1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vàng Và Tiền Giấy Trong Hệ Thống Tiền Tệ Quốc Tế - Liên Hệ Thực Tiễn Việt Nam.pdf

37 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vàng Và Tiền Giấy Trong Hệ Thống Tiền Tệ Quốc Tế - Liên Hệ Thực Tiễn Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thùy Dung, Chu Thị Nga, Ngô Thanh Vân, Phạm Thị Kim Khánh, Đặng Thị Phương Loan, Trần Thị Thơm, Phạm Thị Thanh Mai, Lăng Đức Dương
Người hướng dẫn Thầy Tô Xuân Cường
Trường học Khoa Kinh Tế Quốc Tế
Thể loại Bài Tập Lớn
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 510,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC KINH TẾ QUỐC TẾ 2 Đề tài Vàng và tiền giấy trong hệ thống tiền tệ quốc tế Liên hệ thực tiễn Việt Nam GVHD Thầy Tô Xuân Cường Nhóm sinh viên thực hiện Nhóm D1 1 Nguyễn Thùy Dung (nh[.]

Trang 1

BÀI TẬP LỚN

MÔN HỌC: KINH TẾ QUỐC TẾ 2

tiễn Việt Nam

GVHD: Thầy Tô Xuân Cường

Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm D1

Trang 2

MỤC LỤC

Chương 1 Khái quát về tiền tệ và hệ thống tiền tệ quốc tế 2

1.1 Quá trình phát triển của tiền tệ 2

1.1.1 Khái nịêm 2

1.1.2 Các hình thái tiền tệ 4

1.2 Hệ thống tiền tệ quốc tế 7

Chương 2 Vai trò của vàng và tiền giấy trong các hệ thống tiền tệ quốc tế 9

2.1 Vàng và tiền giấy trong các hệ thống tiền tệ quốc tế 9

2.1.1 Hệ thống tiền tệ Paris (bản vị vàng) 9

2.1.2 Hệ thống tiền tệ Genoa (bản vị hối đoái) 10

2.1.3 Hệ thống tiền tệ Bretton Woods 11

2.1.4 Hệ thống tiền tệ hậu Bretton Woods 14

2.2 Vàng và tiền giấy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam 17

2.2.1 Trước 1945 17

2.2.2 Từ 1945 đến nay 22

2.2.3 Những biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao vị thế của VNĐ và hoàn thiện thị trường vàng thời gian tới 28

1 Tiểu luận Tư tưởng HCM

Trang 3

Chương 1 Khái quát về tiền tệ và hệ thống tiền tệ quốc tế

1.1 Quá trình phát triển của tiền tệ

1.1.1 Khái nịêm.

Theo quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin thì tiền tệ là hàng hoá đặc biệt, dùng làm vậtngang giá chung cho tất cả các hàng hoá, là sự thể hiện chung của giá trị và thể hiện laođộng xã hội ; đồng thời tiền tệ biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuấthàng hoá, do quá trình phát triển lâu dài của trao đổi hàng hoá tạo ra

Tiền với cách hiểu chung nhất là bất cứ cái gì được chấp nhận trong thanh toán để lấyhàng hoá hoặc trong việc hoàn trả các khoản nợ

2Tiểu luận Tư tưởng HCM

Trang 4

3Tiểu luận Tư tưởng HCM

Trang 5

1.1.2 Các hình thái tiền tệ

Tiền tệ từ xưa cho đến nay đã trải qua các hình thái cơ bản sau :

1.1.2.1 Hóa tệ (commodity money)

Hóa tệ là loại tiền tệ bằng hàng hóa Đấy chính là hình thái đầu tiên của tiền tệ và được sử dụng trong một thời gian dài Trong các loại hàng hóa được dùng làm tiền tệ được chia làm hai loại: hàng hóa không phải kim loại (non metallic commodities) và hàng hóa kim loại (metallic commodities) Do vậy, hóa tệ cũng bao gồm hai loại: hóa tệ không kim loại và hóa tệ kim loại:

1.1.2.1.1 Hóa tệ không kim loại

Tức là dùng hàng hóa không kim loại làm tiền tệ Đấy là hình thái cổ xưa nhất của tiền tệ, rất thường dùng trong các xã hội cổ truyền Tùy theo từng quốc gia, từng địa phương, người ta dùng những loại hàng hóa khác nhau làm tiền tệ Chẳng hạn:

-Ở Hy Lạp và La Mã người ta dùng bò và cừu

-Ở Tây Tạng, người ta dùng trà đóng thành bánh

Nói chung, hóa tệ không kim loại có nhiều bất lợi khi đóng vai trò tiền tệ như: tính chất không đồng nhất, dễ hư hỏng, khó phân chia, khó bảo quản cũng như vận chuyển, nó chỉ được công nhận trong từng khu vực, từng địa phương Vì vậy, hóa tệ không kim loại dần dần bị loại bỏ vì người ta bắt đầu dùng hóa tệ kim loại thay thế cho hóa tệ không kim loại

1.1.2.1.2 Hóa tệ kim loại (Kim tệ)

Tức là lấy kim loại làm tiền tệ Các kim loại được dùng làm tiền tệ gồm: đồng, kẽm, vàng, bạc…

Nói chung, các kim loại có nhiều ưu điểm hơn hẳn hàng hóa không kim loại khi được sử dụng làm thành tiền tệ như: phẩm chất, trọng lượng có thể quy đổi

4Tiểu luận Tư tưởng HCM

Trang 6

chính xác hơn, dễ dàng hơn Mặt khác, nó hao mòn chậm hơn, dễ chia nhỏ, giá trịtương đối ít biến đổi…

