1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(TIỂU LUẬN) thế nào là tích lũy tư bản phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản nêu ví dụ và liên hệ thực tiễn

19 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thế Nào Là Tích Lũy Tư Bản? Phân Tích Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quy Mô Tích Lũy Tư Bản? Nêu Ví Dụ Và Liên Hệ Thực Tiễn
Tác giả Nhóm 9
Người hướng dẫn Đồng Thị Tuyền
Trường học Đại Học Phenikaa
Chuyên ngành Kinh Tế Chính Trị Mác-Lênin
Thể loại bài tập lớn
Năm xuất bản 2020 - 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 185,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Căn cứ vào tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, vai trò của các bộ phận tư bản khác nhau trong quá trình sản xuất giá trị thặng dư, C.Mác chia tư bản thành tư bản bất biến v

Trang 1

BÀI TẬP LỚN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC- LÊNIN

quy mô tích lũy tư bản? Nêu ví dụ và liên hệ thực tiễn

Giảng viên hướng dẫn : Đồng Thị Tuyền

Trang 2

Nêu khái quát về tư bản, giá trị thặng dư trong nền sx hàng hóa TBCN

Thế nào là tích lũy tư bản, bản chất tích lũy tư bản, động cơ tích lũy tư bản, hệ quả

Vận dụng, giải quyết đưa ra những vấn đề tích lũy và giải pháp gia tăng quy mô tích lũy cho Việt Nam, ý nghĩa của tích lũy tư bản trong thực tiễn

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN 2 PHẦN NỘI DUNG 2

2.1 Chương 1.Cơ sở lý luận tích lũy tư bản 2

2.1.1 Những vấn đề chung về tích lũy tư bản 2

2.1.2 Tích lũy tư bản 3

2.2 Chương 2 Liên hệ với tình hình tích lũy ở Việt Nam 9

2.2.1 Khái quát tình hình tích lũy vốn ở Việt Nam hiện nay 9

2.2.2 Các giải pháp thúc đẩy quá trình tích lũy ở Việt Nam 11

2.2.3 Ý nghĩa của tích lũy tư bản trong thực tiễn 13

PHẦN 3 PHẦN KẾT LUẬN 14

PHẦN 4 TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 4

PHẦN 1 PHẦN MỞ ĐẦU

Đất nước ta trong quá trình hội nhập, phát triển năng động đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng cả về kinh tế, chính trị, xã hội, nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế Đó là những thành quả rất đáng tự hào mà chúng ta

có được nhờ sự lựa chọn đúng đắn đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự vận dụng sáng tạo các phương pháp, nguyên lí

cơ bản của phát triển kinh tế vào điều kiện Việt Nam Mà theo C.Mác việc tích lũy tư bản là những động lực cuối cùng sẽ dẫn tới thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa Cộng Sản Từ nhận định đó ta thấy được nguồn vốn có vai trò rất lớn đến sự phát triển của đất nước Vốn là cơ sở để tạo ra việc làm, tạo ra công nghệ tiên tiến tăng năng lực sản xuất góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất theo chiều sâu Đồng thời, vốn cũng là cơ sở quyết định cho việc đầu tư vào tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị hỗ trợ, từ đó doanh nghiệp có thể phát triển, mở rộng, tăng năng suất tới mức tối ưu Nói rộng ra, cơ cấu kinh tế của một đất nước phụ thuộc không ít vào vốn Vậy, ở quá trình tái sản xuất, thường là tái sản xuất mở rộng của các nhà đầu tư, yêu cầu vốn phải tăng mà không còn đi vay được như ban đầu nữa thì vốn từ đâu mà có?

Câu trả lời được đưa ra là nhờ vào tích luỹ tư bản Vậy tích luỹ tư bản là

gì ? Những nhân tố nào ảnh hưởng tới tích luỹ tư bản? Hiện trạng tích luỹ tư bản của nhà nước và các doanh nghiệp ở Việt Nam? Làm cách nào để có thể vận dụng tích luỹ tư bản một cách có hiệu quả nhất? Để đưa ra câu trả lời cho

những câu hỏi trên em nghiên cứu để tài “Tích luỹ tư bản và các nhân tố

ảnh hưởng đến quy mô tích luỹ”.

