1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thực trạng, kiến thức, thái độ về an toàn người bệnh của điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện đa khoa xanh pôn năm 2015 và các yếu tố liên quan

108 22 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiến Thức, Thái Độ Về An Toàn Người Bệnh Của Điều Dưỡng Lâm Sàng Tại Bệnh Viện Đa Khoa Xanh Pôn Năm 2015 Và Các Yếu Tố Liên Quan
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Lam
Người hướng dẫn TS. Trần Quang Huy
Trường học Trường Đại Học Y Tế Công Cộng
Chuyên ngành Quản Lý Bệnh Viện
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 3,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù vậy bệnh viện chưa có nghiên cứu nào về thực trạng các sự cố y khoa cũng như kiến thức, thái độ về an toàn người bệnh của điều dưỡng bệnh viện.. Trước thực trạng đó tôi tiến hành

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THI ̣ HỒNG LAM

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ AN TOÀN NGƯỜI BỆNH CỦA ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH PÔN NĂM 2015 VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01

HÀ NỘI, 2015

HUPH

Trang 2

NGUYỄN THI ̣ HỒNG LAM

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ AN TOÀN NGƯỜI BỆNH CỦA ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH PÔN NĂM 2015 VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01

TS Trần Quang Huy

HÀ NỘI, 2015

HUPH

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ vi

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU v

ĐẶT VẤN ĐỀ vii

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

1.1 Một số khái niệm, định nghĩa 4

1.2 Thực trạng an toàn người bệnh 5

1.2.1 Thực trạng an toàn người bệnh trên thế giới 5

1.2.2 Thực trạng an toàn người bệnh tại Việt Nam 8

1.3 Hậu quả của sự mất an toàn người bệnh 11

1.4 Nguyên nhân dẫn đến sự mất an toàn người bệnh và giải pháp 12

1.5 Các nghiên cứu về an toàn người bệnh 14

1.5.1 Nghiên cứu về an toàn người bệnh trên thế giới 14

1.5.2 Nghiên cứu về an toàn người bệnh ở Việt Nam 15

1.6 Một số thông tin khái quát về địa điểm nghiên cứu 16

1.7 Khung lý thuyết về an toàn người bệnh 17

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 20

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 20

2.2 Thời gian và địa điểm 20

2.3 Thiết kế nghiên cứu 20

2.4 Cỡ mẫu 21

2.4.1 Cỡ mẫu định lượng 21

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 21

2.5 Phương pháp thu thập số liệu định lượng 21

2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu định tính 22

2.6 Công cụ nghiên cứu 22

HUPH

Trang 4

2.7 Khái niệm, thang đo 22

2.7.1 Khái niệm: 22

2.7.2 Các thang đo trong nghiên cứu 30

2.8 Phương pháp phân tích số liệu 23

2.8.1 Phân tích số liệu định lượng 23

2.8.2 Phân tích số liệu định tính 24

2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 24

2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 24

2.10.1 Các loại sai số 24

2.10.2 Cách khắc phục sai số 24

CHƯƠNG 3: KẾT QỦA NGHIÊN CỨU 26

3.1 Thông tin chung và các yếu tố liên quan 26

3.2 Mô tả kiến thức, thái độ của điều dưỡng về an toàn người bệnh 35

3.3 Xác định các yếu tố liên quan đến an toàn người bệnh của điều dưỡng 37

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 52

4.1 Thực trạng kiến thức, thái độ về ATNB của điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn Hà Nội năm 2015 52

4.2 Các yếu tố liên quan đến ATNB của điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn Hà Nội năm 2015 55

4.2.1 Đặc điểm các yếu tố ATNB của điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn Hà Nội năm 2015 55

4.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ ATNB của điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn Hà Nội năm 2015 57

4.3 Bàn luận về phương pháp nghiên cứu 60

KẾT LUẬN 63

KHUYẾN NGHỊ 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤ LỤC 69

Phụ lục 1: Phiếu phát vấn điều dưỡng bệnh viện đa khoa Xanh Pôn 75

Phụ lục 2: Hướng dẫn thảo luận nhóm điều dưỡng 86

HUPH

Trang 5

Phụ lục 3: Hướng dẫn phỏng vấn sâu cán bộ quản lý 87 Phụ lục 4: Bảng chấm điểm kiến thức, thái độ của điều dưỡng viên về an toàn người bệnh 87Phụ lục 5: Danh sách các khoa lâm sàng được nghiên cứu 96

HUPH

Trang 6

BYT

KCB

Bộ Y tế Khám chữa bệnh NKBV

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 1.1 Các nghiên cứu các biến cố y khoa trên thế giới 5

Bảng 1.2 Các loại biến cố y khoa xảy ra tại Úc và Hoa Kỳ 6

Bảng 1.3 Các loại sự cố trong phẫu thuật ở bang Minnesota Mỹ 7

Bảng 1.4 Nhiễm khuẩn bệnh viện ở Việt Nam 8

Bảng 1.5 Phân bố các sự cố y khoa 10

Biểu đồ 1.1 Số vụ án xét xử liên quan đến sai sót y khoa tại Nhật qua các năm 11

Biểu đồ 1.2 Hậu quả của sai sót y khoa với người bệnh 12

Bảng 1.6 Phân bố sự cố theo các chuyên khoa 15

Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 26

Biểu đồ 3.1 Mô tả khoa làm việc của điều dưỡng 27

Bảng 3.2 Đặc điểm tính chất công việc của đối tượng nghiên cứu 28

Bảng 3.3 Đặc điểm các yếu tố khó khăn điều dưỡng hay gặp phải tại bệnh viện 29

Bảng 3.4 Đặc điểm môi trường và điều kiện làm việc 30

Biểu đồ 3.2 Mô tả số lượng, chất lượng của trang thiết bị tại bệnh viện 31

Bảng 3.5 Đặc điểm công tác giám sát và biện pháp tăng cường an toàn người bệnh tại bệnh viện 32

Bảng 3.6 Đặc điểm sai sót/sự cố liên quan đến điều dưỡng 33

Biểu đồ 3.3 Đánh giá mức độ mức độ an toàn người bệnh của điều dưỡng tại bệnh viện Xanh Pôn 34

Bảng 3.7 Đặc điểm kiến thức, thái độ của điều dưỡng về an toàn người bệnh 35

Bảng 3.8 Mối liên quan giữa đặc điểm chung và kiến thức an toàn người bệnh của đối tượng 37

Bảng 3.9 Mối liên hệ kiến thức an toàn người bệnh với thâm niên công tác và nơi làm việc của đối tượng 38

Bảng 3.10 Mối liên hệ giữa kiến thức an toàn người bệnh và đặc điểm, tính chất công việc của đối tượng tại bệnh viện 39

Bảng 3.11 Mối liên hệ giữa kiến thức an toàn người bệnh và những khó khăn điều dưỡng gặp phải tại bệnh viện 40

HUPH

Trang 8

Bảng 3.12 Mối liên quan giữa kiến thức của đối tượng với môi trường và điều kiện làm việc 41 Bảng 3.13 Mối liên quan giữa kiến thức của đối tượng với các biện pháp ATNB của bệnh viện 42 Bảng 3.14 Mối liên quan giữa sai sót y khoa và kiến thức an toàn người bệnh của đối tượng 43 Bảng 3.15 Mối liên quan giữa đặc điểm chung với thái độ về an toàn người bệnh của đối tượng 43Bảng 3.16 Mối liên quan giữa thâm niên công tác và nơi làm việc của đối tượng với thái độ về an toàn người bệnh 56 Bảng 3.17 Mối liên quan giữa đặc điểm, tính chất công việc của đối tượng với thái

