1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài giảng đánh giá tác động môi trường phần 1 pgs ts trần thanh đức

20 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài giảng đánh giá tác động môi trường phần 1 pgs ts trần thanh đức
Tác giả PGS. TS. Trần Thanh Đức
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm, Đại Học Huế
Chuyên ngành Đánh giá tác động môi trường
Thể loại Bài giảng
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Theo một số tác giả: ĐGTĐMT là sự xác định và đánh giá một cách hệ thống các tác động tiềm tàng của các dự án, qui hoạch, chương trình hoặc các hành động về pháp lý đối với các thành p

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM, ĐẠI HỌC HUẾ

KHOA TNĐ & MTNN

BÀI GIẢNG

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG

PGS TS Trần Thanh Đức

Trang 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG

1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.1.1 Khái niệm về môi trường

Theo điều 3, Luật BVMT Việt Nam (2005): Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người,

có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại phát triển của con người và thiên nhiên

Theo nghĩa rộng thì môi trường là không gian xung quanh một vật thể, một sự kiện vật chất nào đó như môi trường của các yếu tố tự nhiên, vật thể vật lý Gồm ba

loại :

- Môi trường tự nhiên: gồm các yếu tố thiên nhiên, vật lý, hóa học, sinh học tồn tại khách quan bao quanh con người, nhưng ít nhiều cũng chịu tác động của con người

- Môi trường xã hội: Là tổng thể các quan hệ giữa con người với con người, tạo nên sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự phát triển của các cá nhân hoặc từng cộng đồng dân cư như sự gia tăng dân số, định cư, di cư,

- Môi trường nhân tạo: tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người như nhà ở, khu công nghiệp, môi trường nông thôn,

1.1.2 Thành phần môi trường

- Các yếu tố vật chất tạo ra môi trường được gọi là thành phần môi trường như đất, nước, không khí, âm thanh, sinh vật, hệ sinh thái

- Thành phần môi trường là các phần vật lý, hóa học sinh học của môi trường khí quyển, thủy quyển, thạch quyển và sinh quyển tạo ra môi trường đó

1.1.3 Chỉ tiêu môi trường

Là những đại lượng biểu hiện các đặc trưng của môi trường đó tại một trạng thái xác định

VD: Sự suy giảm tầng ôzon, đất bị chua hóa, sự thay đổi khí hậu,

Chỉ tiêu môi trường hết sức phức tạp, nó không chỉ là một tham số riêng biệt

mà còn là tập hợp của nhiều tham số

1.1.4 Thông số môi trường

Trang 3

Là những đại lượng vật lý, hóa học, sinh học cụ thể đặc trưng cho môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng, có khả năng phản ánh tính chất của môi trường

ở trạng thái nghiên cứu

VD: pH, độ dẫn điện, độ mặn, hàm lượng dinh dưỡng N, P, K, nền kết cấu công trình,

loại và hạng đất

1.1.5 Tiêu chuẩn môi trường

Là sự chuẩn hóa các thông số môi trường tại một giá trị (hoặc một khoảng giá trị nào đó)

VD: TCVN về đất nông nghiệp là Cd: 2mg/kg (TCVN-7902-2002)

1.1.6 Qui hoạch môi trường

Là sự xác định các mục tiêu mong muốn đối với môi trường tự nhiên bao gồm mục tiêu kinh tế, xã hội và tạo lập được các chương trình, qui trình quản lý để đạt

được mục tiêu đó

1.1.7 Khái niệm về đánh giá tác động môi trường (ĐGTĐMT)

a Trên thế giới:

- Theo UNEP: ĐGTĐMT là quá trình nghiên cứu nhằm dự báo các hậu quả về mặt

môi trường của một dự án phát triển

- Theo một số tác giả: ĐGTĐMT là sự xác định và đánh giá một cách hệ thống các tác

động tiềm tàng của các dự án, qui hoạch, chương trình hoặc các hành động về pháp lý

