Bài giảng đánh giá tác động môi trường Bài giảng đánh giá tác động môi trường Bài giảng đánh giá tác động môi trường Bài giảng đánh giá tác động môi trường Bài giảng đánh giá tác động môi trường Bài giảng đánh giá tác động môi trường
Trang 1ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
Trang 2ii
MỤC LỤC
CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC BẢNG viii
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN 3
1.1 Môi trường 3
1.1.1 Khái niệm môi trường 3
1.1.2 Môi trường tự nhiên 4
1.1.3 Môi trường nhân tạo và môi trường xã hội 9
1.1.4 Các yếu tố môi trường và quan hệ giữa các thành phần môi trường 11
1.1.5 Vai trò của môi trường đối với con người 13
1.1.6 Khoa học môi trường 14
1.2 Phát triển và tác động đến môi trường 16
1.2.1 Khái niệm phát triển truyền thống 16
1.2.2 Phát triển bền vững và các điều kiện 17
1.2.3 Tài nguyên và mối quan hệ với môi trường và phát triển 21
1.3 Con người với môi trường trên trái đất 33
1.3.1 Dân số và tác động của con người đến môi trường 34
1.3.2 Các hoạt động phát triển của con người tác động đến môi trường 40
1.3.3 Thực hiện phát triển bền vững và ĐTM 50
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1 53
CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG 54
2.1 Đánh giá tác động môi trường và lịch sử phát triển 54
2.1.1 Các định nghĩa về đánh giá tác động môi trường 54
2.1.2 Lịch sử phát triển ĐTM 54
2.2 Mục đích, vai trò và lợi ích của ĐTM 56
2.2.1 Mục đích 56
2.2.2 Vai trò của ĐTM 57
2.2.3 Lợi ích của ĐTM 58
2.3 Sự khác nhau giữa ĐTM với các công cụ đánh giá khác 58
2.3.1 Đánh giá tác động xã hội 59
2.3.2 Đánh giá tác động sức khỏe 59
2.3.3 Đánh giá tác động giới 60
2.3.4 Đánh giá tác động môi trường và xã hội 60
2.4 Đánh giá tác động môi trường trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội và cơ sở pháp lý 61
2.4.1 Vị trí của đánh giá tác động môi trường trong quá trình phát triển 61
2.4.2 Hệ thống pháp luật liên quan đến ĐTM 61
2.4.3 Đối tượng phải lập báo cáo ĐTM 63
2.4.4 Quy định về trách nhiệm thực hiện ĐTM: 63
2.4.5 Phân cấp trách nhiệm thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM 64
2.4.6 Các thông tin, số liệu sử dụng và đối tượng ĐTM 64
2.4.7 Hệ thống chỉ tiêu thống kê về TN và môi trường 68
Trang 3iii
2.5 Chu trình thực hiện dự án đầu tư và trình tự thực hiện ĐTM 71
2.5.1 Chu trình thực hiện dự án đầu tư 71
2.5.2 Trình tự thực hiện các nội dung ĐTM 71
2.6 Tác động môi trường và các TN, nhân tố môi trường chịu tác động 74
2.6.1 Khái niệm tác động môi trường 74
2.6.2 Tác động môi trường của dự án và công thức biểu thị 74
2.6.3 Khái niệm tác động tích lũy và đánh giá tác động môi trường tích lũy 75
2.6.4 Phân loại tác động môi trường của dự án 79
2.7 Các TN và nhân tố môi trường chịu tác động 84
2.7.1 TN và nhân tố môi trường vật lý 85
2.7.2 TN và nhân tố môi trường sinh thái 85
2.7.3 Các giá trị sử dụng của con người 85
2.7.4 Các giá trị chất lượng cuộc sống 86
2.8 Phương pháp và yêu cầu phân tích, nhận biết các tác động môi trường 88
2.8.1 Phương pháp phân tích, nhận biết các tác động môi trường 88
2.8.2 Yêu cầu của việc phân tích nhận biết tác động 93
2.9 Nội dung và quy trình thực hiện ĐTM của dự án 95
2.9.1 Xác định phạm vi tác động 95
2.9.2 Nhận biết tác động 96
2.9.3 Đánh giá và dự báo tác động 96
2.9.4 Đề xuất giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực 98
2.9.5 Đề xuất chương trình quản lý môi trường và chương trình giám sát môi trường 99
2.9.6 Tham vấn cộng đồng 101
2.10 Cấu trúc và nội dung của báo cáo ĐTM 104
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2 107
CHƯƠNG 3 CÁC PHƯƠNG PHÁP KỸ THUẬT ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG 109
3.1 Giới thiệu chung về các phương pháp 109
3.2 Các phương pháp đánh giá nhanh 110
3.2.1 Phương pháp liệt kê các số liệu môi trường 110
3.2.2 Phương pháp lập bảng kiểm tra danh mục môi trường 111
3.2.3 Phương pháp ước lượng giá trị chất lượng môi trường 118
3.2.4 Phương pháp ma trận môi trường 126
3.2.5 Phương pháp sơ đồ mạng lưới 130
3.2.6 Phương pháp chập bản đồ môi trường 132
3.2.7 Phương pháp đánh giá nhanh trên cơ sở hệ số ô nhiễm 134
3.2.8 Phương pháp sử dụng các chỉ thị và chỉ số môi trường 139
3.2.9 Phương pháp đánh giá tác động môi trường xã hội 142
3.2.10 Phương pháp chuyên gia 146
3.3 Các phương pháp đánh giá phức tạp và định lượng 150
3.3.1 Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích mở rộng 150
3.3.2 Phương pháp mô hình 161
3.4 Phân tích lựa chọn các phương pháp ĐTM 166
3.4.1 Lựa chọn phương pháp đánh giá theo yêu cầu và điều kiện thực tế 167
3.4.2 Lựa chọn phương pháp dựa trên đặc tính và khả năng đánh giá của phương pháp 167
Trang 4iv
CÂU HỎI CHƯƠNG 3 168
CHƯƠNG 4 TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CỦA MỘT SỐ LOẠI HÌNH DỰ ÁN VÀ BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU 169
4.1 Các dự án xây dựng 169
4.1.1 Đặc điểm của dự án và yêu cầu đánh giá tác động môi trường 170
4.1.2 Các hoạt động của dự án, đối tương chịu tác động và nguồn gây tác động 171
4.1.3 Tác động môi trường của dự án 174
4.1.4 Biện pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực, phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường 179
4.1.5 Quản lý và giám sát môi trường 184
4.2 Dự án xây dựng đập/hồ chứa 186
4.2.1 Khái quát về dự án 186
4.2.2 Các hoạt động của dự án 194
4.2.3 Phạm vi tác động của dự án đập/hồ chứa 195
4.2.4 Các tác động tích cực về kinh tế, xã hội và môi trường 195
4.2.5 Các tác động tiêu cực của dự án và các biện pháp giảm thiểu tương ứng 196
4.3 Tóm tắt về các tác động môi trường tiêu cực của một số dự án phát triển tài nguyên nước 205
4.3.1 Dự án xây dựng hệ thống tưới 205
4.3.2 Dự án xây dựng hệ thống tiêu thoát nước 207
4.3.3 Dự án phòng chống lũ 209
4.3.4 Dự án quai đê lấn biển 211
4.3.5 Dự án nạo vét lòng sông khu vực cửa sông ven biển 214
4.4 Dự án giao thông 216
4.4.1 Các đặc điểm chính của dự án giao thông 216
4.4.2 Mô tả dự án giao thông 218
4.4.3 Đánh giá hiện trạng môi trường nền 219
4.4.4 Đánh giá và dự báo tác động môi trường của dự án 221
4.4.5 Các biện pháp khắc phục, giảm thiểu tác động tiêu cực của dự án 226
4.4.6 Chương trình quản lý, quan trắc và giám sát môi trường 229
4.5 Dự án khai thác mỏ 231
4.5.1 Khái niệm khoáng sản và khai thác mỏ 231
4.5.2 Các đặc điểm của dự án liên quan đến đánh giá tác động môi trường 232
4.5.3 Các vấn đề môi trường chủ yếu 233
4.5.4 Các hoạt động dự án và tác động môi trường 234
4.5.5 Các giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực 239
4.6 Dự án sản xuất phân bón 242
4.6.1 Đặc điểm của dự án sản xuất phân bón liên quan đến môi trường 242
4.6.2 Tóm tắt về công nghệ sản xuất phân NPK và phân hữu cơ 245
4.6.3 Các tác động môi trường chính của dự án sản xuất phân bón NPK và phân hữu cơ và biện pháp giảm thiểu tương ứng 251
CÂU HỎI CHƯƠNG 4 255
TÀI LIỆU THAM KHẢO 256
PHẦN PHỤ LỤC 259
Trang 5v
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB Asian Development Bank (Ngân hàng phát triển Châu Á)
BĐKH Biến đổi khí hậu
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
BVMT Bảo vệ môi trường
CQK Chính sách, Chương trình, Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch CTR Chất thải rắn
CTNH Chất thải nguy hại
ĐDSH Đa dạng sinh học
ĐMC Đánh giá Môi trường Chiến lược
ĐTG Đánh giá tác động Giới
ĐTL Đánh giá Tác động môi trường Tích Lũy
ĐTM Đánh giá Tác động môi trường
ĐTM&X Đánh giá Tác động môi trường và xã hội
ĐTS Đánh giá Tác động Sức khỏe
ĐTX Đánh giá Tác động Xã hội
EES Environmental Evaluation System (Hệ thống đánh giá môi trường) ESIA Environmental and Social Impact Assessment (đánh giá tác động môi trường và xã hội)
GIS Geographic Information System (Hệ thống thông tin địa lý)
GTVT Giao thông vận tải
HDI Human Development Index (Chỉ số phát triển con người)
HIA Health Impact Assessment (Đánh giá tác động sức khỏe)
KTMT Kiểm toán môi trường
KCN Khu Công Nghiệp
Trang 6vi
NCKT Nghiên cứu khả thi
NCTKT Nghiên cứu tiền khả thi
NĐ-CP Nghị định Chính phủ
PTBV Phát triển bền vững
PTTNN Phát triển tài nguyên nước
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
QLMT Quản lý môi trường
TCMT Tổng cục Môi trường
TĐTL Tác động tích lũy
TNTN Tài nguyên thiên nhiên
UNEP The United Nations Environment Programme (Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc)
WB World Bank (Ngân hàng Thế giới)
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
WQI Water Quality Index (Chỉ số chất lượng nước)
XLNT Xử lý nước thải
Trang 7vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Cấu trúc của khí quyển 6
Hình 1.2 Chu trình nước trên trái đất 7
Hình 1.3 Cấu trúc của thạch quyển 8
Hình 1.4 Quan hệ sinh quyển với các quyển khác trên trái đất 9
Hình 1.5 Quan hệ giữa môi trường tự nhiên và nhân tạo 12
Hình 1.6 Các mô hình phát triển bền vững 20
Hình 1.7 Vẻ đẹp kì vĩ của cảnh quan ruộng bậc thang Sapa 23
Hình 1.8 Cảnh quan hùng vĩ của thác nước ở Tây Nguyên 24
Hình 1.9 Tăng trưởng dân số ở Việt Nam từ năm 2000 đến 2016 35
Hình 1.10 Diễn biến nồng độ SO2 trong không khí xung quanh tại một số KCN 42
Hình 1.11 Đô thị hóa đang diễn ra tại khu vực ven hồ Đồng Đò giáp bìa rừng phòng hộ huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội 49
Hình 2.1 Vị trí của ĐTM trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội 61
Hình 2.2 Chu trình dự án theo UNEP 73
Hình 2.3 Tác động môi trường của dự án 74
Hình 2.4 Các kiểu hình thành tác động môi trường tích lũy 77
Hình 2.5 Sơ đồ phân tích nhận biết tác động môi trường dựa theo các hoạt động của dự án 90
Hình 3.1 Hàm giá trị chất lượng môi trường 126
Hình 3.2 Sơ đồ mạng lưới về tác động môi trường của dự án nạo vét luồng 131
Hình 3.3 Đánh giá khả năng thích nghi đất đai sử dụng GIS và 133
Hình 3.4 Mô hình vật lý về thấm qua công trình thủy lợi 161
Hình 3.5 Sự biến đổi của BOD và DO dọc theo dòng chảy 164
Hình 4.1 Hình ảnh 3D công trình hồ chứa nhỏ với các hạng mục chính 187
Hình 4.2 (a) Đường cho cá đi ở Nhật Bản – công trình để giảm thiểu tác động xấu đến môi trường sinh thái; (b) Âu thuyền Đập Tam Hiệp ở Trung Quốc để cho tàu bè qua lại đập 187
Hình 4.3 (a) Đập hồ chứa thủy điện Hòa Bình, và (b) Đập dâng Thạch Nham trên sông Trà Khúc, tỉnh Quảng Ngãi 188
Hình 4.4 Kiểu nhà máy thủy điện có đường dẫn bố trí xa đập 190
Hình 4.5 Kiểu nhà máy thủy điện có đường dẫn 191
Hình 4.6 Hồ chứa dự án thủy điện Thác Bà làm ngập một diện tích đất nông nghiệp và đất có rừng rất lớn 193
Hình 4.7 Tác động của hệ thống tưới Thạch Nham khi không đảm bảo dòng chảy tối thiểu cho hạ du sông Trà Khúc 193
Hình 4.8 Chiếm dụng đất trải dài của Dự án giao thông 218
Hình 4.9 Khai thác than ở Quảng Ninh 231
Hình 4.10 Các vấn đề môi trường trong khai thác mỏ 234
Hình 4.11 Các giai đoạn thực hiện dự án khai thác mỏ 240
Hình 4.12 Chu trình áp dụng chính sách môi trường trong khai thác mỏ 240
Hình 4.13 Quy trình sản xuất phân bón NPK và các nguồn phát sinh chất thải 249
Hình 4.14 Quy trình sản xuất phân hữu cơ và các nguồn phát sinh chất thải 250
Hình 4.15 Sơ đồ nguyên lý hệ thống xử lý nước thải nhà máy sản xuất phân bón NPK 254
Hình 4.16 Sự cố vỡ bể chứa bãi thải nhà máy sản xuất phân bón diamon, Phốt phát Lao Cai ngày 7/9/2018 gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng 255
Trang 8viii
Hình A.17 Hệ thống LHC được chọn để nghiên cứu ĐTL 259
DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1 Tỷ lệ nước dùng cho 3 lĩnh vực ở các nước 26
Bảng 1.2 Tài nguyên nước các sông chính ở Việt Nam 32
Bảng 1.3 Biến động diện tích đất trồng do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa trên địa bàn quận Hà Đông từ 2015 đến 2018 48
Bảng 2.1 Yêu cầu thông tin về dự án để phục vụ ĐTM các loại dự án kỹ thuật 65
Bảng 2.2 Yêu cầu thông tin về điều kiện môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực thực hiện dự án 66
Bảng 2.3 Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành TN và môi trường 68
Bảng 2.4 Các nhóm TN và nhân tố môi trường chịu tác động của dự án 86
Bảng 2.5 Chuỗi hoạt động - biến đổi môi trường - tác động môi trường của dự án phát triển nông nghiệp 92
Bảng 2.6 Cấp độ tham gia của cộng đồng trong ĐTM 103
Bảng 3.1 Bảng liệt kê số liệu môi trường để so sánh các phương án quy hoạch các hồ chứa nước (theo Lohani và Kan, 1983) 110
Bảng 3.2 Bảng kiểm tra danh mục môi trường dạng câu hỏi cho loại dự án tưới 112
Bảng 3.3 Bảng kiểm tra danh mục tác động môi trường và xã hội của dự án hồ chứa thủy lợi theo ADB 112
Bảng 3.4 Mẫu bảng kiểm tra danh mục môi trường có định cấp của ADB cho loại dự án đập/hồ chứa lớn 115
Bảng 3.5 Bảng danh mục môi trường có trọng số của dự án đập/ hồ chứa 116
Bảng 3.6 Danh mục các TĐMT và tỷ trọng của dự án xây dựng đập và hồ chứa Boloti trên sông Mungusi ứng dụng hệ thống ước lượng môi trường Battlle EES 120
Bảng 3.7 Kết quả áp dụng phương pháp EES cho dự án hồ Boloti 124
Bảng 3.8 Ma trận đơn giản các tác động môi trường của dự án PTTNN 127
Bảng 3.9 Ma trận môi trường của dự án xây dựng hồ chứa (Lohani 1982) 128
Bảng 3.10 Ma trận môi trường của dự án xây dựng đập Quae Yai 129
Bảng 3.11 Nguyên nhân và hệ số phát thải các chất ô nhiễm không khí trong quá trình thi công xây dựng 136
Bảng 3.12 Hệ số tải lượng ô nhiễm của các phương tiện vận chuyển sử dụng dầu DO công suất 3,5-16 tấn 137
Bảng 3.13 Hệ số k thay đổi theo kích thước hạt bụi trung bình 137
Bảng 3.14 Độ ồn của một số thiết bị 138
Bảng 3.15 Tải lượng ô nhiễm ở nước thải sinh hoạt 138
Bảng 3.16 Các thông số kỹ thuật chính của dự án thủy điện nhỏ 153
Bảng 3.17 Tổng hợp mức đầu tư ban đầu tính chuyển đổi về năm 2005 156
Bảng 3.18 Thí dụ tính toán Lợi ích chi phí mở rộng của dự án đầu tư cho một nhà máy thủy điện nhỏ 159
Bảng 3.19 Thống kê một số mô hình toán được áp dụng trong ĐTM 166
Bảng 4.1 Bảng tổng hợp các tác động tiêu cực của dự án xây dựng đập, hồ chứa và các biện pháp giảm thiểu 197
Bảng 4.2 Các nguồn gây tác động của Dự án trong giai đoạn thi công xây dựng dự án nạo vét lòng sông khu vực cửa sông ven biển 215
Trang 9ix
Bảng 4.3 Các thông số môi trường và TN cần khảo sát khi đánh giá môi trường nền đối với dự án giao thông 219 Bảng 4.4 Các yếu tố gây ô nhiễm môi trường của dự án công trình giao thông 222 Bảng 4.5 Nguyên liệu và hóa chất chính trong sản xuất phân bón 250 Bảng 4.6 Các nguồn ô nhiễm không khí ở giai đoạn xây dựng cơ sở sản xuất phân bón NPK và biện pháp giảm thiểu tương ứng 251 Bảng 4.7 Nguồn gây ô nhiễm môi trường do CTR trong giai đoạn xây dựng 252 Bảng 4.8 Các chất ô nhiễm chính, nguồn gốc phát sinh và biện pháp giảm thiểu tương ứng 253
Trang 101
LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay bảo vệ môi trường và phát triển bền vững là định hướng chiến lược vô cùng cấp thiết và đang được sự quan tâm hàng đầu của thế giới nhằm đối phó với tình trạng môi trường sống trên trái đất đang ngày càng suy thoái, đe doạ sự phát triển bền vững của nhân loại Một trong những công cụ hữu hiệu nhất để đảm bảo phát triển bền vững là “đánh giá tác động môi trường” các dự án phát triển kinh tế, xã hội
Ở Việt Nam, hiện nay Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã quy định rất rõ và cụ thể về đánh giá tác động môi trường đối với các loại dự án phát triển theo Nghị định 18/2015/NĐ-CP và Thông tư 27/2015/TT-BTNMT
Trong chương trình đào tạo bậc Đại học chính quy ngành Kỹ thuật môi trường và một số ngành khác liên quan, môn học “Đánh giá tác động môi trường” là bắt buộc nhằm trang bị các kiến thức cơ bản cho các kỹ sư Thủy lợi
Mục tiêu của giáo trình "Đánh giá tác động môi trường” nhằm cung cấp các kiến thức cơ bản về đánh giá tác động môi trường cho sinh viên một số ngành kỹ thuật, giúp cho sinh viên có kiến thức toàn diện phục vụ các công tác chuyên môn sau khi trở thành
kỹ sư và triển khai thực hiện công việc thực tế phục vụ phát triển bền vững kinh tế, xã hội của đất nước
Tài liệu tham khảo chính của Giáo trình này là bộ giáo trình “Môi trường và đánh giá tác động môi trường” của trường Đại học Thủy lợi được Nhà xuất bản Nông nghiệp xuất bản năm 2003
Phân công biên soạn giáo trình như sau:
- Chủ biên: TS Nguyễn Văn Sỹ, chịu trách nhiệm về toàn bộ nội dung và hình thức của giáo trình
- Tham gia biên soạn:
GS.TS Lê Đình Thành, tham gia rà soát lại cấu trúc của giáo trình và một số nội dung của Chương 2
PGS.TS Nguyễn Văn Thắng tham gia rà soát lại những nội dung được tham khảo
từ bộ giáo trình cũ và một số nội dung Chương 3
Giáo trình này được sử dụng làm tài liệu học tập chính cho sinh viên trường Đại học Thủy lợi và cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho nhiều đối tượng sử dụng khác nhau trong lĩnh vực đánh giá tác động môi trường như: chủ dự án, cơ quan tài trợ dự án, cộng đồng chịu tác động tiêu cực bởi dự án, các tổ chức, cá nhân tham gia lập báo cáo ĐTM, các cơ quan, tổ chức tham gia thẩm định báo cáo ĐTM, kiểm tra, giám sát việc thực thi các biện pháp bảo vệ môi trường của dự án và các đối tượng khác có liên quan, sinh viên các trường Đại học, cao đẳng khác và cho các cán bộ trong và ngoài ngành
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc biên soạn từ các nguồn tư liệu khác nhau với kỳ vọng phục vụ tốt nhất cho công tác đào tạo của trường Đại học Thủy lợi Tuy
Trang 112
nhiên, ĐTM vừa là một bộ môn khoa học liên ngành vừa là một công cụ quản lý với tính chất phức tạp và nhiều đòi hỏi đặt ra về mặt khoa học và kỹ thuật, trong quá trình biên soạn, không thể tránh được những sai sót và chắc vẫn còn những hạn chế và khiếm khuyết Mặt khác, cùng với sự phát triển của công tác ĐTM ở Việt Nam và trên thế giới trong thời gian đến, giáo trình này chắc chắn còn nhiều điểm phải được tiếp tục cập nhật Tập thể tác giả rất mong muốn nhận được các ý kiến góp ý để giáo trình này được hoàn thiện hơn, phục vụ hiệu quả hơn cho đào tạo và nghiên cứu Mọi đóng góp xây dựng xin vui lòng gửi về bộ môn Quản lý môi trường, Khoa Môi trường của Trường Đại học Thủy lợi
Tập thể tác giả xin trân trọng cảm ơn
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2018
TS Nguyễn Văn Sỹ
Trang 123
1.1 Môi trường
1.1.1 Khái niệm môi trường
Môi trường của một vật thể hay sự kiện, theo nghĩa chung nhất là tổng hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh, tác động trực tiếp hay gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của vật thể hay sự kiện đó Bất cứ một vật thể hay một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường nhất định và nó luôn luôn chịu tác động của các yếu tố môi trường đó
Luật bảo vệ môi trường Số: 55/2014/QH13 (sau đây gọi chung là Luật Bảo vệ môi trường 2014) định nghĩa “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [1]
Có thể nói môi trường là một phần của ngoại cảnh, bao gồm các hiện tượng và các thực thể của tự nhiên mà ở đó cá thể, quần thể, loài có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp bằng các phản ứng thích nghi của mình Từ khái niệm này có thể phân biệt được đâu
là môi trường của loài này, đâu là môi trường của loài khác
Cũng có thể chia môi trường tự nhiên thành môi trường vô sinh và môi trường hữu sinh Môi trường vô sinh bao gồm những yếu tố không sống, như là các yếu tố vật
lý, hóa học của đất, nước, không khí…Môi trường hữu sinh bao gồm các thực thể sống như là các loài động vật, thực vật và các vi sinh vật Danh từ “môi sinh” thực sự phản ánh bản chất của môi trường loại này
Ngoài ra, theo các thành phần tự nhiên có thể phân thành môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí Những cách phân loại như trên hoặc sâu hơn nữa chỉ là tương đối, tuỳ theo mục đích của nghiên cứu trong mỗi một lĩnh vực cụ thể nào đó
Nghiên cứu về các cơ thể sống ta có khái niệm về “môi trường sống” Môi trường sống là tổng hợp các điều kiện bao quanh có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của các cơ thể sống
Môi trường sống của con người
Đối với con người thì môi trường chứa đựng nội dung rộng hơn Theo định nghĩa của UNESCO (1981) thì “Môi trường sống của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống
tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, như những cái hữu hình (như các thành phố, các hồ chứa ) và những cái vô hình (như tập quán, nghệ thuật ), trong đó con người sống và bằng lao động của mình họ khai thác các TN thiên nhiên và nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình” Như vậy, môi trường sống của con người không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật là con người, mà còn là
“khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự nghỉ ngơi của con người”
Đối tượng nghiên cứu của chúng ta hiện nay chính là môi trường sống của con người Thuật ngữ môi trường thường dùng phổ biến hiện nay cũng đã bao hàm khía cạnh nói về môi trường sống của con người
Trang 134
Theo quan điểm của khoa học hiện đại người ta xem trái đất như một con tàu vũ trụ lớn du hành trong vũ trụ bao la mà con người chúng ta là những hành khách đi trên con tàu đó, thì môi trường sống của con người theo nghĩa rộng phải là cả vũ trụ bao la, trong đó các yếu tố của Trái đất và các hành tinh thuộc hệ Mặt trời là các yếu tố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt nhất đến con người
Con người trên trái đất từ khi sơ khai cho đến ngày nay luôn sống trong cộng đồng
xã hội có tổ chức chặt chẽ và phát triển ngày càng cao hơn Vì thế, con người sống trong môi trường không chỉ chịu tác động của các điều kiện tự nhiên mà cả của các điều kiện
xã hội nên môi trường sống của con người là bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường
xã hội Mở rộng hơn nó còn bao gồm thêm cả môi trường nhân tạo do con người tạo ra bằng các kỹ thuật của mình
- Môi trường tự nhiên biểu thị thế giới vật chất bao quanh con người, thông qua các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học, nó tác động đến con người
- Môi trường xã hội là tổng hợp các mối quan hệ xã hội có tổ chức của con người, trong đó mỗi con người là thành viên của cộng đồng, chịu sự chi phối và tác động của các điều kiện xã hội đó Trong thực tế, mỗi con người luôn chịu tác động mạnh mẽ của các yếu tố tự nhiên và xã hội và chỉ có thể tồn tại và phát triển tốt nếu hoà đồng được trong các điều kiện của chúng
- Môi trường nhân tạo bao gồm tất cả những nhân tố vật lý, hoá học, sinh học…
do con người tạo nên phù hợp với mong muốn và chịu sự chi phối của con người Nếu xã hội càng phát triển hiện đại, thì tác động của các yếu tố của môi trường nhân tạo đến đời sống con người sẽ ngày càng tăng lên
Sự tồn tại và phát triển của con người luôn phụ thuộc vào “chất lượng của môi trường sống” Quá trình phát triển kinh tế xã hội của con người ngày nay luôn có các tác động tích cực và tiêu cực đến chất lượng của môi trường sống Tác động tiêu cực, thí dụ như gây ô nhiễm môi trường đã và đang làm suy giảm nhanh chóng chất lượng môi trường sống của con người đang là điều lo ngại và đáng quan tâm nhất của nhân loại ngày nay
