1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến quan điểm, hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của học sinh trường trung cấp y tế đăk lăk năm 2015

108 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Và Một Số Yếu Tố Liên Quan Đến Quan Điểm, Hành Vi Quan Hệ Tình Dục Trước Hôn Nhân Của Học Sinh Trường Trung Cấp Y Tế Đăk Lăk Năm 2015
Tác giả Trương Thị Mỹ Duyên
Người hướng dẫn TS. Viên Chinh Chiến, Ths. Nguyễn Thị Thanh Nga
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Buôn Mê Thuột
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG TRƯƠNG THỊ MỸ DUYÊN THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN QUAN ĐIỂM, HÀNH VI QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN CỦA HỌC

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TRƯƠNG THỊ MỸ DUYÊN

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN QUAN ĐIỂM, HÀNH VI QUAN HỆ TÌNH DỤC

TRƯỚC HÔN NHÂN CỦA HỌC SINH

TRƯỜNG TRUNG CẤP Y TẾ ĐĂKLĂK NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 3

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Viên Chinh Chiến, Ths Nguyễn Thị Thanh Nga, những người Thầy giáo, Cô giáo trực tiếp hướng dẫn tận tình giúp Tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp của Tôi đang công tác tại Trường Trung cấp Y tế ĐăkLăk Cảm ơn các em học sinh trong Trường đã nhiệt tình tham gia nghiên cứu Cảm ơn gia đình đã luôn động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ Tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trương Thị Mỹ Duyên

HUPH

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ iv

TÓM TẮT ĐỀ TÀI vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

Chương1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu: 3

1.2 Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân trên thế giới và Việt Nam 4

1.2.1 Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân trên thế giới: 4

1.2.2 Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân tại Việt Nam: 5

1.3 Thực trạng về quan điểm, hành vi đối với QHTD THN trên Thế giới và Việt Nam 10

1.3.1 Thực trạng về quan điểm, hành vi đối với QHTD THN trên thế giới 10

1.3.2 Thực trạng về quan điểm, hành vi đối với QHTD THN tại Việt Nam 11

1.4 Một số yếu tố liên quan đến quan điểm, hành vi QHTDTHN 13

1.5 Sơ lược về trường Trung cấp Y tế ĐăkLăk 16

1.6 Khung lý thuyết 17

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19

2.3 Thiết kế nghiên cứu 19

2.4 Cỡ mẫu 19

2.5 Phương pháp chọn mẫu 20

2.6 Phương pháp thu thập số liệu: 20

2.6.1 Các tiêu chuẩn đánh giá được sử dụng trong nghiên cứu 21

2.7 Các biến số nghiên cứu và xây dựng bộ công cụ: 22

2.8 Phương pháp phân tích số liệu 28

HUPH

Trang 5

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 28

2.10 Hạn chế của nghiên cứu và biện pháp khắc phục 29

2.10.1.Những sai số đã mắc phải 29

2.10.2 Cách khắc phục sai số 29

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 30

3.2 Thực trạng quan điểm, hành vi QHTD THN của học sinh trường Trung cấp Y tế ĐăkLăk 32

3.2.1 Quan điểm về QHTD THN học sinh trường Trung cấp Y tế ĐăkLăk 32

3.2.2 Hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của học sinh 36

3.3 Yếu tố liên quan đến quan điểm và hành vi về QHTD THN 39

3.3.1 Yếu tố liên quan đến quan điểm về QHTDTHN 39

3.3.2 Yếu tố liên quan đến hành vi QHTD THN của học sinh 41

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 44

4.1 Thái độ và hành vi tình dục trước hôn nhân của học sinh trường Trung cấp Y tế ĐăkLăk : 44

4.2 Một số yếu tố liên quan đến quan điểm, hành vi QHTDTHN của đối tượng nghiên cứu với đặc điểm cá nhân và xã hội: 48

KẾT LUẬN 55

KHUYẾN NGHỊ 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Phụ lục 1:GIẤY ĐỒNG Ý THAM GIA TRẢ LỜI 62

Phụ lục 2:PHIẾU ĐIỀU TRA 64

PHỤ LỤC 3: ĐO LƯỜNG BIẾN SỐ 78

PHỤ LỤC 4: Các bảng kết quả nghiên cứu 82

PHỤ LỤC 5: BẢNG KINH PHÍ 86

Phụ lục 6: KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU 87

HUPH

Trang 6

ĐTNC : Đối tượng nghiên cứu

GMD : Gái mại dâm

HIV :Tên loại virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người

HS :Học sinh

KAP :Kiến thức, thái độ, thực hành

NXB : Nhà xuất bản

QHTD THN : Quan hệ tình dục trước hôn nhân

SAVY : Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam

SAVY 1 : Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần 1

(2003) SAVY2 : Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần 2

(2009) SKSS :Sức khỏe sinh sản

STD :Các bệnh lây truyền qua đường tình dục

TCCN :Trung cấp chuyên nghiệp

TCYT :Trung cấp Y tế

TTYT :Trung tâm y tế

UNAIDS :Ủy ban phòng chống AIDS liên hợp quốc

VTN :Vị thành niên

WHO :Tổ chức Y tế thế giới

HUPH

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Các biến số nghiên cứu 23

Bảng 3.1 Bảng phân bố số lượng học sinh theo nhóm tuổi 30

Bảng 3.2: Phân bố số lượng học sinh theo ngành và năm học 30

Bảng 3.3: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 31

Bảng 3.4 Quan điểm của học sinh về việc không được QHTD trước khi cưới 32

Bảng 3.5 Quan điểm của học sinh về việc thích những bạn có kinh nghiệm tình dục 33 Bảng 3.6 Quan điểm của học sinh về việc sẽ tự hào nếu còn trinh trắng/ trai tân 33

Bảng 3.7 Tỷ lệ học sinh đồng ý với một số quan điểm về QHTD trước hôn nhân 34 Bảng 3.8 Tình trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của học sinh theo đối tượng bạn tình 37

Bảng 3.9 Tỷ lệ học sinh quan hệ tình dục trước hôn nhân với người yêu theo giới tính 37

Bảng 3.10 Tỷ lệ học sinh QHTD THN do bị thuyết phục 38

Bảng 3.11 Tỷ lệ học sinh QHTD THN do bị lừa gạt 38

Bảng 3.12 Tỷ lệ học sinh QHTD THN do bị ép buộc/cưỡng bức 38

Bảng 3.13 Biện pháp tránh thai sử dụng thường xuyên trong 12 tháng qua 39

Bảng 3.14 Một số yếu tố liên quan đến quan điểmcủa học sinh về QHTDTHN 39

Bảng 3.15 Một số yếu tố liên quan đến hành vi QHTDTHN của học sinh 41

HUPH

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Quan điểm chung của học sinh về QHTDTHN 35 Biểu đồ 3.2 Hành vi học sinh QHTD THN 36 Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ học sinh QHTD THN theo giới tính 36

HUPH

Trang 9

tế ĐăkLăk, tỉnh ĐăkLăk, năm 2015

Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích bằng bảng phát vấn trên 270 học sinh tại trường Trung cấp Y tế ĐăkLăk, thời gian từ tháng 01/2015 đến tháng 06/2015 Kết quả cho ta thấy: 47% học sinh có quan điểm cởi mở và 53% học sinh

có quan điểm không cởi mở về QHTD THN Tỉ lệ học sinh QHTD THN là 36,0%

Tỉ lệ QHTD ở nam cao hơn ở nữ (nam 60,7% : nữ 33%) Tỉ lệ học sinh có tuổi quan

hệ tình dục lần đầu <18 tuổi khá cao (32%) Đa số là học sinh đã QHTD với người yêu (89,2%), sau đó là quan hệ với người họ hàng là 17,2% Các yếu tố liên quan đến quan điểm cởi mở và hành vi QHTD THN là tôn giáo, giới, nơi ở hiện tại của học sinh, đi làm thêm, tình trạng hôn nhân, sử dụng internet và xem các phim/hình ảnh kích dục trên internet, bạn bè rủ rê, sự quan tâm của bố mẹ và sự quan tâm của giáo viên

Từ kết quả nghiên cứu nhóm NC đề xuất nhà trường nên lồng ghép nội dung chăm sóc SKSS, tình dục vào tuần sinh hoạt công dân đầu năm của mỗi khóa Tổ chức các buổi sinh hoạt ngoại khóa hoặc câu lạc bộ về vấn đề sức khỏe sinh sản để cho các em có điều kiện trao đổi, chia sẻ, học hỏi cũng nên thành lập phòng tư vấn cho học sinh về các nội dung liên quan đến sức khoẻ sinh sản nói chung và các vấn

đề khác nói riêng nhằm thay đổi quan điểm, hành vi của học sinh về vấn đề QHTD THN