đối với các thành phần hóa - lý, sinh học, văn hóa, kinh tế xã hội của môi trường tổng

thể

b Ở Việt Nam:

- Theo Luật BVMT (1993): ĐGTĐMT là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo ảnh

hưởng đến môi trường của các dự án, qui hoạch phát triển kinh tế xã hội, của các cơ sở

sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, y tế, văn hóa, xã hội, an

ninh quốc phòng và các công trình khác, đề xuất các giải pháp thích hợp để bảo vệ môi

trường

- Theo Luật BVMT năm 2005 (điều 3): ĐGTĐMT là việc phân tích, dự báo các tác

động đến môi trường của các dự án đầu tư cụ thể để đưa ra biện pháp bảo vệ môi

trường khi triển khai dự án đó

1.1.8 Khái niệm về đánh giá

Đánh giá bao gồm thu thập, chỉnh lý số liệu, tài liệu sau đó tiến hành phân tích

để xác định các tác động Kết quả của việc đánh giá giúp cho việc ra quyết định, lựa

chọn được dự án thích hợp

Trang 4

Đánh giá trong ĐGTĐMT là đánh giá các thành phần môi trường (tự nhiên hoặc nhân tạo) có ảnh hưởng hoặc chịu ảnh hưởng của con người đó là nước, không

khí, đất, sinh vật, hệ sinh thái, khu công nghiệp, đô thị, nông thôn,…

1.1.9 Khái niệm về tác động

- Tác động là hiệu ứng (ảnh hưởng) của một vật thể, một quá trình này lên một vật hay

một quá trình khác Trong ĐGTĐMT, tác động được xác định rõ là tác động của dự án

lên môi trường

Hình 1.1 Biểu diễn tác động đến môi trường của dự án 1.2 CÁC HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI GÂY Ô NHIỄM VÀ

SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM

1.2.1 Công nghiệp và đô thị

- Trong hơn thập kỷ qua, đô thị và công nghiệp phát triển tương đối nhanh Chỉ tiêu diện tích cây xanh đô thị còn quá thấp, trung bình 0.5m2/người, thế giới là 15

-20m2/người Nhịp độ đô thị hoá tương đối nhanh khiến cho đất bị khai thác, giảm diện

tích cây xanh và mặt nước

- Đô thị hoá làm cho nhiều nhà máy xí nghiệp trước đây nằm ở vùng ngoại thành, nay lại lọt vào khu nội thành làm tăng dân số, tăng nhu cầu nước phục vụ sinh

hoạt, dịch vụ và sản xuất, làm suy thoái nguồn nước và gây ngập úng

- Bùng nổ giao thông cơ giới, gây ô nhiễm môi trường không khí và tiếng ồn

- Chất thải công nghiệp do trong quá trình sản xuất thải ra, gây ô nhiễm môi trường Ô nhiễm chất thải rắn ở đô thị và khu công nghiệp đang là vấn đề bức xúc hiện

nay Rác thải rắn sinh hoạt của mỗi người TB 0.6 -0.8 kg/người/ngày

- Hiện trạng ô nhiễm môi trường nước ở đô thị và khu công nghiệp rất nghiêm trọng Môi trường nước mặt là nới tiếp nhân các nguồn nước thải chưa được xử lý Các

Trang 5

chất rắn lơ lửng, nhu cầu oxy hoá học, NO2-, NO3- đều vượt 2- 5 lần cho phép, ngoài

ra còn bị ô nhiễm kim loại nặng

- Hệ thống thoát nước ở các đô thị đều hoạt dodọng bất cập: nếu mưa lớn, xảy

ra ngạp úng cục bộ

- Ô nhiễm môi trường không khí ở đô thị và khu công nghiệp ngày càng gia tăng do số lượng phương tiện giao thông cơ giới, đường xá chật hẹp, bị đào lấp liên

tục, do hoạt động xây dựng nhà cửa và hạ tầng cơ sở

- Ô nhiễm tiếng ồn của các đô thị nước ta nhìn chung hiện nay chưa đến mức độ nghiêm trọng