độ về an toàn người bệnh 57 Bảng 3.18 Mối liên quan giữa thái độ an toàn người bệnh và đặc điểm những khó khăn người điều dưỡng hay gặp tại bệnh viện 46 Bảng 3.19 Mối liên quan giữa môi trường và điều kiện làm việc với thái độ về an toàn người bệnh của đối tượng 47 Bảng 3.20 Mối liên quan giữa thủ tục hành chính, báo cáo tại bệnh viện với thái độ

về an toàn người bệnh của đối tượng 48 Bảng 3.21 Mối liên quan giữa sai sót y khoa với thái độ về an toàn người bệnh của đối tượng 49 Bảng 3.22 Mối liên quan giữa kiến thức với thái độ về an toàn người bệnh của đối tượng 49 Bảng 3.23 Mối liên quan giữa các yếu tố với kiến thức an toàn người bệnh của điều dưỡng 50 Bảng 2.24 Mối liên quan giữa các yếu tố với thái độ an toàn người bệnh của điều dưỡng 51

HUPH

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Trong lĩnh vực y khoa, rủi ro đối với khách hàng chính là sự mất an toàn người bệnh Khi có sai sót hay sự cố y khoa không mong muốn xảy ra, cả người bệnh và thầy thuốc đều là nạn nhân Bệnh viện Xanh Pôn là bệnh viện Đa khoa hạng I

ở vị trí trung tâm của Thủ đô Hà Nội hàng ngày tiếp nhận trên 2000 lượt khám và điều trị Do lưu lượng người bệnh đông nên nguy cơ xảy ra sai sót/sự cố y khoa trong bệnh viện càng tăng cao và ảnh hưởng trực tiếp đến sự an toàn của người bệnh Mặc

dù vậy bệnh viện chưa có nghiên cứu nào về thực trạng các sự cố y khoa cũng như kiến thức, thái độ về an toàn người bệnh của điều dưỡng bệnh viện Trước thực

trạng đó tôi tiến hành nghiên cứu: "Thực trạng kiến thức, thái độ về an toàn người

bệnh của điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa XanhPôn năm 2015 và các yếu tố liên quan” nhằm mục tiêu: (1) Đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ của Điều

dưỡng lâm sàng về an toàn người bệnh (2) Xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về ATNB của điều dưỡng lâm sàng bệnh viện đa khoa Xanh Pôn Hà Nội năm 2015

Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2015 trên 210 điều dưỡng lâm sàng, là những người hàng ngày tiếp xúc và chăm sóc người bệnh trực tiếp và các điều dưỡng trưởng khoa Số liệu được nhập và phân tích với phần mềm Epi Data 3.1 và SPSS 16.0

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức về ATNB không đạt khá cao (60%) Tỷ lệ điều dưỡng có thái độ về an toàn người bệnh đạt thấp (34,3%); Một số yếu tố có liên quan đến kiến thức của Điều dưỡng về ATNB như: Môi trường làm việc: Điều dưỡng đánh giá môi trường làm việc chưa đảm bảo an ninh, an toàn có nguy cơ có kiến thức về ATNB không đạt cao gấp 3,45 lần (p<0,05), hoạt động giám sát: Điều dưỡng đánh giá hoạt động giám sát công việc bình thường/chưa tốt có nguy cơ có kiến thức về ATNB không đạt cao gấp 2,08 lần

so (p<0,05) Liên quan với thái độ về ATNB của điều dưỡng thì cho thấy Điều

HUPH

Trang 10

dưỡng làm việc tại khoa Nội/ngoại có nguy cơ có thái độ về ATNB không đạt cao gấp 5,22 lần so với điều dưỡng làm việc tại các khoa khác (p<0,05)

Từ kết quả nghiên cứu chúng tôi có một số khuyến nghị sau: Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn cần triển khai thực hiện các giải pháp như: tăng cường nhân lực điều dưỡng, nâng cao nhận thức về vai trò chức năng của điều dưỡng, đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin và cải tiến lề lối làm việc, tăng cường hơn nữa kiến thức cũng như thái độ về ATNB, đồng thời tăng cường đầu tư trang thiết bị, cải thiện môi trường làm việc, thực hiện văn hóa an toàn người bệnh trong bệnh viện để điều dưỡng yên tâm gắn bó hơn với công việc và có trách nhiệm hơn với sự an toàn của người bệnh

HUPH

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

An toàn người bệnh là vấn đề phổ biến, có phạm vi rộng và là sự quan tâm của toàn xã hội, bất cứ công đoạn nào của mọi quy trình khám bệnh, chữa bệnh đều chứa đựng các nguy cơ tiềm tàng, rủi ro cho người bệnh Khi có sai sót hay sự cố y khoa không mong muốn xảy ra, người bệnh phải gánh chịu hậu quả hưởng tới sức khỏe hoặc bị khuyết tật tạm thời hay vĩnh viễn, thậm chí cả tính mạng, chẳng khác

gì tai nạn chồng lên tai nạn, và các cán bộ y tế liên quan trực tiếp tới các sai sót/sự

cố không mong muốn cũng là nạn nhân trước áp lực của dư luận xã hội Xu hướng tranh chấp, khiếu kiện y tế ngày càng gia tăng [30]

Tại Israel đã phát hiện 554 sai sót trong thời gian 4 tháng, bình quân 1,7 sai sót/người bệnh/ngày [51] Theo nghiên cứu của WHO thì khoảng 10% người bệnh nằm viện nội trú thì có một sự cố không mong muốn xảy ra [18]

Hàng năm ở Mỹ có tới 98000 người tử vong liên quan tới sự cố y khoa không mong muốn Tại bệnh viện ở Utah các sự cố y khoa không mong muốn đã để lại hậu quả cho 2,4% người bệnh nhập viện, tăng chi phí 2262 US$/người bệnh, và tăng thêm 1,9 ngày điều trị so với số liệu của nhóm chứng Trong nghiên cứu của Harvard về sự cố không mong muốn do dùng thuốc, chi phí tăng $2595 /người bệnh

và thời gian nằm viện kéo dài hơn 2,2 ngày/người bệnh Ước tính chi phí cho các sự

cố không mong muốn do dùng thuốc của một bệnh viện thực hành có qui mô 700 giường bệnh lên tới 5,6 triệu đô la hàng năm [12]

Hồi cứu ngẫu nhiên 30121 bệnh án của 51 bệnh viện thuộc Bang New York cho thấy 3,7% người bệnh nhập viện gặp phải sự cố y khoa; 27,6% các sự cố y khoa do nhân viên y tế tắc trách Nghiên cứu khác cũng chỉ ra các sự cố gây hại, bất lợi cho người bệnh từ chăm sóc y tế, các lỗi y khoa chiếm 50%, có 28% các lỗi từ

sự lơ đễnh, cẩu thả và có nhiều lỗi không chủ tâm [5] Vì vậy 60% - 80% các sự cố

y khoa không mong muốn có nguồn gốc sai sót từ hệ thống và chỉ có 20% - 40% là

do cá nhân người hành nghề [37] Vì vậy việc nhận dạng các loại sai sót, sự cố y khoa và tìm hiểu nguyên nhân gốc của những sai sót, sự cố đó để có biện pháp phòng ngừa hiệu quả là điều rất cần thiết [9]

HUPH

Trang 12

Tại Việt Nam sự cố y khoa không mong muốn chưa được nghiên cứu hệ thống Tuy nhiên, hầu hết các cơ sở khám, chữa bệnh đã phải đương đầu với các sự

cố ở các mức độ và ảnh hưởng khác nhau, ảnh hưởng tới tính mạng và sức khỏe của người bệnh Số trường hợp nêu trên báo chí là phần nổi của tảng băng chìm không

rõ độ lớn và kích thước Trong các nghiên cứu thực hiện trên đối tượng điều dưỡng (ĐD) tại các bệnh viện ở Việt Nam cũng phần nào cho thấy kiến thức và thái độ có tác động rất lớn đến thực hành quy trình của ĐD