Do trình độ hiểu biết còn hạn chế nên bài làm còn nhiều thiếu sót Em rất mong được sự chỉ bảo giảng viên Em xin chân thành cảm ơn giảng viên đã hướng dẫn em hoàn thành bài tiểu luận này

Trang 5

PHẦN 2 PHẦN NỘI DUNG

2.1.1. Những vấn đề chung về tích lũy tư bản.

2.1.1.1 Khái quát về “ tư bản” , “ giá trị thặng dư” trong nền sản xuất hàng hóa TBCN.

Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột sức lao động của người công nhân lao động làm thuê Bản chất của tư bản là quan hệ bóc lột trong đó giai cấp tư sản đã chiếm đoạt giá trị thặng dư do giai cấp công nhân sáng tạo ra Căn cứ vào tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, vai trò của các bộ phận tư bản khác nhau trong quá trình sản xuất giá trị thặng dư, C.Mác chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến Trong

đó tư bản khả biến là bộ phận quyết định trong quá trình sản xuất giá trị thặng

dư vì nó chính là bộ phận đã lớn lên

Giá trị thặng dư là mức độ dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không, giá trị thặng dư là nguồn gốc hình thành lên thu nhập của các nhà tư bản và các giai cấp bóc lột trong chủ nghĩa tư bản Khi sức lao động trở thành hàng hóa thì tiền tệ mang hình thái là tư bản và gắn liền với nó là một quan hệ sản xuất mới xuất hiện: quan hệ giữa nhà tư bản và lao động làm thuê Thực chất của mối quan hệ này là nhà tư bản chiếm đoạt giá trị thặng dư của công nhân làm thuê

2.1.1.2 Nguồn gốc, bản chất của giá trị thặng dư

Theo Mác, kết quả của lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa Lao động cụ thể là lao động hao phí dưới một hình thức cụ thể của một nghề nghiệp chuyên môn nhất định, có mục đích riêng và kết quả riêng

Trang 6

Qua nghiên cứu, C.Mác đi đến kết luận: “ Tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông mà cũng không xuất hiển ở người lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông” Quá trình sản xuất

ra tư bản chủ nghĩa là quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư Phần giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động được tính bằng giá trị sức lao động công thêm giá trị thặng dư Như vậy, giá trị thặng dư là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo

ra và bị các nhà tư bản chiếm đoạt

Giá trị của một hàng hóa của một hàng hóa bằng giá trị tư bản bất biến ( c ) mà nó chứa đựng, cộng với giá trị của tư bản khả ( v ) Qua sự phân chia

tư bản bất biến và tư bản khả biến, ta thấy được bản chất bóc lột tư bản chủ nghĩa, chỉ có lao động của công nhân là thuê mới tạo ra giá tri thặng dư của nhà tư bản Tư bản đã bóc lột một phần giá trị mới do công nhân tạo ra Như vậy, giá trị mà tư bản bỏ ra một giá trị c + v Nhưng giá trị mà tư bản thu vào

là c + v + m Phần m là phần dôi ra mà tư bản bóc lột

Có thể nói, qua giá trị thặng dư, bản chất của tư bản chủ nghĩa là bóc lột sức người lao động để tạo ra nhiều thặng dư hơn cho mình Việc họ bóc lột công nhân càng nhiều thì giá trị thặng dư được tạo ra càng cao

2.1.2. Tích lũy tư bản 2.1.2.1 Thực chất của tích lũy tư bản.

Từ xưa đến nay, con người để tồn tại, sau đó sáng tạo, xây dựng cho cuộc đời đều cần có những nhu cầu hỗ trợ như ăn uống, may mặc, tinh thần

Để có đầy đủ tư liệu đáp ứng cho những nhu cầu ấy, tất nhiên con người phải sản xuất ra chúng Thế nên mọi người đều ngầm thừa nhận rằng “sản xuất ra của cải vật chất là điều kiện tồn tại của xã hội loài người"