Để con người trên trái đất tồn tại và phát triển một cách bền vững, thì môi trường sống của con người cần phải được bảo vệ Nếu chất lượng của môi trường sống bị giảm sút thì con người sẽ bị ảnh hưởng ngay và nếu chất lượng của môi trường sống giảm đến một mức độ nguy hiểm thì có thể dẫn đến các hiểm hoạ không thể lường được mà các thế
hệ con cháu mai sau sẽ phải gánh chịu Cũng cần lưu ý rằng, việc phá hoại và làm suy giảm chất lượng môi trường thì rất dễ và nhanh chóng, nhưng khi mà chất lượng của môi trường đã suy giảm đến mức độ nguy hiểm thì việc làm tốt lại sẽ vô cùng khó khăn, tốn kém và cũng phải trong một thời gian rất dài mới khôi phục lại được Vì thế, việc bảo vệ môi trường sống luôn là vấn đề quan trọng và cấp thiết của nhân loại trong quá trình sống
và phát triển của mình
1.1.2 Môi trường tự nhiên
Môi trường sống của con người và các sinh vật khác là cả vũ trụ bao la, trong đó
hệ mặt trời và trái đất là bộ phận ảnh hưởng trực tiếp nhất Các thành phần của môi trường
Trang 14Xem xét về phương diện sinh học thì môi trường của trái đất còn thêm một thành phần nữa là sinh quyển Đó là thành phần hữu sinh (có sống), là thế giới sinh vật nằm trong khí quyển, thạch quyển, thủy quyển và chúng cũng luôn tác động lên bất kỳ một sự vật hay sự kiện nào sống trong môi trường Sau đây là thành phần và những đặc điểm chủ yếu của 4 quyển trên của môi trường trái đất
1.1.2.1 Khí quyển
Khí quyển là lớp vỏ khí bao quanh trái đất được cấu tạo bởi nhiều hợp chất khác nhau Đây là môi trường để truyền bức xạ mặt trời vào trái đất như bức xạ hồng ngoại, tử ngoại, tia rơn ghen và tia gamma Thành phần chủ yếu của khí quyển ở gần bề mặt trái đất: nitơ (chiếm khoảng 78%), ô xy (khoảng 20.9%), cacbonic (khoảng 0.03%), hơi nước
và một số khí khác như heli, agon, bụi
Cấu trúc của khí quyển có thể chia làm 2 phần, trong đó phần trong của khí quyển gồm các tầng đối lưu, tầng bình lưu, tầng trung gian và tầng ion, còn phần ngoài là tầng điện ly
Tầng đối lưu ở độ cao từ 0 đến 11 km kể từ mặt đất Nhiệt độ trong tầng đối lưu giảm dần theo độ cao từ +400C đến -560C Đây là tầng quyết định khí hậu của trái đất, với thành phần chủ yếu là N2, O2, CO2 và hơi nước Trong tầng này có sự xáo trộn mạnh dòng hỗn hợp khí và những đám mây hơi nước Các chất ô nhiễm sinh ra do hoạt động của tự nhiên và con người cũng dễ dàng bị xáo trộn để pha loãng hoặc biến đổi trong tầng đối lưu này
Tầng bình lưu ở độ cao từ 11 km đến 50 km Theo độ cao, nhiệt độ trong tầng bình lưu lại tăng dần theo độ cao từ -560C đến -20C Thành phần chủ yếu của tầng bình lưu là các khí ozon, ô xy, nitơ và một số khí gốc hóa học khác Ozon đóng vai trò quan trọng trong tầng bình lưu, nó hoạt động như một lớp màng bao bọc bảo vệ trái đất khỏi những ảnh hưởng độc hại của tia tử ngoại từ mặt trời chiếu xuống Vì sự xáo trộn chậm chạp của không khí ở tầng bình lưu nên thời gian lưu của các phần tử hóa học ở vùng này khá lâu Nếu một chất ô nhiễm bằng cách nào đó đến được tầng bình lưu thì chúng sẽ gây nhiễm độc lâu dài nếu so sánh tác động của nó với các chất khác ở tầng đối lưu dày đặc
Sự tăng nhiệt độ ở tầng bình lưu có thể giải thích là do ozon ở đây hấp thụ tia tử ngoại và tỏa nhiệt ra bên ngoài
Tầng trung gian hay còn gọi là tầng trung quyển nằm trên tầng bình lưu ở độ cao
từ khoảng 50 km đến khoảng 85 km Nhiệt độ trong tầng này lại giảm theo độ cao từ khoảng -2oC đến khoảng -92oC Thành phần chủ yếu của không khí trong tầng này gồm các khí ô xy, ni tơ… và một số i on như NO+, O+
Trang 156
Tầng ion hay còn gọi là tầng điện ly hoặc tầng nhiệt quyển nằm ngoài tầng trung
quyển ở độ cao từ khoảng 85 km trở lên Nhiệt độ tăng theo độ cao từ -92oC đến 1200oC
Tại đây do bức xạ mặt trời, nhiệt độ tăng dần theo độ cao, nhiều phản ứng hóa học xảy ra
với oxy, ozon, nitơ, hơi nước và sau đó ion hóa thành các ion như NO+, O+, NO2-
Tầng nhiệt quyển ở độ cao khoảng 800 km, nhiệt độ đạt đến khoảng 1700 0C
Khí quyển đóng vai trò quan trọng trong việc giữ cân bằng nhiệt của trái đất thông
qua quá trình hấp thụ tia tử ngoại phát xạ từ mặt trời đến và phản xạ tia nhiệt từ mặt đất
lên Nó là nguồn cung cấp O2, CO2, cần thiết cho sự sống trên trái đất, cung cấp nitơ cho
quá trình cố định đạm ở thực vật Hơn thế nữa khí quyển còn là môi trường để vận chuyển
nước từ đại dương vào đất liền tham gia vào chu trình thủy văn
Đáng tiếc là con người cùng với sự tiến bộ trong khoa học và kỹ thuật ngày nay
đã và đang xả các loại khí thải vào khí quyển, làm khí quyển mất dần sự trong lành và đe
doạ sự sống của chính con người
Hiện nay chất lượng của khí quyển ngày càng bị tác động theo chiều hướng xấu
đi do các hoạt động của con người, đặc biệt là tác động của các khí thải công nghiệp đã
gây nên tình trạng ô nhiễm không khí, gây nên hiệu ứng nhà kính cũng như hiện tượng lỗ
thủng tầng ôzon ngày càng lan rộng đe doạ cuộc sống của con người Trong chương 5
sẽ trình bày rõ về các hiện tượng này
1.1.2.2 Thủy quyển
Bao gồm tất cả các dạng nước có trên trái đất như nước mặt trong các đại dương,
biển, các sông, hồ trên mặt đất, băng tuyết trên mặt đất và ở hai cực của trái đất và cả
Hình 1.1 Cấu trúc của khí quyển
Trang 167
nước ngầm trong các lớp tầng đất dưới sâu Thủy quyển có khối lượng ước tính vào
khoảng 0,03% tổng khối lượng trái đất
Thủy quyển là một thành phần vô cùng quan trọng của môi trường, vì rằng nước
là một yếu tố không thể thiếu đối với sự sống của mọi sinh vật trên trái đất và cho việc
duy trì và phát triển của mọi hệ sinh thái Thủy quyển cũng là nơi tàng trữ nhiều nguồn
TN sinh thái vô cùng phong phú, rất cần cho sự phát triển của con người
Trong thủy quyển thì nước trong các sông hồ và nước ngầm là gần gũi nhất đối
với sự sử dụng của con người So với lượng nước trong toàn bộ thủy quyển, lượng nước
này chỉ là một phần rất nhỏ bé, nhưng cực kỳ quan trọng, đòi hỏi chúng ta phải biết khai
thác và sử dụng một cách thật hợp lý và hiệu quả nhất Hiện nay con người trong khai
thác và sử dụng nguồn nước còn chưa quan tâm đúng mức đến việc bảo vệ nguồn nước
khiến cho nguồn nước của nhiều sông, hồ đang trong tình trạng suy thoái và bị ô nhiễm
ngày càng nghiêm trọng, đe doạ sự phát triển lâu bền của nhân loại
1.1.2.3 Thạch quyển
Thạch quyển là lớp vỏ rắn ngoài của trái đất có chiều sâu từ 0 đến 100 km Thành
phần của thạch quyển trên mặt là các lớp đất - sản phẩm phong hoá của các lớp đá trên
bề mặt qua hàng ngàn năm - và các lớp khoáng vật dưới sâu Cấu trúc của thạch quyển
như ở Hình 1.3
Trong thạch quyển, đất là thành phần quan trọng nhất, bao gồm các chất khoáng,
chất hữu cơ, không khí và nước và cả các vi sinh vật Trong quá trình phát triển của mình,
con người đã khai thác TN đất và các TN khoáng sản trong thạch quyển và thải ra nhiều
chất thải rắn, chất thải lỏng độc hại làm ô nhiễm đất
Hình 1.2 Chu trình nước trên trái đất
Trang 178
Thạch quyển cĩ vai trị to lớn đối với chế độ khí hậu, mặc dù phần thạch quyển trên các lục địa - phần cĩ ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ khí hậu - chỉ chiếm khoảng 1/4 diện tích bề mặt Trái đất
Sự nĩng lên và lạnh đi nhanh chóng trong ngày cũng như trong năm của phần thạch quyển này dẫn đến sự khác biệt về phân bố nhiệt độ giữa các mặt đệm khác nhau Đấy là nguyên nhân trực tiếp sinh ra các dịng khơng khí trên Trái đất, tuy nhiên các dạng địa khác nhau của thạch quyển cũng làm thay đổi các dịng khơng khí này
Ngồi ra, do dạng địa hình của thạch quyển mà các hải lưu trên trong các đại dương cũng bị thay đổi, như chúng tạo ra các dịng bờ đơng và bờ tây,
Ngồi ra, thạch quyển cịn trao đổi động lượng, nhiệt lượng, sol khí với khí quyển, đặc biệt là trong lớp biên khí quyển
Khác với khí quyển, thạch quyển và thủy quyển, sinh quyển khơng cĩ giới hạn rõ rệt vì nĩ nằm trong cả ba thành phần mơi trường kể trên và khơng hồn tồn liên tục, vì
sự sống chỉ tồn tại và phát triển trong những điều kiện nhất định Vùng sinh quyển nơi sự sản xuất sinh học diễn ra mạnh mẽ dưới dạng quang hợp thì lại hẹp hơn nhiều và thay đổi
Hình 1.3 Cấu trúc của thạch quyển
Vỏ cứ ng trá i đấ t
Khí quyể n Thủ y quyể n Địa quyể n
Vù ng trê n Vù ng chuyể n tiế p
5100 2900
0 40 400 900
Trang 189
từ một vài cm đến trên 100m Thí dụ trong nước có độ đục lớn thì lớp này không dày lắm,
ngược lại ở vùng nước đại dương trong suốt thì lớp này có thể dày đến hơn 100m
Nói chung, sinh quyển là một hệ sinh hoá có khả năng thu nhận, chuyển hoá, tồn
trữ và sử dụng năng lượng mặt trời Qua hoạt động của các sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu
thụ và sinh vật phân huỷ mà quá trình chu chuyển vật chất từ dạng này sang dạng khác
cần cho sự sống không ngừng thực hiện, làm cho sinh quyển phát triển thành một hệ có
khả năng tự điều chỉnh với những sự cân bằng và kiểm soát sinh thái trong các thành phần
khác nhau của nó
Sinh quyển, ngoài chứa các vật chất và năng lượng nó còn chứa các thông tin sinh
học với tác dụng duy trì cấu trúc và cơ chế tồn tại và phát triển của các sinh vật sống
Dạng thông tin phức tạp và phát triển cao nhất là trí tuệ con người
1.1.3 Môi trường nhân tạo và môi trường xã hội
1.1.3.1 Môi trường nhân tạo
Môi trường nhân tạo là kết quả lao động của con người, nó tồn tại hoàn toàn phụ
thuộc vào con người Nếu không có bàn tay chăm sóc của con người, thì các thành phần
của môi trường nhân tạo sẽ bị hủy hoại
Môi trường nhân tạo: gồm các yếu tố nhân tạo có tính chất vật lý, thành phần hoá
học, sinh học, tính xã hội.v.v… do con người tạo dựng và chịu sự chi phối của con người
Môi trường nhân tạo là tất cả những gì con người tạo ra trong quá trình tồn tại và
phát triển Nó gồm các thành phần vật chất và phi vật chất
Thành phần vật chất của môi trường nhân tạo bao gồm các cơ sở hạ tầng đô thị,
khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các cơ sở chăn nuôi và trồng trọt áp dụng công nghệ
cao, cơ sở nghiên cứu khoa học và các cơ sở vật chất khác để tạo ra các điều kiện phục
vụ ăn, ở, làm việc, nghiên cứu khoa học, đi lại và nghỉ ngơi giải trí không giống như môi
trường tự nhiên
Hình 1.4 Quan hệ sinh quyển với các quyển khác trên trái đất
Trang 1910
Môi trường nhân tạo là môi trường mà ở đó các yếu tố đều do con người khai thác tái tạo theo những nhu cầu đời sống của mình và xã hội, từ môi trường tự nhiên con người khai thác tác động vào nó để tái tạo chế biến thành những sự vật có chức năng khác nhau
Các thành phần phi vật chất của môi trường nhân tạo bao gồm kinh tế xã hội, trình
độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, cách ứng xử, công ăn việc làm, ý thức cộng đồng và tư duy con người Nó là kết quả của việc tổ chức cuộc sống của con người, có liên quan chặt chẽ và phụ thuộc vào khung cảnh sống và không gian sống do chính con người tạo ra Môi trường sống có bền vững hay không phụ thuộc vào những yếu tố này Nó cho thấy
sự tiến bộ và trình độ phát triển của con người Ba vấn đề kinh tế xã hội, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật của môi trường phi vật chất có tính chất quyết định sự phát triển của văn minh loài người
1.1.3.2 Môi trường xã hội
Môi trường xã hội là môi trường mà con người là nhân tố trung tâm, tham gia và chi phối môi trường Môi trường xã hội bao gồm: chính trị, kinh tế, văn hoá, thể thao, lịch