Điều dưỡng lâm sàng là người trực tiếp hàng ngày chăm sóc, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của người bệnh, hỗ trợ điều trị và tránh các nguy cơ không an toàn từ môi trường bệnh viện Người điều dưỡng có thể chăm sóc từ một đến nhiều người bệnh, phải theo dõi thường xuyên người bệnh nặng, cấp cứu; người bệnh trước, trong và sau phẫu thuật , và chăm sóc cho mọi đối tượng người lớn, trẻ em, trẻ sơ sinh v.v… Điều này cho thấy vai trò quan trọng của người điều dưỡng, nếu ĐDV không có kiến thức, thái độ và kỹ năng chăm sóc người bệnh tốt hoặc không có đủ thời gian và phương tiện để thực hiện những công việc sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng điều trị và sự an toàn của người bệnh

Bệnh viện Xanh Pôn là bệnh viện Đa khoa hạng I ở vị trí trung tâm của Thủ đô

Hà Nội Hàng ngày tiếp nhận trên 2000 lượt khám và điều trị Bệnh viện có 434 điều dưỡng, hộ sinh, KTV và 209 bác sĩ Điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên có trình độ

từ cao đẳng trở lên chiếm 52% Mặc dù số lượng điều dưỡng lớn tuy nhiên lượng người bệnh đông nên bệnh viện luôn trong tình trạng quá tải do vậy nguy cơ xảy ra sai sót/sự cố y khoa trong bệnh viện càng tăng cao Mặc dù vậy cho đến nay tại bệnh viện chưa có nghiên cứu nào về thực trạng các sai sót/sự cố y khoa tại bệnh viện cũng như nghiên cứu về kiến thức, thái độ về an toàn người bệnh của điều

dưỡng bệnh viện Trước thực trạng đó tôi tiến hành nghiên cứu "Thực trạng kiến

thức, thái độ về an toàn người bệnh của điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn năm 2015 và các yếu tố liên quan” Đề tài được kỳ vọng sẽ mô tả

được sự hiểu biết về kiến thức, thái độ của điều dưỡng về ATNB và các yếu tố liên quan để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp tăng cường sự an toàn cho người bệnh

HUPH

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ về ATNB của điều dƣỡng lâm sàng tại bệnh viện

đa khoa Xanh Pôn, Hà Nội năm 2015

2 Xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về ATNB của điều dƣỡng lâm

sàng bệnh viện đa khoa Xanh Pôn Hà Nội năm 2015

HUPH

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm, định nghĩa

1.1.1 An toàn người bệnh

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), an toàn người bệnh (ATNB) là sự phòng ngừa các sai sót có thể gây nguy hại cho người bệnh trong quá trình điều trị và chăm sóc [31]

Theo Tổ chức nghiên cứu y tế và chất lượng (AHRQ): ATNB là một chuyên ngành trong lĩnh vực y tế, áp dụng các phương pháp an toàn nhằm hướng đến mục đích xây dựng một hệ thống cung ứng dịch vụ y tế đáng tin cậy ATNB còn là một thuộc tính của ngành y tế, nó tối thiểu hóa các sự cố và tối đa hóa sự phục hồi từ các sự cố [49]

1.1.2 Một số khái niệm về sai sót, sự cố

- Sai sót (error): Thất bại của hành động theo kế hoạch hoặc sử dụng kế hoạch

không đúng để đạt một mục tiêu mong muốn [31]

- Sai sót hiện hữu (active error): Sai sót xảy ra trong quá trình trực tiếp chăm

sóc người bệnh [31]

- Sai sót tiềm ẩn (latent error): Liên quan đến các yếu tố của môi trường chăm

sóc tạo điều kiện thuận lợi cho sai sót chủ động dễ xảy ra [31]

1.1.3 Sự cố y khoa không mong muốn:

Là sự cố đã xảy ra với người bệnh, có thể phòng ngừa bằng các kiến thức y học hiện nay [35]

1.1.4 Văn hoá an toàn người bệnh:

Là văn hoá thể hiện năm thuộc tính ở mức cao mà nhân viên y tế nỗ lực đưa vào thao tác thông qua việc triển khai thực hiện các hệ thống lý luận an toàn mạnh mẽ Mọi nhân viên y tế phải đứng ra chịu trách nhiệm về an toàn của bản thân, đồng nghiệp, người bệnh và người nhà người bệnh Văn hoá ATNB bao gồm văn hoá ưu tiên an toàn trước mục tiêu tài chính và hoạt động, văn hoá khuyến khích và khen thưởng nỗ lực

HUPH

Trang 15

phát hiện thông báo giải quyết các vấn đề an toàn, văn hoá trong đó tổ chức có cơ hội rút kinh nghiệm từ sự cố, văn hoá cung cấp nguồn lực, cơ cấu và trách nhiệm giải trình phù hợp để duy trì hiệu quả các hệ thống đảm bảo an toàn [49]

1.2 Thực trạng an toàn người bệnh

1.2.1 Thực trạng an toàn người bệnh trên thế giới

An toàn người bệnh là nền tảng của chất lượng trong chăm sóc sức khoẻ và thành công của nhân viên y tế Vấn đề này cần đòi hỏi sự cam kết mọi người trong xã hội nói chung và bệnh viện nói riêng Thường có nhiều yếu tố nguy cơ kết hợp lại tạo nên sự mất an toàn cho người bệnh Bảng 1.1 tổng hợp một số nghiên cứu trên thế giới

về những biến cố/sai sót trong y khoa dẫn đến sự mất an toàn người bệnh ở các nước phát triển

Bảng 1.1 Các nghiên cứu các biến cố y khoa trên thế giới [35]

Nghiên cứu Năm thu

thập

Số ca nhập viện

Số ca biến cố

Tỷ lệ biến cố Hoa Kỳ (ĐH

ở Úc cao hơn rất nhiều so với Mỹ

HUPH

Trang 16

Bảng 1.2 Các loại biến cố y khoa xảy ra tại Úc và Hoa Kỳ [36]

Loại biến cố (1992)

Tỷ lệ phần trăm từng loại biến cố

Hoa Kỳ (n = 1579)

Úc (n = 175) Phẫu thuật nhầm vị trí hoặc nhầm người

bệnh

Bỏ quên dụng cụ trong cơ thể người bệnh

sau khi phẫu thuật

Sự cố liên quan đến thuốc, trang thiết bị: Nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng

chỉ ra rằng, phản ứng thuốc không mong muốn (shock phản vệ do dùng thuốc) là loại

sự cố xảy ra thường xuyên trong suốt 30 năm qua Tác giả Jason Lazarou và cộng sự cho rằng đây là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 cho người bệnh sau các bệnh tim mạch, ung thư và đột quỵ [8] Tuy nhiên có 6,5/100 ca nhập viện ở bệnh viện lớn ở Hoa Kỳ gặp sự cố liên quan đến dùng thuốc và phần lớn sai sót xuất hiện ở khâu phát thuốc hoặc tiêm/truyền cho người bệnh Điều này lần nữa được nhắc tới trong báo cáo của Hoa Kỳ khi trung bình 16 triệu liều thuốc/ngày được người dân nước này tiêu thụ cho việc chữa bệnh Tuy nhiên 2% tương đương 320.000 nhẫm lẫn do dùng thuốc mỗi ngày Ngoài ra, khoảng 50% trang thiết bị ở bệnh viện các nước đang phát triển không còn sử dụng hoặc chỉ sử dụng được một phần [31]

Sự cố liên quan đến nhiễm khuẩn bệnh viện: Trong báo cáo WHO đã chỉ ra

sự cố liên quan đến nhiễm khuẩn bệnh viện chiếm 5% – 15% người bệnh nội trú và 9 – 37% người bệnh khoa tích cực Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện ở Mỹ chiếm 4,5% và năm

2002 theo ước tính trung tâm kiểm soát bệnh tật của Mỹ có 1,7 triệu người bệnh bị sự

HUPH

Trang 17

cố liên quan nhiễm khuẩn bệnh viện, 24,6% ở khoa hồi sức tích cực [31]