Trãi qua thực tiễn trao đổi và lưu thông hóa tệ kim loại, dần dần người ta chỉ chọn hai kim loại qu dùng để làm tiền tệ lâu dài hơn là vàng và bạc Sở dĩ vàng hay bạc trở thành tiền tệ lâu dài là vì bản thân nó có những thuận tiện mà những kim loại khác không có được như: tính đồng nhất, tính dễ chia nhỏ, tính dễ cất trữ, tính dễ lưu thông

1.1.2.2 Tín tệ (Token money)

Tức là loại tiền mà bản thân nó không có giá trị, song nhờ sự tín nhiệm của mọi người mà nó được lưu dùng Cũng chính vì ly do này mà nhiều lúc người ta gọi loại tiền tệ này là chỉ tệ

Tín tệ gồm hai loại: Tín tệ kim loại và tiền giấy

1.1.2.2.1 Tiền kim loại (coin):

iền kim loại thuộc hình thái tín tệ khác với tiền kim loại thuộc hình thái hóa tệ ở chỗ: Trong hóa tệ kim loại giá trị của kim loại làm thành tiền bằng giá trị ghi trên

bề mặt của đồng tiền, còn ở tín tệ kim loại, giá trị chất kim laọi đúc thành tiền và giá trị ghi trên bề mặt của đồng tiền không có liên hệ gì với nhau, có thể gắn cho

nó một giá trị nào cũng được1.1.2.2.2 Tiền giấy (Paper money or bank notes)

Tiền giấy có hai loại: tiền giấy khả hoán và tiền giấy bất khả hóan

– Tiền giấy khả hoán: là một mảnh giấy được in thành tiền tiền và lưu hành, thay thế cho tiền bằng vàng hay tiền bằng bạc mà người ta k gửi tại ngân hàng Người

có loại tiền nà có thể đến ngân hàng để đổi lấy một số lượng vàng hay bach tương đương với giá trị ghi trên tờ giấy hoặc sử dụng làm tiền vào cất cứ lúc nào

họ cần

5Tiểu luận Tư tưởng HCM

Trang 7

Tại phương Tây, tiền giấy khả hoán xuất hiện vào thế kỷ 17, ông Palmstruck, người sang lập ra ngân hàng Stockholm của Thụy Điển vào thế kỷ 17 được công nhận là người đầu tiên sang chế ra tiền giấy khả hoán.

Ở Phương Đông, tiền giấy khả hoán xuất hiện sớm hơn hẳn ở phương Tây

– Tiền giấy bất khả hoán là loại tiền giấy bắt buộc lưu hành và dân chúng không thể đem nó đến ngân hàng để đổi lấy vàng hay bạc Đấy là loại tiền giấy mà ngày nay tất cả các quốc gia trên thế giới đều sử dụng

Tại Việt Nam, tiền giấy ra đời vào thế kỷ 15, dưới thời Hồ Qúy Ly

Tại Pháp, tiền giấy trở thành bất khả hoán năm 1720, từ năm 1848 đến năm

1850, từ năm 1870 đến năm 1875, từ năm 1914 đến năm 1828 và sau cùng kể từ ngày 01-10-1936 đến nay

Tại Hoa Kỳ, trong thời gian nội chiến vào những năm 1862-1863, nhiều nước đã phá hành tiền giấy bất khả hoán Sau nội chiến kết thúc, trở thành khả hoán kể từnăm 1879

Có thể nói, chiến tranh thế giới lần thứ nhất và cuộc khủng hoảng kinh tế

1929-1933 là nguyên nhân chính để dẫn đến việc sử dụng tiền giấy bất khả hoán rộng khắp các nước

1.1.2.3 Bút tệ (Bank money)

Bút tệ hay còn gọi là tiền ghi sổ được tạo ra khi phát tín dụng thông qua tài khoảntại ngân hàng,do vậy, bút tệ không có hình thái vật chất, nó chỉ là những con số trả tiền hay chuyển tiền thể hiện trên tài khoản ngân hàng Thực chất, bút tệ là tiền phi vật chất, nhưng nó cũng có những tính chất giống như tiền giấy là được

sử dụng trong thanh toán qua những công cụ thanh toán của ngân hàng như: séc,lệnh chuyển tiền…mà còn có những ưu điểm hơn hẳn tiền giấy, đó là: an toàn hơn, chuyển đổi ra tiền giấy dễ dàng, thanh toán rất thuận tiện, kiểm nhận nhanh

1.1.2.4 Tiền điện tử (electronic money)

6Tiểu luận Tư tưởng HCM

Trang 8

Tiền điện tử là loại tiền đượ sử dụng qua hệ thống thanh toán tự động hay còn gọi là hộp ATM (Automated teller machine) Đó là một hệ thống máy tính được nối mạng với toàn bộ hệ thống ngân hàng trung gian và một hộp chuyển tiền của chính phủ.