Trang 7

Trong quá trình kinh doanh sản xuất, ta thấy đa số các nhà tư bản cũng như doanh nghiệp đều có xu hướng quay lại tiếp tục đầu tư, sản xuất sau mỗi loạt sản phẩm được bán ra ngoài thị trường Quá trình này được các nhà kinh

tế học gọi là “tái sản xuất”, nó thường lặp đi lặp lại và sẽ tiếp diễn một cách liên tục Nếu sản xuất mang hình thái TBCN thì tái sản xuất cũng mang hình thái đó Quá trình lao động trong phương thức sản xuất TBCN chỉ là một phương tiện cho quá trình tăng thêm giá trị, thì tái sản xuất cũng vậy nó cũng chỉ là một phương tiện để tái sản ra giá trị ứng trước với tư cách là tư bản , tức

là với tư cách là giá trị tự tăng thêm giá trị

Ta sẽ đi tìm hiểu tích luỹ tư bản dọc theo quá trình hình thành của nó Quay trở lại với tài sản xuất, căn cứ vào quy mô, có thể chia tài sản xuất làm hai loại: tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng Như chúng ta biết, khát vọng về giá trị thặng dư của các nhà nhà tư bản là vô hạn, vì vậy hiển nhiên rằng thay vì việc sử dụng toàn bộ thặng dư cho tiêu dùng cá nhân, giữ nguyên quy mô sản xuất, không tăng vốn thì họ lựa chọn không ngừng mở rộng quy

mô sản xuất để tăng quy mô giá trị thặng dư Đó chính là hình thức tiến hành của chủ nghĩa tư bản - tái sản xuất mở rộng, lặp lại quá trình sản xuất với quy

mô lớn hơn trước, với một lượng tư bản lớn hơn trước Tích lũy tư bản, trong kinh tế chính trị Mác -Lênin là việc biến một bộ phận giá trị thặng dư trở lại thành tư bản

Nói tựu chung lại, tích luỹ tư bản là sự chuyển hoá của giá trị thặng dư trở lại thành tư bản, theo ngôn ngữ dễ hiểu của các nhà đầu tư thì đây là quá trình giữ lại một phần lợi nhuận để gộp vào với phần giá trị vốn bỏ ra từ đầu, sau khi bán hàng đã thu về được để làm vốn cho việc tái sản xuất mở rộng vào lần sau Từ đó, có thể rút ra rằng thực chất của tích lũy tư bản là quá trình tư bản hoá giá trị thặng dư

Trang 8

Nói một cách cụ thể tích lũy tư bản là tái sản xuất ra tư bản với quy mô ngày càng mở rộng Sở dĩ giá trị thặng dư có thể chuyển hoá thành tư bản là

vì giá trị thặng dư đã mang sẵn những yếu tố vật chất của tư bản mới Có thể minh hoạ tích lũy tư bản và tái sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng ví dụ:

Năm thứ nhất quy mô sản xuất là 80c + 20v + 20m Giả định 20m không

bị nhà tư bản tiêu dùng tất cả cho cá nhân, mà được phân thành 10m dùng để tích luỹ và 10m dành cho tiêu dùng cá nhân của nhà tư bản Phần 10m dùng

để tích luỹ được phân thành 8c + 2v, khi đó quy mô sản xuất của năm sau sẽ

là 88c + 22v + 22m (nếu m vẫn như cũ) Như vậy, vào năm thứ hai, quy mô

tư bản bất biến và tư bản khả biến đều tăng lên, giá trị thặng dư cũng tăng lên tương ứng

Vậy nguồn gốc duy nhất của tích lũy tư bản là giá trị thặng dư và tư bản tích lũy chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong toàn bộ tư bản.Trong quá trình tái sản xuất, lãi cứ đập vào vốn , vốn càng lớn thì lãi càng lớn , do đó lao động của công nhân trong quá khứ lại trở thành phương tiện để bóc lột chính người công nhân

2.1.2.2 Động cơ của tích lũy tư bản

Động cơ thúc đẩy tích lũy và tái sản xuất mở rộng là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản – quy luật giá trị thặng dư Để thực hiện mục đích đó các nhà tư bản không ngừng tích lũy để mở rộng sản xuất, xem đó là phương tiện căn bản để tăng cường bóc lột công nhân làm thuê và làm giàu cho bản thân