Sự cố liên quan đến phẫu thuật: Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nguy cơ xuất

hiện nhiễm khuẩn vết mổ ở nước đang phát trển cao hơn so với nước phát triển, tỷ lệ này dao động từ 19% - 31% tuỳ từng bệnh viện và từng quốc gia [31] Có 0,4% - 0,8% người bệnh tử vong trực tiếp liên quan đến phẫu thuật, 3% - 16% do biến chứng do phẫu thuật [49] Theo viện nghiên cứu Y học Mỹ và Úc gần 50% các sự cố y khoa không mong muốn liên quan đến người bệnh có phẫu thuật Trong nghiên cứu tại bang Minnesota Mỹ tác giả đã chỉ ra những loại sai sót thường gặp trong phẫu thuật bao gồm:

Bảng 1.3 Các loại sự cố trong phẫu thuật ở bang Minnesota Mỹ [33]

Phẫu thuật nhầm bộ phận trên cơ thể 27 32,0

Trước thực trạng sai sót y tế trong bệnh viện, năm 2003 nhiều nước bắt đầu khởi động thực hiện ATNB và yêu cầu WHO hỗ trợ về mặt kỹ thuật Đến năm 2004, WHO

đã đề sướng chương trình ATNB toàn cầu Từ đó đến 2009, WHO đã triển khai được

10 chương trình và có dự án riêng về ATNB [45] Kết quả hơn 12000 nhân viên y tế từ

122 quốc gia đăng ký tham gia chương trình chăm sóc an toàn bằng cách rửa tay đúng cách Trong phẫu thuật, sau khi tiến hành checklist an toàn phẫu thuật của WHO, tỷ lệ biến chứng lớn giảm tới 36%, tỷ lệ tử vong nội trú giảm gần 50% [46]

Ngoài ra theo các nhà nghiên cứu y khoa, 70% các sự cố y khoa không mong muốn có nguồn gốc sai sót từ hệ thống và chỉ có 30% là do cá nhân người hành nghề Lãnh đạo không định kiến và cởi mở trao đổi về những sai sót/sự cố y khoa không mong muốn Các hành vi liên quan tới văn hóa an toàn người bệnh bao gồm:

- Chủ động báo cáo và trao đổi một cách cởi mở về các sai sót, sự cố y khoa

- Đánh giá cao những cán bộ y tế chủ động báo cáo khi sự cố xảy ra

HUPH

Trang 18

- Giúp đỡ tinh thần cho những cán bộ y tế có liên quan tới sự cố

- Trao đổi thông tin với người bệnh về kết quả điều trị, kể cả những việc xảy ra ngoài dự kiến

- Tạo điều kiện để người bệnh trở thành một thành viên tích cực trong nhóm chăm sóc

- Làm việc theo nhóm

- Chủ động đánh giá rủi ro và ngăn ngừa sai sót [9]

1.2.2 Thực trạng an toàn người bệnh tại Việt Nam

Sự cố y khoa không mong muốn trong các cơ sở khám chữa bệnh chưa được nghiên cứu hệ thống và báo cáo cụ thể Tuy nhiên hầu hết các cơ sở khám chữa bệnh ở Việt Nam đã và đang phải đương đầu với sự cố ở các mức độ, ảnh hưởng khác nhau, ảnh hưởng tới tính mạng và sức khoẻ của người bệnh Văn hoá chất lượng và ATNB mới chỉ tập trung vào lỗi cá nhân, chưa chú ý lỗi hệ thống và nguyên nhân gốc rễ Trong báo cáo mới nhất của Hội Điều dưỡng Việt Nam chỉ có 27,8% sai sót/sự cố sau khi xảy ra là được báo cáo [6]

Trong hội thảo về nhiễm khuẩn bệnh viện ở Việt Nam, tỷ lệ mất an toàn người bệnh có nguyên nhân từ NKBV là khá cao

Bảng 1.4.Nhiễm khuẩn bệnh viện ở Việt Nam [2][4][9][17]

Phạm Đức Mục và cộng sự (11 BV trung ương) 2005 5,8

Nguyễn Thanh Hà và cộng sự (6 BV phía Nam) 2005 5,6

Lê Anh Thư (BV Chợ Rẫy) [viêm phổi liên quan đến

thở máy)

Nghiên cứu của Võ Văn Tân cho thấy kiến thức và thực hành của điều dưỡng

về an toàn truyền máu còn hạn chế; 58,9% điều dưỡng không biết nhiệt độ bảo quản

HUPH

Trang 19

máu, 20% điều dưỡng không làm phản ứng chéo tại giường trước khi truyền máu, 50% điều dưỡng không nhớ thời gian làm nguội máu trước truyền, 79,2% điều dưỡng không thực hiện phản ứng vi sinh vật khi truyền máu…[12]

Nghiên cứu “Đánh giá về các sự cố y khoa tại các bệnh viện Việt Nam giai đoạn

2010 – 2011” chỉ ra 58,4% sai sót y tế trong tổng số sai sót ghi nhận diễn ra ở quá trình chăm sóc và chỉ có 26,9% sai sót y tế diễn ra ở quá trình điều trị Trong đó, tỷ lệ sự cố

do nhầm thuốc là cao nhất chiếm 24,2% tiếp đó là nhầm tên người bệnh Từ nghiên cứu này nhóm tác giả đã xây dựng bảng những loại sai sót y khoa mà các điều dưỡng

có thể mắc phải (Bảng 1.5) [9]

HUPH

Trang 20

Thực hiện sai quy trình/thủ thuật y khoa 15 6,8

Bị thân nhân người bệnh đe dọa, hành hung 2 0,9

HUPH

Trang 21

1.3 Hậu quả của sự mất an toàn người bệnh

Tăng tỷ lệ tử vong, tỷ lệ tàn tật: Ở Úc sai sót y khoa dẫn đến 18000 ca tử vong

và hơn 50000 người bệnh bị tàn tật [51] Ở Mỹ mỗi năm sai sót y khoa khiến ít nhất

44000 người bệnh chết và hơn một triệu người bệnh bị tàn tật Trong một nghiên cứu khác ở Mỹ, tác giả chỉ ra sự cố y khoa có thể dẫn đến 1 triệu người bị chấn thương trong đó 120000 người chết gấp gần 3 lần trường hợp tử vong do tai nạn giao thông, gần 9 lần do rơi, ngã và gấp 30 lần do đuối nước [40]

Tăng chi phí y tế, chi phí xã hội: Ngoài ra thời gian phải nằm điều trị kéo dài,

chi phí kiện cáo khiếu nại, nhiễm khuẩn bệnh viện, mất thu nhập, tàn phế và chi phí y

tế do sai sót y khoa gây ra cho một số nước là từ 6 tỷ USD đến 28 tỷ USD mỗi năm [46] Ngoài ra những sai sót trong ngành y còn dẫn đến những tranh chấp khiếu kiện gây mất thời gian và tiền bạc của cả người bệnh lẫn nhân viên y tế Trong năm 2000 tại Anh có 10000 BN gặp sự cố y khoa nghiêm trọng, 28000 vụ kiện/năm, gần 400 triệu bảng được dùng để giải quyết khiếu kiện và 1 tỷ bảng được chi cho sai sót liên quan đến nhiễm khuẩn bệnh viện [31] Theo báo cáo của JICA Nhật Bản xu hướng kiện cáo liên quan đến sự cố y khoa ngày càng gia tăng [48]

Biểu đồ 1.1 Số vụ án xét xử liên quan đến sai sót y khoa tại Nhật qua các năm

HUPH

Trang 22

Kéo dài thời gian nằm viện, làm mất niềm tin của người bệnh vào hệ thống y tế: Báo cáo của Sở Y tế bang Minnesota năm 2008 cho thấybên cạnh những hậu quả không mong muốn mà sai sót y khoa đem lại như tăng tỷ lệ tử vong, tăng chi phí cho

xã hội… sai sót y khoa còn có thể làm kéo dài thời gian điều trị của người bệnh từ đó làm mất niềm tin của người bệnh vào hệ thống y tế [32]