Tóm lại, ở bất cứ nền kinh tế nào, dù ở bất cứ mức độ phát triển nào cũng có tínhchất đa dạng nhất định của nó Do vậy, việc tồn tại nhiều hình thái tiền tệ để thỏamãn tất cả những nhu cầu đa dạng của xã hội, của các cá nhân là điều tất nhiên

1.2 Hệ thống tiền tệ quốc tế

Do sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thế giới, đòi hỏi sự giao thương, trao đổihàng hóa, tiền tệ quốc tế được hình thành để đáp ứng các nhu cầu phát triển đó và đểthiết lập các quan hệ kinh tế ngoài lãnh thổ quốc gia, do vậy, hệ thống tiền tệ quốc tế rađời là một yêu cầu thiết yếu của nhân loại Có thể thấy, hệ thống tiền tệ quốc tế hìnhthành trên cơ sở mối quan hệ thương mại – tài chính giữa các quốc gia, giúp các quốcgia khắc phục các vấn đề phát sinh đặc biệt là thâm hụt cán cân ngân sách mà không cầndùng tới các công cụ bảo hộ hay các biện pháp hạn chế khác

Về khái niệm, “Hệ thống tiền tệ quốc tế là tập hợp các quy tắc, công cụ, phương tiện,

thể lệ hoặc định chế điều chỉnh các quan hệ tài chính – tiền tệ và tỷ giá hối đoái giữa cácquốc gia, nhằm bảo đảm thực hiện các giao dịch thanh toán quốc tế, bảo đảm sự ổnđịnh và phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế nói chung”

Về chức năng, hệ thống tiền tệ đóng vai trò quan trọng trong :

- Các tác động đáng kể đến thương mại và đầu tư quốc tế: hệ thống tiền tệ chophép các hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế thực hiện rất dễ dàng, an toàn vànhanh chóng trong quá trình thanh toán hay bỏ vốn đầu tư ngoại thương

- Khẳng định rõ vai trò quan trọng của chính phủ và các định chế tài chính quốc tếtrong việc xác định tỷ giá: Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén đến tình hình

7Tiểu luận Tư tưởng HCM

Trang 9

sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hoá, tình trạng tài chính, tiền tệ, cán cân thanh toán quốc

tế, thu hút vốn đầu tư, dự trữ của đất nước

Về các tiêu chí đánh giá tính hiệu quả, một hệ thống tiền tệ quốc tế

Việc đánh giá tính hiệu quả của một hệ thống tiền tệ quốc tế cần dựa trên những tiêuchí như sau:

- Độ tin cậy về cả lý thuyết lẫn thực tế của hệ thống: Sự xác định tỷ giá hối đoáitrên lý thuyết là phải phù hợp với trên thực tế, tính công bằng trong việc xác định tỷ giáphải thật cao Từ đó tạo sự tin cậy lẫn nhau và sự tin cậy vào hệ thống của các bên thamgia thì hệ thống tiền tệ này, họ sẽ tham gia hệ thống một cách hiệu quả nhất, làm nênthành công cho hệ thống

- Khả năng điều chỉnh cán cân thanh toán: Trước những biến động lớn về chínhtrị của thế giới, cán cân thanh toán của một quốc gia dễ dàng rơi vào tình trạng thâmhụt kéo dài, một hệ thống tiền tệ có tính ổn định cao mới có thể đứng vững trong mọihoàn cảnh để giúp các quốc gia hạn chế tối đa thời gian và cái giá phải trả khi điều chỉnhcán cân thanh toán góp phần lớn giúp nền kinh tế thế giới bình ổn qua qua mọi biếnđộng

- Dự trữ tiền tệ quốc tế : Công cụ giúp các quốc gia điều chỉnh thâm hụt tạm thờitrong cán cân thanh toán và tiến hành các giao dịch quốc tế đúng hạn Khả năng đảmbảo cho đồng tiền của các hệ thống tiền tệ riêng của các quốc gia và khu vực chuyển đổi

dễ dàng với nhau mà không gây nên những tác động xấu

Ngoài ra, tính hiệu quả của một hệ thống tiền tệ quốc tế cũng thể hiện qua việc thực hiện các chức năng của nó Như đã nêu trên, chức năng chính của một hệ thống tiền tệ chính là xác lập tỉ giá hối đoái và phương tiện thanh toán giữa các đồng tiền, đảmbảo cho việc thực hiện các thanh toán quốc tế, sau nữa là bảo đảm sự ổn định và phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế nói chung Một hệ thống tiền tệ cần thực hiện thật tốt

8Tiểu luận Tư tưởng HCM

Trang 10

chức năng chính của mình và phải có những tác động tích cực, góp phần lớn cho việc điều hòa và thúc đấy sự phát triển quan hệ kinh tế quốc tế.

Chương 2 Vai trò của vàng và tiền giấy trong các hệ thống tiền tệ quốc tế

2.1 Vàng và tiền giấy trong các hệ thống tiền tệ quốc tế

2.1.1 Hệ thống tiền tệ Paris (bản vị vàng) 2.1.1.1 Sự ra đời của hệ thống tiền tệ Paris(1867-1914)

- Ra đời vào năm 1867 tại Paris và kéo dài đến năm 1914

- Thời kì hoàng kim của chế độ bản vị vàng(1880-1914) : hệ thống tiền tệ quốc tế hoạt động một cách ổn định và hợp tác giữa các nước trong khu vực và trên thế giới

2.1.1.2 Nguyên tắc hoạt động

Các quốc gia gắn đồng tiền của mình với vàng bằng cách quy định giá vàng tình bằng đồng tiền đó và cho phép việc mua bán vàng tự do theo mứac giá đã quy định (mức ngang giá vàng) Vàng cũng được phép trao đổi tự do giữa các nước và trở thành nguồn

dự trữ quốc tế chính thức.Tỷ giá hối đoái được thiết lập bằng cách đối chiếu nội dung vàng của hai đồng tiền nào đó và tỷ giá cố định

=>Vàng có vai trò quan trọng trong trao đổi và thanh toán,tiền giấy được phép chuyển đổi thành vàng

