1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Tiểu luận) môn kinh tế nông thôn đề tài vấn đề bỏ quê lên phố ồ ạt, tự phát, không có tổ chức

29 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn Đề Bỏ Quê Lên Phố Ồ Ạt, Tự Phát, Không Có Tổ Chức
Tác giả Dương Hà My, Nguyễn Ánh Ngân, Phan Ngọc Huyền
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Nông Thôn
Thể loại Tiểu Luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 4,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

So với quý trước, lực lượng lao động ở cả hai khu vực nông thôn và thành thị đều tăng khoảng 0,8 triệu người và ực lượng lao động nữ tăng nhiều hơn so lvới lực lượng lao động nam 0,9 tri

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI H C KINH T QU C DÂN Ọ Ế Ố

MÔN: KINH TẾ NÔNG THÔN

Đề tài: Vấn đề bỏ quê lên phố ồ ạt, tự phát, không có tổ chức

Thành viên: Dương Hà My – 11214030

Nguyễn Ánh Ngân 11214209 –Phan Ng c Huyọ ền – 11216760

Trang 2

MỤC L C

L ỜI MỞ ĐẦ 3 U

NỘI DUNG 4

1 Tổng quan về thị trường lao động và bối cảnh nông thôn Việt Nam hiện nay ……….4

1.1 Tổng quan về thị trường lao động 4

1.2 Xu hướng về thị trường lao động Việt Nam trong thời gian tới 5

1.3 Vai trò của nông nghiệp, nông thôn đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 6

2 Tình trạng “bỏ quê lên phố” ồ ạt, tự phát, không có tổ chức vấn đề phổ biến - trong xã hội hiện nay 7

2.1 Khái niệm “bỏ quê lên phố” 7

2.2 Thực trạng di dân từ nông thôn đến thành thị hiện nay 8

3 Những hậu quả vấn đề “bỏ quê lên phố” ồ ạt, tự phát, không có tổ chức mang lại……… 10

3.1 Hậu quả đối với nông thôn 10

3.2 Hậu quả đối với thành thị 14

4 Nguyên nhân của vấn đề “bỏ quê lên phố” ồ ạt, tự phát, không có tổ chức 22

4.1 Nhu cầu về việc làm và thu nhập 22

4.2 Nhu cầu thay đổi cuộc sống và tiếp cận các dịch vụ tốt hơn .23

5 Giải pháp cho vấn đề “bỏ quê lên phố” ồ ạt, tự phát, không có tổ chức .23

5.1 Tự tạo việc làm tại chỗ, đảm bảo thu nhập cho người dân 23

5.2 Rút bớt khoảng cách về chất lượng cuộc sống giữa nông thôn và thành thị……… .25

K ẾT LUẬ .27 N TÀI LI U THAM KHẢO 28

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Khi cánh c a ngh nghi p quê nhà quá h p, thanh niên nhi u vùng nông thôn ử ề ệ ở ẹ ở ề ồ

ạt rời quê lên ph mang theo khát v ng v mố ọ ề ột tương lai tươi sáng Đặc bi t, ệ bước vào th i ờ

kỳ công nghi p hóa, hiệ ện đại hóa, nh ng thành ph lữ ố ớn đã tạo ra s c hút r t m nh v lao ứ ấ ạ ề

động - ng thời phù h p v i ưđồ ợ ớ ớc mơ “đổ ời” của bà con nông dân, họ không còn mu n i đ ố