Biểu đồ 1.2 Hậu quả của sai sót y khoa với người bệnh

Ngoài ra, sai sót y tế cũng ảnh hưởng tiêu cực đến nhân viên y tế để xảy ra sai sót Một nghiên cứu tại Mỹ được thực hiện năm 2003 – 2004 về ảnh hưởng của các sự

cố y khoa tới tâm lý của các bác sỹ cho thấy, 80% các bác sỹ đã từng trải qua các cảm xúc bực bội, hay căng thẳng tâm lý sau khi gây ra sự cố Các phản ứng phổ biến nhất bao gồm gia tăng lo lắng về việc sẽ gây ra thêm sai sót trong tương lai (61%), mất tự tin (44%), giảm mức độ hài lòng công việc (42%), khó khăn với giấc ngủ (42%), và ảnh hưởng xấu đến danh tiếng của họ (13%) Trong số các đối tượng nghiên cứu có đến 92% không nhận được sự giúp đỡ để đối phó với các stress tâm lý sau khi xảy ra

sự cố từ cơ quan nơi mình làm việc [23]

1.4 Nguyên nhân dẫn đến sự mất an toàn người bệnh và giải pháp

1.4.1 Nguyên nhân mất an toàn người bệnh

Từ các nghiên cứu trên thế giới, trong nước kết hợp với tình hình thực tiễn cho thấy có 3 nhóm nguyên nhân chính dẫn đến sự cố y khoa:

Nhóm nguyên nhân do con người: Trong bất cứ lĩnh vực nào con người luôn

HUPH

Trang 23

có một vị trí quan trọng Tuy nhiên trước tình trạng quá tải ở các bệnh viện lớn cùng với thói quen sự chủ quan tin tưởng vào trí nhớ của bản thân như thăm khám cho vài người bệnh mới tiến hành ghi vào bệnh án hay pha thuốc cho vài người bệnh rồi mới tiến hành tiêm cuả điều dưỡng đã vô tình tăng nguy cơ sai sót y khoa dẫn đến sự mất ATNB Tình cảnh của nhân viên y tế bao gồm sức khoẻ, tâm lý hay kinh nghiệm chuyên môn cũng ảnh hưởng đáng kể đến việc hình thành sai sót y khoa Ngoài ra, việc

vi phạm chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp ví dụ thiếu tập trung, dựa vào phác đồ không cập nhập, làm tắt/cắn xén quy trình cũng là nguyên nhân lớn dẫn đến sự mất ATNB Đây là nhóm nguyên nhân chính dẫn đến sai sót y khoa tuy nhiên đây cũng là nhóm nguyên nhân có nhiều giải pháp để phòng ngừa và cải thiện nhất Ở Việt Nam,

để tăng cường ATNB giảm thiểu rủi ro do sai sót y tế, Bộ Y tế đã đưa ra một loạt thông

tư để kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, thông tư hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện, thông tư hướng dẫn sử dụng thuốc trong bệnh viện… để giảm thiểu sai sót do con người [6]

Nhóm nguyên nhân do đặc tính chuyên môn: Bên cạnh những nguyên nhân từ

con người những đặc tính chuyên môn như xác suất xảy ra sai sót y tế cao hay những rủi ro do can thiệp thủ thuật do môi trường đặc thù cũng góp phần làm tăng số lượng sai sót trong y tế Ngoài ra, mỗi người có phản ứng khác nhau với từng loại thuốc hoá chất khác nhau vì vậy nên việc sai sót có thể xảy ra với người này nhưng không xảy ra với người khác Vì vậy để tăng cường ATNB nhân viên y tế phải theo dõi thường xuyên để có thể xử trí kịp thời hạn chế tối đa hậu quả của thuốc Ngày nay khi xã hội ngày càng phát triển nhiều loại bệnh mới xuất hiện và nhiều loại bệnh đến giờ vẫn chưa

có thuốc chữa đây cũng là nguyên nhân góp phần làm tăng sự cố y khoa [6]

Nhóm nguyên nhân do dây chuyền khám chữa bệnh phức tạp: Công tác khám

chữa bệnh yêu cầu sự phối hợp của nhiều người, nhiều tổ chức khác nhau Bên cạnh đó việc không bàn giao công việc đầy đủ giữa các ca trực đang là nguyên nhân dẫn đến các sai sót ở bệnh viện Việc thiếu nhân lực, phương tiện hoặc chất lượng nhân lực,

HUPH

Trang 24

phương tiện không đảm bảo đang là nguyên nhân làm cho người bệnh đối mặt với tình trạng thiếu an toàn ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng Nghề

y là nghề liên quan đến tính mạng con người vì vậy nhân viên y tế luôn phải đối mặt với áp lực tự chủ cao (lợi ích/an toàn) và đây cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến ATNB [6]

1.4.2 Giải pháp an toàn người bệnh

Từ những thực trạng ATNB Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã khuyến cáo 6 giải pháp để tăng cường ATNB bao gồm [5]:

- Xác định đúng người bệnh;

- Tăng cường thông tin giữa NVYT, hạn chế ra y lệnh miệng;

- An toàn dùng thuốc;

- An toàn phẫu thuật;

- Giảm thiểu nhiễm khuẩn bệnh viện;

- Phòng ngừa người bệnh bị ngã

1.5 Các nghiên cứu về an toàn người bệnh

1.5.1 Nghiên cứu về an toàn người bệnh trên thế giới

Trong nghiên cứu của Úc đã chỉ ra những nơi thường có tỷ lệ xảy ra sự cố cao

có đặc điểm sau: nơi phẫu thuật (40% - 50%); nơi áp dụng lần đầu kỹ thuật mới; nơi người bệnh là trẻ sơ sinh, người già; nơi cường độ lao động cao; nơi tỷ lệ điều dưỡng/người bệnh thấp [51] Một nghiên cứu khác tại bệnh viện thuộc Luân Đôn, Anh khi tiến hành hồi cứu bệnh án tác giả chỉ ra yếu tố địa điểm có ảnh hưởng tới thực hành ATNB trong đó khoa ngoại và chấn thương là hai khoa có tỷ lệ sai sót cao nhất, thấp nhất là ở khoa sản

HUPH

Trang 25

Bảng 1.6 Phân bố sự cố theo các chuyên khoa Chuyên khoa Tỷ lệ sự cố (%) Tỷ lệ sự cố có thể phòng

1.5.2 Nghiên cứu về an toàn người bệnh ở Việt Nam

Hiện nay chưa có nghiên cứu nào mô tả được thực trạng kiến thức, thái độ của người ĐD về an toàn người bệnh Tuy nhiên, trong các nghiên cứu thực hiện trên đối tượng ĐD tại các bệnh viện ở Việt Nam đều cho thấy kiến thức và thái độ

Có 52,7% điều dưỡng cho biết thiếu các phương tiện làm việc, 48,3% thiếu nhân lực, 21,8% thiếu thời gian chỉ có 10% điều dưỡng thấy thiếu chuyên môn và cao tuổi Bên cạnh đó việc thủ tục rườm rà cũng là nguyên nhân cản trở việc thực

HUPH

Trang 26

hành ATBN ở điều dưỡng Tuy nhiên, chỉ tìm được mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa khoa công tác và thực hành an toàn ở điều dưỡng (OR = 3,7; 95% KTC: 1,3 – 11,3) [22]

Khi nghiên cứu tìm hiểu thực trạng tiêm an toàn của điều dưỡng ở bệnh viện,

có 22,2% điều dưỡng thực hành đạt 5 tiêu chuẩn trong đó tỷ lệ thực hành đạt tiêu chuẩn phương tiện cao nhất chiếm 86,5% và tỷ lệ thực hành vô khuẩn và giao tiếp với người bệnh thấp nhất lần lượt (45% và 47%) Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hành tiêm an toàn của điều dưỡng bao gồm nhóm tuổi, thâm niên công tác, thời điểm tiêm, đường tiêm, thứ tự thực hiện mũi tiêm [11]