2.1.1.3 Quá trình hoạt động trên thực tế

Mặc dù tỷ giá được duy trì sát với mức ngang giá chung nhưng chỉ có một lượng nhỏ vàng được trao đổi giữa các nước khi xảy ra mất cân đối lớn trong cán cân thanh toán (không có được điều kiện hiệu quả 2) Lý do là có những yếu tố khác tác động đến tỷ giá hối đoái và duy trì nó trong giới hạn các điểm vàng trước khi việc trao đổi vàng diễn ra: Một là, kinh tế thế giới trong giai đoạn này không gặp phải các cú sốc lớn mà đang ở thời kỳ tăng trưởng nhanh và với quy mô lớn

Hai là, nắm giữ vai trò là trung tâm thương mại và tài chính duy nhất của thế giới, nước Anh sử dụng chính sách lãi suất của ngân hàng trung ương để điều chỉnh sự vận động của các luồng vốn và qua đó duy trì cân bằng trong cán cân thanh toán

Ba là, các quốc gia (trừ Anh) duy trì sự cân bằng của tỷ giá và cán cân thanh toán bằng việc thanh toán thông qua chuyển khoản bảng Anh qua ngân hàng tại London

2.1.1.4 Tác động tích cực của hệ thống Paris

9Tiểu luận Tư tưởng HCM

Trang 11

Hệ thống bản vị vàng là một hệ thống đơn giản, phù hợp với nhận thức và thực tiễn thanh toán và quan hệ kinh tế quốc tế lúc đó.Nó đã thực hiện được chức năng của mình, góp phần ổn định và thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế quốc tế thời kì ấy Thứ nhất, với hàng rào thương mại vàng hoàn toàn được gỡ bỏ và kiểm soát ngoại hối cùng chu chuyển vỗn ít được áp dụng cộng với việc không có một sự phá gia hay nâng giá nàogiữa các đồng tiền của các cường quốc trên thế giới đã đảm bảo ổn định một nguồn dự trữ ngoại tệ, từ đó thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế phát triển vượt bậc Trong chế độ bản vị vàng, các nhà đầu tư gần như được đảm bảo chắc chắn trước những rủi ro

về tỷ giá, luồng vốn chu chuyển tự do nhằm tìm kiếm nguồn lợi nhuận cao nhất, góp phần khuyến khích phân công lao động quốc tế, gia tăng phúc lợi lao động Cơ chế điều chỉnh cán cân thanh toán được vận hành một cách hiệu quả, những điểm bất cân đối trong cán cân thanh toán của quốc gia sẽ tự động điều chỉnh về mức cân bằng Hệ thốngbản vị vàng cũng ít tạo ra mâu thuẫn giữa các quốc gia Tuy nhiên, hệ thống này cũng có một số hạn chế nhất định Nếu cán cân thanh toán của quốc gia bị thâm hụt hoặc

thường xuyên thay đổi do phải dựa vào lãi suất, mức giá cả, thu nhập nên dễ dẫn đến tình trạng thất ngiệp, lạm phát hoặc đình đốn Ngoài ra, hệ thống này không có những nguyên tắc thực sự bắt buộc các quốc gia phải tuân theo và vai trò của Ngân hàng trung ương cũng không được rõ nét (do lượng vàng được chu chuyển tự do và lượng tiền dựa vào lượng vàng hiện có)

2.1.1.5 Sự sụp đổ của hệ thống Paris

Có 4 nguyên dẫn đến sự sụp đổ của chế độ bản vị vàng :

- Thứ nhất, lịch sự của chế độ bản vị vàng không dài và cũng không thành công

- Thứ hai, các nước và các kiểu khôi phục chế dộ bản vị vàng đều thất bại

- Thứ ba, dưới chế độ bản vị vàng thường xuyên xuất hiện khủng hoảng tài chính và những cơn “ sóng thần” vật giá

- Thứ tư, nền tảng lưu thông của tiền vàng dưới chế độ bản vị vàng bị yếu đi rất nhiều

2.1.2 Hệ thống tiền tệ Genoa (bản vị hối đoái) 2.1.2.1 Sự ra đời của hệ thống Giơ-noa(1922-1931)

-Sau Thế chiến lần thứ nhất,ra đời nhằm thiết lập một quan hệ mậu dịch tín dụng tiền

tệ quốc tế,nhằm khôi phục kinh tế sau chiến tranh

-Năm 1922, tại một hội nghị quốc tế ở Giơ-noa(Italia), nhóm các nước gồm Anh, Pháp, Italia và Nhật Bản đã kêu gọi các nước quay trở lại chế độ bản vị vàng và thực hiện sự

10Tiểu luận Tư tưởng HCM

Trang 12

hợp tác giữa các ngân hàng trung ương nhằm được đồng thời các mục tiêu đối nội lẫn đối ngoại.

2.1.2.2 Nguyên tắc hoạt động của chế độ bản vị vàng hối đoái.

Đồng USD và Bảng Anh có vai trò chính trong thanh toán và hai đồng tiền này trở thành phương tiện dự trữ chính thức (cùng với vàng) của các quốc gia Áp dụng tỉ giá hối đoái thả nổi và bản vị vàng có giới hạn Theo chế độ này, chỉ có một số đồng tiền chủ chốt trong thanh toán quốc tế phải giữ bản vị vàng, còn các đồng tiền khác khi thanh toán sẽ được chuyển đổi theo một trong số các dồng tiền chủ chốt Như vậy vàng sẽ được tích

tụ ở những trung tâm tài chính lớn nhất của thế giới, cụ thể là ở các nước phát hành ngoại tệ vàng, và tạo nên nguồn dự trữ quốc tế duy nhất của các quốc gia đó Có thể thấy được hệ thống Giơ Noa là một hệ thống trung gian giữa hệ thống bản vị vàng và hệ thống hối đoái thả nổi