1.2.2 Thủ công nghiệp và làng nghề

Hiện nay có khoảng 1450 làng nghề, số lao động trong các làng nghề là 10 triệu lao động thường xuyên và khoảng 4 triệu lao động thời vụ Các làng nghề góp phần

thay đổi bộ mặt nông thôn về mặt kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

100% số làng nghề được khảo sát đang bị ô nhiễm môi trường

- Làng nghề chế biến nông sản thực phẩm do sử dụng nhiều nước, lại kết hợp chăn nuôi nên 100% nguồn nước mặt bị ô nhiễm, H2S khá cao (gấp 25 -33 lần tiêu

chuẩn cho phép) và đều không có nơi tập trung xử lý chất thải rắn

- Làng nghề dệt nhuộm có lượng hoá chất, thuốc nhuộm cao gấp 3-8 lần tiêu chuẩn cho phép

- Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng thường bị ô nhiễm do sử dụng nhiên liệu than

1.2.3 Nông nghiệp và phát triển nông thôn

- Trong chăn nuôi, để tăng năng suất người dân đã sử dụng các thức ăn công nghiệp có một phần nhỏ các chất kháng sinh, chất kích thích tăng trưởng và phát dục

ảnh hưởng sức khoẻ người tiêu dùng

- Trong chế biến bảo quản nông sản thực phẩm đã sử dụng hoặc lạm dụng một

số chất bảo quản như phân đạm, hàn the, chất mầu thực phẩm, gây nguy cơ mất an

toàn thực phẩm

- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng thiếu qui hoạch ở một số vùng nông thôn như ở Lục Ngạn đã lấn rừng trồng vải trên các loại đất không phù hợp dẫn đến mất rừng

phòng hộ, đất bị thoái hoá, thiếu nước, cây vải bị chết, việc phát triển trồng cây cà phê

tăng gấp 1.5 lần so với diện tích qui hoạch, đã làm cho nhiều diện tích rừng bị triệt

phá, nguồn nước bị cạn kiệt, dẫn đến tình trạng một số vườn cà phê phải phá bỏ

Trang 6

- Tỷ lệ số hộ có nhà vệ sinh chỉ đất 28 -30% Sử dụng phân chuồng, phân bắc không hợp vệ sinh gây nhiều bệnh về đường hô hấp, tiêu hoá, ảnh hưởng đến sức khoẻ

cộng đồng

- Sử dụng phân hoá học bộc lộ một số hạn chế: chua hoá đất, nghèo kiệt các ion bazơ Lượng phân hoá dùng trong các vùng rau chuyên canh hiện đã trở thành vấn đề

nghiêm trọng, gây ra dư lượng NO3- trong rau ở mức cao

- Lạm dụng thuốc trừ sâu chưa kiểm soát được lượng thuốc nhập thực tế, nhiều loại thuốc đã bị cấm sử dụng vẫn đang lưu thông bất hợp lý

1.2.4 Lâm nghiệp

- Khai thác gỗ, làm đường, vận chuyển gỗ, xẻ gỗ, dẫn đến rừng bị tàn phá

- Hiện tượng chặt phá rừng bừa bãi, trái phép và gây suy thoái môi trường

- Phá rừng nguyên sinh đầu nguồn làm giảm tính đa dạng sinh học, xói mòn đất, hoang mạc hoá, lũ lụt, lũ quét

- Phù sa và các chất dinh dưỡng hữu cơ từ các vùng phá hoang, đốn gỗ làm môi trường sống của cá bị phá huỷ, các loài tảo phát triển quá mức

- Hiện tượng hạn hán, nguy cơ cháy rừng, do hậu quả của sự phá rừng đầu nguồn

1.2.5 Ngư nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản

- Đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản: Huỷ diệt, nổ mìn Đánh bắt quá mức làm cạn kiệt các loài có giá trị kinh tế