Kết quả nghiên cứu khác được thực hiện tại bệnh viện Xanh Pôn tìm hiểu về rửa tay an toàn của điều dưỡng cho thấy tỷ lệ nhóm điều dưỡng khoa ngoại thực hành tốt hơn so với khoa nội, nhóm điều dưỡng kinh nghiệm dưới 15 năm có thực hành tốt hơn so với nhóm kinh nghiệm trên 15 năm Có hai nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến thực hành của điều dưỡng ở đây Nhóm yếu tố tăng cường có tập huấn, kiểm tra, quy định của bệnh viện Nhóm yếu tố cản trở có việc quá tải bệnh viện, phương tiện sử dụng, nhiều lần rửa tay/ngày, không đủ buồng rửa tay [1]

1.6 Một số thông tin khái quát về địa điểm nghiên cứu

Bệnh viện Xanh Pôn là bệnh viện đa khoa Hạng I, trực thuộc Sở Y tế Hà Nội Bệnh viện có 43 khoa, phòng (12 chuyên khoa ngoại, 5 chuyên khoa nhi, 4 khoa nội, 2 khu phẫu thuật, 3 khoa Hồi sức tích cực, 9 khoa khám bệnh và 1 khoa khám quốc tế Việt Nam – Hàn quốc, khoa Dược, khoa Y học cổ truyền,…và các phòng chức năng theo đúng phân hạng Bệnh viện)

Nhân lực có 957 người, trong đó có: 4 Giáo sư, Phó giáo sư, 7 tiến sỹ, 66 thạc sỹ, 43 bác sỹ chuyên khoa cấp I, 30 bác sỹ chuyên khoa cấp II, 02 Dược sỹ…

Tỷ lệ Điều dưỡng/Bác sỹ là 434/209 Có khoảng 250 điều dưỡng đang làm công tác trực tiếp chăm sóc người bệnh nằm viện (điều dưỡng lâm sàng) Các điều dưỡng, kỹ thuật viên có trình độ từ cao đẳng trở lên chiếm 52% Các cán bộ quản lý từ cấp khoa, phòng đều được đào tạo về quản lý nhà nước và lý luận chính trị Giường bệnh sử dụng là 696.17 Ngày điều trị trung bình 1 người bệnh là 6.34 Tổng số lần khám: 202.752 (88.74%) Tổng số phẫu thuật: 3.286 ca loại I (59,74%), tổng số các

HUPH

Trang 27

xét nghiệm: 1227299 (66,12%) Tổng số lần sử dụng dịch vụ chẩn đoán hình ảnh: 67.208 (61,09%) Tổng số dịch vụ phục hồi chức năng: 20.318 (78.14%) Do lượng người bệnh đông nên tại bệnh viện cũng xảy ra tình trạng quá tải trầm trọng Như tại Khoa Nội 1, số người bệnh điều trị luôn gấp 2 - 3 so với số giường bệnh (25 giường bệnh), khiến người bệnh luôn phải nằm ghép 2 - 3 người một giường Tuy nhiên có những đợt cao điểm, người bệnh lên đến hàng trăm người, có giường điều trị, bệnh viện

đã phải kê thêm giường bệnh tại khu vực hành lang, chân cầu thang

1.7 Khung lý thuyết về an toàn người bệnh

Từ trước đến nay phần lớn những sự cố y khoa được giải quyết trên cơ sở cách tiếp cận quy chụp lỗi cá nhân, tức là tìm ra một người hay những người liên quan trực tiếp đến chăm sóc người bệnh vào thời điểm xảy ra sự cố và buộc họ chịu trách nhiệm Hành động quy trách nhiệm cá nhân trong y tế là cách phổ biến để giải quyết vấn đề và đã hình thành văn hoá đổ lỗi Nhưng việc nếu chỉ tập trung đổ lỗi cho cá nhân thì không thể cải thiện chất lượng ATNB và cản trở lớn đối với khả năng quản lý rủi ro, nâng cao chất lượng chăm sóc của hệ thống y tế vì nhiều nghiên cứu đã chỉ 70% các sai sót, sự cố là do lỗi hệ thống [46]

Trước những nghiên cứu cho thấy thực trạng mất an toàn người bệnh, năm

2005 Úc đã tiến hành xây dựng khung giáo dục an toàn người bệnh (APSEF) Đây

là mô hình đơn giản, linh hoạt và dễ tiếp cận Khung dùng để đánh giá mô tả kiến thức, kỹ năng và hành vi mà cán bộ y tế cần có để đảm bảo ATNB [44]

Tiếp đó năm 2008: Úc đã đưa mô hình nguyên nhân gây nên tai nạn của Reason để phân tích nguyên nhân dẫn đến sự mất ATNB từ đó tìm ra giải pháp cho việc loại bỏ những sai sót y khoa Mô hình này đi sâu tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ

và những yếu tố ảnh hưởng đến việc xảy ra sai sót của nhân viên Đây là mô hình khá thành công được áp dụng ở nhiều nước trong đó có Việt Nam và thường được gọi là mô hình pho-mat Thuỵ Sỹ [35]

Đến năm 2009, Canada đưa ra khung ATNB gồm 6 lĩnh vực là [47]:

Lĩnh vực 1: Vai trò của văn hoá an toàn

Lĩnh vực 2: Làm việc theo nhóm để đảm bảo ATNB

Lĩnh vực 3: Tương tác hiệu quả vì ATNB

HUPH

Trang 28

Lĩnh vực: 4: Quản lý nguy cơ đe doạ ATNB

Lĩnh vực 5: Điều chỉnh yếu tố con người và môi trường

Lĩnh vực 6: Nhận biết và ứng phó công khai các biến cố bất lợi

Khung lý thuyết cho luận văn này được xây dựng dựa trên sự tham khảo những mô hình về ATNB trên thế giới kết hợp với các nghiên cứu tìm hiểu được trên thế giới và ở Việt Nam

HUPH

Trang 29

An toàn người bệnh

Yếu quản lý

Thành lập Tổ/Ban quản lý chất lượng ATNB

Công tác giám sát của lãnh đạo

Đào tạo, tập huấn thực hành ATNB

Cơ chế thưởng/phạt Các biện pháp phòng ngừa rủi ro

HUPH

Trang 30

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Điều dưỡng đang làm tại các khoa lâm sàng của bệnh viện Xanh Pôn, Hà Nội

- Điều dưỡng trưởng các khoa lâm sàng của bệnh viện Xanh Pôn, Hà Nội

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Điều dưỡng của các khoa lâm sàng tại bệnh viện Xanh Pôn có thời gian thâm niên từ 1 năm trở lên

- Điều dưỡng đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Điều dưỡng không có mặt tại bệnh viên trong thời gian nghiên cứu do đi học, nghỉ phép, nghỉ ốm, nghỉ thai sản hoặc đi công tác;

- Điều dưỡng không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm

- Thời gian nghiên cứu: 1/3/2015 – 30/9/2015

- Địa điểm nghiên cứu: Các khoa lâm sàng bệnh viện XanhPôn, Hà Nội

2.3 Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích kết hợp định lượng và định tính Nghiên cứu mô tả cắt ngang với mục đích mô tả đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu, các đặc điểm, tính chất của công việc và phân tích các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ của ĐD về ATNB Sau khi thu thập và phân tích sơ bộ

số liệu định lượng tiến hành nghiên cứu định tính bằng phương pháp phỏng vấn sâu

và thảo luận nhóm nhằm tìm hiểu sâu hơn về thực trạng ATNB tại bệnh viện, các yếu tố liên quan đến thực hành ATNB, của điều dưỡng và hoạt động của hệ thống theo dõi, báo cáo các sai sót/sự cố y khoa tại bệnh viện