Như vậy, tích lũy tư bản giữ vai trò quyết định làm cho nền sản xuất tư bản lớn nhanh, không có tích lũy thì không có quy mô sản xuất lớn hơn Nếu không tích lũy thì sẽ không thể giữ vững trên thị trường, đồng nghĩa của sự phá sản của tư bản

Trang 9

2.1.2.3 Hệ quả của tích lũy tư bản

Mặt tích cực: Đầu tiên, tích luỹ tư bản làm cho quy mô vốn ngày càng tăng, từ đó các nhà tư bản sẽ có điều kiện để đầu tư vào cải tiến kĩ thuật, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ để giành được lợi thế trong cạnh tranh Thứ hai, nếu các nhà tư bản hiểu được bản chất của tích luỹ tư bản, nắm được các nhân tố quy mô tích luỹ, nhờ vậy có thể vận dụng trong sản xuất kinh doanh để tăng vốn cũng như sử dụng vốn có hiệu quả trong kinh tế Nhờ vào tích luỹ tư bản mà năng suất lao động xã hội sẽ tăng lên, như vậy mà nền kinh tế chung cũng sẽ phát triển tích cực hơn

Mặt tiêu cực: Rủi ro trước hết mà tích luỹ tư bản mang đến là càng ngày càng làm tăng chênh lệch giàu nghèo Của cải xã hội sẽ tập trung vào tay giai cấp tư sản nhiều hơn nữa, công nhân càng bị bóc lột nặng nề Thất nghiệp, nghèo đói cũng tăng lên Vì vậy, mâu thuẫn xã hội giữa giai cấp công nhân và

tư sản sẽ ngày càng trở nên sâu sắc Không chỉ vậy, tiêu dùng của người lao động sẽ bị hạn chế Sự chênh lệch đó có khả năng dẫn đến khủng hoảng kinh

tế sản xuất thừa có điều kiện phát sinh, phá hoại nặng nề và thường xuyên nền sản xuất của xã hội tư bản chủ nghĩa

Tích tụ tư bản và tư bản tập trung: Tích tụ tư bản là sự tăng quy mô của

tư bản nhờ vào quá trình tích luỹ tư bản của từng nhà tư bản riêng lẻ Còn tập trung tư bản tuy cũng là là sự tăng quy mô của tư bản chủ nghĩa nhưng lại nhờ vào sự hợp nhất, sát nhập nhiều tư bản nhỏ sẵn có trong xã hội thông qua tự nguyện sát nhập hoặc cạnh tranh, thôn tính lẫn nhau

Trang 10

2.1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản

Với một khối lượng giá trị thặng dư nhất định thì quy mô của tích lũy tư bản phụ thuộc vào tỉ lệ phân chia khối lượng của giá trị thặng dư đó thành quỹ tích lũy và quỹ tiêu dung của nhà tư bản, nhưng nếu tỉ lệ phân chia đó đã được xác định, thì quy mô của tích lũy tư bản phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư Do đó, những nhân tố ảnh hưởng tới khối lượng giá trị thặng dư cũng là nhân tố quyết định quy mô của tích lũy tư bản Những nhân tố đó là:

Trình độ bóc lột sức lao động Các nhà tư bản nâng cao trình độ bóc

lột sức lao động bằng cách cắt xén vào tiền công Khi nghiên cứu sự sản xuất giá trị thặng dư, C.Mác giả định rằng sự trao đổi giữa công nhân và nhà tư bản là sự trao đổi ngang giá, tức là tiền công bằng giá trị sức lao động Nhưng trong thực tế, công nhân không chỉ bị nhà tư bản chiếm đoạt lao động thặng dư, mà còn bị chiếm đoạt một phần lao động tất yếu, cắt xén tiền công, tăng cường độ lao động, để tăng tích luỹ tư bản Cái lợi ở đây còn thể hiện ở chỗ nhà tư bản không cần ứng thêm tư bản để mua thêm máy móc, thiết bị mà chỉ cần ứng tư bản để mua thêm nguyên liệu là có thể tăng được khối lượng sản xuất, tận dụng được công suất của máy móc, thiết bị, nên giảm được hao mòn vô hình và chi phí bảo quản của máy móc, thiết bị

