trong mọi trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa theo quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS mà người bào chữa vắng mặt, HĐXX phải hoãn phiên tòa

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ tinh thần tại điểm d mục 3 phần II NQ03 thì không phải trongmọi trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa theo quy định tại K2 Đ57 BLTTHS mà người bàochữa vắng mặt thì HĐXX phải hoãn phiên tòa mà căn cứ vào từng trường hợp: nếu người bào chữavắng mặt mà bị cáo và người đại diện yêu cầu từ chối người bào chữa thì HĐXX không phải hoãnphiên tòa Nếu người bào chữa vắng mặt mà bị cáo, người đại diện không có yêu cầu từ chối ngườibào chữa thì HĐXX phải hoãn phiên tòa

* Thực tiễn: Trong trường hợp bắt buộc nếu người bào chữa vắng mặt mà có gửi bản bào chữatrước thì TA vẫn tiến hành xét xử bình thường Nếu không gửi bản bào chữa trước thì tùy vào từngtrường hợp như trên

Trang 18

13 Đối với bị cáo không bị tam giam nhưng bị xử phạt tù thì HĐXX bắt buộc phải ra quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay sau khi tuyên án

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào K2 Đ228 BLTTHS thì đối với bị cáo không bị tạm giamnhưng bị xử phạt tù thì chỉ bắt tạm giam để chấp hành hình phạt tù khi bản án đã có hiệu lực phápluật

14 Trong mọi trường hợp khi VKS rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa thì Tòa án phải đình chỉ vụ án

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào mục 1 phần III TT01/1988 thì không phải trong mọi trườnghợp khi VKS rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa thì TA phải đình chỉ vụ án mà chỉ khiVKS rút toàn bộ quyết định truy tố thì hội đồng xét xử mới ra quyết định đình chỉ vụ án, còn nếurút một phần thì HĐXX chỉ xét xử phần không bị rút truy tố

15 Trong mọi trường hợp, nếu thẩm phán không thể tiếp tục tham gia xét xử mà có thẩm phán dự khuyết thì tòa án vẫn tiếp tục xét xử

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ khoản 2 Điều 186 thì không phải trong mọi trường hợp nếu thẩmphán không thể tiếp tục tham gia xét xử mà có thẩm phán dự khuyết thì tòa án vẫn tiếp tục xét xử

mà tòa án vẫn tiến hành xét xử chỉ khi thẩm phán dự khuyết có mặt tại phiên tòa ngay từ đầu

16 Trong trường hợp bị cáo chưa nhận được bản cáo trạng thì HĐXX phải hoãn phiên tòa

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào mục 1.5 phần III NQ 04 thì không phải trong mọi trường hợp

bị cáo chưa nhận được bản cáo trạng thì HĐXX phải hoãn phiên tòa mà phải tùy vào từng trườnghợp:

Nếu trong trường hợp bị cáo chưa được giao nhận bản cáo trạng và quyết định vụ án ra xét xử hoặc

đã nhận được quyết định vụ án đưa vụ án ra xét xử tù 9 ngày trở xuống trước khi mở phiên tòa, thìphải hỏi bị cáo có đồng ý để TA tiến hành xét xử vụ án hay không Nếu bị cáo đồng ý thì ghi vàobiên bản phiên tòa và tiến hành xét xử vụ án theo thư tục chung Nếu bị cáo không đồng ý thìHĐXX mới hoãn phiên tòa

17 Chỉ có những người tiến hành tố tụng mới có quyền xét hỏi tại phiên tòa

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào K2 Đ207 BLTTHS thì không chỉ có những người tiến hành

tố tụng mới có quyền xét hỏi tại phiên tòa mà người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương

sự, người giám định cũng có quyền xét hỏi tại phiên tòa

18 Khi tuyên án, tất cả những người có mặt trong phòng xử án đều phải đứng dậy

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào mục 3.1 phần III NQ04 thì khi tuyên án không phải tất cảnhững người có mặt trong phòng xử án đều phải đứng dậy mà đối với những người vì lý do sứckhỏe được chủ tọa phiên tòa cho phép ngồi tại chỗ thì không phải đứng dậy