“giữ nguyên quê mùa” nên đã hình thành một làn sóng bỏ quê ra phố.Tuy nhiên, phía sau làn sóng di cư lập nghiệp đó vẫn còn bao điều trăn trở, làm ảnh hưởng, tác động không nh ỏđến nguồn nhân lực và nền kinh tế địa phương Những người con rời quê đi lập nghiệp phương xa, bỏ ại sau lưng họ l là những làng quê hiu hắt chỉ còn người già và trẻ em Kéo theo đó là chất lượng sinh hoạt, phong trào, tổ chức Đoàn, tại địa bàn dân cư cũng chịu ảnh hưởng không nh Ngoài ra, nguỏ ồn lao động địa phương cũng bị thiếu hụt cùng nh ng ữtác động đến “nơi đi”, “nơi đến” và cả “người đi” Giải pháp nào để tháo g th c tr ng trên ỡ ự ạnhằm gi ngu n nhân lữ ồ ực trẻ ở ạ ới quê hương là vấ đề c l i v n ần đặc bi t quan tâm Vì v y, ệ ậnhóm em xin chọn đề tài “vấn đề ỏ b quê lên ph t, t phát, không có t chố ồ ạ ự ổ ức”

Do ki n th c môn hế ứ ọc cũng như hiểu bi t th c t còn h n ch nên bài vi t c a chúng ế ự ế ạ ế ế ủ

em không th tránh kh i nh ng sai sót Chúng em r t mong ể ỏ ữ ấ được cô góp ý để có th hoàn ểthiện hơn vào những lần sau cũng như nắm rõ kiến thức môn học

Chúng em xin trân tr ng cọ ảm ơn!

Trang 4

Lực lượng lao động các quý, năm 2020 và 2021:

Đơn vị tính: Triệu người

Kết quả Điều tra lao động việc làm năm 2020-2021 cho thấy những đặc điểm và xu hướng trên thị trường lao động Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên quý IV năm 2021 là 50,7 triệu người, tăng khoảng 1,7 triệu người so với quý trước và giảm 1,4 triệu người so với cùng kỳ năm trước So với quý trước, lực lượng lao động ở cả hai khu vực nông thôn

và thành thị đều tăng khoảng 0,8 triệu người và ực lượng lao động nữ tăng nhiều hơn so lvới lực lượng lao động nam (0,9 triệu người so với 0,8 triệu người) So vớ ùng kỳ năm i ctrước, lực lượng lao động giảm mạnh ở khu vực nông thôn (giảm gần 2,2 triệu người) và

Trang 5

giảm chủ yếu ở nam giới (giảm khoảng 0,8 triệu người) Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quý IV năm 2021 là 67,7%, tăng 2,1 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 2,6 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ là 61,6%, thấp hơn 12,7 điểm phần trăm so với nam (74,3%) Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khu vực thành thị là 65,3%, trong khi đó tỷ lệ này ở nông thôn là 69,3% Xem xét theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở khu vực thành thị thấp hơn khu vực nông thôn ở hầu hết các nhóm tuổi, trong đó chênh lệch nhiều nhất được ghi nhận ở nhóm 55 tuổi trở lên (th nh th : 32,7%; nông thôn: 46,6%) v nh m t 15-24 tu i (th nh th : 34,5%; nông à ị à ó ừ ổ à ịthôn: 45,2%) Điều này cho thấy, người dân tại khu vực nông thôn gia nhập thị trường lao động sớm hơn và rời bỏ thị trường muộn hơn khá nhiều so với khu vực thành thị; đây là đặc điểm điển hình của thị trường lao động với cơ cấu lao động tham gia ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao

Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ quý IV năm 2021 là 26,1%, không thay đổi so với quý trước và cao hơn 0,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Trong tổng

số 24,2 triệu người từ 15 tuổi trở lên không tham gia thị trường lao động (ngoài lực lượng lao động) của qu ý IV năm 2021, có 13,2 triệu người trong độ tuổi lao động, tập trung nhiều nhất ở nhóm 15-19 tuổi (gần 5,5 triệu người)