2.1.2.3 Hoạt động của chế độ bản vị vàng hối đoái

-Năm 1925, Anh tuyên bố tái lập khả năng chuyển đổi ra vàng của đồng và xóa bỏ mọi hạn chế đối với việc xuất khẩu vàng.Sau đó các quốc gia khác cũng lần lượt quay lại chế

độ bản vị vàng.Riêng Mỹ thì đã thực hiện điều này sớm hơn vào năm 1919

-Như vậy chế độ bản vị vàng hối đoái được hình thành, với đồng bảng Anh được coi là ngoại tệ vàng(và trong chừng mực nhất định các đồng đô la Mỹ và Frăng Pháp cũng có được vai trò như vậy)

- Tuy nhiên hoạt động của hệ thống này quá ngắn ngủi: vào năm 1931 Anh đã buộc phải tuyên bố ngừng đổi bảng Anh ra vàng và phá giá đồng bảng để tránh sự thất thoát nguồn dự trữ của mình.Tiếp sau hành động của Anh, các nước khác cũng lần lượt tuyên

bố thủ tiêu chế độ bản vị vàng hối đoái, cụ thể là Dức vào năm 1931, Mỹ năm 1933 và Pháp năm 1936

2.1.2.4 Sự sụp đổ của hệ thống Giơ-noa

Hệ thống Giơ-noa đã có tác dụng nhất định trong việc khắc phục sự suy thoái kinh tế dolạm phát ở nhiều nước sau chiến tranh thế giới thứ nhất, củng cố một phần nhỏ nền kinh tế các quốc gia giữa hai cuộc đại chiến

Tuy nhiên do các quan hệ tài chính trên thế giới rối ren:hình thành một số liên minh tiền

tệ do một số nước đầu sỏ cầm đầu và chế độ tiền tệ này tạo nhiều lợi thế cho Anh trong lĩnh vực mậu dịch quốc tế:Anh tuyên bố phá giá 33% so với tổng đô la Mỹ

Điều đó cũng là sự khai tử của chế độ tiền tệ này

11Tiểu luận Tư tưởng HCM

Trang 13

2.1.3 Hệ thống tiền tệ Bretton Woods 2.1.3.1 Sự ra đời của hệ thống tiền tệ Bretton Woods

Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, các nước Châu Âu bị tàn phá nặng nề, nền kinh tế rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng Tuy nhiên vào thời điểm này, tiềm lực kinh tế của nước

Mỹ lại trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết, trong vòng hai thập kỷ đầu sau chiến tranh thếgiới thứ II, Mỹ là trung tâm tài chính, kinh tế duy nhất của thế giới Đặc biệt Mỹ nắm đến75% trữ lượng vàng thế giới Nhằm khôi phục nền kinh tế thế giới, cải tổ hệ thống tiền tệquốc tế tránh được những sai lầm trước đây, cũng như tạo ra một trật tự tiền tệ quốc tếmới để tránh sự tan rã các mối quan hệ tiền tệ trên phạm vi quốc tế thì vào năm 1944 một hội nghị quốc tế gồm 730 đại biểu đại diện cho 44 quốc gia trên thế giới gia đã họp tại Bretton Woods tiểu bang New Hamshine để bàn bạc, phác thảo hệ thống tiền tệ quốc tế thời hậu chiến

2.1.3.2 Nguyên tắc hoạt động ( chế độ bản vị vàng –USD)

Lập ra quỹ tiền tệ quốc tế IMF ( đây được coi là phần cốt lõi của hệ thống BrettonWoods) bao gồm các quy định rõ ràng để hướng dẫn chỉ đạo các chính sách tiền tệ quốc

tế và có trách nhiệm tăng cường thực hiện những quy định đó, theo dõi, giám sát hoạt động của hệ thống tiền tệ quốc tế

Thành lập ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế (IBRD) hay còn gọi là ngân hàng thế giới (WB) Ngân hàng này chịu trách nhiệm tài trợ cho những dự án phát triển, hỗ trợ cho những nước Châu Âu phục hồi nền kinh tế sau chiến tranh và huy động vốn từ những nước phát triển để cho vay lại với lãi suất thấp ở những nước nghèo, kém phát triển nhằm giúp họ phát triển nền kinh tế

Áp dụng chế độ tỷ giá cố định điều chỉnh hạn chế mà theo hệ thống Bretton Woods, mỗi quốc gia xây dựng chính sách ngang giá dựa trên đồng Đô la Mỹ, còn đồng Đôla Mỹ được định giá theo vàng là 35$ = 1 ounce Các quốc gia phải cam kết theo đuổi chính sách kinh tế và tiền tệ để có trách nhiệm giữ tỷ giá hối đoái giao động ±1% so với giá trị ngang giá đã được thỏa thuận bằng cách mua hoặc bán ngoại hối khi cần thiết Chỉ với những quốc gia có tình trạng mất cân đối nghiêm trọng mới có thể được thay đổi ngang giá cho đồng tiền của họ Và khi các quốc gia phá giá hoặc nâng giá tiền tệ >5% phải có

sự đồng ý trước của IMF

Theo chế độ này, Đôla Mỹ là đơn vị tiền tệ duy nhất có đầy đủ khả năng chuyển đổi

ra vàng, các đồng tiền khác không được chuyển đổi trực tiếp ra vàng Các nước dùng vàng hoặc Đôla Mỹ làm phương tiện thanh toán quốc tế Có thể nói hệ thống Bretton Woods là hệ thống bản vị hối đoái vàng dựa trên Đô la Mỹ

12Tiểu luận Tư tưởng HCM

Trang 14

2.1.3.3 Hoạt động của hệ thống Bretton Woods trên thực tế

- Giai đoạn 1: giai đoạn “đói đô la”(1943-1958)