Trong nghiên cứu này dùng phương pháp định tính kết hợp định lượng nhằm nhìn nhận và đánh giá khách quan, đảm bảo độ tin cậy cao hơn vì đây là một nghiên cứu mới tại Việt nam, chưa có nhiều tài liệu tham khảo và các biến số được thiết kế chủ yếu dựa vào một số văn bản như Thông tư 07 của Bộ Y tế về hướng dẫn công tác Điều dưỡng chăm sóc người bệnh toàn diện và tài liệu Đào tạo liên tục An toàn

HUPH

Trang 31

người bệnh của Cục Quản lý Khám chữa bệnh, Bộ Y tế đồng thời tham khảo một số tài liệu Đào tạo Điều dưỡng của nước ngoài

2.4 Cỡ mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu định lượng

- Chọn toàn bộ điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng tại bệnh viện Xanh Pôn đồng ý, tình nguyện tham gia nghiên cứu

- Cỡ mẫu: 210 điều dưỡng làm việc tại 15 khoa lâm sàng trên tổng số gần

250 điều dưỡng lâm sàng do 1 số điều dưỡng từ chối tham gia nghiên cứu, Điều dưỡng không có mặt tại bệnh viên trong thời gian nghiên cứu do đi học, nghỉ phép, nghỉ ốm, nghỉ thai sản hoặc đi công tác

2.4.2 Cỡ mẫu định tính

Các đối tượng tham gia thảo luận nhóm được chọn mẫu có chủ đích (đã tham gia khảo sát kiến thức, thái độ về ATNB, có khả năng giao tiếp tốt, có khả năng cung cấp nhiều thông tin liên quan tới chủ đề nghiên cứu và đồng ý tham gia thảo luận nhóm) Đã tổ chức 2 cuộc TLN bao gồm: Đối tượng Điều dưỡng trưởng khoa:

1 nhóm

- Nhóm Điều dưỡng trưởng khoa với 8 người tham gia

- Nhóm Điều dưỡng viên trực tiếp chăm sóc người bệnh với 6 người tham gia

- Phỏng vấn sâu 2 người gồm: Lãnh đạo bệnh viện phụ trách điều dưỡng và Trưởng phòng điều dưỡng bệnh viện

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu định lượng

- Lập danh sách điều dưỡng viên tham gia nghiên cứu tại các khoa lâm sàng của bệnh viện

- Đặt lịch hẹn với khoa để tập trung điều dưỡng viên tại phòng Hành chính của khoa Số liệu được thu thập thông qua phát vấn với bộ câu hỏi được nhóm nghiên cứu xây dựng

- Thời gian thu thập số liệu: Sau khi giao ban khoa

HUPH

Trang 32

- Thành phần tham gia thu thập số liệu: Nghiên cứu viên (là học viên) trực tiếp thu thập số liệu với sự tham gia của Trưởng phòng Điều dưỡng bệnh viện Xanh Pôn và điều dưỡng trưởng các khoa tham gia nghiên cứu

2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu định tính

- Trưởng phòng Điều dưỡng bệnh viện lên kế hoạch tổ chức các cuộc TLN với các đối tượng được lựa chọn

- Nghiên cứu viên (là học viên) trực tiếp điều hành thảo luận Nhóm và phỏng vấn sâu dựa trên Hướng dẫn Thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu với sự giúp đỡ của một thư ký để giúp ghi tóm tắt nội dung và những diễn biến chính Các cuộc TLN

và phỏng vấn sâu được ghi âm Nội dung thảo luận tập trung tìm hiểu thêm về thực trạng ATNB tại bệnh viện,các yếu tố liên quan đến thực hành ATNB, của điều dưỡng và hoạt động của hệ thống theo dõi, báo cáo các sự cố y khoa tại bệnh viện

2.6 Công cụ nghiên cứu

- Phiếu phát vấn: Bộ câu hỏi phỏng vấn chia làm 3 phần Phần 1 gồm các 25 câu hỏi thông tin chung và các yếu tố liên quan Phần 2 gồm 15 câu để đánh giá tình trạng kiến thức ATNB của điều dưỡng tại bệnh viện Phần 3 gồm 13 câu để đánh

giá thái độ về ATNB của điều dưỡng (Phụ lục 1)

- Phiếu hướng dẫn thảo luận nhóm (Phụ lục 2)

- Phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu (Phụ lục 3)

2.7 Khái niệm, thang đo

2.7.1 Khái niệm:

An toàn người bệnh: Là làm giảm thiểu hết mức có thể nguy cơ gây tổn hại

không cần thiết liên quan đến chăm sóc y tế

Sai sót y khoa: Là những thất bại trong việc thực hiện một hành động theo

kế hoạch dự kiến hoặc áp dụng kế hoạch sai

2.7.2 Các thang đo trong nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy biến kiến thức và thái độ của điều dưỡng về ATNB là hai biến phân bố chuẩn Vì vậy, để phân chia điểm kiến thức đạt và không đạt, thực hành đạt và không đạt dùng chỉ số ” trung bình + độ lệch chuẩn”

Kiến thức: Từ câu B1 đến câu B15

HUPH

Trang 33

Kiến thức đạt: Từ 8 đến 15 điểm

Kiến thức không đạt: Từ 0 – 7 điểm

Thái độ: Từ câu C1 đến câu C15

Thái độ đạt: Từ 28 đến 30 điểm

Thái độ không đạt: Từ 0 đến 27 điểm

2.8 Phương pháp phân tích số liệu

2.8.1 Phân tích số liệu định lượng

Số liệu được làm sạch trước và sau khi nhập vào máy tính bằng phần mềm Epidata 3.1 Có 15% số phiếu được nhập lại nhằm kiểm tra và hạn chế sai số trong quá trình nhập số liệu

Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0 qua 2 bước:

Bước 1 : Làm sạch số liệu

Lập các bảng phân phối tần số, các lệnh điều kiện để kiểm tra các giá trị bất thường và các thông tin không logic của bộ số liệu để có kiểm tra lại thông tin và điều chỉnh phù hợp

Bước 2 : Phân tích số liệu

Các kết quả phân tích và trình bày số liệu dựa trên mục tiêu nghiên cứu của

đề tài

Phân tích mô tả: Sử dụng các thông số như tần số, tỷ lệ %

Phân tích mối liên quan: Tìm mối liên quan giữa các yếu tố với kiến thức,

thái độ ATNB của điều dưỡng

Kiểm định test χ2, mức ý nghĩa thống kê với p=0,05, tính tỷ suất chênh (OR), với khoảng tin cậy 95%, bảng 2x2

Mô hình hồi quy Logistic để mô tả mối liên quan

Biến phụ thuộc: Kiến thức ATNB và thái độ ATNB của điều dưỡng

Biến độc lập: Là các biến thông tin cơ bản của đối tượng nghiên cứu: Nhân

khẩu học Các biến độc lập khác sẽ được thăm dò trong quá trình phân tích số liệu

HUPH

Trang 34

2.8.2 Phân tích số liệu định tính

Nội dung ghi âm các cuộc TLN được gỡ băng và phân tích theo chủ đề (thematic analysis) Những ý kiến tiêu biểu, đặc trưng được trích dẫn minh họa cho từng chủ đề

2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

- Nghiên cứu tuân thủ theo quy trình xét duyệt của Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế Công cộng

- Đối tượng nghiên cứu được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành điều tra và chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận tham gia của đối tượng nghiên cứu

- Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được giữ kín Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác

- Kết quả nghiên cứu được báo cáo với lãnh đạo bệnh viện đa khoa Xanh Pôn khi nghiên cứu kết thúc

2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục

2.10.1 Các loại sai số

- Sai số ngẫu nhiên

+ Sai số trả lời: Sai số này đã từng xảy ra trong quá trình thu thập số liệu đối với câu hỏi …

+ Sai số ghi chép: Thông tin do đối tượng ghi thiếu thông tin, đánh sai đáp

án, không điền đủ thông tin

+ Sai số khi nhập liệu: Nhân viên nhập liệu bỏ sót phiếu, nhầm lẫn giữa các câu hỏi và các phiếu