1.2 Xu hướng về thị trường lao động Việt Nam trong thời gian tới

Phát biểu tại Diễn đàn “Tái cấu trúc nền kinh tế giai đoạn 2021-2025: Những vấn đề đặt ra với doanh nghiệp”, TS Trương Anh Dũng, Tổng cục trưởng, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp cho biết, hiện nay, nhu cầu lao động có kĩ năng sẽ tăng cao trong khi nhu cầu đối với người lao động ít được đào tạo và kỹ năng thấp thì giảm Thị trường lao động việc làm sẽ phân hóa theo hai nhóm đó là: kỹ năng thấp lương thấp và kỹ năng cao lương cao Quá trình này không chỉ đe dọa đến việc làm của lao động trình độ thấp, mà những lao động kĩ năng bậc trung cũng bị ảnh hưởng, nếu họ không được trang bị các kiến thức mới, sáng tạo của nền kinh tế số Và rõ ràng, trong bối cảnh như vậy, thị trường lao động trong nước sẽ cần những giải pháp toàn diện từ tất cả các bên có liên quan, để hướng tới nâng cao chất lượng tuyển dụng và đào tạo nguồn nhân lực, thông qua phát triển kỹ năng và tăng cường trí thức cho người lao động trong tình hình mới

Trang 6

Như vậy, có thể thấy: guồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định đẩy mạnh nphát triển và ứng dụng khoa học công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình - tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, đảm bảo phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững Nhiều người nghĩ chỉ có ra thành phố mới có khả năng tiếp cận được những cơ hội tốt như vậy nên họ quyết định rời bỏ quê hương mình tới những thành phố lớn như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, để tìm kiếm cho mình một con đường mới, một hi vọng mới

1.3 Vai trò của nông nghiệp, nông thôn đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Nhờ sự quan tâm của Nhà nước thể hiện bằng các chủ trương, chính sách đúng đắn, trong những năm đổi mới, nông nghiệp nước ta đã có bước phát triển vượt bậc, đạt được nhiều thành tựu Liên tục trong nhiều năm nông nghiệp đạt mức tăng trưởng khá cả về giá trị, sản lượng

Từ xuất phát điểm là một nước thường xuyên thiếu lương thực, hàng năm phải nhập hàng triệu tấn lương thực của nước ngoài, hơn thập niên qua Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn (hiện đứng thứ 2 trên thế giới, năm 2011 có thể xuất khẩu tới 7 triệu tấn), đồng thời bảo đảm an ninh lương thực quốc gia Ngoài gạo, Việt Nam còn chiếm vị thế cao trong số các nước xuất khẩu về cà phê, cao su, hạt điều Giá trị xuất khẩu những mặt hàng nông sản khác như thủy sản, chế biến gỗ cũng ngày càng cao và trở thành các sản phẩm chủ lực trong cơ cấu xuất khẩu của đất nước Cơ cấu nông nghiệp cũng chuyển dịch theo hướng tích cực, gia tăng sản phẩm có giá trị kinh tế, có lợi thế cạnh tranh Trong nông nghiệp đã hình thành được một số vùng sản xuất tập trung quy mô lớn Bên cạnh đó, kết cấu hạ tầng trong nông nghiệp và nông thôn được tăng cường Chẳng hạn, công tác thủy lợi hóa đã được thực hiện hết sức mạnh mẽ, đến nay 94% diện tích lúa, 41% diện tích hoa màu trong cả nước được tưới tiêu Việc áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp triển khai khá rộng rãi (70% diện tích lúa được sử dụng máy móc) Công nghệ tiên tiến, nhất là công nghệ sinh học được ứng dụng góp phần tăng chất lượng, hiệu quả sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp nước ta hiện nay tuy có tỷ trọng giảm đi trong cơ cấu kinh tế của đất nước, song giá trị tuyệt đối ngày càng tăng và đóng góp được 20% GDP cho đất nước Các chỉ tiêu cơ bản công tác Hội và phong trào nông dân hàng năm trong nửa đầu

Trang 7

Discover more from:

Trang 8

nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội VII và năm 2021 đều đạt và vượt so với kế hoạch

đề ra Sản xuất nông nghiệp tiếp tục duy trì phát triển ổn định Đặc biệt, năm 2021, trong bối cảnh lĩnh vực dịch vụ, công nghiệp gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19, tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp đạt khoảng 2,9%, xuất khẩu nông lâm thủy sản lần đầu tiên đạt 48,6 tỷ USD