IMF đóng vai trò thụ động, các quốc gia chưa tích cực chuyển đổi đồng tiền của mình,hàng tỷ đô la mà châu Âu nhận được để khôi phục kinh tế là do Mỹ cung cấp trongkhuân khổ Marshall

- Giai đoạn 2: giai đoạn “bội thực đô la” (1959-1971)

Trong thời gian này đồng đôla được coi là tốt như vàng nên đã vực dậy được các nềnkinh tế yếu kém ở châu Âu và các nước bổ sung thêm nguồn dự trữ đô la của mìnhnhưng lại dẫn đến tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán của Mỹ Mỹ không phá giáđồng đôla và áp dụng nhiều biện pháp khác như chính sách lãi suất ngắn hạn cao đồngthời giữ mức lãi suất dài hạn thấp, can thiệp trên thị trường hối đoái nhưng khôngthành công

Để duy trì mức giá 35USD/auxo do xu hướng gia tăng tích trữ vàng cá nhân thì ngânhàng trung ương phải gia tăng lượng vàng bán ra dẫn tới dự trữ vàng ngân hàng giảm

Ra đời quy chế “ Quyền rút vốn đặc biệt”nhằm tạo ra hình thức tiền tệ quốc tế mới với

số lượng có thể điều chỉnh một cách chủ ý để đáp ứng nhu cầu về dự trữ quốc tế nhưngkhông thành công

Cuối cùng vào năm 1971 Mỹ phá giá đồng đô la lần thứ nhất đánh dấu sự sụp đổ của hệthống tiền tệ này

2.1.3.4 Những tác động tích cực của hệ thống Bretton Woods

Hệ thống Bretton Woods thành công phần nào trong việc thúc đẩy sự phát triểnkinh tế thế giới khi có sự tăng trưởng chưa từng thấy về sản lượng, thu nhập, thươngmại thế giới Các cuộc khủng hoảng tài chính đã gây ra nhiều khó khăn cho các nướcnhưng những gì đạt được trong khuôn khổ hệ thống để đối phó lại những khó khăn đóvẫn được duy trì và có tầm quan trọng đặc biết trong thế giới hiện tại ( như sự ra đờicủa quỹ tiền tệ quốc tế IMF và ngân hàng thế giới WB)

Các quốc gia theo hệ thống Bretton Woods sẽ có nguồn dự trữ của họ dưới dạngtiền tệ của một nước duy nhất và chỉ có nước đó mới thực sự theo hệ thống bản vị vàng

Hệ thống hối đoái này cho phép các nước thành viên tiết kiệm được vàng vì họ có thể

13Tiểu luận Tư tưởng HCM

Trang 15

dùng vàng hoặc ngoại hối làm phương tiện thanh toán quốc tế Hệ thống này còn chophép các nước thành viên hưởng thu nhập trong việc nắm giữ ngoại hối, trong cất trữvàng không đem lại thu nhập Ngoài ra các nước còn giảm được chi phí giao dịch do việcchuyển dịch vàng giữa các nước với nhau Dự trữ tiền tệ quốc tế được cung ứng dồi dàokhi tỷ giá hối đoái ổn định tạo thuận lợi cho đầu tư và mậu dịch quốc tế suốt hai thậpniên 50 và 60.

2.1.3.5 Sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods

Do nhu cầu dự trữ ngày càng tăng, Mỹ phải liên tục chịu thâm hụt cán cân thanhtoán và dần dần niềm tin vào đồng Đô la Mỹ sẽ bị thương tổn làm bùng nổ việc săn lùng

Đô la Các nước khác cũng phải dự trữ ngoại tệ để giải quyết thâm hụt cán cân thanhtoán và nếu thâm hụt kéo dài sẽ đưa đến sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods Mặtkhác, nếu Mỹ áp dụng các biện pháp nhằm cải thiện cán cân thanh toán thì sẽ dẫn đếnthiếu hụt thanh khoản của hệ thống, tạo áp lực thiểu phát nền kinh tế thế giới Mâuthuẫn này được gọi là nghịch lý Triffin và đã bộc lộ rõ đầu những năm 70 và chế độ hốiđoái này dựa trên Đô la Mỹ đã hoàn toàn sụp đổ

2.1.3.6 Vai trò của tiền giấy và vàng

Vì đâylà chế độ bản vị vàng nên đồng tiền được bảo đảm bằng vàng sẽ không cho phépchính phủ tùy tiện in tiền giấy Cản trở này ngăn hiện tượng lạm phát do đánh tụt giátiền tệ Nó được tin rằng giúp loại bỏ được sự bất ổn hệ thống tiền tệ, đảm bảo sự tínnhiệm của tổ chức phát hành tiền tệ và khuyến khích hoạt động cho vay

2.1.4 Hệ thống tiền tệ hậu Bretton Woods 2.1.4.1 Các cuộc khủng hoảng tài chính thời kỳ hậu Bretton Woods

2.1.4.1.1 Khủng hoảng nợ của các nước đang phát triển

Vào đầu những năm 80, một loạt các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các nước

Mỹ Latinh, phải gánh chịu những khoản nợ khổng lồ không chỉ với các ngân hàng thươngmại quốc tế lớn, mà cả với IMF và WB Vào năm 1982, các nước Mehico, Brazin và Achentina tuyên bố không đủ khả năng trả lãi đối với các khoản vay của mình Nhiều nước ở châu Phi khác cũng gặp phải những vấn đề tương tự cũng trong thời gian này, lạm phát phi mã còn xảy ra ở nhiều nước trong số những con nợ lớn nói trên, mà điển hình là Brazin: lạm phát ở nước này tăng lên đến 933% vào năm 1988