Trang 35

giản, điều dưỡng có thể hiểu và trả lời được ngay nhằm đem lại tính chính xác cho câu trả lời

- Tập huấn cho đối tượng về bộ câu hỏi điều tra để điều tra viên có thể hiểu

và nắm chắc được những câu hỏi, có thể giải thích ngay khi đối tượng trả lời có sự nhầm lẫn và đảm bảo tính tương tác cao

- Điều tra viên phải giải thích rõ những nội dung mà đối tượng không rõ

- Xem xét, kiểm tra lại các phiếu, những phiếu không đầy đủ thông tin sẽ được điều tra lại

- Tập huấn nhập liệu cho điều tra viên Việc nhập liệu cũng như giám sát nhập liệu được tiến hành ngay sau khi số liệu được thu thập nhằm đảm bảo tính chính xác và có thể khắc phục ngay được những sai sót gặp phải trong quá trình nhập liệu

HUPH

Trang 36

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thông tin chung và các yếu tố liên quan

Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu

Thâm niên công tác

Đa số điều dưỡng lâm sàng tham gia vào nghiên cứu là nữ giới (86,2%), chỉ có 13,8% điều dưỡng là nam giới Tuổi trung bình của điều dưỡng tại bệnh viện là 37 tuổi trong đó trên 50% điều dưỡng có độ tuổi từ 30-45 tuổi Nhóm điều dưỡng có trình độ học vấn trung cấp chiếm tỷ lệ cao nhất 73,3% và thấp nhất là nhóm điều dưỡng có trình

độ cao đẳng Số lượng điều dưỡng có thâm niên công tác từ 10 năm trở lên gấp gần 2 lần số lượng điều dưỡng có thâm niên công tác dưới 10 năm

HUPH

Trang 37

Biểu đồ 3.1: Mô tả khoa làm việc của điều dƣỡng

Điều dƣỡng khoa ngoại chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số điều dƣỡng lâm sàng của bệnh viện (35,7%) Tỷ lệ điều dƣỡng nữ của khoa ngoại cao nhất, tiếp theo là đến các khoa sản/nhi, thấp nhất ở các chuyên khoa khác Tuy nhiên, khoa nội là nơi có tỷ lệ điều dƣỡng nam cao nhất (5,7%) và thấp nhất là khoa sản/nhi

HUPH

Trang 38

Bảng 3.2 Đặc điểm tính chất công việc của đối tƣợng nghiên cứu

“Tại vì trước đây bệnh nhân vào là có quy định nhưng bây giờ chúng tôi nhận 24/24

giờ, cho nên những người trực buổi sáng phải ăn trưa trước để ra trông trưa, cho nên người điều dưỡng đó tiếp tục vừa làm chuyên khoa vừa đón bệnh nhân mới, xử lý bệnh nhân mới và đêm đến cũng vậy thôi cho nên nếu làm như thế cực kỳ áp lực Có những trường hợp bệnh nhân vào đêm nặng thì anh chị em coi như thức trắng luôn còn bệnh nhân mà nhẹ nhẹ vào thì người ta cũng phải làm việc chỉ cần 1 ca vào như thế thì thôi

HUPH

Trang 39

Đối với chúng tôi thì nói thực sự nếu chia đôi ra để có thể nghỉ thì một người không

xuể” – (TLN2 – ĐD1)

“Ví dụ ca trực người ta quy định trực 16 tiếng nhưng hầu như ở đây trực 24h

có nghĩa người ta trực từ 8h sáng hôm nay đến 8h sáng hôm sau họ mới nghỉ đấy chị ạ,

mà làm liên miên luôn, trưa thì nghỉ vài tiếng thì phải trông trưa còn bình thường ra về khoa để họ nghỉ bù nhưng thiếu người ta phải làm thêm Tiêu chuẩn trực là 16 giờ

nhưng giờ 26/24 chứ không phải 24/24” – (TLN2 – ĐD2)

“Thực tế ở đây bọn em tính nhân lực theo giường bệnh chứ không tính nhân lực theo bệnh nhân, như vậy có bao nhiêu bệnh nhân nằm trên 1 cái giường ấy cũng vẫn phải phục vụ Nói nó đúng là như thế nên áp lực rất nhiều Bản thân nghỉ bù, nghỉ phép là cái tái tạo sức lao động cho nhân viên nhưng bản thân em không giải quyết

được bởi vì công việc không trôi” – (TLN1 – ĐDT3)

Bảng 3.3 Đặc điểm các yếu tố khó khăn điều dƣỡng hay gặp phải tại bệnh viện

Trang 40

Trong các vấn đề khó khăn người điều dưỡng có thể gây ảnh hưởng đến công việc, có 62,9% điều dưỡng cho rằng có tiếp xúc với các loại thuốc dễ gây nhầm lẫn do tên thuốc giống nhau vì hình thức giống nhau hoặc nhãn thuốc bị mờ tại bệnh viện Và

đa số điều dưỡng gặp khó khăn trong việc thực hiện y lệnh của bác sỹ (88,6%), hoặc gặp khó khăn trong thủ tục hành chính (71,4%)

Bảng 3.4 Đặc điểm môi trường và điều kiện làm việc

Khi đề cập đến môi trường và điều kiện làm việc, có 21,9% điều dưỡng cho rằng an ninh, an toàn của bệnh viện chưa đảm bảo cho công việc của mình Ngoài ra, 81,4% điều dưỡng thỉnh thoảng gặp khó khăn trong giao tiếp với người bệnh hoặc người nhà người bệnh, chỉ có 11,4% cho rằng mình không bao giờ gặp khó khăn trong

Ngày đăng: 02/12/2023, 10:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Lê Thành Tài, Trần Ngọc Xuân và Trần Trúc Linh (2008), "Tình hình stress nghề nghiệp của nhân viên điều dƣỡng", Y học TP. Hồ Chí Minh. 12(4).HUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình stress nghề nghiệp của nhân viên điều dƣỡng
Tác giả: Lê Thành Tài, Trần Ngọc Xuân và Trần Trúc Linh
Năm: 2008
1. Nguyễn Thị Hồng Anh (2012), "Thực trạng và các yếu tố liên quan đến rửa tay thường quy của điều dưỡng viên lâm sàng bệnh viện Xanh Pôn, Hà Nội&#34 Khác
2. Nguyễn Thanh Hà (2005), Giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện tại 6 tỉnh phía Nam Khác
3. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2014), Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành quy trình điều dưỡng tại bệnh viện cấp cứu Trưng Vương Khác
4. Nguyễn Việt Hùng (2005), Tình hình nhiễm khuẩn bệnh viện tại các bệnh viện khu vực phía Bắc Khác
5. Trần Quang Huy An toàn người bệnh: Thực trạng và giải pháp Khác
6. Phạm Đức Mục Tổng quan về an toàn người bệnh và xây dựng hệ thống y tế bảo đảm an toàn người bệnh Khác
7. Phạm Đức Mục Xây dựng hệ thống y tế bảo đảm an toàn người bệnh Khác
8. Phạm Đức Mục (2005), Nhiễm khuẩn bệnh viện tại các bệnh viện trực thuộc bộ Y tế năm 2005 Khác
9. Phạm Đức Mục và các cộng sự. (2011), "Đánh giá về các sai sót y khoa trong các bệnh viện Việt Nam giai đoạn 2010 - 2011&#34 Khác
10. World Health Organization (2011), Hướng dẫn chương trình giảng dạy về an toàn người bệnh Khác
11. Trần Thị Minh Phƣợng (2012), "Đánh giá thực hiện tiêm an toàn tại bệnh viện đa khoa Hà Đông, Hà Nội năm 2012 &#34 Khác
12. Trịnh Xuân Quang (2009), Kiến thức và thực hành về an toàn truyền máu của điều dưỡng tại Bê ̣nh viê ̣n Đa khoa Tiền Giang năm 2009 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w