Nông nghiệp, nông thôn khẳ g địn nh vai trò là "trụ đỡ" của nền kinh tế, bảo đảm an ninh lương thực, là nhân tố tạo sự ổn định cho phát triển, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước

2 Tình trạng “bỏ quê lên phố” ồ ạt, tự phát, không có tổ chức vấn đề phổ biến trong -

xã hội hiện nay

2.1 Khái niệm “bỏ quê lên phố”

“Bỏ quê lên phố” hay chính là hiện tượng di dân từ nông thôn đến thành thị Di dân có nhiều khái niệm:

Theo nghĩa hẹp, di dân là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn

vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định Theo nghĩa rộng, di dân là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong một không gian

và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn

Cũng có thể hiểu di dân là quá trình di chuyển dân số hoặc quá trình con người rời bỏ hoặc hội nhập, hoặc thiết lập nơi cư trú mới vào một đơn vị hành chính – địa lý trong một thời gian nhất định Di dân có thể liên quan đến sự di chuyển của một hay cá nhân, một gia đình, thậm chí là cả một cộng đồng Hiện tượng “bỏ quê lên phố” là di dân phân loại theo địa bàn nơi đến, cụ thể hơn là di dân nội địa Người dân sẽ di chuyển từ nông thôn ra thành thị với người mục đích khác nhau

Trong thập niên vừa qua, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đang diễn ra sự tăng trưởng mạnh mẽ về dân cư ở các vùng thành thị Đồng thời, lối sống đô thị ngày càng được định hình rõ nét Đặc điểm nhân khẩu học của dân cư thành thị khác biệt đáng kể so với dân cư nông thôn, như: quy mô gia đình ở thành thị nhỏ hơn; người dân thành thị kết hôn muộn hơn và có ít con hơn Dân cư thành thị cũng có nhiều lợi thế so với dân cư nông thôn trong quá trình phát triển: điều kiện nhà ở tốt hơn, có nhiều cơ hội tiếp cận với tiện nghi

Trang 9

cuộc sống như điện lưới, nước hợp vệ sinh và điều kiện học tập cũng như được làm việc trong môi trường đòi hỏi được đào tạo chuyên môn Những lợi thế này thể hiện rõ nét tại những địa bàn có mức độ đô thị hóa cao Điều này càng làm tăng thêm sức hấp dẫn của các thành phố lớn và thúc đẩy sự tăng trưởng dân số mạnh mẽ ở các khu vực này

2.2 Thực trạng di dân từ nông thôn đến thành thị hiện nay

Theo kết quả Tổng điều tra dân số năm 2009, tại Việt Nam từ năm 1994 – 2009 có tới 6,6 triệu người di dân trong và ngoài tỉnh Trong khi đó, theo kết quả tổng điều tra dân số năm 1999 có 4,5 triệu người di dân Vậy sau khoảng 10 năm đã tăng thêm 2,1 triệu người

di dân

Báo cáo trích dẫn kết quả cuộc điều tra Tiếp cận nguồn lực nông thôn (VARHS) tại 12 tỉnh trong giai đoạn 2012 2014 cho thấy, xu hướng di cư từ nông thôn ra thành thị diễn ra -rất nhanh Khoảng 20% số hộ điều tra cho biết, có ít nhất 1 thành viên di cư và 48% số đó

ra đi tìm việc làm (những người khác đi học, đoàn tụ gia đình, thực hiện nghĩa vụ quân sự) Tại một số tỉnh, tỷ lệ hộ gia đình có ít nhất một người di cư (vĩnh viễn hoặc tạm thời) cao hơn hẳn các tỉnh khác Ví dụ: Nghệ An là 47%, Quảng Nam, Đắc Lắc, Lâm Đồng là 27- 28% Tính chung trong năm 2014, có 73% số người di cư di chuyển từ tỉnh này sang một tỉnh khác, 47% số người đến các trung tâm lớn như Hà Nội hoặc TP Hồ Chí Minh và 10% ra nước ngoài, tăng nhiều so với tỷ lệ 1% năm 2012