Vào năm 1989, kế hoạch Brady được đưa ra nhằm giúp cá nước đang phát triển khắcphục tình trạng nợ nần Kế hoạch này đề xuất việc giảm nợ với quy mô lớn cho các nước

14Tiểu luận Tư tưởng HCM

Trang 16

nghèo, chuyển các khoản nợ cũ thành nợ mới với lãi suất thấp, và tạo ra các công cụ nợ ( dựa trên những khoản nợ này) có thể được chuyển nhượng được trên thị trường tài chính thế giới các nước mắc nợ có thể nhận được những khoản cho vay từ các tổ chức tài chính và sử dụng chúng để mua các chứng khoán đặc biệt ( gọi là chứng khoán

Brady) trên thị trường tài chính thế giới đến năm 1944, phần lớn các khoản nợ ngân hàng đã giảm bớt quy mô và được chuyển thành trái phiếu, chấm dứt cuộc khủng hoảng

nợ khởi đầu từ năm 1982

2.1.4.1.2 Khủng hoảng tài chính ở Mehico 1995

Sau khi gia nhập Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ ( NAFTA) vào năm 1992, kinh tếMehico tăng trưởng nhanh và ổn định Dòng vốn nước ngoài, đặc biệt từ Mỹ đổ vào nước này với quy mô khoảng 64 tỷ USD trong giai đoạn 1990-1994 Tuy nhiên cũng trong thời gian này bắt đầu xuất hiện những dâu hiệu không lành mạnh đối với khinh tế của nước này Vốn nước ngoài đưa vào phần lớn dưới dạng đầu tư gián tiếp, chứ không phải đầu tư trực tiếp ngoài ra, thâm hụt cán cân vãng lai của Mehico có xu hướng gia tăng nhanh chóng

Để chống lại áp lực giảm giá đối với đồng peso, chính phủ Mehico phải sử dụng dữ trữ đô la để tiến hành can thiệp thường xuyên trên thị trường hối đoái Kết quả là nguồn

dự trữ dô la của Mehico giảm từ mức 6 tỷ USD vào đầu năm 1994 xuống còn 3,5 tỷ USD vào cuối năm Tuy nhiên, đến năm 1997 thì Mehico đã khôi phục được đà tăng trưởng kinh tế và đã trả được các khoản nợ trước thời hạn

2.1.4.1.3 Khủng hoảng tài chính châu Á 1997

Vào giữa năm 1997, cảm nhận được sự yếu kém của kinh tế Thái và nguy cơ của mộtcuộc khủng hoảng đang tới gần, các nhà đầu tư nước ngoài đã ồ ạt rút khỏi thị trường chứng khoán Thái Lan và chuyển các khoản đầu tư của mình sang đô la Mỹ vào ngày 2/7/1997, chính phủ Thái tuyên bố phá giá và thả nổi đồng bạt trong tương quan với đô

la Đồng bạt bắt đầu trượt dốc, và đến tháng 1/1998 thì đồng tiền này mất giá tới 50%

so với đô la

Sau Thái Lan, các đồng ringit Malayxia, rupi Indonexia và đô la Singapore lần lượt bị mất giá mạnh Từ Đông Nam Á, khủng hoảng lan tới Hàn Quốc Đồng won của nước này bắt đầu giảm giá vào mùa thu năm 1997, và những nỗ lực của ngân hàng trung ương Hàn Quốc nhằm duy trì tỷ giá tại mức 1USD= 1000 won không mang lại kết quả mong muốn vào ngày 17/11/1997, đồng won được thả nổi, và giá trị của nó nhanh chóng giảm xuống mức 1USD= 1500 won

Để cứu vãn nền kinh tế, trừ Malayxia và Singapo có đủ khả năng tự đối phó với khủng hoảng, các nước Thái Lan, Indonexia và Hàn Quốc đã phải viện đến sự trợ giúp

15Tiểu luận Tư tưởng HCM

Trang 17

của IMF và WB với nhiều điều kiện ràng buộc để nhận được khoản vay 17,2 tỷ USD, TháiLan đã phải chấp nhận một loạt các yêu cầu của IMF, cụ thể là tăng thuế, giảm chi tiêu công cộng, tư nhân hóa một số doanh nghiệp nhà nước, tăng lãi suất, đóng cửa các tổ chức tài chính không còn khả năng thanh toán Tương tự, Indonexia đã nhận được sự hỗtrợ của IMF, WB và Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), với khoản viện trợ lên tới 37 tỷ USD Đổi lại, chính phủ Indonexia cam kết đóng cửa những ngân hàng yếu kém, cơ cấu lại hệ thống tài chính, cắt giảm chi tiêu công cộng, xóa bỏ trợ cấp đối với một số ngành kinh tế.

Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tài chính- tiền tệ ở châu Á?