Trình độ năng suất lao động xã hội Nếu năng suất lao động xã hội

tăng lên, thì giá cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng giảm xuống Sự giảm này đem lại hai hệ quả cho tích luỹ tư bản: Một là, với khối lượng giá trị thặng dư nhất định, phần dành cho tích luỹ có thể tăng lên, nhưng tiêu dùng của các nhà tư bản không giảm, thậm chí có thể cao hơn trước; Hai là, một lượng giá trị thặng dư nhất định dành cho tích luỹ có thể chuyển hoá thành một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao

Trang 12

Do đó, quy mô của tích luỹ không chỉ phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư được tích luỹ, mà còn phụ thuộc vào khối lượng hiện vật do khối lượng giá trị thặng dư đó có thể chuyển hoá thành Nếu năng suất lao động cao, thì lao động sống sử dụng được nhiều lao động quá khứ hơn, lao động quá khứ đó lại tái hiện dưới hình thái có ích mới, được sử dụng làm chức năng của tư bản ngày càng nhiều, từ đó làm tăng quy mô của tích luỹ tư bản

Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng Trong quá trình sản xuất, tư liệu lao động tham gia toàn bộ

vào quá trình sản xuất, nhưng chúng chỉ hao mòn dần, do đó giá trị của chúng được chuyển dần từng phần vào sản phẩm Vì vậy có sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng

Tư bản sử dụng là khối lượng giá trị những tư liệu lao động mà toàn bộ quy mô hiện vật của chúng đều hoạt động trong quá trình sản xuất sản phẩm Còn tư bản tiêu dùng là phần giá trị những tư liệu lao động ấy được chuyển vào sản phẩm theo từng chu kỳ sản xuất dưới dạng khấu hao Do đó, có sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng Sự chênh lệch này là thước đo sự tiến bộ của lực lượng sản xuất Kỹ thuật càng hiện đại, sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng càng lớn, thì sự phục vụ không công của tư liệu lao động càng lớn

Quy mô của tư bản ứng trước Với trình độ bóc lột không thay

đổi, thì khối lượng giá trị thặng dư do khối lượng tư bản khả biến quyết định Do đó quy mô của tư bản ứng trước, nhất là bộ phận tư bản khả biến càng lớn, thì khối lượng giá trị thặng dư bóc lột được càng lớn, do

đó tạo điều kiện tăng thêm quy mô của tích luỹ tư bản

Trang 13

Từ sự nghiên cứu bốn nhân tố quyết định quy mô của tích luỹ tư bản có thể rút ra nhận xét chung là để tăng quy mô tích luỹ tư bản, cần khai thác tốt nhất lực lượng lao động xã hội, tăng năng suất lao động, sử dụng triệt để công suất của máy móc, thiết bị và tăng quy mô vốn đầu tư ban đầu

2.2.1. Khái quát tình hình tích lũy vốn ở Việt Nam hiện nay.

Đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh

tế, nhất là hơn 20 năm đổi mới vừa qua, tốc độ tăng trưởng khá cao, sản xuất phát triển, có tích luỹ từ nội bộ, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Để giữ được tốc độ tăng trưởng cao trong những năm tới sẽ phụ thuộc rất nhiều vào việc tích lũy, huy động vốn cho nền kinh tế Một trong những nguyên nhân chính là thực trạng tích lũy vốn của ta chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, quy mô vốn của các doanh nghiệp thấp

Sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta bắt đầu từ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1960 đến 1964 do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đề ra Quá trình này có thể được chia thành 2 thời kỳ:

Thời kỳ 1960- 1985: Công nghiệp hóa được tiến hành trong điều kiện cơ chế kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp

Thời kỳ 1986 đến nay: CNH gắn liền với quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN Từ năm 1986, cùng với công cuộc đổi mới, mở cửa, các kênh huy động vốn cho CNH, HĐH cũng bắt đầu phong phú, linh hoạt hơn Đối với nguồn vốn nước ngoài, ngoài hình thức cũ là vay nợ và viện trợ, đã có thêm hình thức đầu tư trực tiếp Nguồn vốn trong nước cũng được bổ sung một số kênh mới, đặc biệt là từ khi có pháp lệnh Ngân hàng nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, tín dụng và công ty Tài chính

Ngày đăng: 24/12/2023, 11:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w