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2015, 13,6% tổng dân số là người di cư, trong đó, người

di cư trong nhóm tuổi từ 19 59 tuổi chiếm 17,3% Di cư chủ yếu vì lý do học tập và lao động nên phần lớn người di cư có độ tuổi 15 39 tuổi, chiếm tỷ lệ 84% so với tổng số người -

-di cư Những vùng có điều kiện kinh tế thuận lợi có tỷ lệ người -di cư đến rất cao, ví dụ: vùng Đông Nam Bộ có tỷ lệ người di cư đang làm việc cao nhất nước (87,8%); đồng bằng sông Hồng (81%) Hiện tượng “nữ hóa” di cư đang gia tăng, với 52,4% người di cư là nữ Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới , Việt Nam là một trong những nước có tốc độ

đô thị hóa cao nhất Đông Nam Á Năm 1986 tỷ lệ dân cư sống tại đô thị Việt Nam chiếm khoảng 19%, thì đến năm 2013 tỷ lệ này đạt gần 34% Năm 2019, dân số thành phố Hà Nội khoảng 8 triệu dân; TP Hồ Chí Minh hơn 10 triệu dân, thuộc diện các thành phố lớn nhất của khu vực

Trang 10

Tây Nguyên chuyển từ vùng nhập cư trở thành vùng xuất cư (với tỷ suất di cư thuần là -12‰) Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ là hai vùng nhập cư lớn nhất cả nước Đặc biệt, Đông Nam Bộ, vùng kinh tế phát triển với các khu công nghiệp lớn, tiếp tục là điểm đến thu hút nhất đối với người di cư với 1,3 triệu người nhập cư Tỉnh Bình Dương có tỷ suất di cư thuần dương cao nhất (200,4‰) trong số 12 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có tỷ suất di cư thuần dương; tỉnh Sóc Trăng có tỷ suất di cư thuần âm cao nhất (-75,0‰)

Trẻ em di cư thiệt thòi hơn trẻ em không di cư trong việc tiếp cận giáo dục cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông; đặc biệt, trẻ em trong nhóm di cư ngoại tỉnh chịu thiệt thòi hơn so với trẻ em ở các nhóm di cư khác trong việc tiếp cận giáo dục ở tất cả các cấp Năm 2019, có tới 83,9% trẻ em không di cư trong độ tuổi 11 18 đang đi học nhưng chỉ có -55,7% trẻ em di cư ngoại tỉnh trong nhóm nhóm tuổi này đang đi học

Trình độ chuyên môn kỹ thuật (CMKT) của người di cư đã cải thiện so với 10 năm trước, tăng từ 22,9% năm 2009 lên 37,2% năm 2019 và cao hơn so với người không di cư Năm 2019, tỷ lệ người di cư có trình độ CMKT cao hơn 17,5 điểm phần trăm so với người không di cư

Trong tổng số lao động di cư đang làm việc trong nền kinh tế, có tới 91,4% người di

cư làm ở khu vực dịch vụ, công nghiệp và xây dựng Tỷ lệ này ở người di cư cao hơn so với người không di cư, đặc biệt tỷ trọng người di cư làm trong khu vực công nghiệp và xây dựng cao gần gấp đôi tỷ trọng người không di cư làm trong cùng khu vực (44,9% so với 27,7%)

Tỷ lệ thất nghiệp của người di cư cao hơn người không di cư (2,53% so với 2,01%)

Nữ giới di cư có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn nam giới di cư, lần lượt là 2,82% và 2,20% Trong số những người di cư đang thất nghiệp, hơn hai phần ba (69,7%) là những người di

cư tới thành thị và chỉ có một phần ba là những người di cư tới nông thôn

Anh Nguyễn Hoàng Hiệp - bí thư trung ương Đoàn cho biết “Khi chúng tôi đi công tác đến các vùng nông thôn, có xã số lượng thanh niên trong độ tuổi còn ở nhà chỉ chiếm khoảng 15% Vì thế, khi địa phương có việc, cần đến sức trẻ thì gặp rất nhiều khó khăn

Trang 11

Theo một thống kê, bình quân cả nước có tới 50 55% đoàn viên thanh niên nông thôn đi làm ăn xa (hơn 6 triệu thanh niên).”