- Nó bắt nguồn từ chủ nghĩa tư bản kiểu châu Á Các quy định lỏng lẻo, tình trạng cho

vay bừa bãi, với những đối tượng đi vay không có khả năng thanh toán, sự yếu kém về năng lực tài chính của các ngân hàng và doanh nghiệp được coi là những yếu tố dẫn tới

sự sụp đổ của hệ thống tài chính

- Hành vi của các nhà đầu tư và tình trạng đầu cơ tiền

- Tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai kinh niên ở các nước trong khu vực đã dẫn tới sự mất giá với quy mô lớn của đồng tiền các nước đó

2.1.4.1.4 khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008

Vào năm 2008, thế giới đã trải qua cuộc khủng hoảng tài chính được coi là tồi tệ nhất kể từ sau Đại khủng hoảng 1929-1933 Khủng hoảng được khởi đầu từ Mỹ, rồi sau

đó nhanh chóng lan ra khắp thế giới khủng hoảng đã làm sụy đổ nhiều ngân hàng lớn của Mỹ và các nước khác, thị trường chứng khoán trên toàn thế giới chao đảo, chứng khoán bị sụt giá ghê gớm, tiền tệ bị mất giá quy mô lớn ở nhiều nước Mỹ và các nước công nghiệp phát triển đã phải bỏ ra những khoản tiền khổng lồ để cứu nguy nền kinh tếnói chung và hệ thống tài chính nói riêng

Mỹ là khởi điểm, và cũng là trung tâm của cuộc khủng hoảng kể từ cuối năm 2005,

“ bong bóng nhà đất” ở Mỹ bắt đầu vỡ, kinh tế Mỹ bắt đầu tăng trưởng chậm lại tới giữa năm 2007, những tổ chức tài chính đầu tiên của Mỹ liên quan đến tín dụng nhà ở thứ cấp bị phá sản giá chứng khoán mỹ bắt đầu giảm dần sự đổ vỡ tài chính lên đến đỉnh điểm vào tháng 10/2008, khi ngay cả các ngân hàng khổng lồ, lâu đời và từng sống sót qua những cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế trước đây như Lahman Brothers, Morgan Stanley, Citigroup, AIG,… cũng lâm nạn

Có 3 nguyên nhân trực tiếp dẫn đến khủng hoảng tài chính 2008.

- Thứ nhất là sự hình thành và đổ vỡ của bong bóng nhà đất, của các khoản chovay thế chấp nhà đất Sâu hơn là những bất ổn tín dụng nói chung ở Mỹ

16Tiểu luận Tư tưởng HCM

Trang 18

- Thứ hai là sự yếu kém của hệ thống tài chính – ngân hàng ở Mỹ và của nhiều nước khác.

- Thứ ba là sự mất cân bằng kinh tế toàn cầu sâu sắc và kéo dài, dẫn tới phá vỡ các tương quan và cục diện phát triển hiện có Nguyên lý cân bằng, hài hòa trong việc giải quyết mối quan hệ gữa thị trường và nhà nước trong vận hành nền kinh tế thị trường bị vi phạm nghiêm trọng

2.1.4.2 Tương lai của hệ thống tiền tệ quốc tế

Những cuộc khủng hoảng trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ quốc tế cho thấy sự cần thiết phải thiết lập một hệ thống tiền tệ quốc tế mới để đáp ứng được những thách thức của nền kinh tế toàn cầu Nhiều ý kiến cho rằng vai trò của IMF không còn thích hợp trong việc giúp nền kinh tế thế giới thoát khỏi các cuộc khủng hoảng Tuy nhiên, trong khi việc thay thế IMF bằng một tổ chức khác chưa được xác định thì dường như việc cải tổ hoạt động của tổ chức này là lựa chọn thích hợp nhất

Vào năm 1999, những nỗ lực nhằm cải tổ IMF bắt đầu được thực hiện Một bộ luậtchung được quốc tế thừa nhận rộng rãi làm căn cứ so sánh tình hình tài chính – tiền tệ giữa các quốc gia bắt đầu được xây dựng Các quốc gia được kêu gọi gia tăng tính công khai trong việc hoạch định và thực thi các chính sách tài chính Về phần mình, IMF phải tăng cường tính minh bạch trong hoạt động để tạo sự tin tưởng của các quốc gia về vai trò của tổ chức này IMF sẽ tăng cường giám sát chính sách kinh tế vĩ mô của các nước thành viên và nâng cao năng lực trong lĩnh vực phân tích tài chính Các quốc gia cần tìm những cách thức mới nhằm liên kết các thị trường tài chính quốc tế và ngăn ngừa có hiệu quả hơn những rủi ro phát sinh Khu vực tư nhân phải được tham gia vào quá trình ngăn ngừa và đối phó với các cuộc khủng hoảng Các nhà hoạch định chính sách cần nghiên cứu cách thức dòng vốn chảy vào các nền kinh tế đang phát triển trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế cao, để rồi sau đó nhanh chóng chảy ra khi nền kinh tế có những dấu hiệu bất ổn Có ý kiến cho rằng do có sự bảo lãnh của IMF nên các ngân hàng đã thiếu thận trọng khi cho các quốc gia mắc nợ vay tiền Vì vây, cần có sự hợp tác chặt chẽ

và hiểu biết lẫn nhay hơn giữa IMF, các ngân hàng và các quốc gia con nợ

Bất chấp những nỗ lực cải tổ nói trên, nhiều nước đang phát triển vẫn tỏ ra hoài nghi về tương lai của hệ thống tiền tệ quốc tế Nhiều quốc gia thậm chí còn cân nhắc việc kiểm soát dòng vốn lưu chuyển qua biên giới quốc gia nhằm ngăn chặn sự thất thoát “tiền nóng” một khi xuất hiện những dấu hiệu yếu kém của nền kinh tế Trong thời

kỳ xảy ra khủng hoảng, Malaysia đã áp dụng những biện pháp kiểm soát chặt chẽ các thị trường tiền tệ và chứng khoán, và điều này nhận được sự ủng hộ từ phía một số quốc gia và tổ chức quốt tế Đây là dấu hiệu tán đồng cho việc thế giới nên quay trở lại một

hệ thống tiền tệ quốc tế, trong đó các quốc gia thành viên có quyền tự chủ cao hơn trong việc hoạch định và thực thi các chính sách đối nội Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn

17Tiểu luận Tư tưởng HCM

Ngày đăng: 23/11/2023, 14:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w