MỞ ĐẦU1. Lý do lựa chọn đề tàiĐảng Cộng sản Việt Nam, người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua sáu kỳ đại hội đại biểu toàn quốc. Mỗi đại hội là một mốcc son chói lọi phản ánh sự trưởng thành của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.Đã hơn 20 năm kể từ Đại hội VI của Đảng, công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước đã có sự chuyển biến rõ rệt , vượt qua tình trạng khó khăn, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nhiệp hóa hiện đại hóa, thế và lực được tăng cường, vị thế quốc tế được nâng cao. Nước ta không còn là một nước nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển. Nước ta từ quan liêu bao cấp đã trở thành nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Đại hội đại biểu VI đã thay đổi cơ bản phương thức phát triển của đất nước, mở đầu cho hàng loạt những đổi mới toàn diện sau này trên tất cả các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, văn hóa, xã hội… Việc gia nhập WTO là thách thức nhưng cũng là cơ hội lớn để nước ta phát triển, nó cũng khẳng định được những thay đổi đúng hướng của Đảng mà Đại hội Đảng VI đã mở đầu cho công cuộc đổi mới này.Xuất phát từ lý do trên em đã quyết định lựa chọn đề tài: “Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng” để đi tìm hiểu rõ hơn nêu về những nội dung cơ bản của của Đại hội đại biểu VI của Đảng, nội dung đổi mới, mục tiêu, phương hướng, và cách giải quyết những vấn đề đặt ra của Đại hội trong bối cảnh nước ta trong thời kì đó.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Mục đích nghiên cứu:Tiểu luận làm sáng tỏ những nội dung trong Đại hội đại biểu toàn quốc làn thứ VI của Đảng (tháng 121986)2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:Luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây: Làm rõ hoàn cảnh lịch sử dẫn đến tiến hành đại hội Phân tích cụ thể nội dung Đại hội đại biểu toàn quốc làn thứ VI của Đảng (tháng 121986) Nêu ra ý nghĩa lịch sử của Đại hội
Trang 1TIỂU LUẬNMÔN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề tài:
ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VI CỦA ĐẢNG
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NỘI DUNG ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VI CỦA ĐẢNG (12-1986) 3
I.Quá trình chuẩn bị 3
2 Tiến hành đại hội .7
CHƯƠNG II Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VI CỦA ĐẢNG 25
2.1 Thành tựu và bài học kinh nghiệm của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng 25
2.2 Ý nghĩa lịch sử của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng 27
KẾT LUẬN 28
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam, người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi củacách mạng Việt Nam Từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới đến nay, ĐảngCộng sản Việt Nam đã trải qua sáu kỳ đại hội đại biểu toàn quốc Mỗi đại hội
là một mốcc son chói lọi phản ánh sự trưởng thành của Đảng trong quá trìnhlãnh đạo cách mạng Việt Nam
Đã hơn 20 năm kể từ Đại hội VI của Đảng, công cuộc xây dựng và bảo
vệ đất nước đã có sự chuyển biến rõ rệt , vượt qua tình trạng khó khăn,chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nhiệp hóa hiện đại hóa, thế và lực đượctăng cường, vị thế quốc tế được nâng cao Nước ta không còn là một nướcnông nghiệp lạc hậu, kém phát triển Nước ta từ quan liêu bao cấp đã trởthành nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Đại hội đại biểu VI đã thay đổi cơ bản phương thức phát triển của đấtnước, mở đầu cho hàng loạt những đổi mới toàn diện sau này trên tất cả cáclĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, văn hóa, xã hội… Việc gia nhập WTO làthách thức nhưng cũng là cơ hội lớn để nước ta phát triển, nó cũng khẳng địnhđược những thay đổi đúng hướng của Đảng mà Đại hội Đảng VI đã mở đầucho công cuộc đổi mới này
Xuất phát từ lý do trên em đã quyết định lựa chọn đề tài: “Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng” để đi tìm hiểu rõ hơn nêu về những nộidung cơ bản của của Đại hội đại biểu VI của Đảng, nội dung đổi mới, mụctiêu, phương hướng, và cách giải quyết những vấn đề đặt ra của Đại hội trongbối cảnh nước ta trong thời kì đó
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu:
Tiểu luận làm sáng tỏ những nội dung trong Đại hội đại biểu toàn quốclàn thứ VI của Đảng (tháng 12/1986)
Trang 42.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ hoàn cảnh lịch sử dẫn đến tiến hành đại hội
- Phân tích cụ thể nội dung Đại hội đại biểu toàn quốc làn thứ VI củaĐảng (tháng 12/1986)
- Nêu ra ý nghĩa lịch sử của Đại hội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI củaĐảng (tháng 12 – 1986)
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Đại hội đại biểu toàn quốc làn thứ VI của
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm: lịch sử - logic, phân tích –tổng hợp và quy nạp – diễn dịch, phương pháp hệ thống, phương pháp thống
kê, phương pháp mô hình hóa, phương pháp so sánh
5 Kết cấu tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận vănđược chia làm 2 chương 4 tiết
Trang 5Ngày 10 tháng 7 năm 1986 giữa lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân,đang ra sức tháo gỡ khó khăn, khắc phục cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội vàkhẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho đại hội sáu đồng chí Lê Duẩn, Tổng BíThư Ban chấp hành trung ương Đảng qua đời.
Ngày 14 tháng 7 năm 1986, Hội nghị bất thường Ban Chấp Hành Trungương Đảng khóa năm đã bầu đồng chí Trường Chinh, ủy viên bộ chính trị làmTổng Bí Thư
Từ giữa năm 1986 đến tháng 11 1986, đại hội vòng một các cấp từ cơ
sở quận, huyện đến tỉnh, thành phố và các đảng bộ trực thuộc trung ương góp
ý kiến vào các văn kiện đại hội phản ánh những thực tế cấp thiết của đời sống
xã hội
Tháng 7/1986, sau khi sơ bộ tổng hợp ý kiến đóng góp của Đại HộiĐảng vòng một các cấp, Bộ Chính Trị nhận thấy dự thảo báo cáo chính trị lần
thứ nhất chưa đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của cán bộ, Đảng viên và nhân
dân, chưa rút ra được những bài học cơ bản từ thực tế xây dựng chủ nghĩa xãhội chưa đề ra được nội dung đổi mới về kinh tế để có thể làm chuyển biếntình hình
Trang 6Tháng 8/1986, Hội Nghị Bộ Chính Trị và Ban Bí Thư đã thảo luận kỹ
ba vấn đề lớn của kinh tế thời kỳ quá độ: cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủnghĩa, cơ cấu cơ chế quản lý kinh tế Hội nghị cho rằng, phương hướng cơbản để tháo gỡ là giải phóng năng lực sản xuất hiện có, khai thác và phát huymọi tiềm năng lực của đất nước để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất.Hội nghị chỉ rõ: hơn 10 năm qua, chúng ta đã mất nhiều sai lầm khuyết điểmtrong bố trí cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư chúng ta muốn đi nhanh nhưng thực
tế đã đi đường vòng, gây thêm cho mình những khó khăn mới và lãng phí thờigian, làm cho trận đường đầu tiên bị kéo dài
Về cơ cấu kinh tế
Hội nghị vạch ra sai lầm chủ quan, nóng vội, quy mô quá lớn, nhịp độquá nhanh trong sở trong xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất là mộtnguyên nhân quan trọng khiến cho sản xuất trong 5 năm gần đây, gần nhưgiẫm chân tại chỗ, năng xuất lao động giảm sút chi phí sản xuất không ngừngtăng lên, tình hình kinh tế - xã hội ngày càng không ổn định Đây cũng lànguyên nhân trực tiếp chậm giải quyết vấn đề căn bản là lương thực, thựcphẩm, hàng tiêu dùng thiết yếu và tọa nguồn hàng lớn cho xuất khẩu
Căn cứ vào nhận định trên, Hội nghị chủ trương điều chỉnh lớn trên cơ
sở bố trí cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư theo hướng thật sự lấy nông nghiệp làmặt trận hàng đầu ra sức phát triển công nghiệp nhẹ
Hội nghị vạch ra sai lầm chủ quan, nóng vội, quy mô quá lớn, nhịp độ
quá nhanh trong sở trong xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất, Hội nghị nhắc
nhở các cấp đảng bộ và cơ quan nhà nước hiểu cho thấu đáo chuyển hướng làviệc rất khó khăn, đòi hỏi phải đổi mới cách suy nghĩ và cách làm, dám thừanhận và thay đổi những sai lầm trước đây của chính mình, dũng cảm xử lýnhững phức tạp nãy sinh trong quá trình chuyển hướng và điều chỉnh
Về cải tạo xã hội chủ nghĩa
Sau khi điểm qua những khuyết điểm nóng vội, chạy theo hình thứccủa công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa thời gian qua, hội nghị đã chỉ ra nguyên
Trang 7nhân là do chưa nắm vững quy luật vận động quy luật đẩy mạnh cải tạo xã hộichủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục suốt thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội.
Quy luật này đòi hỏi:
Cải tạo quan hệ sản xuất cũ ở một nước từ sản xuất ngọt đi lên nhưnước ta, trình độ xã hội hóa còn thấp, phải biết lựa chọn bước đi và hình thứcthích hợp, phải qua những bước trung gian quá độ từ thấp lên cao và từ nhỏđến lớn cho quan hệ sản xuất luôn phù hợp với tính chất và trình độ của lựclượng sản xuất
Đặc trưng thời kỳ quá độ là nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần: a)kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh và tập thể); b) các thành phần khác:công tư hợp doanh, kiểu sản xuất hàng hóa (thợ thủ công, nông dân cá thể,tiểu thương, kinh tế tự nhiên) và kinh tế tư bản tư nhân tồn tại trong một thờigian dài.Đó là sự cần thiết khách quan để phát triển lực lượng sản xuất Kinh
tế xã hội chủ nghĩa phải giữ vai trò chủ đạo
Về cơ chế quản lý kinh tế:
Hội nghị cho rằng cơ chế quản lý kinh tế cũ mang nặng tính chất tậptrung quan liêu đặc trưng của cơ chế ấy là cơ quan quản lý hành chính có toàn
bộ quyền quyết định những vấn đề kinh tế nhưng lại không chịu trách nhiệm
gì về các quyết định của mình: không tính tới hiệu quả sử dụng vốn, tài sản,vật tư, lao động không gánh trách nhiệm với lợi ích vật chất, tách rời cả việctrả công lao động với số lượng và chất lượng lao động: bộ máy quản lý côngcành, nhiều tầng lớp trung gian, cửa quyền, kém năng động, thiếu tráchnhiệm
Hội nghị nêu nội dung chủ yếu của cơ chế quản lý kinh doanh xã hộichủ nghĩa là:
- Đổi mới kế hoạch hóa theo nguyên tắc phát huy vai trò chủ đạo củacác quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa, đồng thời sử dụng đúng đắn các quyluật của quan hệ hàng hóa tiền tệ
Trang 8- Làm cho các đơn vị kinh tế có quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, tựtạo vốn và hoàn vốn, tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất, thu nhập củatập thể và người lao động phải căn cứ vào kết quả lao động và hiệu quả kinhtế.
- Phân biệt chức năng quản lý hành chính kinh tế của nhà nước vớichức năng quản lý sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế
- phân công, phân cấp bảo đảm các quyền tập trung thống nhất củatrung ương trong những khâu then chốt về kinh tế, quyền chủ động của địaphương trên địa bàn lãnh thổ, quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của cơ sở.Trách nhiệm đi đôi với quyền hạn nghĩa vụ gắn liền với lợi ích Vừa thốngvừa chống tập trung quan liêu của chống tự do vô tổ chức, kỷ luật, cục bộ, địaphương
- Công tác kế hoạch hóa phải được tập kết chặt chẽ với thị trường Kếhoạch phải thông qua thị trường, coi thị trường là căn cứ để xây dựng và điềuchỉnh kế hoạch, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa Nhà nước cần sửdụng nhữngBiện pháp quản lý có hiệu quả kinh tế tư bản tư nhân, nghiêm trịbọn đầu cơ buôn lậu nhưng không thể xóa bỏ thị trường tự do theo Ý muốnchủ quan bằng mệnh lệnh hành chính
- chính sách giá cả phải tận dụng tổng hợp nhiều quy luật, trong đóquy luật giá trị có tác dụng trực tiếp, giá cả phải phù hợp với giá trị, sức muacủa đồng tiền và quan hệ cung cầu Thước đo chính sách giá cả đúng đắn là ởchỗ làm cho người lao động làm ra nhiều sản phẩm hàng hóa, tích cực phấnđấu giảm hao tu hao sản xuất, hạ giá thành, nâng cao giá trị sản phẩm và hơnhai bán sản phẩm cho nhà nước
- Phấn đấu thi hành chính sách một giá làm cho thương nghiệp muađược, bán được, nhà nước không phải bù lỗ, không tạo ra nhu cầu giả tạo,ngăn chặn những hiện tượng thất thoát hàng hóa, tạo điều kiện giảm bớt căngthẳng cung cầu và ổn định thị trường Trong điều kiện nhà nước thu đủ điều
Trang 9kiện bảo đảm một số mặt hàng thiết yếu thì tạm thời áp dụng chính sách haigiá ở những nơi, những lúc nhất định.
- Những kết luận trên đây của bộ chính trị là cơ sở để đổi mới và hoànchỉnh dự thảo báo cáo chính trị trình Đại Hội VI, là căn cứ để giải quyếtnhững vấn đề cấp 100 trước mắt, đồng thời là sự đổi mới tư duy về con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, mở đường đưa đất nước ta ra khỏi cuộckhủng hoảng kinh tế xã hội những kết luận của Bộ Chính Trị (8/1986) là bướcđột phá thứ ba để đi đến khẳng định đường lối đổi mới
Hội nghị lần thứ 11 của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Khóa V(11/1986) đã thông qua dự thảo báo cáo chính trị mới được bổ sung và hoànchỉnh bằng những quan điểm của Đại Hội của Hội Nghị Bộ Chính Trị 8/1986
H ội nghị cho rằng: sau khi đã chủ trương đổi mới về việc lựa chọn cán
bộ để thực hiện chủ trương trở thành không quyết định Hội nghị nhất trí nêu
ra những tiêu chuẩn lựa chọn cán bộ: đổi mới tư duy, cần kiệm liêm chính, chícông vô tư; đồng thời nhấn mạnh công tác cán bộ phải đảm bảo đủ quy trình;ban chấp hành trung ương cần có yêu cầu về chất lượng cao và ba độ tuổi; bốtrí cán bộ cân đối cả nước, coi trọng các địa bàn lĩnh vực quan trọng
Căn cứ vào những tiêu chuẩn trên đây, hội nghị đã xem xét, lựa chọn,giới thiệu 177 đồng chí tham gia Ban Chấp Hành Trung ương Đảng khóa VI
Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp Hành trung ương Đảng khóa V(12/1986) văn bản nhất trí với chính sách với danh sách giới thiệu của Hộinghị lần thứ 11, có điều chỉnh một số trường hợp và thông qua danh sách cuốicùng trình Đại hội VI
2 Tiến hành đại hội
Từ thời chiến chuyển sang thời bình, đòi hỏi Đảng phải đổi mới tư duy, thay đổi nội dung và phương thức lãnh đạo cho phù hợp với tình hình mới Nghị quyết Đại hội IV và Đại hội V của Đảng đã đặt ra yêu cầu phải đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, từng bước xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh Tuy vậy, do hoàn
Trang 10cảnh lịch sử lúc bấy giờ, đất nước vừa trải qua nhiều năm chiến tranh, cơ chế tập trung, quan liêu, hành chính mệnh lệnh đã ăn sâu vào tiềm thức của mọi người, việc đổi mới tư duy và phương thức lãnh đạo của Đảng phù hợp với điều kiện mới chưa được đặt ra một cách đúng mức Thắng lợi vĩ đại của cuộckháng chiến chống Mỹ, cứu nước, một mặt, tạo ra những thuận lợi vô cùng to lớn cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; mặt khác, cũng tạo ra tâm lý chủ quan duy ý chí cản trở sự phát triển nhận thức của Đảng Trên nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề, tình trạng Đảng bao biện làm thay khá nghiêm trọng, dẫn đến hệ thống chính trị bị xơ cứng, kém hiệu quả Hoạt động của Nhà nước và các đoàn thể quần chúng nhiều khi chỉ mang tính hình thức Tính độc lập, chủđộng của Nhà nước bị vi phạm, hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước bị hạn chế Kinh tế - xã hội thiếu năng động Quyền làm chủ của Nhân dân không được coi trọng, phát huy một cách thực chất.
Chiến tranh kết thúc, sự viện trợ của các nước anh em giảm dần vàchuyển sang hợp tác, trao đổi theo giá thị trường quốc tế Các thế lực phảnđộng quốc tế câu kết với nhau chống phá quyết liệt cách mạng nước ta Chiếntranh bùng nổ ở hai đầu biên giới Mỹ tiến hành cuộc bao vây, cấm vận nước
ta ngày càng khắc nghiệt Sau sự kiện Campuchia, nước ta gặp rất nhiều khókhăn trong quan hệ đối ngoại, vị thế đất nước bị giảm sút trên trường quốctế
Do những sai lầm trong đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội và quản
lý kinh tế, tình hình kinh tế - xã hội đất nước ngày càng khó khăn: tốc độ tăngtrưởng kinh tế thấp, lạm phát phi mã, hiệu quả đầu tư hạn chế, đời sống Nhândân không được cải thiện, thậm chí nhiều mặt còn sa sút hơn Đất nước dầnlâm vào một cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng
Trước tình hình đó, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp từngbước tháo gỡ khó khăn Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hànhTrung ương khóa IV về phương hướng phát triển hàng tiêu dùng và côngnghiệp địa phương, tháo gỡ các rào cản, làm cho sản xuất “bung ra”; Chỉ thị
Trang 11số 100-CT/TW, ngày 31-1-1981 của Ban Bí thư khóa V về cải tiến công táckhoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động tronghợp tác xã nông nghiệp đã tạo ra những bước đột phá nhất định, song vẫnkhông làm thay đổi được đáng kể tình hình kinh tế - xã hội đất nước Cuộc cảicách giá - lương - tiền năm 1985 không những không cải thiện được tình hình,
mà còn làm cho đời sống của Nhân dân khó khăn hơn Trong bối cảnh đó, Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã được triệu tập Sau những ngàyhọp nội bộ (từ ngày 5 đến ngày 14-12-1986), từ ngày 15 đến ngày 18-12-
1986, Đại hội họp công khai Dự Đại hội có 1.129 đại biểu thay mặt gần 1,9triệu đảng viên trong toàn Đảng, trong số đó có 925 đại biểu thuộc đảng bộcủa 40 tỉnh, thành phố, đặc khu, 172 đại biểu thuộc các đảng bộ trực thuộcTrung ương, 153 đại biểu nữ, 115 đại biểu thuộc các dân tộc thiểu số, 50 đạibiểu là anh hùng lực lượng vũ trang và anh hùng lao động, 72 đại biểu là côngnhân trực tiếp sản xuất Đến dự Đại hội có 35 đoàn đại biểu quốc tế
Đồng chí Nguyễn Văn Linh đọc Diễn văn khai mạc, đồng chí TrườngChinh đọc Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí
Võ Văn Kiệt đọc Phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế, xã hộitrong 5 năm 1986 - 1990
Đại hội khẳng định: “Quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảngtheo tinh thần cách mạng và khoa học”
Đại hội đánh giá cao quá trình dân chủ hóa sinh hoạt chính trị của Đảng
và nhân dân ta trong thời gian chuẩn bị và tiến hành Đại hội
Đại hội đã hoàn toàn nhất trí với những kết luận của Ban Chấp hànhTrung ương về đánh giá tình hình, tổng kết kinh nghiệm, xác định mục tiêu vàphương hướng, chính sách nhằm đưa sự nghiệp cách mạng nước ta tiếp tụctiến lên
Đại hội nhận định: “Năm năm qua là một đoạn đường đầy thử thách đốivới Đảng và nhân dân ta Cách mạng nước ta diễn ra trong bối cảnh quốc tế
và trong nước có những thuận lợi cơ bản, nhưng cũng có nhiều khó khăn,
Trang 12phức tạp Thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu do Đại hội lần thứ V củaĐảng đề ra, nhân dân ta anh dũng phấn đấu, khắc phục khó khăn, vượt qua trởngại, đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội, giành những thắng lợi to lớn trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổquốc và làm nghĩa vụ quốc tế” Bên cạnh việc khẳng định những thành tích đãđạt được, Đại hội cũng đã nhận rõ: “Tình hình kinh tế - xã hội đang có nhữngkhó khăn gay gắt: sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; phânphối, lưu thông có nhiều rối ren; những mất cân đối lớn trong nền kinh tếchậm được thu hẹp, có mặt gay gắt hơn; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩachậm được củng cố; đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn; hiệntượng tiêu cực xảy ra ở nhiều nơi và có nơi nghiêm trọng.
Nhìn chung, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu tổng quát do Đạihội lần thứ V đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đờisống nhân dân”
Không đánh giá thấp những nguyên nhân khách quan, Đại hội cũngnghiêm khắc nêu rõ, nguyên nhân chủ quan của tình hình khó khăn, khủnghoảng là do những sai lầm, khuyết điểm trong sự lãnh đạo, quản lý của Đảng
và Nhà nước Đại hội nhận định trong những năm 1976 - 1980, trên thực tế,chúng ta đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa trong khi chưa có đủ cáctiền đề cần thiết; vừa nóng vội, vừa buông lỏng trong công tác cải tạo xã hộichủ nghĩa; chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế không còn phù hợp Trongnhững năm 1981 - 1985, Đảng chưa cụ thể hóa đường lối kinh tế trong chặngđường đầu tiên, chưa kiên quyết khắc phục chủ quan, nóng vội và bảo thủ, trìtrệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, lạiphạm sai lầm mới, nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối, lưu thông, đãbuông lỏng chuyên chính vô sản trong quản lý kinh tế - xã hội, trong đấutranh tư tưởng, văn hóa, trong việc chống lại những âm mưu, thủ đoạn pháhoại thâm độc của kẻ thù “Những sai lầm nói trên là sai lầm nghiêm trọng vềchủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và về tổ chức thực hiện”
Trang 13Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy, đặc biệt lànhững sai lầm về chính sách kinh tế, là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ
và hành động giản đơn, nóng vội, là khuynh hướng buông lỏng trong quản lýkinh tế - xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc củaĐảng Đó là những biểu hiện của tư tưởng tiểu tư sản vừa tả khuynh, vừa hữukhuynh “Những sai lầm và khuyết điểm trong lĩnh vực kinh tế, xã hội bắtnguồn từ những khuyết điểm trong công tác tư tưởng, tổ chức và công tác cán
Về nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đại hội xác định: “Nhiệm vụbao trùm, mục tiêu tổng quát trong những năm còn lại của chặng đường đầutiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng nhữngtiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trongchặng đường tiếp theo”
Trang 14Trong khi đặt nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội lên hàng đầu, Đạihội vẫn khẳng định phải “đề cao cảnh giác, tăng cường khả năng quốc phòng
và an ninh của đất nước, quyết đánh thắng kiểu chiến tranh phá hoại nhiềumặt của địch, bảo đảm chủ động trong mọi tình huống để bảo vệ Tổ quốc”
Đại hội giao cho Ban Chấp hành Trung ương khóa VI chỉ đạo thực hiệnthành công những nhiệm vụ đề ra trong Báo cáo chính trị, mà quan trọng là:
1- Xây dựng và tổ chức thực hiện ba chương trình về lương thực - thựcphẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, nhằm đạt mục tiêu dưới đây khi kếtthúc chặng đường đầu tiên:
- Bảo đảm nhu cầu lương thực của xã hội và có dự trữ; đáp ứng mộtcách ổn định nhu cầu thiết yếu về thực phẩm Mức tiêu dùng lương thực, thựcphẩm đủ tái sản xuất sức lao động
- Đáp ứng được nhu cầu của nhân dân về những hàng tiêu dùng thiếtyếu
- Tạo được một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực; tăng nhanh kim ngạchxuất khẩu để đáp ứng được phần lớn nhu cầu nhập khẩu vật tư, máy móc, phụtùng và những hàng hoá cần thiết
Ba chương trình mục tiêu là nội dung chủ yếu của kế hoạch 5 năm1986-1990, phải được tập trung cao độ sức người, sức của để thực hiện Phảikết hợp việc xây dựng các ngành kinh tế - kỹ thuật với việc phát huy thếmạnh của từng vùng, từng tỉnh, thành phố theo hướng mở rộng sản xuất vàlưu thông hàng hoá, chú trọng xây dựng kinh tế trên địa bàn huyện; sử dụngđúng đắn và liên kết các thành phần kinh tế, phát huy vai trò chủ đạo của kinh
tế quốc doanh
Các chương trình này phải được cân đối giữa mục tiêu, phương tiện vàbiện pháp; giải quyết đồng bộ cả về tổ chức sản xuất, khoa học - kỹ thuật vàchính sách kinh tế
Ba chương trình này định hướng cho việc sắp xếp lại nền kinh tế quốcdân theo cơ cấu hợp lý, trước hết là bố trí lại cơ cấu sản xuất và điều chỉnh
Trang 15lớn cơ cấu đầu tư nhằm khai thác có hiệu quả khả năng lao động, đất đai và cơ
sở vật chất - kỹ thuật hiện có
Bảo đảm cho nông nghiệp, kể cả lâm nghiệp, ngư nghiệp thật sự là mặttrận hàng đầu, được ưu tiên đáp ứng nhu cầu về vốn đầu tư, về năng lượng,vật tư và lao động kỹ thuật; tập trung trước hết cho những vùng trọng điểmnhằm đạt hiệu quả kinh tế cao Ra sức phát triển công nghiệp nhẹ, tiểu côngnghiệp và thủ công nghiệp, đáp ứng cho được nhu cầu về hàng tiêu dùngthông thường, về chế biến nông, lâm, thuỷ sản, tăng nhanh hàng gia công xuấtkhẩu và các mặt hàng xuất khẩu khác Tiếp tục xây dựng một số cơ sở côngnghiệp nặng và kết cấu hạ tầng, trước hết là năng lượng và giao thông vận tải,phù hợp với điều kiện thực tế, nhằm phục vụ thiết thực các mục tiêu kinh tế,quốc phòng trong chặng đường đầu tiên, và chuẩn bị tiền đề cho việc đẩymạnh công nghiệp hoá trong chặng đường tiếp theo Mở rộng các loại hoạtđộng dịch vụ phục vụ sản xuất, lưu thông, đời sống và du lịch
Tăng cường và kết hợp chặt chẽ hoạt động của các ngành khoa học kỹthuật, khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Tăng mức đầu tư, đi đôi với đổimới cơ chế quản lý và tổ chức lại lực lượng khoa học kỹ thuật, làm cho khoahọc, kỹ thuật gắn chặt với sản xuất và đời sống, đem lại hiệu quả thiết thực,trở thành một bộ phận của lực lượng sản xuất xã hội áp dụng rộng rãi cácthành tựu khoa học và kỹ thuật nhằm trước hết phục vụ ba chương trình mụctiêu
Khẩn trương sửa đổi, bổ sung các chính sách kinh tế, đặc biệt là chínhsách về cung ứng vật tư, lưu thông hàng hoá, giá, thuế, tín dụng, tiền lương nhằm khuyến khích các cơ sở và công nhân, nông dân, thợ thủ công hăng háiphát triển sản xuất
Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Đẩy mạnh xuất khẩu
để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu Tham gia ngày càng rộng rãi vào sự phâncông lao động quốc tế, trước hết và chủ yếu là phát triển quan hệ phân công,hợp tác toàn diện với Liên Xô, với Lào và Campuchia, với các nước khác