- Phát triển nuôi trồng thuỷ sản ven biển, phá rừng ngập mặn, xói lở bờ biển, ảnh hưởng tới môi trường sống ven biển

- Nuôi tôm trên cát > cạn kiệt và nhiễm mặn nguồn nước ngầm, ngọt vốn rất khá hiếm ở đây, ô nhiễm môi trường nước biển ven bờ

1.2.6 Giao thông vận tải

- Chuyển đổi đất nông nghiệp, lâm nghiệp, thành đất giao thông vận tải làm cho mặt bằng sử dụng đất thay đổi, diện tích đất chiếm dụng cho giao thông ngày càng lớn

- Chất lượng đất canh tác dọc theo các trục giao thông sẽ bị ảnh hưởng lớn

- Số lượng phương tiện giao thông vận tải tăng nhanh, phát thải các loại khí ô nhiễm, độc hại gây ô nhiễm môi trường không khí, lượng bụi lớn, tiếng ồn ảnh hưởng

đến sức khoẻ cộng đồng

1.2.7 Năng lượng, khai khoáng

Trang 7

- Khai thác, phá vỡ địa tầng đất đá, cảnh quan, thảm thực vật, phát tán bụi, khí độc và chất thải, gây ô nhiễm nguồn nước, suy thoái đất canh tác, sản xuất nông

nghiệp và sức khoẻ của người dân

1.2.8 Y tế và chất thải y tế

Vấn đề quản lý chất thải y tế đang là những vấn đề nan giải trong công tác bảo

vệ môi trường và sức khoẻ của nhân dân

1.2.9 Công trình thuỷ lợi

Các hoạt động như kênh đào dẫn nước tưới tiêu, ngăn đập, xây dựng hồ chứa nước, hệ thống đê điều sông, biển đe ngăn lũ, hình thành lòng hồ chứa nước, thay đổi

chế độ thuỷ văn, bồi lắng lòng hồ, lòng sông, xói lở bờ biển, bờ sông, phá hoại sinh

cảnh, giảm tiềm năng du lịch, suy thoái môi trường không khí, thay đổi vi khí hậu

vùng lòng hồ

1.2.10 Thương mại và du lịch

- Hoạt động xuất nhập khẩu và thị trường nội địa dẫn đến tiêu thụ và sử dụng tài nguyên làm mất đa dạng sinh học

- Phát triển du lịch sẽ tăng chất thải sinh hoạt ở các trung tâm du lịch, khách du lịch đến thải ra một lượng lớn rác thải rắn và nước thải gây ô nhiễm môi trường đất,

nước, không khí và tiếng ồn

- Ô nhiễm không khí do gia tăng lượng khí thải vào mùa du lịch do sử dụng các máy điều hoà, ô nhiễm tiếng ồn từ các nhà hàng, phương tiện xe máy

- Tăng lượng nước sinh hoạt gây suy thoái và ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm

- Nhiều cánh quan đặc sắc, hệ sinh thái nhạy cảm bị thay đổi, đa dạng sinh học

bị đe doạ, loài thú quí hiếm bị săn bắt

- Tác động xã hội: tăng tỷ lệ các bệnh xã hội lây qua đường tình dục

1.2.11 Tăng dân số, vòng luẩn quẩn của nghèo đói

- Nghèo đói dẫn đến huỷ hoại tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường

- Tăng dân số sẽ khai thác tài nguyên nhiều hơn

1.3 MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐGTĐMT

ĐGTĐMT có thể đạt được nhiều mục đích, Alan Gilpin đã chỉ ra vai trò, mục đích của ĐGTĐMT trong xã hội như sau:

1.3.1 Mục đích của ĐGTĐMT

- Nhằm cung cấp một qui trình xem xét tất cả các tác động có hại đến môi trường của các chính sách, chương trình, hoạt động và các dự án