-3 Những hậu quả vấn đề “bỏ quê lên phố” ồ ạt, tự phát, không có tổ chức mang lại 3.1 Hậu quả đối với nông thôn

3.1.1 Làm giảm dân số, gây ra thiếu hụt lao động ở một số ngành nghề

“Địa bàn nông thôn rất thiếu lao động có trình độ, chất lượng cao, khi lao động trẻ đều

có xu hướng thoát ly nên đa phần ở nhiều khu vực nông thôn hiện nay chỉ còn người già

và trẻ nhỏ” Đó là chia sẻ từ bà Dương Thị Bích Diệp, Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ Khởi nghiệp Xanh, tại diễn đàn Nông dân quốc gia lần thứ 7 do Hội Nông dân Việt Nam

và Báo Nông thôn ngày nay tổ chức sáng ngày 12/9 tại Hà Nội, bàn về chủ đề: Người nông

dân chuyên nghiệp 90% lao động trẻ ở nông thôn đã ly hương Lí giải về nguyên nhân của vấn đề này, thách thức lớn nhất được cho là tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa đang diễn tiến rất nhanh Quá trình này vừa tạo việc làm, thu nhập song cũng sẽ lấy đi tài nguyên của nông nghiệp, tiếp tục tạo chênh lệch giữa đô thị nông thôn, miền núi miền xuôi, đẩy - - mạnh di cư

Thách thức này sẽ kéo theo sự thay đổi rất mạnh mẽ toàn bộ xã hội nông thôn Hàng triệu người dân nông thôn sẽ thành thị dân, hàng triệu lao động nông nghiệp sẽ chuyển sang phi nông nghiệp trong một thời gian ngắn đã dẫn tới sự thiếu hụt nghiêm trọng của lực lượng lao động trẻ trong nông nghiệp Nguồn lao động tại chỗ trong lĩnh vực nông nghiệp khan hiếm trầm trọng, nhất là lao động nông nghiệp chất lượng cao

Phần lớn những người chấp nhận xa quê để tìm cơ hội đổi đời ở các thành phố, khu công nghiệp ngoài tỉnh là nông dân nghèo, ít đất sản xuất, không có công ăn việc làm, thu nhập bấp bênh Tuy nhiên, có những trường hợp nhà đủ tư liệu sản xuất vẫn khăn gói ra

đi theo kiểu trào lưu Anh Nguyễn Việt Khái, ấp Cái Sắn Vàm, xã Biển Bạch Đông, huyện Thới Bình là một trong số đó Là con trai duy nhất trong gia đình có đến 9 chị em gái (đã

có gia đình và ở riêng), thế nhưng, sau khi cưới vợ được vài năm, hai vợ chồng anh cũng dắt nhau lên Bình Dương tìm việc, để lại cha mẹ già đã ngoài tuổi 60 cùng hơn 1,5 ha đất nuôi tôm quảng canh Sau gần 2 năm cật lực làm việc ở xứ người, anh Khái nhận ra ước muốn đổi đời ở đây không thể đạt được, đành trở về tiếp tục bám vườn, bám ruộng Anh

Trang 12

Khái tâm sự: “Do thiếu trình độ, không kinh nghiệm, thiếu kỹ năng nên chủ yếu dựa vào sức lao động thủ công Việc làm chủ yếu trong suốt thời gian ở Bình Dương là lao động công nhật, thu nhập không bao nhiêu trong khi đủ các thứ chi phí mà loại nào cũng giá cao, thấy vậy về quê chắc ăn hơn”