sử, giáo dục xoay quanh con người và con người lấy đó làm nguồn sống, làm mục tiêu cho mình
Môi trường xã hội tốt thì các nhân tố cấu thành môi trường sẽ bổ trợ cho nhau, con người sống sẽ được hưởng đầy đủ các quyền: sống, làm việc, cống hiến, hưởng thụ
Môi trường xã hội được coi là xấu khi có nhiều tệ nạn xã hội, bất công xã hội và cấu trúc xã hội thiếu ổn định
Mặt trái của môi trường xã hội là các tệ nạn xã hội
Tệ nạn xã hội là các hiện tượng phổ biến trong xã hội có giai cấp Chúng thường được biểu hiện ở những hành vi sai lệch với chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức và pháp luật, gây hậu quả xấu về mọi mặt đối với đời sống xã hội, cản trở tiến bộ xã hội của nền văn hóa lành mạnh
Có nhiều tệ nạn xã hội, thí dụ như: nghiện ma túy, cờ bạc, mê tín, tham nhũng, bộ máy quan liêu, tảo hôn, ấu dâm, cờ bạc, ma túy, mại dâm, Tệ nạn là một trong những nguyên nhân chính phát sinh ra tội phạm, những đối tượng nguy hiểm cho xã hội Các tệ nạn xã hội còn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Tệ nạn xã hội ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tinh thần và đạo đức con người, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, rối loạn trật tự xã hội, suy thoái giống nòi, dân tộc, văn hóa suy đồi Làm mất tư cách của một người công dân, gây ảnh hưởng sâu sắc đến nguồn lao động trẻ Người mắc tệ nạn xã hội cũng ít nhiều nêu gương xấu cho thế hệ sau Ma túy, mại dâm là những con đường ngắn nhất làm lây truyền HIV/AIDS, …
Khi nghiên cứu về môi trường xã hội liên quan đến đến các dự án đầu tư cần quan tâm đến các nội dung sau:
- Đặc điểm dân số, dân tộc, nhân khẩu, lao động, nghề nghiệp
- Đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo, di tích lịch sử, khảo cổ
Trang 20- Vốn con người: nhân khẩu và lao động; nghề nghiệp; trình độ học vấn nguồn nhân lực; sức khỏe của nguồn nhân lực; các nhóm yếu thế: dân tộc thiểu số, nữ chủ hộ, nhóm nghèo
- Vốn tài nguyên: đất sản xuất các loại như đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất ngập nước nuôi trồng thủy sản, đất thổ cư và vườn nhà
- Vốn vật chất: nhà ở, nước sạch và vệ sinh; phương tiện sinh hoạt, sử dụng năng lượng; phương tiện sản xuất-kinh doanh
- Vốn tài chính: thu nhập hộ gia đình; tình trạng vay vốn
- Vốn xã hội: sinh hoạt cộng đồng; hoạt động sinh kế của hộ gia đình
Trong chu trình thực hiện các dự án đầu tư cần chú ý đánh giá tác động kinh tế,
xã hội tiềm năng của dự án đến các hộ gia đình; tác động đến sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp; tác động tăng cường tiếp cận đến nước sạch và vệ sinh nhờ dự án cung cấp nước sạch; tác động đến sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu…
Đặc biệt trong đánh giá tác động môi trường và xã hội của các dự án đánh giá tác động thu hồi đất và tái định cư là không thể thiếu
1.1.4 Các yếu tố môi trường và quan hệ giữa các thành phần môi trường
1.1.4.1 Các yếu tố môi trường
Yếu tố môi trường đối với các sinh vật bao gồm cả con người là tổ hợp của các yếu tố khí hậu, sinh thái học, xã hội và thổ nhưỡng tác động lên cơ thể sống và xác định các hình thức sinh tồn của chúng Vì thế, môi trường bao gồm tất cả mọi thứ mà có thể
có ảnh hưởng trực tiếp đến sự trao đổi chất hay các hành vi của các cơ thể sống hay các loài, bao gồm ánh sáng, không khí, nước, đất và các cơ thể sống khác Yếu tố môi trường
là những yếu tố biểu thị các đặc tính của môi trường, thí dụ như ánh sáng, nhiệt độ, thức
ăn, bệnh tật Thông qua giá trị các yếu tố môi trường có thể biết được chất lượng của môi trường sống xung quanh ta, như chất lượng không khí, chất lượng nước, chất lượng đất…
1.1.4.2 Quan hệ giữa môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo
Quan hệ giữa con người và môi trường được thể hiện thông qua 2 hệ thống luôn tồn tại song song, đó là hệ thống kinh tế xã hội và hệ thống môi trường
Trang 2112
Hệ thống kinh tế xã hội là hệ thống trong đó diễn ra các hoạt động sinh sống và phát triển kinh tế của con người, qua đó con người sử dụng TN tự nhiên để tạo ra các sản phẩm vật chất đáp ứng yêu cầu của con người Quan hệ giữa 2 hệ thống này được biểu thị như trên Hình 1-5
Nói chung, hệ môi trường tự nhiên cung cấp các TN cần thiết cho hệ kinh tế xã hội, đồng thời nó cũng tiếp nhận các chất thải của các hoạt động phát triển trong hệ kinh
tế xã hội tạo ra Tất cả những hoạt động phát triển nào tạo ra nhiều chất thải độc hại, các chất mà phế thải không được xử lý, tái chế hoặc sử dụng trở lại thì được coi là những hoạt động gây ô nhiễm môi trường
Một hoạt động được coi như không gây ô nhiễm môi trường nếu như hai dòng TN
và phế thải tạo thành một vòng khép kín, trong đó có sự tái chế và sử dụng lại các chất phế thải
Ngày nay, trong hoạt động kinh tế, con người nếu chỉ chú trọng chạy theo phát triển sản xuất, gia tăng lợi nhuận, khai thác cạn kiệt các nguồn TN, trút bừa bãi các loại phế thải vào môi trường sẽ khiến cho chất lượng môi trường sống càng ngày càng giảm sút và sẽ ảnh hưởng ngược lại đến sự phát triển của con người Con đường đúng đắn nhất của nhân loại là hướng đến một sự phát triển bền vững bằng việc khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn TN thiên nhiên, bảo vệ chúng để có thể sử dụng lâu dài, tái chế và sử dụng lại các chất thải, kiểm soát và hạn chế ô nhiễm môi trường…
Hình 1.5 Quan hệ giữa môi trường tự nhiên và nhân tạo
Trang 2213
1.1.5 Vai trò của môi trường đối với con người
Đối với một cá thể con người cũng như đối với cộng đồng nhiều người và cả xã hội loài người, vai trò của môi trường đối với con người thể hiện qua ba chức năng của môi trường như sau:
- Môi trường là không gian sống của con người
- Môi trường là nơi cung cấp nguồn TN cần thiết cho con người
- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong quá trình sống và phát triển kinh tế, xã hội
1.1.5.1 Môi trường là không gian sống của con người
Môi trường trước hết là không gian sống của con người Để sinh sống, con người cần có một phạm vi không gian nhất định biểu thị bằng độ lớn của vùng sinh sống và một chất lượng môi trường nhất định Trong mỗi vùng nhất định, độ lớn không gian sống của con người biểu thị qua giá trị bình quân diện tích đất tính theo một đầu người trong vùng, hay biểu thị gián tiếp qua mật độ dân cư (số dân sống trên 1 km2)
Trái đất, không gian sống của toàn thể nhân loại có độ lớn xác định và gần như không thay đổi qua hàng triệu năm, nhưng dân số loài người trên trái đất lại tăng lên không ngừng, từ 1/8 triệu cách đây 1 triệu năm, đã tăng đến 200 triệu vào năm đầu tiên của công nguyên, đến hết năm 2000 đã đạt hơn 6 tỷ, đến năm 2010 đạt xấp xỉ 7 tỷ và dự kiến đến năm 2030 sẽ đạt khoảng 8,5 tỷ người Do vậy, không gian sống của con người
cứ thu hẹp dần Với tổng diện tích trái đất là 15 tỷ ha vào năm đầu công nguyên bình quân mỗi người có thể sử dụng 75 ha, đến năm 2020 khi dân số trên trái đất đạt mức 7,8 tỷ sẽ chỉ còn chưa đầy 2 ha Sự hạn chế của không gian sống còn bị sự phân bố không đều của dân cư làm thêm căng thẳng Tại các vùng đô thị, khu công nghiệp tập trung đông dân cư thì không gian sống của con người bị thu hẹp rất nhiều, thậm chí chỉ bằng một phần trăm hoặc một phần ngàn của trị số trung bình trên trái đất
Con người đòi hỏi không gian sống không chỉ cần có phạm vi rộng mà còn cần có
cả chất lượng môi trường sống tốt lành Không gian sống có chất lượng cao trước hết phải sạch sẽ, tinh khiết, ít chứa các chất độc hại đến sức khoẻ của con người Không gian sống cũng phải đẹp đẽ, thoả mãn các yêu cầu về tâm lý, thẩm mỹ của con người Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng trong tiến trình phát triển, nhất là trong thế kỷ gần đây nhất, sự phát triển của khoa học kỹ thuật một mặt tạo ra khả năng cải tạo và nâng cao chất lượng môi trường sống, nhưng sự phát triển đến một mức độ nhất định thì chính nó lại có thể nảy sinh các biểu hiện làm suy giảm chất lượng của môi trường mà điển hình là gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường, xâm phạm và phá hoại cảnh quan vốn có của môi trường tự nhiên
1.1.5.2 Môi trường là nơi cung cấp TN thiên nhiên cho con người
Con người để tồn tại và phát triển phải sử dụng các TN thiên nhiên, TN sinh học, các nguồn năng lượng, tất cả đều lấy từ môi trường
Trang 2314
Tất cả các nền sản xuất của con người, từ săn bắt, hái lượm, qua nông nghiệp, đến công nghiệp đều phải sử dụng các nguồn nguyên liệu như đất, nước, không khí, khoáng sản và các dạng năng lượng củi, gỗ, than đá, dầu, khí, nắng, gió, nước…bắt nguồn từ năng lượng mặt trời
Theo sự phát triển của nhân loại, yêu cầu sử dụng các nguồn TN ngày càng tăng
và điều đó dẫn đến các nguồn TN, nhất là các TN không tái tạo như các khoáng sản càng ngày càng ít dần đi và một số TN có nguy cơ cạn kiệt Đó là một nguy cơ và cũng là một thách thức đặt ra cho nhân loại cần phải khai thác và sử dụng các TN như thế nào để đảm bảo sự bền vững cho chính chúng ta và cho các thế hệ con cháu trong tương lai
1.1.5.3 Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo nên
Trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình Phế thải bao gồm nhiều dạng, nhưng chủ yếu chúng được tồn tại ở ba dạng là phế thải dạng khí, dạng rắn, dạng lỏng Ngoài ra còn có các dạng khác như nhiệt, tiếng ồn, hóa chất nguyên tử, phân tử, hợp chất Và tất cả các phế thải do con người tạo ra đều đưa vào môi trường Tại đây dưới tác động của vi sinh vật và các yếu tố môi trường mà các chất thải được phân hủy từ những chất phức tạp thành những chất đơn giản hơn, tham gia vào các quá trình sinh địa hóa Tuy nhiên với sự gia tăng dân số đến chóng mặt như hiện nay cộng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa thì lượng chất thải lại tăng lên không ngừng dẫn đến môi trường bị ô nhiễm ở nhiều nơi do chức năng tái tạo của của môi trường bị quá tải Khả năng thu nhận và phân hủy chất thải trong một khu vực nhất định gọi là khả năng đệm, tuy nhiên khi lượng chất thải bị vượt quá khả năng đệm hoặc trong chất thải có chứa nhiều chất độc thì vi sinh vật sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình phân hủy chất thải, từ đó chất lượng môi trường sẽ giảm và bị ô nhiễm
1.1.6 Khoa học môi trường
1.1.6.1 Đối tượng và nhiệm vụ của khoa học môi trường
Khoa học môi trường là một ngành khoa học nghiên cứu về môi trường và mối quan hệ giữa môi trường đối với các sinh vật sống cũng như giữa môi trường với con người
Trong quá trình sống, con người đã luôn nghiên cứu để khai thác các TN của môi trường phục vụ cho sự phát triển của con người Thí dụ như con người tìm mọi cách để khai thác tối đa các nguồn TN thiên nhiên, con người đã nghiên cứu và xây dựng những ngôi nhà ở tốt nhất để ở và nghỉ ngơi, đã nghiên cứu để nắm bắt các quy luật vận động của thời tiết và khí hậu, chế ngự và lợi dụng nó để phục vụ cho con người…
Bên cạnh các vấn đề khai thác và sử dụng TN môi trường, vấn đề quản lý môi trường phải được đặt ra vì nếu chỉ biết khai thác, tận dụng một chiều các TN có trong môi trường mà không biết quản lý, bảo dưỡng, sửa chữa những hư hỏng, sự cố, thì tất sẽ dẫn đến thời điểm môi trường bị hủy diệt, TN thiên nhiên sẽ bị cạn kiệt và lúc đó con người
sẽ lâm vào hoàn cảnh khó khăn khi phải đối mặt với các nguy cơ khủng hoảng môi trường
Khoa học môi trường đã xuất hiện từ lâu trong quá trình phát triển khoa học của nhân loại, nhưng chỉ từ nửa cuối của thế kỷ 20 đến nay, do vấn đề môi trường sống trên
Trang 24ra các giải pháp để giải quyết và điều hoà tốt nhất các mâu thuẫn nảy sinh giữa môi trường
và sự phát triển kinh tế xã hội, nhất là trong thời đại công nghiệp hóa và hiện đại hóa ngày nay, để đưa xã hội và môi trường sống của con người tiến đến trạng thái phát triển bền vững
1.1.6.2 Mối quan hệ của khoa học môi trường với các ngành khoa học khác
a) Khoa học môi trường là một khoa học liên ngành
Phạm vi nghiên cứu của khoa học môi trường rất rộng, bao gồm tất cả những yếu
tố của các thành phần môi trường như khí quyển, thủy quyển, thạch quyển và sinh quyển tác động đến hoạt động sống và phát triển của con người và các mối tương tác qua lại giữa chúng… nên khoa học môi trường là một ngành khoa học liên ngành Khi giải quyết các vấn đề môi trường, nói chung cần phải có sự kết hợp các kiến thức cũng như các chuyên gia của nhiều ngành khoa học khác nhau bao gồm các ngành khoa học tự nhiên
và các ngành khoa học xã hội
b) Các ngành khoa học tự nhiên có liên quan mật thiết với khoa học môi trường
- Sinh học: là khoa học nghiên cứu về sự sống và các sinh vật
- Sinh thái học: là khoa học nghiên cứu về mối tương quan giữa sinh vật và môi trường
- Các ngành khoa học về trái đất: Địa lý học, địa chất học, địa chất thủy văn, hải dương học, thủy văn học là các khoa học nghiên cứu về những thành phần của môi trường tự nhiên
c) Các ngành khoa học xã hội có liên quan mật thiết với khoa học môi trường Các ngành khoa học xã hội, kinh tế, khoa học nhân văn, chính trị, luật pháp Nghiên cứu giải quyết các mối quan hệ trong phát triển kinh tế xã hội, xây dựng các luật pháp và các chính sách quản lý và bảo vệ môi trường
Các ngành khoa học công nghệ, kỹ thuật: Các ngành khoa học kỹ thuật công nghệ cũng rất cần thiết để giải quyết các vấn đề môi trường, thí dụ như trong việc quy hoạch thiết kế hệ thống xử lý nước thải, nhà máy xử lý nước thải…
d) Các phân môn của khoa học môi trường
Qua việc ứng dụng của các ngành khoa học khác vào trong lĩnh vực môi trường
mà trong khoa học môi trường đã có nhiều phân môn khác nhau, trong đó các phân môn chủ yếu như:
- Sinh học môi trường ứng dụng những công nghệ sinh học vào ngành môi trường;
Trang 25- Kinh tế - xã hội môi trường nghiên cứu về mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế xã hội, đề xuất các mô hình phát triển kinh tế xã hội không gây tác động tiêu cực đến môi trường…
- Y học môi trường nghiên cứu các ảnh hưởng của môi trường đến sức khỏe con người, các bệnh liên quan đến môi trường và tác động của con người đến môi trường và
đề xuất các giải pháp phòng tránh các bệnh nghề nghiệp và các bệnh liên quan đến môi trường khác…
1.2 Phát triển và tác động đến môi trường
1.2.1 Khái niệm phát triển truyền thống
Phát triển kinh tế xã hội gọi tắt là phát triển là quá trình sử dụng các nguồn TN của tự nhiên để đáp ứng những nhu cầu về cải thiện chất lượng cuộc sống của con người Các hoạt động phát triển nhằm nâng cao điều kiện vật chất và tinh thần của con người bằng phát triển lực lượng sản xuất, thay đổi quan hệ sản xuất, quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa
Một định nghĩa khác của phát triển theo Davit Munro thì “phát triển là bất kỳ và toàn bộ những loại hoạt động và quá trình làm tăng được năng lực của con người hoặc môi trường để đáp ứng những nhu cầu của con người hoặc nâng cao chất lượng cuộc sống con người”
Sản phẩm của sự phát triển là mọi người được mạnh khoẻ, được nuôi dưỡng tốt,
có quần áo mặc, có nhà ở, được tham gia vào công việc sản xuất mà họ được đào tạo tốt
và có thể hưởng thụ thời gian rảnh rỗi và giải trí mà tất cả mọi người có nhu cầu
Như vậy, phát triển không chỉ bao hàm việc khai thác và chế biến các nguồn TN, xây dựng cơ sở hạ tầng, mua và bán sản phẩm mà còn gồm cả những hoạt động không kém phần quan trọng như chăm sóc sức khoẻ, an ninh xã hội, giáo dục, bảo tồn thiên nhiên và hỗ trợ văn học nghệ thuật
Phát triển là một tổ hợp phức tạp các hoạt động, một số có mục tiêu xã hội, một
số có mục tiêu kinh tế, một số dựa trên cơ sở nguồn TN vật chất, một số dựa vào nguồn
TN trí tuệ, tất cả đều tạo khả năng cho con người đạt được toàn bộ tiềm năng của mình
và được hưởng một cuộc sống tốt lành
Các hoạt động phát triển nhằm đạt đến một mục tiêu nhất định Các mục tiêu đó thường được cụ thể hóa bằng những chỉ tiêu về đời sống vật chất như lương thực, nhà ở, năng lượng, vật liệu, điều kiện sức khỏe và về đời sống tinh thần như giáo dục, hoạt động văn hóa nghệ thuật, bình đẳng xã hội, tự do chính trị Mục tiêu của các hoạt động phát triển tuỳ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế, chính trị, truyền thống lịch sử của mỗi nước,
Trang 2617
mỗi dân tộc Mỗi nước trên thế giới đều có những đường lối, chính sách, mục tiêu và chiến lược phát triển riêng, do đó đã đem lại những hiệu quả phát triển rất khác nhau và tạo ra sự phân hoá ngày càng lớn lao về kinh tế - xã hội
Trong toàn bộ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, mỗi nước vạch ra chiến lược phát triển của mình Chiến lược phải nêu những mục tiêu cần thiết, nhưng đồng thời phải hợp lý và khả thi cho từng giai đoạn phát triển Từ chiến lược, các kế hoạch dài hạn, kế hoạch trung hạn và kế hoạch ngắn hạn được xác định đối với cả nước, đối với từng vùng
và từng từng ngành kinh tế quốc dân Các kế hoạch này lại được cụ thể hóa bằng các chương trình hành động, các đề án công trình hoặc các luật lệ qui định đảm bảo cho việc thực hiện đúng đắn và nghiêm túc những chỉ tiêu kế hoạch - Đó là những “hoạt động phát triển” Hoạt động phát triển này tác động mạnh mẽ đến các nguồn TN và môi trường
1.2.2 Phát triển bền vững và các điều kiện
1.2.2.1 Khái niệm phát triển bền vững
Phát triển bền vững (PTBV) là một khái niệm mới về sự phát triển xuất hiện trên thế giới trong vài thập kỷ gần đây Khái niệm này được đưa ra khi mà mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển đã trở thành sâu sắc ở nhiều nước trên thế giới do con người đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế mà không quan tâm đúng mức đến bảo vệ môi trường Điều đó khiến cho nhiều TN thiên nhiên bị sử dụng quá mức đang tiến đến nguy cơ bị cạn kiệt, ô nhiễm môi trường gia tăng, đe doạ sự phát triển lâu bền của nhân loại
Thuật ngữ PTBV có nguồn gốc từ những năm 70 của thế kỷ 20 và lần đầu tiên đã khuấy động thế giới về Môi trường và phát triển quốc tế nhờ sự ra đời và xuất bản cuốn sách có nhan đề “Chiến lược bảo tồn thế giới” (1980) Tác phẩm này đã được phổ biến rộng rãi nhờ có Báo cáo Brundland “Tương lai của chúng ta” (1987) và đã được làm chi tiết hơn trong hai tài liệu khác là “Chăm lo cho trái đất ” (1991) và “Lịch trình Thế kỷ 21” (1992)
PTBV theo Hội đồng thế giới về Môi trường và Phát triển1 (WCED) được nêu trong cuốn “Tương lai của chúng ta” là “sự phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ ngày nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”
Theo Luật BVMT 2014: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội
và bảo vệ môi trường” [1]
Trong cuốn “Chăm lo cho trái đất” thì PTBV được định nghĩa là “sự nâng cao chất lượng đời sống con người trong lúc đang tồn tại, trong khuôn khổ đảm bảo của các
hệ thống sinh thái”, còn tính bền vững là “một đặc điểm đặc trưng của một quá trình hoặc một trạng thái có thể duy trì mãi mãi”
1 Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) là một ủy ban quốc tế thảo luận và đưa
ra các chiến lược bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững
Trang 2718
Theo Davit Munro thì “bền vững không phải là một mục tiêu chính xác mà là một tiêu chuẩn đối với quan điểm và hành động Đó là một quá trình tiếp diễn, có tính lặp đi lặp lại, thông qua đó kinh nghiệm trong việc quản lý các hệ thống phức hợp được tích luỹ lại, được đánh giá và vận dụng”
Theo Stephen Viedrman thì “bền vững không phải là vấn đề kỹ thuật cần giải quyết mà là một tầm nhìn vào tương lai, đảm bảo cho chúng ta một lộ trình và giúp sự tập trung chú ý vào một tập hợp các giá trị và những nguyên tắc mang tính luân lý và đạo đức hướng dẫn hành động của chúng ta”
Một trong những đặc trưng chủ yếu của PTBV là nó buộc ta phải xem xét nhiều khía cạnh trong tình hình toàn bộ khung cảnh và ở tầm dài hạn Nếu PTBV như trong cuốn “Chăm lo cho trái đất” là nâng cao chiến lược cuộc sống con người trong khuôn khổ hạn chế các nguồn TN thiên nhiên, thì như Munro đã vạch ra, sự PTBV bao gồm các khía cạnh về xã hội, môi trường cũng như kinh tế
Để sự phát triển được bền vững thì nó phải có tính liên tục mãi mãi, hoặc các lợi ích của nó phải được duy trì không hạn định Điều này có nghĩa là quá trình hoặc hoạt động có liên quan, hoặc hoàn cảnh diễn ra phải không được chứa đựng một yếu tố nào có thể hạn chế thời gian tồn tại của nó
Một số những trình bày trên chỉ rõ các nhận thức về sự bền vững cũng như khái niệm PTBV hiện hành Khái niệm này cũng vẫn được nhiều học giả tiếp tục nghiên cứu
và mở rộng nhất là về sử dụng trong thực tế
Từ các định nghĩa và khái niệm nêu trên, có thể thấy rõ là PTBV đòi hỏi các TN phải được sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả với những phương thức khôn khéo, thông minh để TN không bị suy thoái và có thể sử dụng lâu dài PTBV đòi hỏi trong khi tiến hành các hoạt động phát triển ngoài việc đảm bảo các mục tiêu kinh tế, còn phải đảm bảo các mục tiêu phát triển xã hội và bảo toàn các nhân tố sinh thái của môi trường Nói cách khác, trong phát triển phải thực sự coi trọng yêu cầu bảo vệ môi trường
Bảo vệ là sự quản lý sinh quyển một cách chặt chẽ để đảm bảo cho sử dụng các nguồn TN tái tạo đúng với khả năng của chúng, mang lại lợi ích tối đa, không làm giảm sút khả năng hồi phục và tiềm năng sản xuất của TN trong tương lai Nó là hoạt động có
ý nghĩa tích cực, bao gồm cả bảo quản, duy trì, sử dụng hợp lý, hồi phục và nâng cao hiệu suất sử dụng các TN thiên nhiên, nhất là đối với các nguồn TN tái tạo Vì thế, bảo vệ là một nhân tố không thể thiếu trong PTBV
Có thể nói PTBV là phương thuốc để phòng tránh tổng hợp các nguy cơ suy thoái môi trường và đảm bảo cuộc sống của nhân loại được lâu dài Đó là niềm hy vọng của nhân loại bước vào thế kỷ 21
Cho đến nay, định nghĩa của WCED về PTBV được coi là phổ biến nhất và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới Tuy nhiên, định nghĩa này còn mang tính nguyên lý và chưa phải là một định nghĩa để dẫn đến một phương thức hành động trong quy hoạch và quản lý các TN thiên nhiên để đạt đến sự bền vững Cũng vì vậy, trên thực tế còn có những định nghĩa khác về PTBV, nhiều câu hỏi đặt ra cần giải đáp và cả những ý kiến
Trang 28Sự mở rộng khái niệm như trên xuất phát từ việc trả lời câu hỏi: “bản thân khái niệm PTBV đã bao gồm sự hợp lý về môi trường hay chưa”? Câu trả lời là chưa, vì khái niệm PTBV trên thực tế mới chỉ chú ý đến yếu tố kinh tế và sự khai thác TN môi trường một cách bền vững, nhưng chưa nhấn mạnh đến tầm quan trọng của yêu cầu hợp lý môi trường Cho nên, việc cộng thêm cụm từ “ hợp lý môi trường ” vào sau cụm từ PTBV thì mới đầy đủ và chặt chẽ Song để cho gọn, hiện nay trong thực tế thường nói “PTBV” thì cũng cần hiểu rằng trong đó đã bao hàm cả sự hợp lý môi trường
Một câu hỏi thường được đặt ra và phải trả lời là khái niệm phát triển truyền thống trước đây có gì khác với khái niệm PTBV mới được đề xuất? và để một hoạt động phát triển đảm bảo bền vững thì hoạt động đó phải thực hiện như thế nào?
Chúng ta có thể thấy rằng phát triển truyền thống trước đây chỉ chú ý đến hiệu quả kinh tế của khai thác và sử dụng các nguồn TN thiên nhiên, còn PTBV như định nghĩa của nó có mục tiêu rộng hơn, đòi hỏi các hoạt động phát triển phải xem xét một cách tổng hợp cả ba khía cạnh kinh tế, xã hội và sinh thái trong quá trình khai thác và sử dụng các
TN thiên nhiên cho phát triển kinh tế xã hội Nói cách khác, để PTBV phải biết tiếp cận các hệ thống kinh tế, xã hội và sinh thái trong khai thác và sử dụng TN để đem lại đồng thời các hiệu quả kinh tế, sự công bằng xã hội và sự toàn vẹn môi trường như ba đỉnh của một tam giác trong Hình 1.6
Một hoạt động phát triển chỉ chú ý đến mục tiêu kinh tế mà không chú ý đến các khía cạnh sinh thái và xã hội, nói cách khác không chú ý đến bảo vệ môi trường và các biện pháp kiểm soát chặt chẽ các tác động xấu thì phát triển đó là không bền vững và sẽ dẫn đến hai hậu quả lớn là:
- Huỷ hoại và làm cạn kiệt TN
- Gây ô nhiễm và suy thoái môi trường sống
1.2.2.2 Các điều kiện để phát triển bền vững
Trong phát triển để bảo đảm được bền vững cần bảo đảm sự bền vững về kinh tế,
về xã hội và sinh thái như đã nêu ở trên
Trang 29b) Sự bền vững về xã hội
Sự bền vững về mặt xã hội phản ánh mối quan hệ giữa phát triển với những tiêu chuẩn xã hội hiện tại Một hoạt động có tính bền vững về mặt xã hội nếu nó phù hợp với những tiêu chuẩn xã hội, hoặc không kéo chúng đi quá sức chịu dựng của cộng đồng Những tiêu chuẩn xã hội dựa vào tôn giáo, truyền thống và phong tục, có thể hoặc không thể hệ thống hoá được bằng pháp luật Chúng phải được thực hiện bằng các quan hệ đạo
lý, hệ thống giá trị, ngôn ngữ, giáo dục, gia đình và các mối quan hệ riêng tư khác, các hệ thống giai cấp và ngôi thứ, thái độ đối với công việc
Bền vững xã hội thể hiện ở chỗ tất cả các sự phát triển đều phải được xã hội chấp nhận và ủng hộ, và phải phục vụ cho mục tiêu phát triển xã hội và đảm bảo sự công bằng
xã hội Giáo dục, đào tạo, y tế, phúc lợi xã hội phải được bảo vệ và phát huy
c) Sự bền vững về sinh thái
Sự bền vững về sinh thái thể hiện ở chỗ các hoạt động phát triển khi thực hiện phải duy trì được năng lực của hệ sinh thái, đảm bảo cho các sinh vật trong hệ duy trì được năng suất, khả năng thích nghi, năng lực tái sinh Điều đó cũng có nghĩa là phải tiết kiệm và sử dụng hiệu quả các nguồn TN, duy trì và phát triển các hệ sinh thái, tính đa
Hình 1.6 Các mô hình phát triển bền vững
Trang 3021
dạng sinh học, bảo vệ chất lượng môi trường sống Các nguồn phế thải từ hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người phải được quản lý chặt chẽ, xử lý tái chế kịp thời
1.2.3 Tài nguyên và mối quan hệ với môi trường và phát triển
1.2.3.1 Khái niệm tài nguyên và phân loại tài nguyên
Tài nguyên (TN) bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng, thông tin có trên trái đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử dụng được TN là tất cả những gì có trong thiên nhiên và trong xã hội phục vụ cho cuộc sống, sản xuất và các hoạt động khác của con người
TN trước hết có thể phân thành hai loại chính là TN thiên nhiên và TN con người
TN thiên nhiên bao gồm nhiều loại như TN đất, nước, không khí, các loại khoáng sản, các loài động thực vật trên cạn và dưới nước
TN con người bao gồm nguồn nhân lực và trí tuệ của con người, cũng như tổ chức, thể chế xã hội, tập quán, tín ngưỡng mà con người xây dựng nên nhờ đó đem lại cho xã hội con người sức mạnh và khả năng hành động có hiệu quả hơn Đội ngũ công nhân, cán
bộ, người quản lý, luật pháp, cơ chế quản lý kinh tế, đoàn thể xã hội, tôn giáo cũng bao gồm trong TN con người
Theo khả năng tái tạo, TN được phân ra TN tái tạo và TN không tái tạo
TN tái tạo là TN dựa vào nguồn năng lượng được cung cấp hầu như liên tục từ vũ trụ như năng lượng mặt trời và theo các chu trình của thiên nhiên chúng có thể tự duy trì
và tái tạo cả về số lượng cũng như chất lượng, thí dụ như các TN nước, đất, rừng, năng lượng, và TN sinh học…
TN không tái tạo là TN được tồn tại một cách hữu hạn, nó sẽ mất đi hoặc bị biến đổi không còn giữ được tính chất ban đầu qua quá trình sử dụng của con người Các loại khoáng sản và nhiên liệu hoá thạch như than đá trong thiên nhiên khi bị sử dụng sẽ bị biến đổi không thể trở lại như trạng thái ban đầu nữa, những thông tin di truyền bị mai một sẽ biến mất không còn thấy trong tự nhiên được coi là những TN không tái tạo
Trái đất - nơi ở và cung cấp TN cho con người - là một hành tinh có kích thước
và độ lớn nhất định biểu thị qua đường kính và thể tích của nó Vì thế, các TN của trái đất, nhất là khối lượng các nguồn TN mà con người có thể sử dụng được là hữu hạn chứ không phải là vô hạn Việc khai thác và sử dụng các nguồn TN trên trái đất của con người luôn tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến các nguồn TN, trước tiên là làm tiêu hao về số lượng của các TN
1.2.3.2 Vai trò của TNTN với phát triển KTXH
a) TN không khí, đất, nước, năng lượng và khoáng sản
TNTN chính có trong các thành phần môi trường, là nguồn lực của tự nhiên gồm: Đất đai, không khí, nước, năng lượng, và những khoáng sản trong lòng đất… tồn tại dưới dạng tự nhiên, không phụ thuộc vào ý chí của con người TN là thành phần không thể thiếu, được khai thác, sử dụng phục vụ cuộc sống và sự phát triển của xã hội loài người
Trang 31TN thiên nhiên có vai trò quan trọng để phát triển kinh tế-xã hội, nó không chỉ cung cấp nguyên liệu và không gian cho sản xuất xã hội mà còn phục vụ cho nhu cầu sống trực tiếp của con người
b) TN khí hậu
Các yếu tố khí hậu có vai trò to lớn trong đời sống và sự phát triển của sinh vật và con người Tác động của khí hậu đến con người trước hết thông qua nhịp điệu của chu trình sống: nhịp điệu ngày đêm, nhịp điệu mùa trong năm, nhịp điệu tháng và tuần trăng Các nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy tình trạng sức khoẻ, tốc độ phát triển của sinh vật phụ thuộc vào thời điểm của các chu trình sống trên Cường độ và đặc điểm của bức xạ mặt trời có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của sinh vật và tăng trưởng sinh khối
Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình trạng sức khoẻ con người, tạo
ra sự tăng độ tử vong ở một số bệnh tim mạch, các loại bệnh tật theo mùa v.v Trong giai đoạn phát triển hiện nay của nền kinh tế và giao lưu xã hội, khí hậu, thời tiết đang trở thành một dạng TN vật chất quan trọng của con người Khí hậu thời tiết thích hợp tạo ra các khu vực du lịch, nuôi trồng một số sản phẩm động thực vật có giá trị kinh tế cao (hoa, cây thuốc, các nguồn gen quý hiếm khác.)
c) TN địa hình, cảnh quan
Ðịa hình cảnh quan là một dạng TN mới; nó tạo ra không gian của môi trường bảo
vệ, môi trường nghỉ ngơi Ðịa hình hiện tại của bề mặt trái đất là sản phẩm của các quá trình địa chất lâu dài (nội sinh, ngoại sinh) Các loại hình thái chính của địa hình là đồi núi, đồng bằng, địa hình Karst, địa hình ven bờ, các kho nước lớn (biển, sông, hồ) Mỗi loại hình thái địa hình chứa đựng những tiềm năng phát triển kinh tế đặc thù Thí dụ phát triển du lịch, phát triển nông, lâm, công nghiệp v.v
TN cảnh quan là một bộ phận của môi trường sinh thái Hạn chế những ảnh hưởng của các hoạt động xây dựng phá vỡ cảnh quan cũng chính là góp phần vào bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
Những hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng nói chung ảnh hưởng nhiều đến môi trường sinh thái và phát triển bền vững trong đó có TN cảnh quan
Trang 3223
Cảnh quan (landscape): có nhiều cách hiểu khác nhau dưới các góc độ khác nhau – Theo các nhà địa lý: cảnh quan là một bộ phận của bề mặt trái đất, có những đặc điểm riêng về địa hình, khí hậu, thuỷ văn, đất đai, động thực vật…
– Theo các nhà kiến trúc xây dựng: cảnh quan là tổ hợp của nhiều phong cảnh khác nhau, chúng tạo nên một biểu tượng thống nhất về cảnh chung của địa phương, một khu vực
Phong cảnh (paysage): phong cảnh là hình ảnh của một khu vực nhất định mà chúng ta nhìn thấy Nó có thể là cảnh tượng về núi sông, hoa cỏ, cây cối, công trình xây dựng hoặc những hiện tượng tự nhiên (mưa, tuyết…)
Cảnh quan và phong cảnh giống nhau ở chỗ chúng đều là những hình ảnh, những
“thông tin”, “ký hiệu” được con người cảm thụ và chúng tạo cho con người những cảm xúc khác nhau
Cảnh quan khác với phong cảnh ở chỗ: về mặt không gian, cảnh quan lớn hơn phong cảnh, về mặt ý nghĩa cảnh quan chứa đựng nội dung rộng lớn hơn phong cảnh
– Phong cảnh thể hiện nhiều về cảnh sắc của tự nhiên còn con người, sinh vật chi’
là những điểm xuyết trong khung cảnh thiên nhiên đó làm nâng cao giá trị của phong cảnh
– Cảnh quan chính là môi trường sống của con người bao gồm môi trường cảnh quan tự nhiên và môi trường cảnh quan nhân tạo Nó chứa đựng chất lượng về mặt sử dụng, chất lượng về môi trường và chất lượng về mặt thẩm mỹ
Hình 1.7 Vẻ đẹp kì vĩ của cảnh quan ruộng bậc thang Sapa
Trang 3324
Môi trường cảnh quan tự nhiên bao gồm:
- Địa hình: mặt đất, đồng ruộng, đồi núi…
- Không gian: gồm bầu trời và khoảng trống giữa những yếu tố của tự nhiên
- Mặt nước: biển, sông, ao, hồ, kênh, rạch
- Sinh vật: con người và động thực vật (chim thú, cây xanh, thảm thực vật…)
Môi trường cảnh quan nhân tạo bao gồm các công trình kiến trúc như các thành phố, làng mạc, nhà cửa, các công trình đô thị như cầu cống, đường xá…
Trong khái niệm về cảnh quan không có vị trí chính và phụ giữa cảnh quan tự nhiên và môi trường nhân tạo Ở một số trường hợp, yếu tố này được nhấn mạnh hơn so với những yếu tố kia và ngược lại
1.2.3.3 Mối quan hệ giữa TNTN và phát triển KTXH
a) TN thiên nhiên là một yếu tố nguồn lực quan trọng
TN thiên nhiên là một trong những yếu tố nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất Xét trên phạm vi toàn thế giới, nếu không có TN, đất đai thì sẽ không có sản xuất
và cũng không có sự tồn tại của con người Tuy nhiên, đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế, TN thiên nhiên chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ Trên thực tế, nếu công nghệ
là cố định thì lưu lượng của TNTN sẽ là mức hạn chế tuyệt đối về sản xuất vật chất trong ngành công nghiệp sử dụng khoáng quặng làm nguyên liệu đầu vào như nhôm, thép…TNTN chỉ trở thành sức mạnh kinh tế khi con người biết khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả Thực tế đã cho thấy nhiều quốc gia mặc dù có trữ lượng TN phong phú,
đa dạng, điều kiện thuận lợi, song vẫn là nước nghèo và kém phát triển, thí dụ như Cô oét, Arập-Sê út, Vê nê zuê la, Chi lê Ngược lại nhiều quốc gia có ít TN khoáng sản nhưng lại trở thành những nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Anh, Pháp, Italia…
Hình 1.8 Cảnh quan hùng vĩ của thác nước ở Tây Nguyên
Trang 3425
Có thể nói, TNTN là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển, các nước đang phát triển thường quan tâm đến việc xuất khẩu sản phẩm thô, đó là những sản phẩm được khai thác trực tiếp từ nguồn TNTN của đất nước, chưa qua chế biến hoặc ở dạng sơ chế Nguồn TNTN cũng là cơ sở để phát triển các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, công nghiệp chế biến, các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng thủy tinh, sành sứ…
b) TN thiên nhiên là cơ sở tạo tích lũy vốn và phát triển ổn định
Đối với hầu hết các nước, việc tích lũy vốn đòi hỏi một quá trình lâu dài, gian khổ liên quan chặt chẽ với tiêu dùng trong nước và thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài Tuy nhiên, có nhiều quốc gia, nhờ những ưu đãi của tự nhiên có nguồn TN lớn, đa dạng nên
có thể rút ngắn quá trình tích lũy vốn bằng cách khai thác các sản phẩm thô để bán hoặc
để đa dạng hóa nền kinh tế tạo nguồn tích lũy vốn ban đầu cho sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước
Như trên chúng ta đã thấy, nguồn TNTN thường là cơ sở để phát triển một số ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành kinh tế khác, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước Sự giàu có về TN, đặc biệt về năng lượng giúp cho một quốc gia ít bị lệ thuộc hơn vào các quốc gia khác và
có thể tăng trưởng một cách ổn định, độc lập khi thị trường TN thế giới bị rơi vào trạng thái bất ổn
c) TN thiên nhiên là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển
TN thiên nhiên là cơ sở để phát triển nông nghiệp và công nghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển ở thời kỳ đầu công nghiệp hóa như Việt Nam Tuy vậy, cần đề phòng tình trạng khai thác qua mức TNTN để xuất khẩu nguyên liệu thô
1.2.3.4 Các nguyên tắc khai thác sử dụng TN cho phát triển
a) Khai thác sử dụng TN không tái tạo
Đối với các TN không tái tạo như các nguồn than đá, dầu mỏ, khí đốt, khoáng sản do bị giới hạn về trữ lượng và với cách sử dụng ồ ạt như hiện nay thì theo thời gian, đến một thời điểm nào đó từng loại TN sẽ bị cạn kiệt và sẽ không còn đủ cho con người
sử dụng nữa Rõ ràng rằng sự cạn kiệt các nguồn TN thiết yếu trong tương lai là không thể tránh khỏi và đó sẽ là một nguy cơ đối với sự phát triển của nhân loại nếu con người ngày nay không có giải pháp hợp lý để giải quyết Vì thế, để bảo tồn TN cho sử dụng lâu dài, trong sử dụng các nguồn TN tự nhiên, nhất là đối với các TN không tái tạo con người phải sử dụng sao cho hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nhất Việc sử dụng TN phải làm sao vẫn đáp ứng yêu cầu vật chất của con người nhưng lại kéo dài được tối đa thời gian dẫn đến thời điểm cạn kiệt của từng loại TN
Mặt khác, để đối phó với tình trạng cạn kiệt của từng loại TN không thể tránh khỏi trong tương lai, trong mỗi thời đại, con người phải quan tâm đến việc đầu tư nghiên cứu phát triển khoa học kỹ thuật, phát triển các phương pháp thăm dò để tìm những nguồn
TN, tìm những nơi cung cấp mới, không loại trừ cả ở những hành tinh khác trong hệ mặt
Trang 35b) Khai thác sử dụng TN có thể tái tạo
Các nguồn TN tái tạo mặc dù có khả năng tái tạo để hồi phục theo một chu trình nào đó, nhưng khả năng này cũng chỉ trong một giới hạn nhất định Nếu khai thác quá mức ngưỡng cho phép của TN hay sử dụng TN không hợp lý, không chú ý bảo vệ TN, thì khả năng tái tạo của TN sẽ bị giảm sút, ảnh hưởng đến sử dụng của con người Cũng
vì thế, cùng với việc khai thác sử dụng các TN có thể tái tạo, ngoài việc phải tiết kiệm để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng TN còn phải đặc biệt quan tâm đến bảo vệ môi trường
c) Khai thác và sử dụng TN nước
Yêu cầu sử dụng nước
Nước dùng của con người ngày nay không ngừng tăng lên do dân số không ngừng tăng lên Vào đầu thế kỷ 20 dân số toàn cầu là 1,6 tỷ người nhưng đến cuối năm 1999 đã đạt 6 tỷ, tăng 3,75 lần Điều đó khiến cho nước dùng cho công nghiệp tăng 20 lần, nước dùng cho nông nghiệp tăng 7 lần, nước cho sinh hoạt tăng 10 lần Yêu cầu nước dùng của con người trong các quốc gia và toàn cầu không ngừng tăng lên, nhưng lượng nước dùng
và tỷ lệ nước dùng cho các lĩnh vực dân dụng, công nghiệp, nông nghiệp giữa các nước kém phát triển, đang phát triển và các nước phát triển cao có sự khác biệt tương đối lớn như Bảng 1.1
Bảng 1.1 Tỷ lệ nước dùng cho 3 lĩnh vực ở các nước
Trang 36Nước là một TN vô cùng gần gũi và gắn bó với con người trong cuộc sống, trong sản xuất trong vui chơi giải trí Tuy nhiên, con người trong quá trình sử dụng nước không phải đã dễ dàng có ngay những nhận thức và hiểu biết đầy đủ về TN nước để có phương thức sử dụng hợp lý nhất
Trong quá trình sử dụng nước, con người ngay từ thuở ban đầu đã nhận thức được tầm quan trọng và tính thiết yếu của TN nước Tuy nhiên cho đến ngày nay khi mà nguồn
TN này đang bị suy thoái đe doạ sự sử dụng lâu bền của con người thì nhân loại mới nhận thức được một cách đầy đủ và toàn diện được về nguồn TN rất đặc biệt này, trong đó có
cả những nhận thức có thể coi là mới so với những nhận thức trước đây Sau đây là những nhận thức đó
(1) Nước là một TN vô cùng quan trọng, thiết yếu đối với thế giới sinh vật, với
sự tồn tại và phát triển của con người
Con người ngay từ thuở ban đầu cho đến ngày nay đều nhận thức rõ về tầm quan trọng và tính thiết yếu của nước đối với cuộc sống như đã nêu ở trên Tuy nhiên ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học, nhận thức này cũng ngày càng được nâng lên khi mà con người tại nhiều nơi đang phải đối mặt với tình trạng hạn hán và tình trạng khan hiếm nước Sự quan trọng và vô cùng thiết yếu của nước đối với phát triển kinh tế xã hội của nhân loại, khiến cho ngày nay nước đã được quốc tế xác định là TN quan trọng thứ hai đứng sau TN con người Cần nhớ rằng TN nước khác với nhiều nguồn TN khác vì nó là một TN mà nếu cạn kiệt thì không một TN nào có thể thay thế được
(2) Nước là một TN hữu hạn, vì thế trong sử dụng phải luôn tiết kiệm, hạn chế các tổn thất và tránh các hành vi sử dụng làm lãng phí TN nước
Như các số liệu ở trên cho thấy lượng nước ngọt trên trái đất mà con người có thể
sử dụng được là một giá trị giới hạn, không phải là vô cùng lớn như nhiều người lầm tưởng Ý niệm cho rằng nước là thứ trời cho, muốn dùng thì sẽ có một cách dễ dàng không phải tốn nhiều chi phí là một ý niệm đã có từ lâu đời trong nhân dân, ngày nay không còn phù hợp nữa Cũng do ý niệm đó mà trước đây người ta luôn có thói quen dùng nước một cách tuỳ tiện, không có ý thức tiết kiệm Ngày nay, con người đã hiểu biết toàn diện hơn
và càng thấy rõ TN nước trên trái đất cũng như trên một lưu vực sông là có hạn và chúng
Trang 37ở hạ lưu sông nhất là trong mùa cạn Vì thế, cần phải sử dụng nước phù hợp với tiềm năng nguồn nước trong từng vùng và trong khai thác sử dụng phải chú trọng cả việc bảo vệ khả năng tái tạo của TN nước
(4) Nước là một TN có giá trị kinh tế nên trong sử dụng phải coi nước là một loại hàng hoá và làm sao phát huy tối đa giá trị kinh tế của TN nước
Đây là một nhận thức mới được con người khẳng định trong vài thập kỷ gần đây Trước đây con người sử dụng nước nhưng chưa hiểu biết đầy đủ giá trị kinh tế của TN nước, coi nước là một TN có thể sử dụng tự do nhiều khi không phải trả tiền
Trong bối cảnh ngày nay yêu cầu nước cho sử dụng tại nhiều nơi trên thế giới đã vượt quá khả năng của nguồn nước và tình trạng thiếu nước đang đe doạ sự tồn tại và phát triển của con người trong tương lai, thì con người mới thấy rõ giá trị kinh tế của TN nước
và đã khẳng định rằng nước là một TN có giá trị kinh tế và trong sử dụng phải coi nước
là hàng hoá cũng như dầu mỏ hay bất kỳ loại TN khoáng sản nào khác Điều này trong tuyên bố của hội nghị Dublin (1992) đã nhấn mạnh nước là một TN có giá trị kinh tế và vấn đề sống còn và quyền cơ bản của con người là được có nước sạch và vệ sinh với giá
cả thoả đáng
Việc thay đổi nhận thức về giá trị kinh tế của TN nước, coi nước là hàng hoá để
có thể mua bán và trao đổi giữa các vùng, các quốc gia với nhau là vấn đề cốt lõi để tiến đến sử dụng bền vững TN nước trong thế kỷ đến Để thực hiện được điều này cần phải: - Tính đúng giá trị của nước khi cung cấp cho người dùng theo nguyên tắc người dùng nước phải trả đủ các chi phí khai thác và phân phối nước đồng thời có cơ chế phù hợp để người dùng có thể trả được các chi phí này
- Áp dụng nguyên tắc người gây ra ô nhiễm nước phải trả các chi phí để khắc phục
sự ô nhiễm do họ gây ra
Ở nước ta hiện nay nhà nước còn bao cấp một phần chi phí quản lý cung cấp nước Giá nước nói chung còn thấp hơn giá trị thực của nó Trong tương lai chúng ta cũng phải dần dần xoá bỏ bao cấp trong giá nước và đưa nước trở thành hàng hoá đúng với giá trị thực của nó Trên thế giới, quan điểm bao cấp trong sử dụng nước đang dần thay đổi Nhiều quốc gia đang cố gắng dần dần đưa tất cả các chi phí khai thác và dẫn nước vào
phí dịch vụ dùng nước cho người dùng nước phải trả Như vậy nhà nước sẽ giảm được
chi phí, còn người dùng nước nhận thức đúng hơn giá trị của nước và phải dùng nước một cách tiết kiệm Đồng thời, làm như thế cũng đặt áp lực lên các tổ chức làm dịch vụ về
Trang 3829
nước khiến họ phải làm thật tốt trách nhiệm của mình Việc tính đúng và tính đủ giá của nước sẽ phát huy được tối đa giá trị kinh tế của nước, giúp cho việc sử dụng nước tiết kiệm và hiệu quả hơn
Nguy cơ thiếu nước trong thế kỷ 21
Thế kỷ 21 theo dự báo của các nhà khoa học, loài người ngoài phải đối phó với nhiều mối đe doạ khác, còn phải đối phó với hiểm hoạ thiếu nước Nước, nguồn TN tưởng như vô tận trong thế kỷ đến sẽ trở thành một thứ nhu yếu phẩm quý giá không kém gì dầu lửa và có thể là nguyên nhân dẫn đến xung đột giữa nhiều nước
Các nhà khoa học đã phân tích dữ liệu có được từ sứ mệnh của hai vệ tinh song sinh GRACE để theo dõi xu hướng nước sạch trên toàn cầu giai đoạn 2002-2016 Họ tìm hiểu các khu vực tăng hoặc giảm lượng nước sạch, bao gồm nước tích trữ trong tầng nước ngầm, băng tuyết, sông hồ và đất, để xác định các nguyên nhân lớn nhất gây ra những thay đổi trên Các nhà khoa học ước tính lượng nước mất đi và có được theo đơn vị tỉ tấn/năm, trong đó 1 tỉ tấn nước đủ bơm đầy 400.000 hồ bơi tiêu chuẩn Olympic
Sự sụt giảm nước sạch được thấy rõ ở nhiều vùng sản xuất lương thực quan trọng của thế giới Theo đó, các khu vực ở phía Đông và Bắc Ấn Độ, Trung Đông, California (Mỹ) và Úc là những điểm nóng mà việc lạm dụng nguồn nước đã dẫn đến sự sụt giảm đáng kể lượng nước sạch, kéo theo nhiều hệ lụy Tại miền Bắc Ấn Độ, bơm nước ngầm
để phục vụ cho hoạt động tưới tiêu là thủ phạm khiến nước sạch giảm nhanh, bất chấp vùng này đón nhận lượng nước mưa ở mức bình thường Trong khi đó, Nam California đã mất hơn 4 tỉ tấn nước/năm trong giai đoạn nghiên cứu, do nông dân phụ thuộc nhiều vào nước ngầm khi bang này trải qua đợt hạn hán nghiêm trọng nhất trong lịch sử Một
số vùng nông nghiệp khác, bao gồm Bình Nguyên Hoa Bắc và một số khu vực ở Saudi Arabia cũng chứng kiến cảnh người dân phụ thuộc quá nhiều vào nước ngầm Saudi Arabia có giai đoạn mất đến 6,1 tỉ tấn nước/năm
Riêng ở Iraq và Syria, việc người dân dựa dẫm quá nhiều vào nước ngầm một phần là do Thổ Nhĩ Kỳ xây 22 con đập ở các sông Tigris và Euphrates trong 3 thập niên qua Điều này khiến khu vực trên trở thành điểm nóng lớn nhất, theo đánh giá của nghiên cứu Nước ở Biển Caspi cũng giảm mạnh Trước đây, sự thay đổi này do biến đổi tự nhiên, nhưng nay báo cáo của NASA chỉ ra thủ phạm chính là hoạt động chuyển dòng và rút nước từ các con sông (chảy ra biển) để phục vụ cho nông nghiệp và công nghiệp Ngoài ra, việc xây dựng nhà máy thủy điện lớn nhất thế giới trên sông Trường Giang ở Trung Quốc và những hồ chứa nước khác tại nước này cũng ảnh hưởng đến môi trường
Đây là nghiên cứu đầu tiên kết hợp những phép đo đạc trực tiếp bằng vệ tinh với các bộ dữ liệu khác để đánh giá những thay đổi về nước sạch ở khắp nơi trên Trái đất và phân tích các nguyên nhân Các tác giả của nghiên cứu cho biết mặc dù còn quá sớm để xác định những phát hiện trên chắc chắn là do tình trạng ấm lên toàn cầu, nhưng chúng cũng cho thấy “sự liên quan rõ rệt của con người” đối với chu kỳ nước trên thế giới.Tại các quốc gia ngoài vùng sa mạc, việc quản lý nước rất yếu kém Có thể nói, khoảng 50% lượng nước thất thoát là vì những lý do kỹ thuật Tại Anh, người ta ước đoán khoảng 1/5 lượng nước sinh hoạt bị thất thoát do rò rỉ hệ thống ống dẫn nước Bên cạnh đó, việc áp
Trang 3930
dụng chính sách trợ giá cho việc sử dụng nước dẫn đến giá nước quá rẻ so với thực tế Đây chính là nguyên nhân của việc sử dụng nước lãng phí Thí dụ ở Califocnia (Hoa Kỳ) lượng nước sử dụng cho việc sản xuất thức ăn gia súc đủ để thoả mãn nhu cầu về nước cho khoảng 30 triệu người Tại Arập Xêút để sản xuất được 1 lít sữa người ta dùng hết 11.000 lít nước vì lượng nước phục vụ trong việc sản xuất thức ăn xanh cho bò tại đây hết sức lớn
Việc xây dựng các hồ chứa nước hoặc khoan giếng lấy nước ngày càng tốn kém
vì những vùng dễ khai thác đã và đang được khai thác triệt để không còn khả năng nâng cao công suất Tại Nhật Bản, phương pháp hứng nước mưa trên một diện tích lớn rồi dẫn đến các khu chứa nước trong lòng đất đã được áp dụng và tỏ ra rất hiệu quả Kết quả thu được là 1 triệu lít nước/ha-năm Tại Tiểu vương quốc A rập thống nhất hiện nay người ta đã dùng vệ tinh để tìm kiếm các nguồn nước ngầm Phương pháp này có độ chính xác cao nên chi phí khai thác có thể giảm tối đa 50% nên có nhiều triển vọng mở rộng áp dụng tương lai
Tháng 3/1994 Báo cáo của uỷ ban về TN thiên nhiên của LHQ nêu rõ: “Bất kỳ
nước công nghiệp hoá hay nước đang phát triển 3, việc thiếu nước đang trở thành một hiện tượng phổ biến Thế giới đang đứng trước nguy cơ thiếu nước trên toàn cầu” Lời cảnh báo này đang ngày càng hiện thực
Trên thế giới đã có hơn 100 quốc gia và khu vực bị thiếu nước với mức độ khác nhau, trong đó có 43 quốc gia thiếu nước nghiêm trọng Vùng thiếu nước trên trái đất chiếm đến 60% diện tích châu lục Trong các nước đang phát triển có đến 60% số người thiếu nước sạch dùng trong sinh hoạt, 80% bệnh tật có liên quan đến ô nhiễm nước
Một hậu quả đáng ngại sẽ có thể xảy ra là thay vì phải đi nhập khẩu nước, các cường quốc sẽ đi chiếm những vùng đất lân cận có nguồn nước mặt hoặc nước ngầm LHQ hiện đã liệt kê được ít nhất 300 vùng mà tranh chấp có thể xảy ra do biên giới chung
là một dòng sông, hoặc do hai bên cùng có một tầng nước ngầm chung Vùng Trung cận đông, vùng sông Nin nước có thể làm quan hệ giữa Ai cập và Xudan căng thẳng hơn An Giêri hiện cũng phản đối Li Bi về con sông nhân tạo Vùng Balcan thì có 10 nước cùng
lệ thuộc vào một con sông duy nhất là sông Danube Trong tương lai, nước phải được sử dụng như là một món hàng kinh doanh trên thị trường quốc tế với cái giá bằng đúng giá trị thực của nó, tức là một món hàng chiến lược giống như dầu hoả…
d) Tầm nhìn về nước thế kỷ 21
Với những nhận thức về TN nước như trên và trước nguy cơ thiếu nước đang ngày càng phổ biến và đe doạ nhân loại trong thế kỷ 21 thì việc sử dụng nước hiện tại và trong những thập kỷ đến cần như thế nào?
Giải quyết vấn đề này một cách đúng đắn, con người cần phải có một cách nhìn toàn diện cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai, cả những mặt lợi cũng như những mặt
3 Nước đang phát triển là quốc gia có mức sống còn khiêm tốn, có nền tảng công nghiệp kém phát triển và có chỉ số phát triển con người (HDI) không cao
Trang 4031
hại mà việc sử dụng nước mang lại, cả những mối đe doạ về tình trạng thiếu nước trong tương lai đối với nhân loại Nói cách khác cần có một tầm nhìn sâu rộng về nước để định hướng cho cách sử dụng cũng như những biện pháp quản lý bảo vệ TN nước, nói tóm lại đó là tầm nhìn về nước
Do tính chất quan trọng của nước đối với phát triển của nhân loại trong tương lai nên tầm nhìn về nước là một chủ đề thường được thảo luận một cách rộng rãi trên các
diễn đàn về nước quốc tế do Hội đồng nước thế giới 4 chủ trì và tổ chức
Diễn đàn nước thế giới lần thứ nhất họp tại Marakech đã đưa ra khẳng định các
nhận thức về nước và con đường đi đến để quản lý và sử dụng bền vững TN nước Tháng
3/2000, tại Diễn đàn nước thế giới lần thứ hai họp tại Hague, Hà Lan, “Tầm nhìn về nước thế giới trong thế kỷ 21” lại tiếp tục được thảo luận và một bản Tuyên bố Lahay về “Tầm
nhìn về nước, cuộc sống và môi trường” đã được Hội nghị Bộ trưởng các nước thông qua
với tiêu đề tổng quát là “Tiến đến một thế giới an ninh về nước trong thế kỷ 21”
1.2.3.5 TN nước mặt lục địa ở Việt Nam
Theo thống kê của Bộ TN&MT, Việt Nam có 3.450 sông, suối với chiều dài từ
10 km trở lên Các sông suối này nằm trong 108 LVS được phân bố và trải dài trên cả nước với tổng diện tích trên 1.167 triệu km2 Tổng lượng nước mặt trung bình năm của Việt Nam khoảng 830 tỉ m3 được tập trung chủ yếu trên 8 LVS lớn, bao gồm: LVS Hồng
- Thái Bình, Bằng Giang - Kỳ Cùng, Mã, Cả, Vu Gia - Thu Bồn, Ba, Đồng Nai và sông
Mê Công (Cửu Long), trong đó ở LVS Cửu Long (khoảng 57%), ở LVS Hồng - Thái Bình hơn 16%, ở LVS Đồng Nai (hơn 4%), còn lại ở các LVS khác Tuy nhiên, khoảng 63% nguồn nước mặt của Việt Nam (tương ứng với 520 tỷ m3) có nguồn gốc ở ngoài biên giới quốc gia, chỉ có gần 310 tỉ m3 mỗi năm được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam, tập trung ở các sông Đồng Nai, Cả, Ba, Vũ Gia - Thu Bồn Theo kết quả thống kê, rà soát sơ
bộ, cả nước có trên 2.900 hồ chứa nước thủy điện, thủy lợi đã vận hành, đang xây dựng hoặc đã có quy hoạch xây dựng với tổng dung tích trên 65 tỷ m3 Do đặc trưng dòng chảy,
sự phân bố lượng nước không đồng đều theo mùa và sự suy giảm chất lượng nước do ô nhiễm nên nguy cơ cạn kiệt nguồn nước trong khi nhu cầu sử dụng nước ngày càng gia tăng, hiệu quả sử dụng nước thấp, cơ chế hợp tác, chia sẻ nguồn nước giữa các quốc gia chưa hiệu quả là những thách thức đặt ra trong việc sử dụng bền vững TN nước quốc gia [2]
4 Hội đồng nước thế giới là một tổ chức có thành phần đa quốc gia có nhiệm vụ hoạt động về các vấn đề nước quan trọng ở mọi cấp, bao gồm cả cấp ra quyết định cao nhất, bằng cách thu hút mọi người trong cuộc tranh luận và thách thức tư duy thông thường Hội đồng tập trung vào các khía cạnh chính trị
về an ninh nước, thích ứng và bền vững