HUPH

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Quá trình hiện đại hóa đã dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ trong quan niệm

và hành vi về tình yêu, tình dục, hôn nhân và gia đình Tuổi kết hôn tăng lên nhưng tuổi có quan hệ tình dục lần đầu ngày càng trẻ hoá [10] Theo báo cáo của SAVY, trong tổng số nam VTN/TN có QHTDTHN, có 15,3% nam VTN/TN đã từng làm cho bạn tình mang thai (37 người), trong đó, có tới 72,5% làm cho bạn gái nạo phá thai Trong tổng số người đã từng QHTD, có 90,4% nữ VTN/TN đã từng mang thai

và trong tổng số người mang thai này, có 21,1% nữ VTN/TN đã từng nạo hút thai [12] Tuy nhiên, những hiểu biết về sức khỏe tình dục, sinh sản của nhóm đối tượng này còn hạn chế Không chỉ ở lứa tuổi vị thành niên mới không có những hiểu biết

về sức khỏe sinh sản, tình dục nên phải nhận hậu quả là có thai ngoài ý muốn, mà ngay cả lứa tuổi lớn hơn là sinh viên thì cũng rất nhiều sinh viên nữ đã mang thai ngoài ý muốn vì thiếu kiến thức, thiếu hiểu biết đôi khi dẫn đến những hậu quả khôn lường[25]

Số liệu khảo sát của Bộ Y tế công bố vào cuối tháng 3 năm 2013 vừa qua cho thấy có 44% thanh niên và vị thành niên ở Việt Nam chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân, tỷ lệ chấp nhận ở nam giới cao hơn nữ giới, 20% số ca nạo phá thai là ở tuổi vị thành niên [25]

Tại Đắk Lắk, theo thống kê của trung tâm CSSKSS của tỉnh, tình trạng nạo phá thai trong 5 năm gần đây có xu hướng tăng khoảng 4000 lượt người/năm, tập trung chủ yếu nhóm tuổi từ 17 đến 30 [52]

Trường Trung cấp Y tế ĐăkLăk nằm trên địa bàn Thành phố Buôn Ma Thuột Hầu hết các học sinh của Trường đều sống xa nhà, ở trọ nên phải tự chăm lo cho sức khỏe và mọi vấn đề trong cuộc sống của chính bản thân mình Trong những năm gần đây tình trạng học sinh có QHTDTHN và hậu quả là năm học 2014 có 5học sinh đã mang thai và các em gặp nhiều khó khăn trong việc học tập Do đó,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến quan điểm, hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của học sinh trường Trung cấp Y tế ĐăkLăk năm 2015” để có thể đưa ra được những khuyến nghị phù hợp

cho ban lãnh đạo nhà trường và các phòng ban liên quan có những định hướng và

kế hoạch tư vấn cho học sinh

HUPH

Trang 11

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả quan điểm, hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của học sinh trường Trung cấp Y tế ĐăkLăk, tỉnh ĐăkLăk, năm 2015

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến quan điểm và hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của học sinh trường Trung cấp Y tế ĐăkLăk, tỉnh ĐăkLăk, năm 2015

HUPH

Trang 12

Chương1:

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu:

Quan hệ tình dục trước hôn nhân

Quan hệ tình dục là hành vi đưa bộ phận sinh dục nam vào trong bộ phận sinh dục nữ[33] Quan hệ tình dục cũng có thể là giữa những thực thể khác hoặc cùng giới tính hoặc lưỡng tính Những năm gần đây, việc thực hiện với những bộ phận không phải là bộ phận sinh dục (quan hệ đường miệng, đường hậu môn, hoặc dùng ngón tay) cũng được bao gồm trong định nghĩa này[33]

Quan hệ tình dục trước hôn nhân là tình trạng nam/nữ có quan hệ tình dục với bạn tình khi họ chưa tổ chức đám cưới hoặc chưa đăng ký kết hôn

Quan hệ tình dục an toàn

Tình dục an toàn: Có một số khái niệm về quan hệ tình dục an toàn và khái niệm phổ biến là “Quan hệ tình dục an toàn là các hành vi QHTD có bảo vệ phòng tránh có thai ngoài ý muốn và phòng tránh bệnh lây truyền qua QHTD kể cả HIV/AIDS” [32] Trong nghiên cứu này thuật ngữ quan hệ tình dục an toàn đề cập đến QHTD giao hợp có sử dụng bao cao su (BCS) có thể phòng tránh có thai ngoài

ý muốn và phòng tránh bệnh lây truyền qua QHTD kể cả HIV/AIDS

Tình dục an toàn bao gồm các yếu tố như: không có nguy cơ nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục và mang thai ngoài ý muốn Về phương diện tránh thai, TDAT gồm sử dụng BPTT an toàn, hiệu quả và đúng

Tình dục lành mạnh là khi phù hợp với những đặc thù của tình dục người, với chuẩn mực đạo đức, văn hóa của xã hội hiện đại Tình dục lành mạnh phải đảm bảo 4 yếu tố: tự nguyện, đồng thuận, có trách nhiệm và tôn trọng lẫn nhau Các hành vi: xâm hại tình dục, quan hệ với gái mại dâm, ngoại tình… thường được xã hội coi là không lành mạnh

Các biện pháp tránh thai

Có 2 loại biện pháp tránh thai chính, đó là BPTT hiện đại (dụng cụ tử cung, thuốc viên tránh thai, thuốc tiêm tránh thai, bao cao su, thuốc cấy tránh thai, triệt

HUPH

Trang 13

sản nam và nữ, thuốc diệt tinh trùng) và BPTT truyền thống (xuất tinh ngoài âm đạo, tính vòng kinh )[2] Trong đó, chỉ có một vài biện pháp tránh thai phù hợp với thanh niên như là: bao cao su, thuốc viên tránh thai kết hợp, thuốc tránh thai khẩn cấp và thuốc diệt tinh trùng[2],[4]

Phá thai

Phá thai có 2 phương pháp chính là dùng thuốc (nội khoa) và hút chân không (ngoại khoa) để ép buộc (phá bỏ) thai nhi ra khỏi bụng mẹ Phá thai để lại hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về sức khỏe, tinh thần và xã hội đối với nữ vị thành niên, gây ảnh hưởng lớn đến quá trình học tập và phát triển không chỉ của vị thành niên mà còn ảnh hưởng lớn đến chất lượng nòi giống, đến gia đình và xã hội[2],[3]

Phá thai không phải là biện pháp kế hoạch hóa gia đình mà chỉ là một biện pháp can thiệp để giải quyết những có thai ngoài ý muốn hoặc là những trường hợp bệnh lý cần phải phá thai vì lý do của người mẹ hay của thai nhi[5]

1.2 Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân trên thế giới:

Nghiên cứu về mức độ QHTD trước hôn nhân cũng như những yếu tố ảnh hưởng được tiến hành ở Costa-Rica [42] Mẫu nghiên cứu mang tính đại diện quốc gia gồm những nữ thanh thiếu niên tuổi từ 15-24, cho phép phân tích so sánh các thuần tập (cohort) khác nhau, cho thấy tới tuổi 20, có tới 38% nữ thanh niên đã từng

có QHTD trước hôn nhân Khác với nhiều suy đoán, các tác giả tìm thấy rằng những nhóm trẻ tuổi trẻ có xu hướng QHTD trước hôn nhân ít hơn những nhóm nhiều tuổi

Nghiên cứu của O'Sullivan (2005) về nhận thức liên quan đến tình dục khi dậy thì ở nữ VTN mẹ Mỹ gốc Phi thấy rằng ở tuổi dậy thì có sự trưởng thành về cơ thể tạo nên vị trí mới về mặt xã hội, có sự thay đổi vai trò ở tuổi VTN và mong muốn tình dục làm thay đổi trong quan hệ VTN Sự thay đổi cơ thể, nhận thức về dậy thì và trạng thái tâm lý ở tuổi VTN có liên quan với QHTD, có thai ở VTN và ảnh hưởng tới quá trình phát triển bình thường của VTN [37]

Nhận thức và tự hứa trì hoãn QHTD ở VTN có liên quan đến giảm QHTD và tình dục đường miệng Vì vậy cần đề cao cam kết cá nhân về trì hoãn QHTD, đề

HUPH

Trang 14

cao chuẩn mực xã hội về trì hoãn QHTD ở VTN và nâng cao nhận thức về các nguy

cơ liên quan QHTD sớm và sự phát triển VTN Số liệu nghiên cứu dọc về sức khỏe thanh thiếu niên Mỹ - Add Health (2006) cho thấy thái độ và hành vi tình dục của bạn thân có ảnh hưởng tới hành vi QHTD ở VTN [52] Có sự khác nhau giữa giới tính và chủng tộc về nhận thức, thái độ về QHTD và mang thai, nạo hút thai Nữ VTN nhận thức rằng ít phúc lợi hơn nam về QHTD, nữ thấy xấu hổ hơn, hối lỗi hơn nam về QHTD, nữ ít suy nghĩ tiêu cực hơn nam về có thai So với VTN da trắng thì VTN gốc Phi ít thấy xấu hổ và hỗi lỗi hơn về QHTD [52]

Trình độ học vấn cao cũng có liên quan tới việc ít có QHTD trước hôn nhân hơn Nghiên cứu về vấn đề tình dục, tránh thai và mang thai ở vị thành niên (VTN) tại thủ đô Mexico cho thấy với các em nữ độ tuổi 12-15, những yếu tố làm giảm khả năng có QHTD trước hôn nhân là: vâng lời cha mẹ, có nguyện vọng được đi học, thảo luận công khai vấn đề tình dục với bạn bè cùng trang lứa Đặc biệt ở mức độ gia đình: việc đã từng có chị gái có thai ngoài hôn nhân và mẹ từng độc thân trong lần có thai đầu tiên làm giảm nguy cơ các em gái có QHTD trước hôn nhân[41] Với các đối tượng thuộc nhóm tuổi 16-19, các yếu tố cá nhân, bạn bè và gia đình cũng tương tự trên, tuy nhiên việc có trao đổi với cha mẹ về các vấn đề sức khỏe sinh sản (SKSS) và tình dục cũng là một yếu tố “bảo vệ” có liên quan tới tỷ lệ QHTD thấp hơn Nghiên cứu tìm hiểu khác biệt về mặt xã hội và giới trong QHTD

và sinh đẻ ở VTN bang Leon, Nicaragua dựa trên 7.789 hộ gia đình cho thấy trình

độ học vấn thấp, việc không sống cùng bố đẻ, và sống cùng với bố dượng là ba yếu

tố làm tăng nguy cơ QHTD sớm trước hôn nhân [48]

1.2.2 Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân tại Việt Nam:

Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập về kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học Theo đó, những quan điểm của thanh niên/vị thành niên về QHTD đã có nhiều thay đổi, không còn khắt khe như trước Qui mô gia đình truyền thống với nhiềuthế hệ truyền thống dần dần được thay thế bằng gia đình hạt nhân, gia đình thiếu cha hoặc mẹ… Những thay đổi này ảnh hưởng không nhỏ đến kiến thức – thái

độ - hành vi trong nhiều mặt của giới trẻ, kể cả lĩnh vực tình dục, sinh sản [39]

HUPH

Trang 15

Thanh niên Việt Nam ngày nay có xu hướng kết hôn muộn hơn trước Theo kết quả thống kê từ cuộc điều tra dân số và nhà ở thực hiện năm 2009, tuổi kết hôn trung bình có xu hướng tăng Năm 1999 tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nữ và nam thanh niên lần lượt là 22,8 và 25,4 Năm 2009, tuổi kết hôn trung bình lần đầu

ở nữ không thay đổi, trong khi nam giới tăng lên 26,2 tuổi [18]

Trong khi thanh niên Việt Nam đang có xu hướng kết hôn muộn thì tuổi xuất tinh/có kinh lần đầu và tuổi QHTD lần đầu tiên lại có xu hướng giảm [15] Theo SAVY 2, tuổi xuất tinh lần đầu của nam 15,61 (2003) đã giảm xuống 15,52 tuổi (2008), tuổi có kinh lần đầu ở bé gái 14,46 (2003) giảm xuống 14,21tuổi (2008) Tương tự như vậy, các dữ liệu thu thập được từ SAVY2 đã củng cố thêm nhận định rằng thanh thiếu niên niên đang có xu hướng hoạt động tình dục sớm Ở SAVY 2, tuổi trung bình QHTD lần đầu tiên là 18,1 đã giảm 1,5 năm so với SAVY 1 (19,6 tuổi) Cụ thể tuổi trung bình lần đầu tiên QHTD ở nam 18,2 ( giảm 1,8 tuổi so với SAVY 1) và nữ 18 (giảm 1,4 năm so với SAVY 1)[13]

Ngày nay khoảng thời gian giữa giai đoạn dậy thì và kết hôn dài ra, kèm theo

đó là sự phát triển của các mối quan hệ xã hội rộng rãi như học tập, làm việc, du lịch… dễ làm nảy sinh tình trạng QHTD THN, tăng tần suất thai tiền hôn nhân đưa đến nạo phá thai Nạo phá thai ảnh hưởng nhiều mặt đến xã hội nói chung và ảnh hưởng đến sức khỏe cho nữ thanh niên nói riêng, đồng thời là nguy cơ mắc các BLTQĐTD, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản về sau [17]

Việt Nam đã và đang trong thời kì mở cửa, hội nhập quốc tế, cùng với sự trao đổi, đổi mới về khoa học, kĩ thuật công nghệ Bên cạnh đó, sự thay đổi về văn hoá ngày càng trở nên rõ rệt, một trong những vấn đề đó là sự xuất hiện các sản phẩm văn hóa đồi trụy về tình dục, các ổ mại dâm,ảnh hưởng không nhỏ đến suy nghĩ của một bộ phận giới trẻ trong đó có sinh viên [12] Sự sai lệch trong nhận thức tất yếu dẫn đến những sai lầm trong hành vi Hậu quả đó là tình trạng sống thử

và quan hệ tình dục trước hôn nhân tràn lan trong giới sinh viên Điều đáng nói ở đây là tỉ lệ nạo phá thai ngày càng cao, các bệnh tình dục như HIV, giang mai, lậu, lây lan do tình dục không an toàn ngày càng nhiều [13], [25]

HUPH

Trang 16

Theo kết quả điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần 2 (SAVY2) năm 2008 so với cuộc điều tra tương tự năm 2003 cho thấy, nam VTN/TN có tỷ lệ QHTDTHN ở vòng 2 là 9,7% khá cao so với vòng 1 là 5,1% Thay đổi lớn nhất là nhóm tuổi 15-19 tuổi và nhóm 20-24 tuổi năm 2006 Khi chuyển lên nhóm tuổi 18-22, tỷ lệ QHTDTHN là 15,1% khá cao so với 3 năm trước

đó (3,2%), nhóm tuổi 20-24 (năm 2006) tăng từ 14,9% lên 33,3%

Tuy nhiên, khi xem xét 2 độ tuổi này tại 2 vòng khác nhau, chỉ có nhóm tuổi 20-24 ở vòng 2 là cao hơn so với vòng 1 (24,9% so với 14,9%) Những kết quả này cho thấy, độ tuổi mà nam VTN/TN thay đổi thực sự hành vi tình dục là bắt đầu ngoài 20 tuổi Tỷ lệ nữ VTN/TN QHTDTHN là 2,5% cao hơn so với vòng 1 (1%) Đối với nữ VTN/TN, lứa tuổi 20-24 cũng là sự thay đổi lớn về hành vi tình dục So với nam giới, tỷ lệ nữ giới có QHTDTHN thấp hơn rất nhiều so với nam giới (2,5%

so với 9,7%)[13]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Nghị về quan niệm, hành vi tình dục ở vị thành niên Chí Linh, Hải Dương năm 2009 thì phần lớn VTN không đồng tình với QHTD trước kết hôn Tỷ lệ VTN đồng ý “Có thể QHTD nếu đã ăn hỏi” là 37,4% nam, 22% nữ, “Có thể QHTD nếu dự định kết hôn” là 34% nam, 19% nữ, “Có thể QHTD nếu cả hai đều muốn” là 36% nam, 20% nữ [17]

Theo nghiên cứu của Trần Văn Hường và cộng sự nghiên cứu tại trường Đại học Sao đỏ (tỉnh Hải Dương) trong 7 tháng đầu năm 2015 với 471 sinh viên tham gia cho thấy có tới 23,1% sinh viên có quan hệ tình dục trước hôn nhân, trong đó ở nam giới nhiều hơn nữ giới Tuổi trung bình quan hệ tình dục lần đầu là 19,5.Tỉ lệ sinh viên không sử dụng các biện pháp tránh thai lên tới 53% Chính vì không sử dụng biện pháp tránh thai nên có tới 27,1% sinh viên nam đã làm cho bạn tình của mình mang thai và gần 20% sinh viên nữ từng mang thai 100% các trường hợp quan hệ hệ tình dục có thai ngoài ý muốn đều phải phá thai [25]

Theo Nguyễn Duy Tài, VTN là giai đoạn chuyển tiếp vô cùng quan trọng từ thơ ấu sang người trưởng thành Việt Nam lại là một quốc gia văn hóa phương Đông, nơi mà những chuyện giáo dục giới tính - tình dục trước đây dường như khó chạm đến Tuy nhiên, theo quá trình phát triển hiện tại cùng với sự du nhập văn hóa

HUPH

Trang 17

phương Tây ồ ạt, sự thiếu hiểu biết về kiến thức sức khỏe sinh sản học sinh, sinh viên khó lòng chống chọi đối với những thách thức khám phá tình dục của giới trẻ, khiến các em bước vào con đường đầy nguy cơ cùng với những hệ lụy khó tránh là

có thai ngoài ý muốn và mắc các bệnh lý lây truyền qua đường tình dục Điều này khiến cho Việt Nam trở thành một quốc gia có tỉ lệ phá thai cao nhất thế giới [25]

Nghiên cứu về thực trạng giáo dục và trang bị kỹ năng sống về sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục cho vị thành niên tại TP Hồ Chí Minh cho kết quả đó là có 12,6% vị thành niên có quan hệ bạn bè khác giới, trong đó khoảng 1/4 là có người yêu và 3,2% từng có QHTD với tuổi trung bình là 14 Số ca nạo phá thai tuổi vị thành niên đang tăng lên với hơn 40% số ca[25]

NC của Vũ Thị Nhung từ đầu năm 2009 đến nay bệnh viện Hùng Vương đã thực hiện gần 25.000 ca nạo phá thai, số ca nạo phá thai chưa thấy có dấu hiệu giảm

so với năm trước Các hậu quả về mặt tinh thần như trạng thái tâm lý lo lắng, hoang mang, trầm cảm Ngoài ra, các hậu quả kéo theo như nhiễm trùng, vô sinh sau khi nạo hút thai, tình trạng sinh viên tự tử do bế tắc, hoảng loạn tâm lý vẫn còn [19]

Theo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, tuổi kết hôn trung bình lần đầu là 22,8 đối với nữ và 26,2 đối với nam[23] Thanh thiếu niên đang có xu hướng quan hệ tình dục sớm, theo kết quả điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần 2 (SAVY2) năm 2008 so với cuộc điều tra tương tự năm

2003 cho thấy tuổi quan hệ tình dục đầu tiên đã giảm 1,5 năm, độ tuổi QHTD lần đầu trung bình là 18,1 tuổi (SAVY1 là 19,6 tuổi) Cụ thể là đối với nữ tuổi quan hệ tình dục lần đầu trung bình là 18 tuổi và đối với nam là 18,2[23], [51] Thanh niên nông thôn có tuổi quan hệ tình dục lần đầu sớm hơn thanh niên đô thị (18 tuổi và 18,4 tuổi) Trong xã hội trước đây, ít có quan hệ tình dục trước hôn nhân và vấn đề QHTDTHN chưa được đặt ra một cách cấp bách vì tuổi kết hôn thường thấp (dưới 20) nên khoảng cách giữa giai đoạn dậy thì và kết hôn rất ngắn Nhưng trong xã hội ngày nay, tuổi kết hôn ngày càng cao thì sự chênh lệch khoảng cách giữa mốc dậy thì và kết hôn dài ra, kèm theo đó là sự phát triển rộng rãi của các mối quan hệ giao tiếp xã hội như học tập, làm việc, du lịch, Internet, Làm phát sinh QHTDTHN, tăng tần suất thai tiền hôn nhân, dẫn đến nạo phá thai… Điều đó ảnh hưởng nhiều

HUPH

Trang 18

mặt đến xã hội nói chung và sức khỏe của nữ thanh niên nói riêng, đồng thời là nguy cơ dẫn đến các bệnh lây truyền qua đường tình dục, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản về sau của vị thành niên - thanh niên [50],[20]

Một nghiên cứu trên 384 vị thành niên đến phá thai tại bệnh viện Từ Dũ của tác giả Mai Thị Công Danh (2009) có 40% đối tượng cho rằng QHTDTHN

là bình thường, trong đó 50% nghĩ rằng QHTDTHN thì sau đó tình yêu sẽ tốt hơn[21] Một nghiên cứu khác trên sinh viên tại một số trường đại học ở Hà Nội cho thấy có 40% sinh viên chấp nhận QHTDTHN, 50% sẵn sàng QHTDTHN với bạn đời tương lai, 48,2% với người yêu, 10,3% là ngẫu hứng với người chưa từng quen biết[7]

Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Nguyễn Khánh Trang (2004) trên 3.196 học sinh cấp 3 tại TP Hồ Chí Minh cho thấy 16,63% nam và 4,55% nữ cho rằng có thể QHTD khi mà có cơ hội, trong nhóm này chỉ có 0,62% nam và 1,07% nữ hiểu về hậu quả tình dục không an toàn gây mang thai ngoài ý muốn và cũng chỉ có 3,1% nam - 3,2% nữ trong nhóm này có quan tâm đến các BPNT[22] Nghiên cứu thực hiện năm 2008 của Hội sinh viên Việt Nam phối hợp với Bộ Y Tế tiến hành trên

8000 sinh viên Cần Thơ và 4000 sinh viên các trường Đại học tại TP.Hồ Chí Minh và Tây Nguyên cho thấy hơn 73% nam sinh viên và 61% nữ sinh viên đồng ý muốn sống thử trước hôn nhân

Số liệu thông kê của Bộ Y tế (công bố cuối tháng 3/2013) cho thấy 20% số

ca nạo phá thai là ở tuổi vị thành niên lại càng khiến người ta phải giật mình về thực trạng suy nghĩ thoáng của giới trẻ không đi kèm với kiến thức về sinh sản và tình dục an toàn [13]

Điều tra quốc gia thanh niên, vị thành niên Việt Nam (SAVY1, 2003) chothấy tỷ lệ đã QHTD trong VTN chưa kết hôn 14-17 tuổi là 1,1% nam, 0,2% nữ,

tỷ lệ này ở SAVY2 (2009) là 2,2% nam, 0,5% nữ Số liệu về thực trạng QHTD ở VTN có thể không phản ánh đúng thực tế do tính nhạy cảm của vấn đề [4], [5] Nghiên cứu của Uỷ ban Quốc gia Dân số- KHHGĐ (1999) cũng thấy tỷ lệ QHTD trước hôn nhân ở nam cao hơn nữ và nạo phá thai VTN tăng lên [14],[15]

HUPH

Trang 19

Nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Lan Anh (2014) trên 483 sinh viên trường Đại học Tây Nguyên, tỉnh ĐăkLăk cho thấy 20,29% sinh viên đã có QHTDTHN, trong

đó nam cao hơn nữ, nam 39,86%, nữ 12,05%.Đối tượng mà sinh viên từng có quan

hệ tình dục với người yêu, bạn bè chiếm tỉ lệ lần lượt là là 89,9%, 10,2% Bạn tình đầu tiên đa số là người yêu chiếm tỉ lệ 87,76% [2]

Tại Đắk Lắk, theo thống kê của trung tâm CSSKSS của tỉnh, tình trạng nạo phá thai trong 5 năm gần đây có xu hướng tăng khoảng 4000 lượt người/năm, tập

trung chủ yếu nhóm tuổi từ 17 đến 30 [36] Nếu sinh viên có kiến thức tốt phòng

tránh các bệnh LTQĐTD và các BPTT cho bạn tình, đặc biệt là về sử dụng bao cao

su an toàn thì sẽ tránh các bệnh LTQĐTD, làm giảm mang thai ngoài ý muốn để gián tiếp làm giảm gánh nặng xã hội (trầm cảm, tự tử, …)

1.3 Thực trạng về quan điểm, hành vi đối với QHTD THN trên Thế giới và Việt Nam

1.3.1.Thực trạng về quan điểm, hành vi đối với QHTD THN trênthế giới

Thái độ đối với QHTD THN của các bạn trẻ ở các nước phương Tây khá thoáng Một nghiên cứu tại Hoa Kỳ trên 1.825 sinh viên về lĩnh vực tình dục cho thấy tỷ lệ QHTD là 83,9% Cũng từ nghiên cứu này, các sinh viên cho rằng QHTD ngẫu hứng khi thích là điều có thể chấp nhận được với tỷ lệ ở nam và nữ lần lượt là 64% và 32% [42] Phần Lan cũng là quốc gia có tỷ lệ sinh viên QHTD THN rất cao Cuộc khảo sát 2007 trên 5.030 sinh viên nam và nữ lứa tuổi từ 19-34 tại các trường Đại học cho thấy 80% sinh viên đã từng QHTD THN[45]

Tại Châu Á, tỷ lệ QHTD THN có phần thấp hơn Theo báo cáo của trung tâm ngăn ngừa và kiểm soát bệnh tật Hàn Quốc, tỷ lệ vị thành niên có QHTD năm 2009

là 4,7% [33] Trong một nghiên cứu chọn ngẫu nhiên ở Nhật Bản có khoảng 7% nữ

và 15% nam ở độ tuổi 16-21 có QHTD Tại Hồng Kông và Thái Lan dưới 10% ở độ tuổi 16-21 có QHTD [31] Tại Bắc Kinh – Trung Quốc, một nghiên cứu trên 12.450 sinh viên cho biết 81,9% ở nam và 10,5% ở nữ đã từng có QHTD nhưng chỉ có 51,3

% có sử dụng BPTT trong lần quan hệ đầu tiên và 29,4% sinh viên đã từng làm cho bạn tình của mình có thai, 32,1% các bạn SV nữ đã từng có thai [49]

HUPH

Trang 20

Nghiên cứu tìm hiểu ý định quan hệ tình dục trong số hơn 2000 học sinh lớp

6 và lớp 7 tại 18 trường Trung học ở Tanzania [32] Tác giả dựa trên khung lý thuyết “Hành động có Suy xét” (Theory of Reasoned Action) để nghiên cứu tại sao thanh thiếu niên lại quyết định có hay không có QHTD.Kết quả cho thấy một tỷ lệ khá cao học sinh từng có QHTD (63% ở nam và 24% ở nữ) Thái độ ủng hộ QHTD

và sự tự tin là những yếu tố liên quan rõ rệt tới việc có QHTD, tuy nhiên việc từng

có những hành động âu yếm trước đó là yếu tố quyết định đến hành vi QHTD của nhóm VTN này

1.3.2 Thực trạng về quan điểm, hành vi đối với QHTD THN tại Việt Nam

Theo kết quả điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần 2 (SAVY2) năm 2008 so với cuộc điều tra tương tự năm 2003 cho thấy, cả nam và nữ VTN/TN đều cho rằng bạn gái không được QHTDTHN là khá cao so với vòng 1 Tại vòng 1, có 57,2% nam VTN/TN cho rằng bạn gái không được QHTDTHN, trong khi đó tại vòng 2 là 62,4% Tương tự, tại vòng 1 nữ VTN/TN là đồng ý với quan điểm này là 72,7% và vòng 2 là 81,8% So với vòng 1, tỷ lệ nam và nữ VTN 13-17 tuổi tại vòng 2 đều có tỷ lệ cho rằng bạn gái không được QHTDTHN cao hơn vòng 1 Tuy nhiên, các nhóm tuổi còn lại không có sự thay đổi nhiều so với vòng 1

Có 58% nam VTN/TN và 77,7% nữ VTN/TN cho rằng bạn trai không được QHTDTHN Tỷ lệ này đều thấp hơn so với quan điểm cho rằng nữ VTN/TN không được QHTDTHN Tỷ lệ nữ VTN/TN cho rằng khi kết hôn một cô gái sẽ tự hào mình còn trinh trắng khá cao so với nam giới (76,3% so với 58,6%) Sự khác biệt giữa các nhóm tuổi giữa 2 vòng chỉ rõ ràng nhất đối với nhóm 13-17 tuổi Tại vòng

1, nhóm tuổi 10-14 đồng ý với ý kiến trên là 33,5% đối với nam và 48,2% đối với

nữ Tại vòng 2, tỷ lệ này lần lượt là 36,9% và 57,7% Đối với cả nam và nữ VTN/TN đều có quan điểm về QHTDTHN khi có một số điều kiện đảm bảo kèm theo như sử dụng BPTT, cam kết kết hôn … “thoáng hơn” so với vòng 1 Đặc biệt,

tỷ lệ VTN/TN đồng ý QHTDTHN nếu 2 người đã ăn hỏi là 44,4% đối với nam và 27,3% đối với nữ là cao nhất so với các quan điểm còn lại[13]

Nghiên cứu trên sinh viên các trường ĐH tại Hà Nội cho thấy, có 40% sinh viên chấp nhận QHTD THN, 50% sẵn sàng QHTD THN với bạn đời tương lai,

HUPH

Trang 21

48,2% với người yêu, 10,3% là ngẫu hứng với người chưa từng quen biết [46] Một cuộc điều tra khác của tác giả Vũ Thị Hương Thảo (2010) trên 691 SV, ghi nhận có 6,5% SV sống thử 100% SV sống thử có QHTD nhưng chỉ có 48% có sử dụng BPTT [19]

Nghiên cứu của tác giả Dương Đăng Hanh trên 1.508 SV Đại học tại TP HCM cho thấy 42,5% nam và 10,09% nữ đồng ý QHTD khi đã hứa hôn, 24,32% nam và 5,18% nữ chấp nhận QHTD khi yêu nhau Có 19,76% nam và 5,95% nữ đã từng có QHTD THN, tuổi QHTD lần đầu tiên trung bình là 20 Một điều báo động

là có đến 53,57% SV không sử dụng BPTT trong lần QHTD đầu tiên Việc có nhiều bạn tình cũng được tìm thấy trong nghiên cứu với 14,06% SV có quan hệ trên 3 bạn tình, 45,31% có QHTD trên 2 bạn tình, đến 18,6% SV nam có QHTD với gái mại dâm Đây là những tín hiệu báo động về nguy cơ của việc dễ lây nhiễm các BLT QĐTD, tác động xấu lên SKSS của giới trẻ [6]

Một nghiên cứu khác được thực hiện năm 2008, có sự tham gia của TW Hội Sinh viên Việt Nam và Bộ Y tế tiến hành trên 8000 SV Đại học Cần Thơ và hơn

4000 SV ở các trường ĐH tại TP HCM và Tây Nguyên cho thấy hơn 73%nam sinh viên và 61% nữ SV đồng ý muốn sống thử trước hôn nhân [49]

Nghiên cứu ở 8 tỉnh, thành phố (1998) về “Tuổi VTN với vấn đề tình dục và các BPTT” thấy 11,4% VTN cho rằng có thể QHTD trước hôn nhân, 19% VTN đồng ý có thể QHTD trước khi cưới, 17,7% đồng ý có thể QHTD nếu cả hai cùng thích Nhờ vậy đa số VTN vẫn không đồng tình với QHTD trước hôn nhân.Với VTN đã QHTD thì lần đầu QHTD chủ yếu với người yêu và đã QHTD một lần thì

sẽ có nhiều lần Trong VTN đã QHTD thì trên 96% biết về BCS, 85% biết thuốc tránh thai nhưng gần 70% VTN không sử dụng BPTT khi QHTD [11] Nghiên cứu khác thấy rằng VTN cho rằng có được thông tin về tình dục và BPTT chủ yếu là từ thông tin đại chúng chứ không phải từ nhà trường hay gia đình Tỷ lệ nữ biết về BPTT cao hơn nam [11]

Như vậy, QHTD THN ngày càng phổ biến ở các nước Tuy nhiên ở độ tuổi này không ít các bạn trẻ vẫn chưa được trang bị kiến thức tốt Vì thế, QHTD THN thường dẫn đến mang thai ngoài ý muốn, nguy cơ nạo phá thai, dễ mắc các bệnh lây

HUPH

Trang 22

truyền qua đường tình dục… Nhiều nghiên cứu của TCYTTG nhận thấy rằng xu hướng tình dục có khác nhau giữa các nước phát triển và đang phát triển là do sự khác nhau về điều kiện kinh tế - văn hóa – xã hội [7],[43]

1.4 Một số yếu tố liên quan đến quan điểm, hành vi QHTDTHN

Trên thực tế có rất nhiều yếu tố tác động, ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ và hành vi quan hệ tình dục của trẻ VTN như là những yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình

và yếu tố xã hội [1]

Những yếu tố nguy cơ thuộc về gia đình bao gồm: đông con, gia đình chỉ có cha hoặc mẹ, nghèo khó, bạo lực gia đình Bên cạnh đó gia đình cũng là nơi bảo vệ lớn trong cuộc sống của VTN, các yếu tố bảo vệ thường là: sự gắn bó với cha mẹ,

kỳ vọng của cha mẹ về hành vi và việc học tập ở trường của con cái

Nghiên cứu ở Puerto Rico tìm hiểu những yếu tố làm cho các nữ sinh trung học có dự định trì hoãn QHTD [44] Kết quả cho thấy: lòng mộ đạo, tôn trọng các giá trị truyền thống, chơi với các nhóm bạn cũng có những quan niệm tôn trọng truyền thống và tôn trọng các giá trị tình dục truyền thống, và mẹ có các quan niệm mang tính bảo thủ về quan hệ tình dục là những yếu tố khiến cho các nữ VTN ở đây quyết định trì hoãn những mối QHTD trước hôn nhân [9]

Nghiên cứu ở ChiLê so sánh khác biệt về giới đối với những yếu tố ảnh hưởng đến QHTD lần đầu tiên ở sinh viên thành thị [38] Với nam sinh viên, các yếu tố cá nhân có liên quan tới lần QHTD đầu tiên là: có quan niệm phóng khoáng

về tình dục, không thích thú việc làm bố làm mẹ sớm, đã từng hút thuốc lá, và tuổi (tuổi càng tăng thì nguy cơ càng cao hơn) Các yếu tố tương tự ở nữ là: tuổi, học tập kém hơn, quan niệm thoáng về tình dục, và đã từng say rượu Với cả hai giới, yếu tố dùng ma túy dạng nhai (marijuana) đều làm tăng xác suất có QHTD trước hôn nhân Với các yếu tố môi trường bạn bè: ở cả hai giới nam và nữ, VTN có bạn bè đã từng

có QHTD và VTN đang có người yêu đều có tỷ lệ QHTD cao hơn Cuối cùng, yếu

tố gia đình duy nhất có liên quan là với nữ VTN sống trong những gia đình không

có sự có mặt của người cha, khả năng có QHTD trước hôn nhân là cao hơn so với những bạn nữ có bố sống cùng.Kết luận này phù hợp với việc phân tích số liệu thứ cấp của một nghiên cứu dọc tại Anh Các thanh thiếu niên sống trong gia đình chỉ

HUPH

Trang 23

có bố hoặc mẹ có nguy cơ quan hệ tình dục trước hôn nhân hơn những thanh thiếu niên có cả cha mẹ[8],[28]

Nghiên cứu tiến hành ở Jamaica tìm hiểu những yếu tố liên quan đến việc có QHTD lần đầu tiên ở phụ nữ [47] Kết quả cho thấy ở mức độ cá nhân: những phụ

nữ dậy thì muộn hơn, tuổi cao hơn và có kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) thường có QHTD muộn hơn Bên cạnh đó, những người có quan hệ rất gần gũi với người yêu đầu tiên, có nhiều “mối quan hệ” thường là có QHTD sớm

Nghiên cứu tìm hiểu những yếu tố liên quan tới hoạt động tình dục ở những trẻ VTN đang gặp hoàn thành khó khăn ở Mexico chú trọng đến các yếu tố cá nhân

và yếu tố ở cấp độ gia đình [17] Kết quả khẳng định rằng tuổi càng tăng thì tỷ lệ có QHTD càng cao, những người có kiến thức hiểu biết về STDs và những người có khuynh hướng cởi mở trong quan niệm về tình dục thường có tỷ lệ QHTD cao hơn Trái lại, ở cấp độ gia đình, VTN ở những gia đình biết cách giải quyết vấn đề trong nội bộ và những gia đình trong đó người cha có trình độ học vấn cao hơn thường có

tỷ lệ QHTD thấp hơn

Nghiên cứu QHTD lần đầu và sử dụng các biện pháp tránh thai (BPTT) ở nữ VTN phía Bắc Braxin [35] Số liệu được tổng hợp bao phủ một giai đoạn 10 năm được rút ra từ 3 cuộc điều tra Nhân khẩu học Sức khỏe cho thấy những yếu tố làm giảm tỷ lệ QHTD sớm trước tuổi 20 bao gồm: tuổi nhỏ, học vấn cao hơn, đi dự lễ nhà thờ thường xuyên, và có xem TV hàng tuần, sinh ra và lớn lên ở nông thôn

Nghiên cứu ở thủ đô Lima – Peru trên đối tượng nam học sinh phổ thông, bộ câu hỏi phát vấn được sử dụng để tìm hiểu về kiến thức, thái độ về tình dục và thực hành tình dục ở nam VTN [29] Đây là một nghiên cứu được triển khai như một cấu phần của mô hình can thiệp giáo dục sức khoẻ tình dục trong nhà trường Kết quả cho thấy những nam VTN dậy thì sớm, từng bị lưu ban, từng có “bạn gái”, và từng trao đổi cởi mở với người yêu về đề tài tình dục là những trẻ có tỷ lệ QHTD cao hơn

Nghiên cứu tìm hiểu hành vi sức khoẻ nguy cơ, những yếu tố nguy cơ có liên quan và những yếu tố bảo vệ ở VTN tại Santos – Braxin cho thấy những yếu tố

HUPH

Trang 24

“nguy cơ” có liên quan tới QHTD lần đầu trước tuổi 15 ở nam là: hút thuốc lá, mang vũ khí, trong gia đình có súng Trái lại, những yếu tố “bảo vệ” có liên quan là: gia đình còn đủ cả bố và mẹ, cha có trình độ học vấn cao, và có mối gắn kết tốt với thầy cô giáo ở trường Với nữ VTN, yếu tố bảo vệ duy nhất có liên quan là chơi thể thao, yếu tố nguy cơ là hút thuốc lá [27]

Nghiên cứu khác xem xét mối liên quan giữa hành vi tình dục và sử dụng bao cao su ở học sinh trường cấp hai ở thành thị Peru cho thấy những yếu tố “nguy cơ” có liên quan tới việc nam VTN từng có QHTD là: khả năng cầm đầu một nhóm bạn, có bạn bè đã từng QHTD, có bạn bè từng có thai Với nữ VTN, các yếu tố nguy cơ là: không có khả năng phản ứng khi bất đồng với bạn bè, bạn bè xung quanh từng có QHTD, và gia đình có kinh tế kém hơn [35]

Nghiên cứu tìm hiểu các mối liên quan đến việc nhiễm HIV ở VTN Ecuador cho thấy một số nhóm yếu tố nguy cơ liên quan tới QHTD sớm: nam giới, lứa tuổi cao hơn, tự tin trong việc dùng bao cao su, và đặc biệt là áp lực từ phía bạn bè Trái lại, một số yếu tố bảo vệ bao gồm: khả năng từ chối tình dục không an toàn, nhận thức nguy cơ HIV/AIDS, mong muốn về học tập, và gia đình có gốc gác nông thôn [40]

Ở khu vực châu Phi, cũng có nhiều tác giả tiến hành các nghiên cứu tương

tự Flisher và cộng sự tiến hành nghiên cứu trên những học sinh trung học ở bán đảo Cape – Nam Phi cho thấy với phân tích hồi qui đa biến thì có mối liên quan giữa việc có QHTD trước hôn nhân với một loạt các hành vi cá nhân sau đây ở nam VTN: hút thuốc lá, hút cần sa (marijuana), dùng rượu, có mang dao theo trong người, đi chơi tối một mình, đã từng thử tự tử và từng bị tai nạn ô tô Trong khi đó các yếu tố liên quan ở nữ VTN bao gồm: hút cần sa, dùng rượu, và đi chơi tối một mình Nghiên cứu về lần đầu QHTD tại 7 trường trung học ở Arusha, Tanzania cho thấy VTN ở bậc học cao hơn và VTN theo Thiên chúa giáo là những trẻ có tỷ lệ QHTD cao hơn những đối tượng ở bậc học thấp hơn, theo đạo Hồi và các tôn giáo khác [34]

Nghiên cứu tìm hiểu sự khác biệt về giới trong QHTD trước hôn nhân, sử dụng BCS và nạo phá thai tại Cameroon chỉ ra rằng có duy nhất hai yếu tố có liên

HUPH

Trang 25

quan tới việc QHTD trước tuổi 16 là: lứa tuổi và trình độ học vấn [36] Những trẻ VTN tuổi 15-20 có tỷ lệ từng QHTD trước 16 tuổi cao gấp hơn hai lần nhóm thanh niên 21-26 tuổi.Vì đây là một nghiên cứu cắt ngang, điều này gợi ý rằng có thể có những sự thay đổi nhanh chóng về quan niệm và hành vi giữa các nhóm tuổi trẻ Hay nói khác đi nhóm trẻ hơn đang có những hành vi ngày một phóng khoáng hơn

so với các bậc anh chị trước đó Về trình độ học vấn, những thanh thiếu niên có học vấn thấp có khả năng QHTD trước tuổi 16 cao gấp khoảng 3 lần những người học cao hơn Hai tác giả trên cũng sử dụng số liệu về SKSS thanh niên Cameroon của một năm sau đó để phân tích sự khác biệt về giới trong sinh hoạt tình dục ở thanh thiếu niên vùng thành thị ở Cameroon Những yếu tố có liên quan tới việc VTN từng có QHTD trước tuổi 15 và cả trước mốc 18 tuổi ở cả nam và nữ là: từng thảo luận về SKSS và tình dục với bạn bè cùng lứa, và bỏ học Như vậy những kết quả tại Cameroon trong mấy năm liên tiếp cho thấy vai trò quan trọng của học vấn liên

quan tới hành vi QHTD ở VTN[36]

Tại Bắc Kinh, Trung Quốc, một nghiên cứu trên 12450 sinh viên cho biết 81,9%

ở nam và 74,8% ở nữ cho rằng QHTDTHN là có thể chấp nhận được, 18,4% ở nam và 10,5% ở nữ đã từng có QHTDTHN[26]

1.5 Sơ lược về trường Trung cấp Y tế ĐăkLăk

Trường Trung cấp Y tế được thành lập theo Quyết định số 560/QĐ-UB ngày 01 tháng 08 năm 1978 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk Trường tọa lạc tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh ĐăkLăk

Thực hiện nhiệm vụ đào tạo nhân lực ngành y tế cho tỉnh nhà Hằng năm trường được Sở Y tế giao nhiệm vụ phối hợp với các đơn vị trong ngành y tế tổ chức đào tạo lại 400-500 cán bộ y tế ở các tuyến trong tỉnh và 100-200 cán bộ y tế cho tỉnh Đắk Nông [24]

Năm học 2014 - 2015, Nhà trường đã tổ chức đào tạo 3 ngành Trung cấp hệ chính quy Số lớp hiện có: 28 lớp

Trong đó: Ngành Điều dưỡng có 12 lớp, ngành Y sỹ: 14 lớp, ngành hộ sinh: 3 lớp Mỗi lớp có từ 40-50 học sinh

Tổng số học sinh chính quy của trường là 790

HUPH

Trang 26

1.6 Khung lý thuyết

Dựa vào mô hình lý thuyết trong nghiên cứu về quan niệm, hành vi tình dục

và sức khỏe sinh sản vị thành niên huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương năm 2009 của Nguyễn Văn Nghị và một số nghiên cứu khác ở phần tổng quan tài liệu chúng tôi đã

vẻ khung lý thuyết về một số yếu tố ảnh hưởng đến quan điểm, hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân [17] Có rất nhiều yếu tố liên quan đến QHTD THN nhưng trong nghiên cứu này chỉ sử dụng 3 nhóm yếu tố đó là yếu tố cá nhân, bạn bè, và tiếp cận thông tin

Hành vi QHTD THN của

HS -Tỷ lệ đã từng QHTD

- QHTD bởi ảnh hưởng của rượu bia

- QHTD bị thuyết phục, cưỡng ép

- Có sử dụng bao cao su khi QHTD

Quan điểm của HS về quan hệ tình dục trước

- Nơi ở hiện tại

- Điều kiện kinh tế

HUPH

Trang 27

Chương 2:

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu lựa chọn học sinh năm thứ 1 và năm thứ 2 trường Trung Cấp Y

tế ĐăkLăk

- Tiêu chuẩn lựa chọn:

+ Đồng ý tham gia NC

+ Chưa từng kết hôn

- Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Các đối tượng được lựa chọn không đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc vắng mặt trong buổi điều tra

+ Đã kết hôn

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: từ tháng 01/2015 đến tháng 06/2015

- Địa điểm: trường Trung Cấp Y tế ĐăkLăk

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

n: là cỡ mẫu tối thiểu cần thiết cho nghiên cứu

Z: là trị số giới hạn với độ tin cậy, chấp nhận ở ngưỡng độ tin cậy 95% ta có Z(1- α/2) =1,96

d = 0,05: Sai số cho phép

p: Là tỉ lệ dự kiến học sinh có quan hệ tình dục trước hôn nhân

HUPH

Trang 28

Chọn p = 0,2 dựa theo nghiên cứu Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân và kiến thức, thái độ, hành vi về một số biện pháp tránh thai hiện đại của sinh viên ĐH Tây Nguyên năm 2014, (tỷ lệ sinh viên QHTDTHN là 20,29%) [2]

Tính được n = 246

Mẫu của nghiên cứu sẽ được lựa chọn ngẫu nhiên 10% để dự phòng

Tổng số mẫu trong nghiên cứu là: 246 + 10% = 270 học sinh

2.5 Phương pháp chọn mẫu

Cách chọn mẫu: Lập danh sách tất cả các lớp chính quy trong trường Trung

cấp Y tế ĐăkLăk Danh sách xếp thứ tự theo năm học do phòng quản lý học sinh cung cấp Người nghiên cứu có danh sách tất cả các lớp xếp theo thứ tự có sẵn từ

năm 1 đến năm 2

Để đảm bảo nghiên cứu có đủ số lượng mẫu cần thiết và hiện diện đủ các năm học, cách chọn mẫu được thực hiện theo trình tự sau: lớp có số lượng HS thấp nhất khoảng 40 học sinh Chọn 7 lớp học theo danh sách là đủ cỡ mẫu cần thiết Tổng số mẫu theo danh sách là 28 lớp Chọn mẫu cụm theo PPS với k= 3 Bốc thăm ngẫu nhiên từ 1-3, chọn được số n+3 Như vậy lớp được chọn đầu tiên là lớp được chọn ở vị trí thứ 3 và các lớp tiếp theo là n+k, n+2k, n+3k Tương ứng lớp ở vị trí thứ 6, 9, 12 Mỗi lớp được chọn sẽ khảo sát toàn bộ HS trong lớp đó

Lớp được chọn ngẫu nhiên vào nghiên cứu thử sẽ không nằm trong danh sách các lớp được chọn trong nghiên cứu chính thức

2.6 Phương pháp thu thập số liệu:

Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi phát vấn đã được tiến hành điều tra thử nghiệm trên 10 học sinh được chọn ngẫu nhiên Sau khi điều tra thử tiến hành chỉnh sửa một số nội dung chưa phù hợp trong bộ câu hỏi trước khi thực hiện nghiên cứu chính thức

Các bước tiến hành thu thập số liệu:

Trước khi phát vấn bằng bộ phiếu được thiết kế sẵn, điều tra viên giới thiệu với học sinh về mục đích của nghiên cứu này cũng như chia sẻ với các em những vấn đề các em quan tâm xung quanh nội dung sức khỏe sinh sản vị thành niên Điều

HUPH

Trang 29

tra viên cũng giới thiệu qua nội dung của phiếu tự điền, giải thích một số cụm từ mà các em học sinh chưa rõ như điều kiện kinh tế, học lực

Số liệu được thu thập theo phương pháp phát vấn: HS được mời tham gia trả lời phiếu câu hỏi tự điền tại lớp học, sau giờ tan học để HS thoải mái và có nhiều thời gian dành cho nghiên cứu HS được thông báo trước đợt khảo sát bởi cán bộ đang nghiên cứu được phòng Quản lý HS hoặc giáo viên chủ nhiệm giới thiệu để giúp HS có lòng tin vào nghiên cứu trả lời bảng hỏi với tinh thần tự giác, đầy đủ hơn ĐTV tổ chức vị trí ngồi cho các HS HS ngồi cùng bàn sẽ phân bố ngồi xa nhau ở 2 đầu, giữ thẳng hàng dọc và ngang Luôn dự phòng một phòng trống cạnh bên nhằm phân bố giữa các HS đạt yêu cầu trong suốt thời gian nghiên cứu để đảm bảo HS hoàn thành bảng hỏi với khả năng của mình, tạo khoảng cách an toàn giúp

HS trả lời câu hỏi nhạy cảm đúng sự thật nhất

Điều tra viên là một số học viên cao họcY tế công cộng, khoá 17 Tây Nguyên – Đại học Y tế công cộng và một số cán bộ nhân viên của Trường Trung cấp Y tế ĐăkLăk đã được tập huấn trước khi đi thu thập số liệu

2.6.1 Các tiêu chuẩn đánh giá được sử dụng trong nghiên cứu

a Tiêu chuẩn đánh giá về quan điểm:

Trong nghiên cứu này, sẽ có 8 quan điểm được sử dụng để đo lường thái độ, trong đó có 2 quan điểm thể hiện sự ủng hộ những giá trị truyền thống cũng như những hiểu biết đúng mà hầu hết mọi người trong xã hội đang thừa nhận (quan điểm truyền thống) và 8 quan điểm thể hiện sự đồng tình với một số quan điểm sai lầm hoặc quan điểm đi ngược lại với những giá trị truyền thống (quan điểm thoáng/cởi mở)

Việc xây dựng thang đo bao gồm cả quan điểm cởi mở và quan điểm không cởi mở để nhằm hạn chế những sai lệch do sự đồng ý hoặc phản đối được trả lời theo dây chuyền

Với mỗi quan điểm sẽ có 5 mức độ đánh giá: hoàn toàn đồng ý, đồng ý, ý kiến trung lập, không đồng ý và hoàn toàn không đồng ý Như vậy mức điểm càng cao thì càng thể hiện người đó có quan điểm cởi mở trong QHTDTHN

HUPH

Trang 30

Việc đánh giá quan điểm của HS thì dựa vào tổng số điểm của cả 16 quan điểm.Tổng số điểm tối thiểu đạt được cho vấn đề là16điểm và tối đa là 80 điểm

Quan điểm về QHTD: được đánh giá bằng tổng số điểm của 16 vấn đề Điểm càng thấp thì quan điểm càng không cởi mở, điểm càng cao thì quan điểm càng cởi

b Tiêu chuẩn đánh giá một số biến độc lập

Điều kiện kinh tế: Tiêu chuẩn hộ nghèo, không nghèo: theo Quyết định số 09/QĐ-TTg ngày 30/01/2011

Hộ nghèo: Là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống

Hộ không nghèo: Là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng trở lên

2.7 Các biến số nghiên cứu và xây dựng bộ công cụ:

Thông tin được thu thập bằng phiếu tự điền, khuyết danh Bộ câu hỏi được biên soạn dựa trên bộ câu hỏi của một số nghiên cứu về vấn đề này đã được triển khai trước đây như: Điều tra quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam; Nghiên cứu dọc về sức khỏe vị thành niên và thanh niên tại một vùng đô thị hóa huyện Chí Linh – Hải Dương của Lê Cự Linh và cộng sự; Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về quan hệ tình dục và một số yếu tố liên quan ở học sinh THPT của Nguyễn Thị Xuân Anh; Nghiên cứu về thực trạng QHTD THN, kiến thức, thái

độ, thực hành về các biện pháp tránh thai ở sinh viên ĐH của Vũ Thị Lan Anh; Nghiên cứu tìm hiểu kiến thức, thái độ và thực hành về sức khỏe sinh sản tuổi vị thành niên do Khuất Thu Hồng thực hiện [1][2][12]

HUPH

Trang 31

Bảng 2.1 Các biến số nghiên cứu

1 Phần thông tin chung về cá nhân điều tra

TT Biến số nghiên cứu Định nghĩa biến số Loại biến

PP thu thập số liệu

1 Tuổi

Tuổi dương lịch được tính như sau: Tuổi = năm hiện tại – năm sinh

Biến rời rạc Phát vấn

2 Giới Là giới tính của đối tượng

NC: nam hoặc nữ

Biến nhị phân Phát vấn

2.Mục tiêu 1 Quan điểm, hành vi về quan hệ tình dục trước hôn nhân

Chia theo 5 mức độ

Biến thứ

HUPH

Trang 32

Có 5 mức độ từ rất đồng ý đến rất không đồng ý

Biến thứ bậc

5

Khi kết hôn, một cô gái

sẽ tự hào nếu như cô ấy

còn trinh trắng (chưa

quan hệ tình dục)

Quan điểm của HS về vấn

đề giữ gìn trinh tiết trước khi kết hôn

HS đưa ra 1 trong 5 mức

độ từ rất đồng ý đến rất không đồng ý

Biến thứ

6

Khi kết hôn, một chàng

trai sẽ tự hào nếu như

cậu ấy vẫn là trai tân

(chưa bao giờ quan hệ

tình dục)

HS đưa ra 1 trong 5 mức

độ từ rất đồng ý đến rất không đồng ý về vấn đề giữ gìn trai tân trướckhi kết hôn

HUPH

Trang 33

2 Quan điểm thoáng/ cởi mở

i 2.2 Hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân

1

Quan hệ tình dục THN Từ trước đến nay HS đã

từng có hoặc chưa từng có quan hệ tình dục với bạn khác giới khi chưa đăng ký kết hôn

Biến nhị phân Phát vấn

2 Tuổi QHTD lần đầu Tuổi dương lịch khi HS bắt

Biến định danh Phát vấn

1 Người yêu

2 Bạn bè 3.Người họ hàng

4 Người mới gặp

5 Mại dâm

6 Khác

Biến định danh

Phát vấn

5

Những bạn tình mà học sinh đã quan hệ tình dục

Từ trước đó đến thời điểm

NC những người mà HS đã QHTD (bạn tình) như 1.Người yêu

2 Bạn bè 3.Người họ hàng

Biến danh định

HUPH

Trang 34

7

BPTT sử dụng khi

QHTD

Loại BPTT mà HS hoặc bạn tình của HS sử dụng khi QHTD

Biến định danh Phát vấn

8

Lý do không sử dụng

BPTT khi QHTD

HS đƣa ra những lý do dẫn đến việc HS hoặc bạn tình không sử dụng khi QHTD

Biến định danh Phát vấn

Biến nhị phân

Phát vấn

10 Tần suất QHTD THN Số lần HS QHTD trong 6

tháng gần đây Biến rời rạc Phát vấn

11 Mang thai HS hoặc bạn tình của HS

(đối với HS nam) đã từng

có thai

Biến nhị phân

Phát vấn

3 Mục tiêu 2: Một số yếu tố liên quan đến quan điểm, hành vi QHTD THN

1 Nơi ở hiện tại

Là nơi SV sống và học tập trong thời gian đi học, có những nơi sinh sống cụ thể nhƣ sau:

HUPH

Trang 35

3

Làm thêm Tình trạng làm thêm có thu

nhập của sinh viên trong vòng 6 tháng trở lại đây 1.Có

2 Không

Biến nhị phân Phát vấn

4 Tình trạng kinh tế gia

đình

Tình trạng kinh tế của gia đình sinh viên được chia thành 2 mức theo nhận định của sinh viên:

1.Nghèo 2.Không nghèo

Biến định danh Phát vấn

5 Tình trạng hôn nhân của

đối tượng nghiên cứu

1 Có người yêu sống chung chưa đăng ký kết hôn

2 Chưa có người yêu

Biến định danh Phát vấn

6 Sử dụng internet HS đã từng hoặc chưa từng

sử dụng internet

Biến nhị phân Phát vấn

7 Xem phim hoặc hình HS trả lời đã hoặc chưa Biến nhị Phát vấn

HUPH

Trang 36

ảnh kích dục từng xem phim hoặc hình

9 Ảnh hưởng của bạn bè Bạn bè rủ rê/ lôi kéo

QHTD

Biến nhị phân Phát vấn

10 Chương trình GDGT ở

nhà trường TCCN chưa

hiệu quả

Những nội dung mà Nhà trường đưa vào chương trình GDGT cho học sinh

Biến định danh Phát vấn

11 Sự quan tâm của giáo

viên

Sự quan tâm của giáo viên đối với học sinh

Biến nhị phân Phát vấn

12 Tiếp cận thông tin Nguồn thông tin mà học

sinh tiếp cận đa dạng, khó kiểm soát

Biến định danh Phát vấn

2.8 Phương pháp phân tích số liệu

Số liệu thu thập từ bộ câu hỏi được thu hồi và kiểm tra tính phù hợp bởi người nghiên cứu Những bộ câu hỏi mà học sinh không trả lời đủ các câu hỏi sẽ bị loại

Mã hóa và nhập số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1

Tiến hành làm sạch số liệu và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS.Dùng các công thức thống kê để xử lý số liệu, chạy kết quả

Vẽ biểu đồ bằng phần mềm Excell 2007

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu được giải thích một cách rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phát vấn và chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận hợp tác tham gia của đối tượng nghiên cứu

Đây là nghiên cứu nhạy cảm, có thể ảnh hưởng đến tính trung thực của thông tin thu thập được, do đó các thông tin về đối tượng nghiên cứu được sử dụng khuyết danh

HUPH

Trang 37

Nghiên cứu viên cam kết các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác

Đề cương nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức - Trường Đại học Y tế Công cộng thông qua trước khi tiến hành triển khai

2.10 Hạn chế của nghiên cứu và biện pháp khắc phục

2.10.1.Những sai số đã mắc phải

Sai số do trả lời không trung thực của ĐTNC vì đây là một đề tài khá nhạy cảm

Một số thông tin bị bỏ trống

Sai số trong quá trình nhập liệu

Do điều kiện hạn chế về thời gian, nguồn lực nên nghiên cứu chỉ triển khai ở học sinh chính quy của 3 ngành mà không triển khai ở hệ vừa học vừa làm Với cỡ mẫu nhỏ như vậy nên khó có thể đại diện cho học sinh khối trung cấp chuyên nghiệp trong toàn tỉnh

Làm sạch và xử lý số liệu đúng kỹ thuật Kiểm tra tính phù hợp của số liệu,

có giá trị nào bất thường không.Để tránh sai sót trong quá trình nhập số liệu nên số liệu đã được nhập 2 lần với 2 người nhập khác nhau

HUPH

Trang 38

Trong nghiên cứu này tuổi đối tƣợng nghiên cứu không có sự dao động

nhiều Độ tuổi nhỏ nhất là 18 và lớn nhất 28 tuổi, học sinh đang độ tuổi ≤19 là chủ

yếu (81,9%), học sinh ở độ tuổi >19 chỉ có 18,9%

Bảng 3.2: Phân bố số lƣợng học sinh theo ngành và năm học

Ngành

Niên Khóa

Tổng Năm 1

80 29,6

49,4

43 37,7

120 44,4

23,7

33 28,9

70 26,0

sinh ngành điều dƣỡng chiếm tỉ lệ cao nhất là 44,4%, thấp nhất là học sinh ngành hộ

sinh 26% Về niên khóa, học sinh các năm 1, 2 có tỉ lệ lần lƣợt là 57,8%: 42,2%

HUPH

Trang 39

Bảng 3.3: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Trong nghiên cứu này đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nữ giới chiếm 90% Phần đa học sinh còn độc thân, 68,1% chưa có người yêu, 31,9% có người yêu sống chung chưa đăng ký Học sinh là dân tộc Êđê chiếm tỉ lệ đa số 48,1%, dân tộc kinh

HUPH

Trang 40

43,7%; dân tộc thiểu số khác chiếm 8,2 % Điều kiện kinh tế hộ gia đình được đánh giá dựa trên thu nhập bình quân người/tháng, theo Quyết định số 09/QĐ-TTg ngày 30/01/2011.Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống Theo tiêu chuẩn này, số học sinh có hoàn cảnh kinh tế gia đình nghèo là 123 học sinh chiếm 45,6% Nhưng chỉ có 17,4 % học sinh đi làm thêm ngoài việc học và 82,6%học sinh không đi làm thêm Nơi ở hiện tại chủ yếu là nhà trọ chiếm 44,1%; ở cùng bố mẹ 25,2%, ở trọ cùng người yêu 11,1%; ở ký túc

xá 15,6%; còn lại 4% là ở nhà người thân, nhà riêng và khác

3.2.Thực trạng quan điểm, hành vi QHTD THN của học sinh trường Trung cấp Y tế ĐăkLăk

3.2.1 Quan điểm về QHTD THN học sinh trường Trung cấp Y tế ĐăkLăk

Bảng 3.4 Quan điểm của học sinh về việc không được QHTD trước khi cưới

(n, %)

Không đồng ý (n, %)

Không chắc chắn (n, %)

41 15,2

74 27,4

51 18,9

113 41,9

270

100

Tỷ lệ học sinh đồng ý với quan điểm bạn gái không được quan hệ tình dục trước khi cưới là 57,4%, cao hơn so với tỷ lệ học sinh đồng ý với quan điểm bạn trai không quan hệ tình dục trước khi cưới(39,3%)

HUPH

Ngày đăng: 02/12/2023, 10:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Xuân Anh (2008), Kiến thức, thái độ, thực hành về quan hệ tình dục và một số yếu tố lên quan ở học sinh THPT Tây Hồ - Quận Tây Hồ năm 2008, luận văn Thạc sỹ Y tế công cộng, Đại học Y Tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, thực hành về quan hệ tình dục và một số yếu tố lên quan ở học sinh THPT Tây Hồ - Quận Tây Hồ năm 2008
Tác giả: Nguyễn Thị Xuân Anh
Năm: 2008
2. Vũ Thị Lan Anh (2014), Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân và kiến thức, thái độ, thực hành về một số biện pháp tránh thai hiện đại của sinh viên Đại học Tây Nguyên năm 2015, luận văn Thạc sỹ Y tế công cộng, Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân và kiến thức, thái độ, thực hành về một số biện pháp tránh thai hiện đại của sinh viên Đại học Tây Nguyên năm 2015
Tác giả: Vũ Thị Lan Anh
Năm: 2014
4. Bộ Y tế (2005), Hướng dẫn chuẩn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc Sức khỏe sinh sản, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chuẩn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc Sức khỏe sinh sản
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2005
9. Dương Đăng Hanh (1999), Kiến thức, thái độ, hành vi tính dục của sinh viên lứa tuổi 18-24 chưa lập gia đình tại TP. Hồ Chí Minh, luận văn Thạc sỹ Y học, Đại học Y dƣợc TP. HCM, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, hành vi tính dục của sinh viên lứa tuổi 18-24 chưa lập gia đình tại TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Dương Đăng Hanh
Năm: 1999
10. Đỗ Trọng Hiếu và các cộng sự. (2000), Sức khỏe sinh sản Vị thành niên và Thanh niên, Tổng công ty Phát hành sách Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe sinh sản Vị thành niên và Thanh niên
Tác giả: Đỗ Trọng Hiếu và các cộng sự
Năm: 2000
11. Vương Tiến Hòa. (2001), Có thai và sinh con ở tuổi vị thành niên. Thực trạng và nguyên nhân,luận văn Thạc sỹ Y học, Đại học Y Dƣợc TP.HCM.HUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Có thai và sinh con ở tuổi vị thành niên. Thực trạng và nguyên nhân,luận văn
Tác giả: Vương Tiến Hòa
Năm: 2001
5. Bộ Y tế (2009), "Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản.&#34 Khác
6. Đặng Minh Đức (2012), "Kiến thức và thái độ về viên uống tránh thai khẩn cấp của sinh viên các trường Đại học tại Thành phố Cần Thơ. Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dƣợc, Thành phố Hồ Chí Minh&#34 Khác
7. Điều tra quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam lần 1 ( SAVY1) (2005), Dậy thì, sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục của Thanh thiếu niên Việt Nam Khác
8. Điều tra quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam lần 2 ( SAVY2) (2008), Dậy thì, sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục của Thanh thiếu niên Việt Nam Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w