CHƯƠNG VIII: XÉT XỬ PHÚC THẨM, TÁI THẨM, GIÁM ĐỐC THẨM, THỦ TỤC RÚT GỌN

1 Phúc thẩm là thủ tục đương nhiên đối với việc giải quyết vụ án hình sự

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Đ230 BLTTHS thì phúc thẩm không phải là thủ tục đưuongnhiên đối với việc giải quyết vụ án hình sự mà thủ tục phúc phẩm chỉ diễn ra khi bản án, quyết định

sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị hợp pháp

2 Trong mọi trường hợp, người kháng cáo vắng mặt thì HĐXX phúc thẩm phải hoãn phiên tòa

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào K2 Đ245 BLTTHS thì trong trường hợp người kháng cáovắng mặt nhưng có lý do chính đáng thì HĐXX có thể tiến hành xét xử nhưng không được ra bản

án hoặc quyết định không có lợi cho bị cáo hoặc đương sự vắng mặt

Trang 19

3 Quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm không bị ràng buộc bởi nội dung kháng cáo, kháng nghị

=> Nhận định này sai, vì: Điều 241 BLTTHS quy định về phạm vi của Tòa án cấp phúc thẩm : Tòa

án cấp phúc thẩm chỉ xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị Tuy nhiên, nếu xét thấy cần thiết,Tòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án 25

4 Hội thẩm nhân dân có thể tham gia xét xử phúc thẩm tại Tòa phúc thẩm TANDTC khi cần thiết

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào K2 Đ2 BLTTHS thì hội thẩm nhân dân chỉ cơ cấu ở TANDcấp tỉnh và TAND cấp huyện còn trong TANDTC không có hội thẩm

5 TA cấp phúc thẩm có quyền tăng hình phạt cho bị cáo có kháng cáo, kháng nghị theo hướng giảm nhẹ

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào K3 Đ249 BLHS và điểm c mục 5 phần VI TT01/1988 thì TAcấp phúc thẩm chỉ có quyền tăng hình phạt cho bị cáo khi thỏa mãn điều kiện: phải có kháng cáohoặc kháng nghị hợp pháp theo hướng tăng nặng đối với bị cáo và phải có căn cứ để sửa bản ántheo hướng tăng nặng

6 Khi Sửa bản án theo hướng giảm nhẹ, quyền hạn của HĐXX phúc thẩm không phụ thuộc vào hướng kháng cáo, kháng nghị

=> Nhận định này đúng, vì: Kháng cáo kháng nghị có thể theo hướng tăng nặng hoặc giảm nhẹ.Tuy nhiên căn cứ vào K3 Đ249 BLTTHS thì ngay cả khi kháng cáo hoặc kháng nghị theo hướngtăng nặng nhưng có căn cứ để giảm nhẹ thì HĐXX vẫn có quyền sửa bản án theo hướng giảm nhẹ

Do vậy mà khi sửa bản án theo hướng giảm nhẹ, quyền hạn của HĐXX phúc thẩm không phụthuộc vào hướng kháng cáo, kháng nghị

7 HĐXX phúc thẩm có quyền trả hồ sơ điều tra bổ sung

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định K2 Đ248 BLTTHS thì HĐXX phúc thẩm không có quyềntrả hồ sơ điều tra bổ sung mà khi nhận thấy việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúcthẩm không thể bổ sung được thì TA cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại theo quyđịnh tại K1 Đ250 BLTTHS

8 Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xét xử theo nội dung kháng cáo, kháng nghị

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ theo Đ241 BLTTHS và mục 4 phần VI TT01/1988 thì ngoài nộidung kháng cáo kháng nghị thì nếu xét thấy cần thiết TA cấp phúc thẩm có thể xem xét các phầnkhác không bị kháng cáo kháng nghị của bản án Trường hợp cần thiết là trường hợp ở phần không

bị kháng cáo hoặc kháng nghị có điểm cần được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo

Trang 20

29

Trang 21

ĐỀ THI LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Lớp: CLC 39D

Thời gian làm bài: 75 phút

Sinh viên được sử dụng văn bản quy phạm pháp luật

Câu 1: Xác định những nhận định sau đây đúng hay sai? Tại sao? (4 điểm)

1 Chữ viết, hình ảnh trên Facebook có thể được xem là nguồn chứng cứ trong giai đoạn giải quyếtVAHS

2 Các nghĩa vụ phải thực hiện theo giấy cam đoan của bị can, bị cáo được bảo lĩnh và bị can, bị cáođược đặt tiền là giống nhau

3 Tất cả các hoạt động điều tra chỉ được tiến hành sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự

4 Hội đồng xét xử sơ thẩm phải hoãn phiên tòa khi người bào chữa chỉ định vắng mặt vì lý do bấtkhả kháng

Câu 2: Tình huống giả định (6 điểm)

A bị khởi tố và điều tra về tội giết người theo quy định tại khoản 1 Điều 123 BLHS năm 2015 Cơquan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát.Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát phát hiện Cơ quan điều tra đã không chỉ định người bào

Trang 22

chữa cho A (chưa đủ 18 tuổi trong quá trình điều tra); A thực hiện hành vi giết người để cướp tàisản

Câu hỏi a - Viện kiểm sát sẽ xử lý các trường hợp trên như thế nào?

Tình huống bổ sung thứ hai

Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật đã bị kháng nghị giám đốc thẩm Có đầy

đủ chứng cứ cho thấy bản án sơ thẩm quá nặng cho bị cáo

Câu hỏi c - Xác định thẩm quyền giám đốc thẩm đối với vụ án này? Cách xử lý của Hội đồng giám đốc thẩm trong trường hợp trên?

Giảng viên ra đề: TS Lê Huỳnh Tấn Duy

ĐỀ THI LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ (CÓ ĐÁP ÁN) Lớp: CLC 41A

Thời gian làm bài: 75 phút

Sinh viên được sử dụng văn bản pháp luật

Câu 1 Câu hỏi lý thuyết

Câu hỏi: Phân tích ý nghĩa của việc quy định những biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trong Bộ

luật tố tụng hình sự năm 2015? (2 điểm)

Đáp án:

Trong bối cảnh hiện nay, do yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, nhất làcác tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm về ma túy, vũ khí, tội mua bán người, khủng bố…; các tộiphạm ngày càng tinh vi, xảo quyệt, sử dụng nhiều công cụ, phương tiện công nghệ cao để phạmtội, nên nếu chỉ có điều tra công khai như Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì hiệu quả điều tra manglại không cao, đòi hỏi phải có quy định để tạo điều kiện cho hoạt động điều tra sử dụng biện phápđặc biệt được pháp luật thừa nhận, đồng thời cũng phù hợp với quy định của một số nước như:Pháp, Đức, Nga, Trung quốc…Do vậy, để giải quyết tình trạng trên, Bộ luật tố tụng hình sự 2015dành chương XVI để quy định biện pháp này với 08 điều, từ Điều 223 đến Điều 228

Đây là biện pháp bí mật thu thập chứng cứ, cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền tiến hành

tố tụng có thể áp dụng kết hợp nhiều biện pháp điều tra, để thu thập chứng cứ một cách có hiệu quảnhất, phục vụ tốt nhất cho công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm, không làm oan người vôtội, thực hiện đầy đủ hơn quyền tự do, bình đẳng của con người, quyền được suy đoán vô tội trong

tố tụng hình sự mà Hiến pháp 2013 đã quy định

Đây là biện phá nhằm giúp người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng tránh lạm dụng trongviệc thực thi pháp luật; là căn cứ để cơ quan tiến hành tố tụng chủ động thu thập chứng cứ, đấutranh có hiệu quả đối với người có hành vi phạm tội Việc hỏi cung bị can tại trụ sở Cơ quan điềutra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra bắt buộc phải được ghi âmhoặc ghi hình có âm thanh, quy định bắt buộc này cũng nhằm bảo vệ người bị áp dụng biện pháp tốtụng thực hiện tốt quyền con người, quyền công dân, tránh những trường hợp ép cung, nhục hình,

là nguyên nhân xảy ra tình trạng oan sai, bức cung, nhục hình Từ đó từng bước hạn chế, tiến tớichấm dứt việc người tiến hành tố tụng có hành vi bức cung, dùng nhục hình, mớm cung làm sailệch bản chất vụ án, dẫn đến oan sai cho người bị áp dụng biện pháp tố tụng

Câu 2 Phần câu hỏi nhận định

Nhận định sau đây là đúng hay sai? Tại sao? Nêu cơ sở pháp lý?

Ngày đăng: 10/06/2023, 15:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w