Lý do chọn đề tài Công cuộc đổi mới toàn diện đã được tiến hành sau Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ VI của Đảng 1986 do Đảng khởi xướng, lãnh đạo.Trải qua hơn 30 năm đổi mới, nhân dân
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DIỄN RA ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VI CỦA ĐẢNG 5
1.1 Hoàn cảnh lịch sử quốc tế diễn ra nhiều thay đổi to lớn, sâu sắc 5
1.2 Hoàn cảnh lịch sử trong nước tạo ra những thuận lợi cơ bản nhưng cũng đặt ra hàng loạt vấn đề khó khăn cần phải giải quyết 8
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CỦA ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VI 10
2.1 Đại hội đánh giá tình hình đất nước, bài học kinh nghiệm và mục tiêu phát triển 10
2.2 Nội dung của đường lối đổi mới trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI 14
2.3 Ý nghĩa của Đại hội VI 24
KẾT LUẬN 25
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Công cuộc đổi mới toàn diện đã được tiến hành sau Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) do Đảng khởi xướng, lãnh đạo.Trải qua hơn 30 năm đổi mới, nhân dân ta đã được nhiều thành tựu tolớn trên nhiều lĩnh vực, có ý nghĩa lịch sử trên mọi phương diện Vìvậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI có ý nghĩa lịch sử trọng đại,đánh dấu một bước ngoặt trong sự nghiệp quá độ lên chủ nghĩa xã hội ởnước ta Những bài học kinh nghiệm của Đại hội đại biểu VI vẫn còngiá trị cho đến ngày nay
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Làm rõ các vấn đề về hoàn cảnh lịch sử, nội dung
đường lối đổi mới qua nhiệm vụ và phương hướng, ý nghĩa của Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhiệm vụ: Để đạt được những mục đích trên sẽ hướng tới giải
quyết các nhiệm vụ sau:
- Phân tích hoàn cảnh lịch sử trong và ngoài nước những nămtrước khi diễn ra Đại hội VI
- Những nội dung về tình hình phát triển đất nước, nhiệm vụ cầnphải giải quyết và phương hướng giải quyết nhằm thực hiện chủtrương đổi mới của Đảng
- Rút ra những ý nghĩa của Đại hội VI cho quá trình phát triển củađất nước
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Tiểu luận đi sâu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Trang 4Phạm vi nghiên cứu: Về giới hạn thời gian, tiểu luận nghiên cứu
vấn đề từ sau khi đất nước thống nhất (1975) đến tháng 12/1986 khiĐại hội VI diễn ra Về giới hạn nội dung, tác giả tập trung chủ yếunhững nội dung của Đại hội VI
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam về Đại hội đại biểu toàn quốc VI
Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phân tíchTổng hợp, Lịch sử - Lôgic,
5 Kết cấu tiểu luận:
Tiểu luận được kết cấu thành 2 chương, 5 tiết
Trang 5NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DIỄN RA ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU
TOÀN QUỐC LẦN THỨ VI CỦA ĐẢNG 1.1 Hoàn cảnh lịch sử quốc tế diễn ra nhiều thay đổi to lớn, sâu sắc.
1.1.1 Cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật, xu thế toàn cầu hóa ngày càng phát triển mạnh.
Cuối thế kỉ XX - đầu thế kỉ XXI, nhất là từ những năm 70 trở đi, cuộccách mạng khoa học-kỹ thuật hiện đại được tiến hành Đặc trưng của cuộccách mạng này là sự xuất hiện và phát triển nhanh chóng công nghệ cao Đây
là các công nghệ dựa vào những thành tựu khoa học mới, với hàm lượng trithức cao Các công nghệ này đã tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến sự pháttriển kinh tế – xã hội Trong đó, bốn công nghệ trụ cột tạo ra nhiều thành tựunhất, bao gồm: công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ nănglượng, công nghệ thông tin
Cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật phát triển đã tác động nhiều đến kinhtế-xã hội:
- Khoa học và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, có thểtrực tiếp làm ra sản phẩm (sản xuất phần mềm, các ngành công nghiệpđiện tử,…)
- Xuất hiện các ngành công nghiệp có hàm lượng kỹ thuật cao (sản xuấtvật liệu mới, công nghệ gen,…), các dịch vụ nhiều kiến thức (bảo hiểm,viễn thông,…)
- Thay đổi cơ cấu lao động: Tỉ lệ những người làm việc bằng trí óc đểtrực tiếp tạo ra sản phẩm (như các lập trình viên, những nhà thiết kếcông nghệ, sản phẩm trên máy tính….) ngày càng cao
Trang 6- Phát triển nhanh chóng mậu dịch quốc tế, đầu tư của nước ngoài trênphạm vi toàn cầu.
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đã tạo ra rất nhiều thành tựumang tính “nhảy vọt”:
- Tạo ra nguồn năng lượng mới: năng lượng mặt trời, năng lượng gió,năng lượng nguyên tử
- Tạo ra vật liệu mới: chất Polime , các vật liệu siêu sạch , siêu cứng ,siêu bền , siêu dẫn
- Công nghệ sinh học đột phá bằng công nghệ di truyền, công nghệ tếbào, công nghệ vi sinh, công nghệ enzim
- Thông tin liên lạc và giao thông vận tải: sợi thủy tinh , cáp quang ,máy bay siêu âm khổng lồ đặc biệt sự phát triển mạnh mẽ của côngnghệ thông tin
- Chinh phục vũ trụ: vệ tinh nhân tạo, du hành vũ trụ
Những tác động nổi bật của khoa học công nghệ, của sự bùng nổ thôngtin và sự hình thành xã hội thông tin của nền văn minh tin học và kinh tế trithức đã hối thúc mạnh mẽ đối với công cuộc đổi mới ở nước ta
Đầu những năm 80, xu thế toàn cầu hóa là một hệ quả quan trọng củacuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại Đặc trưng của xu thế này đó là
sự gia tăng mối mạnh mẽ những mối liên hệ, những ảnh hưởng tác động lẫnnhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộctrên thế giới
Những biểu hiện chủ yếu của xu thế toàn cầu hoá ngày nay là:
- Sự phát triển nhanh chóng của quan hệ thương mại quốc tế
- Sự phát triển và tác động to lớn của các công ty xuyên quốc gia
- Sự sáp nhập và hợp nhất các công ty thành những tập đoàn lớn ,nhất là các công ty khoa học kĩ thuật, nhằm tăng cường khả năngcạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước
Trang 7- Sự ra đời của các tổ chức liên kết kinh tế, thương mại, tài chínhquốc tế và khu vực.
Toàn cầu hóa đã thúc đẩy rất mạnh, rất nhanh sự phát triển và xã hội của lựclượng sản xuất, góp phần chuyển biến cơ cấu kinh tế, đòi hỏi phải tiến hànhcải cách sâu rộng để nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế
1.1.2 Đổi mới là xu thế của thời đại, đặc biệt là các nước xã hội chủ nghĩa.
Tình hình kinh tế, xã hội và quan hệ trong hệ thống các nước xã hội chủnghĩa đã xuất hiện nhiều dấu hiệu bất thường Đặc biệt, nền kinh tế Liên Xô
và các nước Đông Âu có chiều hướng trì trệ, sản xuất phát triển chậm, xã hộikhông ổn định, rơi vào tình trạng khủng hoảng Đời sống chính trị gặp nhiềukhó khăn phức tạp khi các thế lực thù địch, nhóm đối lập liên tục chống lạiĐảng Cộng sản
Đối mặt với khủng hoảng, trì trệ, các nước xã hội chủ nghĩa đều lần lượtdiễn ra quá trình cải tổ, cải cách, đổi mới… dù tên gọi khác nhau nhưng thựcchất đều là “sửa chữa mô hình”
Tháng 12 - 1978, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đề ra đườnglối mới, do Đặng Tiểu Bình khởi xướng, mở đầu cho công cuộc cải cách kinh
tế - xã hội của đất nước Đường lối này được nâng lên thành đường lối chungcủa Đại hội XII (9 – 1982), đặc biệt là Đại hội XIII (10 – 1987) của Đảng: lấyphát triển kinh tế làm trung tâm, tiến hành cải cách và mở cửa, chuyển nềnkinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩalinh hoạt hơn, nhằm hiện đại hoá và xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc TrungQuốc, với mục tiêu biến Trung Quốc thành quốc gia giàu mạnh, dân chủ vàvăn minh
Tháng 3 – 1985, M Goócbachốp lên nắm quyền lãnh đạo Đảng và Nhànước Liên Xô, tiến hành công cuộc cải tổ đất nước Đường lối cải tổ tập trung
Trang 8vào việc “cải cách kinh tế triệt để”, tiếp theo là cải cách hệ thống chính trị vàđổi mới tư tưởng.
1.2 Hoàn cảnh lịch sử trong nước tạo ra những thuận lợi cơ bản nhưng cũng đặt ra hàng loạt vấn đề khó khăn cần phải giải quyết.
1.2.1 Sau năm 1975, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đạt được những thành tựu nhất định.
Qua mười năm cả nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội, vượtqua những thử thách, Đảng và nhân dân ta đã giành được những thành tựuđáng ghi nhận trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc: tiếp quản và ổnđịnh vùng giải phóng, hàn gắn vết thương chiến tranh cả trong lòng đất vàtrong lòng người, khôi phục kinh tế, xây dựng lại cấu trúc toàn bộ nền kinh tếtrên cả hai miền, chuyển từ một nền kinh tế chủ yếu được xây dựng, hoạtđộng phục vụ chiến tranh sang nền kinh tế trong hòa bình Những mất cân đốitrong nền kinh tế: thu - chi, xuất khẩu - nhập khẩu,sản xuất - tiêu dùng được thu hẹp
Cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội được xây dựng, bắt đầuphát huy tác dụng tích cực đối với nền kinh tế: nhà máy thủy điện Hòa Bình,Trị An, nhà máy xi măng Hoàng Thạch, nhà máy nhiệt điện Phả Lại, cầuThăng Long An ninh chính trị được bảo đảm , độc lập và chủ quyền quốcgia được giữ vững Đặt trong hoàn cảnh một đất nước từ nghèo nàn, lạc hậu đilên, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, lại phải chịu đựng hai cuộc chiến tranhbiên giới , đó là những cố gắng rất lớn của toàn Đảng, toàn dân ta
1.2.2 Bên cạnh những thành tựu, tình hình kinh tế - xã hội nước ta vẫn đang gặp nhiều khó khăn và lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng.
Do xuất phát thấp về kinh tế, hậu quả chiến tranh nặng nề và thiên tai liên tiếp xảy ra, Việt Nam xây dựng và phát triển đất nước sau khi giải phóng gặp nhiều thử thách gian khó
Trang 9Sau hai cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, đất nước vẫn thường xuyên phải đối phó với xâm lược, phá hoại, bao vây, cấm vận về kinh tế của Mỹ và các thế lực thù địch Trước khó khăn đó, nhiều địa phương
đã tìm cách đổi mới kinh tế Đảng ta kịp thời có ba chủ trương đột phá phát triển kinh tế Đột phá đầu tiên từ Hội nghị Trung ương 6 khoá IV (8-1979) chủ trương xóa “cấm chợ , ngăn sông” để sản xuất “bung ra”, Chỉ thị 100 về khoán sản phẩm trong nông nghiệp, Chỉ thị 25, 26/CP về mở rộng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các xí nghiệp công nghiệp (1-1981) Bước đột phá thứ 2 từ Hội nghị Trung ương 8 khoá V (6-1985) chủ trương dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung, bao cấp, thực hiện cơ chế một giá, xoá bỏ chế độ temphiếu Bước đột phá thứ 3 từ Kết luận của Bộ Chính trị Khóa V ( 1- 1986 ) về
3 quan điểm phát triển kinh tế là phát triển mạnh nông nghiệp , nhiều thành phần kinh tế và kiên quyết xóa cơ chế bao cấp
Tuy nhiên các đột phá đó mới là đổi mới cục bộ, chưa làm thay đổi căn bản thực trạng nền kinh tế đất nước Đến năm 1986, nền kinh tế - xã hội nước
ta khủng hoảng trầm trọng Lạm phát đến 774,7 % , đời sống nhân dân rất khókhăn , các tiêu cực xã hội phát triển Mục tiêu của Đảng đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội , ổn định đời sống của nhân dân đã không thực hiện được
Thực trạng trên đã làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Vì vậy, , Đổi mới để thoát khỏi khủng hoảng kinh
tế - xã hội trở thành yêu cầu đất nước, đòi hỏi bức thiết của nhân dân
Trang 10CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CỦA ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN
THỨ VI
2.1 Đại hội đánh giá tình hình đất nước, bài học kinh nghiệm và mục tiêu phát triển.
2.1.1 Đại hội đánh giá tình hình đất nước.
Đại hội đánh giá cao quá trình dân chủ hoá sinh hoạt chính trị của Đảng
và nhân dân ta trong thời gian chuẩn bị và tiến hành Đại hội VI Thái độ củaĐảng trong đánh giá tình hình là nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sựthật, phân tích những nguyên nhân khách quan, chủ quan, những sai lầm,khuyết điểm của Đảng và Nhà nước và quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạocủa Đảng, đổi mới toàn diện đất nước
Đại hội nhận định, năm năm qua là đoạn đường đầy thử thách đối vớiĐảng và nhân dân ta Trong bối cảnh quốc tế và trong nước có thuận lợi cơbản nhưng nhiều khó khăn phức tạp, nhân dân ta anh dũng phấn đấu, vượt quakhó khăn, đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội, giữ vững và bảo vệ tổ quốc
Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội có những khó khăn gay gắt:
- Sản xuất tăng chậm so với khả năng sẵn có và công sức bỏ ra, so vớiyêu cầu cần nhanh chóng ổn định đời sống của nhân dân Một số chỉtiêu quan trọng của kế hoạch năm năm vừa qua như sản xuất lươngthực, than, xi - măng, gỗ, vải , hàng xuất khẩu không đạt đã ảnhhưởng đến toàn bộ hoạt động kinh tế và đời sống của nhân dân laođộng
- Hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp Các xí nghiệp nói chung chỉ sử dụngđược khoảng một nửa công suất thiết kế, năng suất lao động giảm, chấtlượng sản phẩm sút kém
Trang 11- Tài nguyên của đất nước chưa được khai thác tốt, lại bị sử dụng lãng phí, nhất là đất nông nghiệp và tài nguyên rừng, môi trường sinh thái bịphá hoại.
- Lưu thông không thông suốt, phân phối rối ren, vật giá tăng nhanh dangtác động tiêu cực đến sản xuất, đời sống và xã hội -
- Những mất cân đối lớn trong nền kinh tế giữa cung và cầu về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, năng lượng, nguyên liệu, vận tải , giữa thu và chi, xuất khẩu và nhập khẩu chậm được thu hẹp, có mặt còngay gắt hơn trước
- Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố Vai trò chủ đạocủa kinh tế quốc doanh suy yếu Các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa chưa được sử dụng và cải tạo tốt
- Đời sống của nhân dân, nhất là công nhân , viên chức còn nhiều khó khăn Nhiều người lao động chưa có và chưa đủ việc làm Nhiều nhu cầu chính đáng tối thiểu của nhân dân về đời sống vật chất và văn hoá chưa được bảo đảm Nông thôn thiếu hàng tiêu dùng thông thường và thuốc men, nhà ở, điều kiện vệ sinh, sinh hoạt văn hoá ở nhiều nơi còn thiếu thốn, nghèo nàn
- Hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển Công bằng xã hội bị vi phạm Pháp luật, kỷ cương không nghiêm Những hành vi lộng quyền, tham nhũng của một số cán bộ và nhân viên nhà nước, những hoạt độngcủa bọn làm ăn phi pháp chưa bị trừng trị nghiêm khắc và kịp thời Bên cạnh những nguyên nhân khách quan, Đại hội đã nghiêm khắc chỉ
ra nguyên nhân chủ quan của tình hình
Đảng chưa cụ thể hoá đường lối kinh tế trong chặng đường đầu tiên; chưa kiên quyết khắc phục chủ quan, nóng vội và bảo thủ trì trệ trong bố trí
cơ cấu kinh tế cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế Đảng lại phạm sai lầm mới, nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối, lưu thông; đã buông lỏng chuyên chính vô sản trong quản lý kinh tế, xã hội, trong đấu tranh tư tưởng,
Trang 12văn hoá, trong chống lại âm mưu, thủ đoạn phá hoại thâm độc của kẻ thù Chúng ta chưa nhận thức đầy đủ thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình lịch sử tương đối dài, trải qua nhiều chặng đường Tư tưởng chỉ đạo còn chủ quan, duy ý chí, giản đơn hoá, muốn thực hiện nhanh nhiều mục tiêu,đẩy mạnh công nghiệp hoá trong khi nước ta mới chặng đường đầu tiên, chưa
có đủ các tiền đề cần thiết Nông nghiệp chưa thật sự coi là mặt trận hàng đầu.Chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế khi nó đã không còn phù hợp Hiện tượng buông lỏng trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, nóng vội, vô tổ chức, vô kỷ luật phổ biến
Đại hội đã nghiêm túc nhìn thẳng vào “sai lầm nghiêm trọng và kéo dài
về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện” Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy, đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế, là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ
và hành động giản đơn, nóng vội
2.1.2 Đại hội VI nêu lên những bài học kinh nghiệm quan trọng.
Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng
“lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động
Nhân dân chính là gốc rễ của cách mạng, là người đã làm nên lịch sử Vì vậy, điều kiện tiên quyết trong khi Đảng cầm quyền luôn phải là đảm bảo, chăm lo cho đời sống của nhân dân ấm no, hạnh phúc Mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân, không được rời xa nhân dân
Hai là, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan
Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật khách quan là điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Để khắc phục được khuyết điểm, chuyển biến được tình hình, Đảng ta trước hết phải thay đổi nhận thức, đổi
Trang 13mới tư duy Phải có một nhận thức đúng đắn, phù hợp với thực tiễn mới có thể đưa ra quyết định sáng suốt.
Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới
Sự giúp đỡ to lớn và hợp tác toàn diện của Liên Xô, của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, có sự liên minh và hợp tác toàn diện của hai nước láng giềng anh em Lào và Campuchia là điều kiện vô cùng quan trọng để nhân dân
ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Nhân dân ta còn có sự ủng hộ, giúp đỡ của nhiều nước bạn khác, của các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên toàn thế giới Tận dụng sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật ngày nay và xu thế mở rộng phân công, hợp tác giữa các nước, kể cả các nước có chế độ kinh tế - xã hội khác nhau để tạo điều kiện cho sự phát triển đất nước
Bốn là, phải xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một Đảngcầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Cần phải tăng cường sức chiến đấu, nâng cao năng lực lãnh đạo, nănglực tổ chức thực tiễn của Đảng Đặc biệt, không ngừng trau dồi năng lực vàphẩm chất cho mỗi Đảng viên, nghiêm túc thực hiện phê bình và tự phê bình,
và cần phải có sự đoàn kết, nhất trong trong công tác Đảng
2.1.2 Đại hội đề ra mục tiêu phát triển
Về nhiệm vụ chiến lược cách mạng: toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tađoàn kết một lòng, quyết tâm “tiếp tục thực hiện thắng lợi hại nhiệm vụ chiếnlược xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc ViệtNam xã hội chủ nghĩa, đồng thời tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh chungcủa nhân dân thế giới vì hòa bình , độc lập dân tộc , dân chủ và chủ nghĩa xãhội”
Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát những năm còn lại của chặngđường đầu tiên là: “Ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xâydựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