Trang 8

- Tạo ra cơ hội trình bày với người ra quyết định về tính phù hợp của chính sách, chương trình, hoạt động, dự án về mặt môi trường, nhằm ra quyết định có tiếp tục thực

hiện hay không

- Tạo ra cơ hội trình bày sự phối kết hợp các điều kiện có thể giảm nhẹ tác hại tới môi trường

- Tạo ra phương thức để cộng đồng có thể đóng góp cho quá trình ra quyết định, thông qua các đề nghị bằng văn bản hoặc ý kiến gửi tới người ra quyết định

- Góp phần lựa chọn dự án tốt hơn để thực hiện

- Là công cụ phục vụ phát triển, khuyến khích phát triển tốt hơn, trợ giúp tăng trưởng kinh tế

1.3.2 Ý nghĩa của ĐGTĐMT

- Khuyến khích cho qui hoạch tốt hơn

- Tiết kiệm thời gian và tiền của trong thời hạn phát triển lâu dài

- Giúp cho nhà nước, các cơ sở và cộng đồng có mối liên hệ chặt chẽ hơn

- Hỗ trợ phát triển theo hướng đảm bảo hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường

- Góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững

1.3.3 Đối tượng của ĐGTĐMT

Đối tượng chính thường gặp và số lượng nhiều nhất là các dự án phát triển cụ thể Ngân hàng phát triển chấu Á chia các dự án thành 3 nhóm :

- Nhóm A : Là những dự án cần thiết tiến hành ĐGTĐMT đầy đủ, nghĩa là phải lập, duyệt báo cáo ĐGTĐMT và kiểm soát sau khi dự án đã đi vào hoạt động Thuộc

về nhóm này là những dự án có thể gây tác động lớn làm thay đổi các thành phần môi

trường, kể cả môi trường xã hội, vật lý và sinh học

- Nhóm B : Không cần ĐGTĐMT đầy đủ nhưng phải kiểm tra các tác động môi trường Thường thì những dự án thuộc nhóm này là dự án có qui mô nhỏ hơn các dự

án thuộc nhóm A

- Nhóm C : Là nhóm các dự án không phải tiến hành ĐGTĐMT, thường thì những dự án này không gây tác hại đáng kể hoặc những tác động có thể khắc phục

được

Đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (theo Luật BVMT năm

2005 – Điều 18) gồm có :

a) Dự án công trình quan trọng quốc gia;

Trang 9

b) Dự án có sử dụng một phần diện tích đất hoặc có ảnh hưởng xấu đến khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, các khu di tích lịch sử - văn hoá, di sản tự nhiên, danh

lam thắng cảnh đã được xếp hạng;

c) Dự án có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến nguồn nước lưu vực sông, vùng ven biển, vùng có hệ sinh thái được bảo vệ;

d) Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất, cụm làng nghề;

đ) Dự án xây dựng mới đô thị, khu dân cư tập trung;

e) Dự án khai thác, sử dụng nước dưới đất, tài nguyên thiên nhiên quy mô lớn;

g) Dự án khác có tiềm ẩn nguy cơ lớn gây tác động xấu đối với môi trường 1.4 CÁC NGUYÊN TẮC VÀ YÊU CẦU CƠ BẢN ĐỐI VỚI ĐGTĐMT

Đảm bảo công việc ĐGTĐMT một cách chính xác, ngay cả khi pháp luật, thể chế có thể bị thay đổi, đảm bảo tính hiệu quả khi ĐGTĐMT

1.4.1 Các nguyên tắc chỉ đạo trong ĐGTĐMT

Bảy nguyên tắc chỉ đạo trong ĐGTĐMT bao gồm:

- Sự tham gia - Sự tham gia hợp lý và đúng lúc của các bên hữu quan vào quá trình ĐGTĐMT

