Thực trạng an sinh xã hội trước thềm đại hội XIII: Chính sách bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội của Đảng và Nhà nước ta đã mang lại những thành công lớn, nhất là trong bối cảnh t
Trang 1BÀI TẬP LỚN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI:
Trình bày những điểm mới trong Văn kiện Đại hội XIII về chủ trương thực hiện an sinh xã hội tại Việt Nam Liên hệ thực tiễn tại địa phương.
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Khánh Linh
Mã SV: 11192908 Lớp: Kinh tế đầu tư 61B
Hà Nội, 15/10/2021
Trang 2-I Tổng quan về an sinh xã hội ……… 3
1 Khái niệm an sinh xã hội là gì? ……… 3
2 An sinh xã hội ở Việt Nam ……… 3
II Những điểm mới trong Văn kiện Đại hội XIII về chủ trương thực hiện an sinh xã hội tại Việt Nam ……… 3
1 Thực trạng an sinh xã hội trước thềm Đại hội XIII ……… 4
2 Những nội dung liên quan đến an sinh xã hội được thể hiện trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ……… 4
3 Những điểm mới về an sinh xã hội trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ……… 7
III Liên hệ thực tiễn tại Việt Nam ……… 9
TỔNG KẾT ……… 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 12
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
An sinh xã hội là một vấn đề hết sức quan trọng, vì không chỉ bảo đảm đời sống cho người dân mà còn góp phần ổn định kinh tế, chính trị, tạo điều kiện phát triển kinh tế đất nước một cách bền vững An sinh xã hội vừa là mục tiêu hướng tới của các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vừa là những nội dung, những định hướng, những hoạt động cụ thể của các chính sách này Do đó, bảo đảm an sinh xã hội là chủ trương nhất quán và xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình lãnh đạo, điều hành đất nước
Hơn 30 năm đổi mới đất nước theo đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với những thành tựu đạt được về kinh tế, như kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng ngày càng hợp lý, thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng, đời sống nhân dân từng bước được nâng lên, Đảng và Nhà nước cũng ban hành nhiều chính sách nhằm thực hiện tốt quyền được hưởng an sinh xã hội của nhân dân Trong các kỳ đại hội, Đảng Cộng sản Việt Nam thường xuyên nhấn mạnh vai trò của chính sách
an sinh xã hội và quyết tâm của Đảng trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội
An sinh xã hội là một trong những yếu tố quan trọng để phát triển bền vững, đồng thời là vấn đề mang tính cấp bách cho sự ổn định chính trị của mỗi quốc gia, khu vực Vì vậy, việc tìm hiểu về những điểm mới về an sinh xã hội trong Văn kiện Đại hội XIII là một điều hết sức cần thiết Do đó, em xin trình bày đề
tài: Trình bày những điểm mới trong văn kiện đại hội XIII về chủ trương thực
hiện an sinh xã hội tại Việt Nam Liên hệ thực tiễn tại địa phương.
Trang 4NỘI DUNG
I Tổng quan về an sinh xã hội
1 Khái niệm an sinh xã hội là gì?
Theo khái niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), an sinh xã hội
là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và
xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời, đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con
Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng, an sinh xã hội là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh về thu nhập
Về mặt bản chất, an sinh xã hội là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội khi họ không may gặp phải những
“rủi ro xã hội” hoặc các “biến cố xã hội” dẫn đến ngừng hoặc giảm thu nhập Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc, đây cũng là tư tưởng muốn hướng tới sự hưng thịnh và hạnh phúc cho mọi người và cho xã hội
2 An sinh xã hội ở Việt Nam:
Hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam bao gồm:
- Xóa đói giảm nghèo
- Giải quyết việc làm
- Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp
- Bảo hiểm y tế
- Bảo trợ xã hội
- Các dịch vụ xã hội cơ bản: y tế, giáo dục, vệ sinh,…
- Đối tượng đặc biệt: người có công với cách mạng, người khuyết tật,
II Những điểm mới trong văn kiện đại hội XIII về chủ trương thực hiện
an sinh xã hội tại Việt Nam
An sinh xã hội là một trong những nội dung được đề cập toàn diện, xuyên suốt trong hệ thống quan điểm, chính sách của Đảng ta Văn kiện Đại
Trang 5hội Đảng lần thứ XIII tiếp tục xác định đây là một lĩnh vực quan trọng trong nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1 Thực trạng an sinh xã hội trước thềm đại hội XIII:
Chính sách bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội của Đảng và Nhà nước ta đã mang lại những thành công lớn, nhất là trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt Giảm nghèo nhanh, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao Hệ thống tổ chức y tế được kiện toàn, năng lực, chất lượng khám, chữa bệnh được cải thiện Ngành giáo dục cũng đang chứng kiến sự thay đổi lớn về chất, chuyển dịch theo hướng tích cực Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp của Việt Nam
có nhiều đổi mới trong cách tiếp cận và triển khai các chương trình bao phủ bảo hiểm Đặc biệt, trong quá trình ứng phó đại dịch COVID-19, Nhà nước ta đã kiên định mục tiêu bảo vệ quyền con người, bảo hộ công dân, bảo đảm sức khỏe và tính mạng của nhân dân với những chủ trương, quyết sách mạnh mẽ, nhân văn, thể hiện tính ưu việt của xã hội
ta Trước bối cảnh dịch bệnh bùng phát, kinh tế gặp nhiều khó khăn, Chính phủ Việt Nam đã kịp thời triển khai nhiều biện pháp bảo đảm an sinh xã hội như hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch, hỗ trợ chế độ bảo hiểm thất nghiệp, tổ chức các chuyến bay đưa công dân Việt Nam có hoàn cảnh khó khăn từ các quốc gia và vùng lãnh thổ về nước,
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả quan trọng đạt được, việc bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội ở nước ta vẫn còn những “khoảng trống”, đó là: số hộ cận nghèo còn nhiều; đời sống của một bộ phận dân
cư còn nhiều khó khăn; khoảng cách thu nhập của các tầng lớp dân cư còn lớn; tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn, vùng đô thị hoá và thất nghiệp ở thành thị còn nhiều; nguồn lực cho an sinh xã hội và phúc lợi
xã hội còn phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách nhà nước; diện bao phủ và mức hỗ trợ còn thấp; các hình thức bảo hiểm chưa đáp ứng được nhu cầu
đa dạng của người dân; chất lượng các dịch vụ nhìn chung chưa cao, vẫn còn không ít tiêu cực, phiền hà;
2 Những nội dung liên quan đến an sinh xã hội được thể hiện trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng:
Trang 6Thứ nhất, xây dựng các chính sách xã hội bảo đảm tính bền vững và
phát triển phù hợp, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, bảo đảm sự bình đẳng về cơ hội phát triển
Trong những năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách an sinh xã hội đã đạt được những thành tựu to lớn: hệ thống pháp luật và chính sách phát triển an sinh xã hội ngày càng được bổ sung và hoàn thiện; diện thụ hưởng ngày càng mở rộng, mức hỗ trợ được nâng lên; nguồn lực ngày càng lớn, được tăng cường đầu tư từ ngân sách nhà nước
và huy động từ nhiều nguồn lực trong xã hội Một số lĩnh vực đã đạt được những thành tựu quan trọng, nhất là giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, ưu đãi người có công, y tế, trợ giúp người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn,
Tuy nhiên, thực hiện an sinh xã hội ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, một số mặt yếu kém kéo dài như: tạo việc làm và giảm nghèo chưa bền vững; tỉ lệ hộ cận nghèo, tái nghèo còn cao; mức trợ cấp ưu đãi người có công còn thấp; chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ chưa đáp ứng được yêu cầu của nhân dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số; vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được kiểm soát chặt chẽ;…
Từ thực trạng trên, Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Tăng cường
quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp”.
Thứ hai, hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp và chính sách đối với
người có công
Pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng bên cạnh tính chính trị, kinh tế, xã hội còn mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc, giáo dục ý thức cho thế hệ trẻ
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Hoàn thiện và thực hiện
tốt luật pháp, chính sách đối với người có công trên cơ sở nguồn lực của Nhà nước và xã hội, bảo đảm người có công và gia đình có mức sống từ trung bình khá trở lên trong địa bàn cư trú” Để thực hiện đầy đủ và có
hiệu quả chính sách đối với người có công theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, trước hết, các cơ quan chức năng cần nâng cao năng lực, hiệu
Trang 7lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác này Tiếp tục xây dựng
và triển khai thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ phù hợp đối với người
có công và thân nhân của họ, hỗ trợ các cơ sở sản xuất kinh doanh của thương bệnh binh và người có công với cách mạng; đẩy mạnh các hoạt động đền ơn đáp nghĩa với nhiều hình thức phong phú, thiết thực hơn; chấn chỉnh, khắc phục có hiệu quả những hành vi tiêu cực trong quá trình thực hiện chính sách người có công
Thứ ba, cải cách chính sách tiền lương theo hướng gắn với sự thay
đổi giá cả sức lao động trên thị trường, tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế
Chính sách tiền lương là một phần đặc biệt quan trọng của hệ thống chính sách kinh tế - xã hội, liên quan trực tiếp đến an sinh xã hội và các cân đối lớn của nền kinh tế, thị trường lao động và đời sống người hưởng lương
Trước yêu cầu phát triển và trên cơ sở kế thừa các quan điểm về cải cách tiền lương của Đảng từ Đại hội VI đến nay, Đại hội Đảng lần thứ
XIII xác định: “Cải cách chính sách tiền lương theo hướng gắn với sự
thay đổi giá cả sức lao động trên thị trường, tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, tốc độ tăng năng suất lao động, bảo đảm nguyên tắc phân phối theo lao động, tạo động lực nâng cao năng suất và hiệu quả” Thứ tư, chú trọng nâng cao phúc lợi, an sinh xã hội; tiếp tục bảo đảm
những nhu cầu cơ bản, thiết yếu của nhân dân; đổi mới chính sách lao động, việc làm
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Chú trọng nâng cao
phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, tiếp tục bảo đảm những nhu cầu cơ bản, thiết yếu của nhân dân về nhà ở, đi lại, giáo dục, y tế, việc làm…” Theo
đó, trong thời gian tới, cần chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, chất lượng dân số, gắn dân số với phát triển; bảo đảm những nhu cầu cơ bản, thiết yếu của nhân dân Đồng thời chú trọng phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân, bảo đảm trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế Hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội phải bảo đảm chủ động, tích cực và có tính xã hội hoá cao Quy định công khai, minh bạch mức thụ hưởng các phúc lợi xã hội và dịch vụ cơ bản tối thiểu của người dân; khắc phục các tiêu cực, phiền hà, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân tiếp cận hệ thống dịch vụ này; có chính
Trang 8sách hỗ trợ phù hợp cho các đối tượng khó khăn Nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội, tiếp tục mở rộng đối tượng thụ hưởng với hình thức hỗ trợ thích hợp; nâng dần mức trợ cấp xã hội thường xuyên phù hợp với khả năng ngân sách nhà nước; củng cố, nâng cấp hệ thống cơ sở bảo trợ xã hội; khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào triển khai các mô hình chăm sóc người cao tuổi, trẻ mồ côi, người khuyết tật, nhất là mô hình nhà dưỡng lão Thực hiện và giám sát việc thực hiện công khai, minh bạch các chế độ, chính sách về ASXH, phúc lợi xã hội ở
cơ sở
Ngoài những nội dung cơ bản trên, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng còn đề cập khá cụ thể đến những vấn đề như: đổi mới chính sách bảo hiểm thất nghiệp; giải quyết việc làm cho lao động khu vực phi chính thức; thực hiện các chính sách về dinh dưỡng, an toàn thực phẩm, bảo
vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe và tầm vóc của người dân Qua đó, xác định đúng vị trí, vai trò của an sinh xã hội đối với phát triển đất nước, phù hợp với thực tiễn và tình hình mới, là cơ sở và điều kiện để người dân được “thụ hưởng” nhiều hơn thành quả từ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta
3 Những điểm mới về an sinh xã hội trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng:
Về nhận thức đối với các vấn đề xã hội, Báo cáo chính trị nhấn mạnh
yêu cầu “bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong các chính sách xã hội”, trong đó “Tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người”
Trong chính sách quản lý phát triển xã hội, Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh về chính sách huy động và phân bổ các nguồn lực cho các vấn đề xã hội Báo cáo chính trị nêu rõ: Đổi mới cơ chế, huy động phân
bổ và đa dạng hóa các nguồn lực thực hiện chính sách xã hội phù hợp với nhu cầu, lợi ích của các tầng lớp dân cư, nhóm xã hội, bảo đảm bình đẳng về cơ hội phát triển, nhất là lao động khu vực phi chính thức Yêu cầu mới này bao gồm cả 2 mặt: huy động tối đa các nguồn lực trong xã hội và phân bổ một cách công bằng, hợp lý, bảo đảm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả mọi nguồn lực của Nhà nước, tư nhân, các tổ chức của nhân dân để giải quyết các vấn đề xã hội
Trang 9Đối với vấn đề lao động, Văn kiện Đại hội XIII đặt ra vấn đề một
cách hệ thống, toàn diện hơn, bao gồm: xây dựng thị trường lao động, tạo công ăn việc làm, chính sách tiền lương, hỗ trợ thất nghiệp Về thị trường lao động, các Văn kiện Đại hội XIII không chỉ khẳng định sự cần thiết phải phát triển một thị trường lao động thật sự mà còn chỉ ra rất rõ
về phương hướng, tính chất và yêu cầu của thị trường lao động Đó là
“Phát triển thị trường lao động, hướng đến việc làm bền vững”, “phát triển thị trường lao động đồng bộ, hiện đại, linh hoạt, thống nhất, hội nhập, có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước” Đặc biệt, các Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh sự cần thiết phải quan tâm đến lao động khu vực phi chính thức, nhất là lao động nông nghiệp chuyển đổi ngành nghề Đây là
bộ phận yếu thế, dễ tổn thương trong xã hội, cần được tạo các điều kiện thuận lợi để có thể tham gia vào khu vực lao động chính thức, giảm thiểu
và khắc phục những rủi ro trong cuộc sống
Về chính sách tiền lương, nếu như Báo cáo chính trị Đại hội XII chỉ
nêu yêu cầu chung là “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách về tiền lương, tiền công, khắc phục cơ bản những bất hợp lý” thì Báo cáo chính trị Đại hội XIII đã chỉ rõ yêu cầu, tính chất của chính sách tiền lương, đó là “chính sách tiền lương theo hướng gắn với sự thay đổi của giá cả sức lao động trên thị trường, tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng năng suất lao động, bảo đảm nguyên tắc phân phối theo lao động, tạo động lực nâng cao năng suất và hiệu quả”
Về vấn đề dân số, lần đầu tiên các Văn kiện Đại hội XIII đề cập đến
vấn đề dân số vàng và dự báo về thời kỳ già hóa dân số Từ nhận thức về những thuận lợi của thời kỳ dân số vàng và những dự báo về quá trình già hóa dân số, Báo cáo chính trị nhấn mạnh yêu cầu “phát huy lợi thế thời kỳ dân số vàng, đồng thời chuẩn bị điều kiện thích ứng với già hóa dân số”, nâng cao chất lượng dân số gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Đặc biệt, trong Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025 đặt ra 2 chỉ tiêu: Mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,12 con, tức là điều kiện để bảo đảm mức sinh thay thế và đến năm 2025 đạt tỷ số giới tính khi sinh dưới 109 bé trai/100 bé gái nhằm bảo đảm cân bằng giới tính Đây cũng chính là 2 vấn đề đặt ra từ thực tế dân số nước ta thời gian qua, trong đó mức sinh
Trang 10của phụ nữ, nhất là phụ nữ ở khu vực đô thị giảm nhanh, có nguy cơ không bảo đảm mức sinh thay thế Mặt khác, tỷ số giới tính khi sinh ngày càng chênh lệch dẫn đến nguy cơ mất cân bằng giới tính, ảnh hưởng tiêu cực đến sự bền vững về dân số
III Liên hệ thực tiễn tại Việt Nam
Trong 6 tháng đầu năm 2021, mặc dù chịu ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, các địa phương vẫn tiếp tục phấn đấu thực hiện mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe người dân, vừa phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội như: Sản xuất nông nghiệp có nhiều khởi sắc, các doanh nghiệp có những biện pháp kịp thời vừa đảm bảo chống dịch vừa thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh Đồng thời các địa phương triển khai nhiều hình thức tạo việc làm, trợ cấp thất nghiệp cho người lao động, trợ cấp cho người dân trong vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ dịch bệnh Vì vậy đời sống của nhân dân nhìn chung vẫn được giữ ổn định
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến hết tháng 5/2021,
cả nước có 5 282 xã và 191 huyện đạt chuẩn nông thôn mới, có 335 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 32 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu
12 tỉnh có 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, 4 tỉnh (Nam Định, Đồng Nai, Hưng Yên, Hà Nam) đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận tinh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới
Công tác an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm, trong 6 tháng đầu năm
2021, tổng trị giá tiền và quà hỗ trợ cho các đối tượng là 6.906 tỷ đồng, trong đó, hỗ trợ cho các đối tượng người có công, thân nhân người có công
là 2.540,9 tỷ đồng, hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo là 1.354,7 tỷ đồng
hỗ trợ cứu đói và các đối tượng bảo trợ xã hội là 1.958,4 tỷ đồng; hỗ trợ các đối tượng khác là 1.052 tỷ đồng Có hơn 30 triệu thẻ bảo hiểm xã hội/số/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát, tặng cho các đối tượng thụ hưởng
Mặc dù nguồn lực của đất nước còn hạn hẹp nhưng Đảng và Nhà nước
ta vẫn luôn quan tâm, coi trọng công tác bảo đảm an sinh xã hội, đặt nhiệm
vụ phát triển dân sinh trong mối tương quan hài hòa và gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế, giữa đầu tư phát triển kinh tế với đầu tư bảo đảm phúc lợi xã hội và an sinh xã hội Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách, chương trình đầu tư, hỗ trợ cho vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các huyện nghèo, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, xã bãi ngang