Ly hương đến những thành phố trung tâm như TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai hay Bình Dương để tìm kiếm cơ hội việc làm đang trở thành xu thế của lao động trẻ hiện nay Xu thế này đang tạo cho giới trẻ một cơ hội việc làm, cải thiện thu nhập cũng như có điều kiện học hỏi, tiếp cận tiến bộ của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tuy nhiên, nó đang

để lại một hệ luỵ tất yếu là lao động nông thôn ngày một thiếu hụt nghiêm trọng, nhất là trên lĩnh vực nông nghiệp

Về huyện Thới Bình, là địa phương có nền sản xuất nông nghiệp khá đặc biệt, toàn huyện trong vụ mùa vừa qua sản xuất trên 19.000 ha lúa trên đất nuôi tôm, gần 649 ha mía

và hơn 12.000 ha tôm càng xanh xen canh ruộng lúa Tuy nhiên, tất cả các loại hình sản xuất trên hiện chưa thể cơ giới hoá mà phụ thuộc phần nhiều vào lao động thủ công Lúa, tôm càng xanh và mía thời gian thu hoạch gần như trùng nhau nên việc thuê lao động là điều gần như bắt buộc Nhưng theo các chủ hộ trang trại chia sẻ “Lúa và mía cần rất nhiều lao động nhưng năm nay có tiền cũng không thuê được người làm” Những năm trước khi đến mùa lúa có rất nhiều lao động ở các tỉnh về đây, nhưng năm nay không có Lao động địa phương thì càng hiếm Do tất cả đều thu hoạch đồng loạt nên giá mỗi công gặt lên đến 500.000 đồng mà phải nài nỉ từng người Cây mía càng thảm hơn, giá bán chỉ 650.000 đồng/tấn mà tiền thuê thu hoạch một tấn mía đến 260.000 đồng, gần như chia đôi mà cũng không có người làm Sở dĩ chỉ gần 40 tấn mía mà phải chia ra làm 2 đợt bán là do không thu hoạch kịp, dù đã tranh thủ được 2 người làm theo kiểu vần công

Một ví dụ khác về tỉnh Cà Mau, là tỉnh có cơ cấu ngư - nông - lâm nghiệp chiếm đến 29% tỷ trọng nền kinh tế, rong khi việc cơ giới hoá ở đây còn nhiều hạn chế thì tình trạng t

ly hương của lao động đang là vấn đề đáng báo động Cần có giải pháp khuyến khích cũng như hỗ trợ để họ có thể bám trụ và làm giàu từ chính mảnh ruộng, khu vườn của mình 3.1.2 Gây ra các vấn đề xã hội nghiêm trọng

Trang 13

Nguồn lao động di cư đi nơi khác cũng tạo ra những vấn đề xã hội nghiêm trọng như gia tăng tỷ lệ tảo hôn, gia đình thiếu vắng người mẹ, người bố, việc chăm sóc trẻ em phụ thuộc vào ông bà cũng ảnh hưởng đến kết quả học tập và tâm lý trẻ em, làm tăng nguy cơ

bị xâm hại tình dục ở trẻ em Đặc biệt, việc chăm sóc người già ở nông thôn cũng là một vấn đề đáng quan ngại, do thiếu người chăm sóc lúc ốm đau, khiến người già trở nên cô đơn

Trong 2 năm 2017-2018, toàn quốc xảy ra 3.139 vụ bạo lực, xâm hại trẻ em với 3.221 trẻ em bị xâm hại, bạo lực, trong đó có 2.643 vụ xâm hại tình dục với 2.690 trẻ em bị xâm hại tình dục, 3 tháng đầu năm 2019 đã xử lý 310 vụ bạo lực, xâm hại trẻ em với 325 trẻ em

bị bạo lực, xâm hại Số lượng các vụ xâm hại trẻ em nghiêm trọng được phát hiện, xử lý

có giảm nhưng không nhiều, tính chất của các vụ xâm hại tình dục trẻ em có chiều hướng diễn biến phức tạp, nghiêm trọng Trẻ em bị xâm hại tình dục xảy ra ở nhiều độ tuổi, do nhiều loại đối tượng gây ra, trong đó phần lớn là người quen, họ hàng, hàng xóm, không chỉ người Việt Nam mà cả người nước ngoài, có cả trường hợp xâm hại trẻ em trên môi trường mạng Bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em gây tổn thương nặng về đến cả thể chất và tinh thần trẻ, thậm chí làm trẻ tử vong hoặc khiến trẻ phải tự tử Một số nghiên cứu cho thấy, nguyên nhân là do nhiều cha mẹ dành dưới 1 giờ mỗi ngày cho con cái do quá bận, bên cạnh đó họ cũng ngại nói về giới tính, tình dục với con Huống hồ, việc cha mẹ đi làm

xa như vậy sẽ làm các em trở nên ngày càng mặc cảm, tự ti, thu mình lại vì không có ai trang bị cho các em những kiến thức, kỹ năng cần thiết để phòng chống xâm hại tình dục

và cũng như chăm sóc, bảo vệ các em khi có những sự việc không hay xảy ra

3.1.3 Làm cản trở việc thực hiện các kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế của nông thôn Phát triển công nghiệp nông thôn nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở công nghiệp nông thôn trong việc tiếp cận các cơ hội phát triển, nâng cao năng suất chất lượng, năng lực cạnh tranh, thực hiện có hiệu quả lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần xây dựng nông thôn mới là mục tiêu lâu dài và nhất quán của Đảng và Nhà nước đã được triển khai thực hiện xuyên suốt trong thời gian qua và cần tiếp tục được đẩy mạnh trong giai đoạn mới

Trang 14

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) nông thôn đóng vai trò quan trọng trong phát triển nền kinh tế quốc dân, nhất là đối với các nước đang và kém phát triển Sự chuyển dịch này được thể hiện trong các mối quan hệ kinh tế phạm vi khu vực nông thôn (không tính các khu công nghiệp, khu đô thị trên địa bàn nông thôn) Chuyển dịch CCKT nông thôn theo hướng bền vững thể hiện mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận kinh tế cấu thành trong khu vực kinh tế nông thôn, gắn bó với nhau theo những tỷ lệ nhất định về mặt lượng (quy mô,

tỷ trọng) và có quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau cả về định lượng và định tính trong quá trình phát triển, đảm bảo sự phát triển hài hòa với môi trường xã hội Theo đó,

xu hướng chuyển dịch CCKT nông thôn được thực hiện theo hướng xanh hóa hoạt động sản xuất nhờ dụng công nghệ cao, hạn chế tác động đến môi trường xã hội đối với tất cả các ngành kinh tế khu vực nông thôn từ nông nghiệp, công nghiệp đến dịch vụ Do đó, mô hình kinh doanh được xây dựng theo tiêu chí nông thôn mới phải đảm bảo các yếu tố xanh

và bền vững, với những đặc trưng được mô tả trong ảng 1.b

Bảng 1: Mô hình kinh doanh trong các lĩnh vực theo tiêu chí NTM

Mô hình kinh doanh trong

Nông nghiệp sinh thái, xanh và thuần hóa

Công nghiệp

Ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp nặng tác động lớn đến môi trường sinh thái

Công nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi

số

Dịch vụ

Dịch vụ thuẩn túy hướng tới lợi nhuận, chưa chú trọng các lĩnh vực hàm lượng công nghệ cao

Dịch vụ xanh, công nghệ cao và chuyển đổi số

Ngày đăng: 29/11/2023, 05:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Mô hình kinh doanh trong các lĩnh vực theo tiêu chí NTM - (Tiểu luận) môn kinh tế nông thôn đề tài vấn đề bỏ quê lên phố ồ ạt, tự phát, không có tổ chức
Bảng 1 Mô hình kinh doanh trong các lĩnh vực theo tiêu chí NTM (Trang 14)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w