- Tính công khai - Đánh giá và cơ sở đánh giá các tác động cần được công khai và kết quả đánh giá có thể được tham khảo một cách dễ dàng

- Tính chắc chắn - Quá trình và thời gian biểu của công tác đánh giá được thông qua trước và được các bên tham gia thực hiện một cách đầy đủ

- Tính trách nhiệm - Những người ra quyết định phải có trách nhiệm với các bên hữu quan về quyết định của mình tuân theo kết quả của quá trình đánh giá

- Sự tín nhiệm - Sự đánh giá được bảo đảm về chuyên môn và tính khách quan

- Chi phí/hiệu quả - Quá trình đánh giá và kết quả của nó phải đảm bảo cho việc bảo vệ môi trường với chi phí xã hội nhỏ nhất

- Tính linh hoạt - Quy trình đánh giá phải phù hợp để tạo ra hiệu quả và có hiệu lực cho mọi dự án và trong mọi hoàn cảnh

1.4.2 Các nguyên tắc thực hiện ĐGTĐMT

Mười chín nguyên tắc thực hiện ĐGTĐMT

* ĐGTĐMT được áp dụng:

- Cho tất cả các hoạt động của dự án phát triển gây ra các tác động tiêu cực đáng kể

cho môi trường và xã hội, hoặc những tác động tích dồn

Trang 10

- Như một công cụ quản lý môi trường cơ bản nhằm phòng ngừa, giảm thiểu các tác

động tiêu cực của dự án và tạo điều kiện để môi trường tự phục hồi

- Sao cho công tác thẩm định ĐGTĐMT đánh giá đúng bản chất tác động môi trường

do các hoạt động của dự án gây ra;

- Để làm cơ sở cho việc xác định đúng đắn vai trò và trách nhiệm của các bên tham

gia

* ĐGTĐMT được tiến hành:

- Trong suốt chu trình dự án, bắt đầu càng sớm càng tốt, có thể ngay từ khi dự án mới

được hình thành

- Theo những yêu cầu rõ ràng để chủ dự án thực hiện kể cả việc quản lý tác động

- Phù hợp với trình độ khoa học và công nghệ giảm thiểu tác động môi trường hiện tại

- Tương xứng với thủ tục hiện tại và kế hoạch thực hiện ĐGTĐMT

- Để tư vấn cho cộng đồng, các nhóm, các bên bị ảnh hưởng trực tiếp, hoặc các bên

được hưởng lợi từ dự án nhằm giải quyết các mâu thuẫn một cách ổn thỏa

* ĐGTĐMT cần thiết và phải phù hợp với:

- Tất cả các vấn đề về môi trường, bao gồm cả các tác động xã hội và rủi ro về sức

khỏe

- Tác động tích dồn, xảy ra lâu dài và trên diện rộng

- Việc lựa chọn các phương án thiết kế, vị trí triển khai và công nghệ của dự án

- Sự quan tâm về tính bền vững, bao gồm năng suất tài nguyên, khả năng đồng hóa của

môi trường và đa dạng sinh học

* ĐGTĐMT phải hướng tới:

- Thông tin chính xác về bản chất của các tác động như cường độ, ý nghĩa của chúng,

những rủi ro và hậu quả môi trường do dự án gây ra

- Sự rõ ràng trong các báo cáo ĐGTĐMT, dễ hiểu và phù hợp với việc ra quyết định,

trong đó có các luận cứ về chất lượng, độ tin cậy và giới hạn của các dự báo tác động

môi trường

- Giải quyết những vấn đề môi trường diễn ra trong quá trình thực hiện dự án

* ĐGTĐMT tạo cơ sở để:

- Ra quyết định có luận cứ về môi trường

- Thiết kế, lập kế hoạch và thực hiện các dự án phát triển sao cho thỏa mãn các tiêu

chuẩn môi trường và mục đích quản lý tài nguyên

Ngày đăng: 27/02/2023, 07:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm