Không chỉ là nơi đảm bảo quyền và lợi ích của các đương sự, phiên tòa còn là nơi giáo dục pháp luật, thông quan việc xét xử tại phiên tòa, sẽ góp phần nâng cao hiểu biết và ý thức pháp l
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
Thỏa thuận, thương lượng, hòa giải là những biện pháp luôn được khuyến khích khi giải quyết tranh chấp, mâu thuận giữa các bên trong quan hệ pháp luận dân sự, thương mại, lao động, hôn nhân gia đình Tuy nhiên không phải trường hợp nào các bên cũng có thể tự thỏa thuận được với nhau, và tòa án chính là lựa chon để các bên giải quyết tranh chấp Để đảm bảo giải quyết các yêu cầu của đương sự một cách khách quan, công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, đòi hỏi quá trình tố tụng phải diễn ra nhanh chóng và phù hợp với quy định của pháp luật Phiên tòa sơ thẩm (PTST) có vai trò quan trọng trong trong việc giải quyết vụ việc dân sự (VVDS) Hiên nay pháp luật nước ta đã quy định khá đầy đủ về thủ tục tiến hành PTST tạo cơ sở cho phiên tòa diễn ra hiệu quả Tuy nhiên một số quy định của pháp luật còn hạn chế, dẫn đến việc áp dụng pháp luật trên thực tế gặp nhiều khó khăn Để có thể hiểu hơn về quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục tiến hành phiên tòa sơ thẩm dân sự (PTSTDS) cũng như các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật em xin chọn đề bài
“
Trang 2I Một số vấn đề lý luận chung
1 Khái niệm và Ý nghiã của phiên tòa cấp sơ thẩm dân sự
a Khái niệm đặc điểm của PTSTDS
* Khái niệm PTSTDS : Hòa giải là bước bắt buộc trong thủ tục giải quyết hầu hết vụ
việc dân sự Nếu hòa giải không thành thì phải tiến hành xét xử sơ thẩm VADS Như vậy, PTSTDS là phiên xét xử VADS lần đầu của tòa án Theo quan điểm của tiến sĩ Bùi Thu Huyền
thì “PTSTDS là phiên họp công khai lần đầu của Tòa Án với sự tham gia của những người tham gia tố tụng theo nguyên tắc của những thủ tục nhất định để tòa án đưa ra phán quyết về tòa bộ VADS hoặc những vấn đề còn tranh chấp giữa các bên đương sự”.
* Đặc điểm: PTSTDS có các đặc điểm sau: Thứ nhất, PTSTDS là phiên họp đầu tiên của tòa án để xét xử lần đầu VADS Thứ hai, PTSTDS được tiến hành công khai với sự có mặt của tất cả những người tiến hành và tham gia tố tụng Thứ ba, Tại PTSTDS tòa án sẽ ra phán
quyết để giải quyết tòa bộ hoặc một phần tranh chấp giữa các bên đương sự
b Ý nghĩa của phiên tòa sơ thẩm dân sự:
PTSTDS có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết VADS Tại PTSTDS tòa án sẽ quyết định giải quyết các vấn đề của vụ án, xác định quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự
Không chỉ là nơi đảm bảo quyền và lợi ích của các đương sự, phiên tòa còn là nơi giáo dục pháp luật, thông quan việc xét xử tại phiên tòa, sẽ góp phần nâng cao hiểu biết và ý thức pháp luật của những người tham gia phiên tòa và nhiều người khác trong xã hội
Hơn nữa, hoạt động xét xử còn mang ý nghĩa chính trị, thể hiện đường lối, quan điểm của đảng và nhà nước, nếu việc xét xử tốt sẽ tạo niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng
2 Những quy định chung về phiên tòa sơ thẩm dân sự.
a Nguyên tắc tiến hành phiên tòa sơ thẩm dân sự: Quá trình tiến hành PTSTDS phải
được tiến hành chặt chẽ và phải tuân thủ những nguyên tắc theo quy định của pháp luật, bao gồm những nguyên tắc chung và nguyên tắc đặc thù của TTDS Các nguyên tắc cơ bản được quy định từ điều 3 đến điều 24 Bộ luật tố tụng dân sự 2005 Ngoài ra BLTTDS còn quy định một số nguyên tắc của PTSTDS như: PTST phải được tiến hành đúng thời gian địa điểm được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc giấy báo mở lại phiên tòa (Điều 196), quy định này nhằm đảm bảo cho các đương sự được tham gia phiên tòa; Phiên tòa phải được tiến hành theo phương thức xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục (Điều 197), nhằm đảm bảo cho tòa
án thẩm định và xác minh được đầy đủ, đánh giá một cách toàn diện các chứng cứ tài liệu;…
b Thành phần tiến hành và tham gia phiên tòa sơ thẩm dân sự.
- Hội đồng xét xử (HĐXX): Theo quy định tại điều 52 BLTTDS thì thành phần HĐXX
gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân, trong một số trường hợp đặc biệt có thể có 2 thẩm phán và ba hội thẩm Nếu có căn cứ cho rằng thành viên HĐXX không vô tư trong quá trình tiến hành tố tụng thì phải từ chối hoặc thay đổi thành viên HĐXX
-Người tham gia PTST: những người tham gia tố tụng tại PTST bao gồm nguyên đơn, bị
đơn, người có quyền và lợi ích liên quan, người đại diện, người bảo vệ quyền, lợi ích của
Trang 3đương sự, người làm chứng, người phiên dịch, người giám định Sự tham gia của những người này sẽ góp phần giúp vụ án được giải quyết nhanh chóng, chính xác Việc tham gia của Viện kiểm sát là không bắt buộc, đây là điểm mới của Luật sửa đổi bổ sung BLTTDS năm 2011
c Bản án sơ thẩm và biện bản phiên tòa
- Bản án sơ thẩm: là văn kiện được tuyên nhân danh nhà nước, khi có hiệu lực thì có giá
trị bắt buộc đối với tổ chức, cá nhân được nêu trong bản án Bản án được HĐXX thảo luận, thông qua tuyên sau khi kết thúc PTSTDS Bản án sơ thẩm không có hiệu lực thi hành ngay,
mà có thể bị kháng nghị, kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm
- Biên bản phiên tòa: Biên bản phiên tòa là văn bản phản ánh diễn biến của Phiên tòa,
do thư ký ghi chép Đây là một căn cứ quan trọng để VKS và và tòa án có thẩm quyền xem xét lại việc xét xử của tòa án cấp sơ thẩm
II Đánh giá những điểm đạt được và hạn chế trong quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thủ tục tiến hành phiên tòa sơ thẩm.
1 Thủ tục khai mạc và bắt đầu phiền tòa
* Chuẩn bị khai mạc phiên tòa:
Để đảm bảo cho phiên tòa diễn ra có sự tham gia đầy đủ của NTGTT, kiểm tra lại các trường hợp hoãn phiên tòa, đồng thời xác lập trật tự trước khi xét xử, giúp cho việc giải quyết vụ việc được tiến hành nhanh chóng và hiệu quả, đòi hỏi phải có thủ tục chuẩn bị Điều 212 BLTTDS việc chuẩn bị khai mạc phiên tòa do thư ký tòa án thực hiện, bao gồm các công việc: Ổn định trật tự; kiển tra, xác định sự có mặt vắng mặt của những NTGTT, làm rõ lý do vắng mặt; phổ biến nội dung phiên tòa,… Quy đinh về thủ tục này này rất chi tiết, đầy đủ, rõ ràng
* Bắt đầu phiên tòa:
- Khai mạc phiên tòa: Thủ tục khai mạc phiên tòa được quy định tại điều 213 BLTTSD Việc
khai mạc phiên tòa do chủ tọa tiến hành; thư ký tòa sẽ báo cáo sự có mặt vắng mặt của NTGTT, hội đồng xét xử kiển tra lại; Chủ tọa phổ biến quyền và nghĩa vụ của người tham gia, và hỏi những người có quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người giám định không Trong giai đoạn này, nếu có căn cứ thay đổi người tiến hành, người làm chứng, người phiên dịch thì Hội đồng xét xử phải xem xét, quyết định về việc thay đổi hay không (Điều 214), nếu không chấp nhận thay đổi thì phải công bố rõ lý do Thủ tục này được quy định đầy
đủ, chi tiết và hợp lý, góp phần đảm bảo quyền lợi của những người tham gia tố tụng, đồng thời góp phần đảm bảo cho việc xét xử được tiến hành khách quan, công bằng, vô tư
- Xem xét, quyết định hoãn phiên tòa: Điều 215 BLTTDS quy định, nếu có người vắng
mặt thuộc các trường hợp buộc phải hoãn phiên tòa thì hội đồng xét xử phải xem xét và quyết định hoãn phiên tòa; nếu không thuộc trường hợp bắt buộc hoãn phiên tòa thì chủ tọa phiên tòa phải hỏi xem có ai đề nghị hoãn phiên tòa không, nếu có thì hội đồng xét xử cũng phải xem xét
và ra quyết định Ngoài ra trong giai đoạn này, toà án còn thực hiện các biện pháp nhằm đảm bảo tính khách quan của người làm chứng (điều 216)
Trang 4Có thể thấy các quy định về thủ tục bắt đầu phiên tòa của BLTTDS rất chi tiết và cụ thể, với những quy định này thì vai trò của thẩm phán chủ tọa phiên tòa rất lớn, góp phần đảm bảo cho việc quản lý vụ án của tòa án chặt chẽ, đúng đối tượng, đúng thủ tục tố tụng và đảm bảo quyền lợi của những NTGTT Tuy nhiên một số quy định còn hạn chế Chẳng hạn quy định hoãn phiên tòa trong trường hợp đương sự vắng mặt lần đầu mà không có lý do chính đáng Quy định này tuy bảo vệ được quyền lợi cho một bên đương sự, nhưng lại là không công bằng cho các đương sự có quyền và lợi ích liên quan và sẽ tạo ra một lỗ hổng, để các đương sự cố tình vắng mặt, kéo dài thời gian xét xử Ngoài ra một số căn cứ hoãn phiên tòa còn chưa thật sự sát với thực tế, gây khó khăn cho tòa án trong quá trình xem xét Thực tế cho thấy, rất nhiều trường hợp tòa án xác định sai tư cách đương sự, dẫn tới việc xác định sai căn cứ hoãn phiên tòa
2 Thủ tục hỏi tại phiên tòa.
Để làm rõ yêu cầu, quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên, đòi hỏi tại PTSTDS phải tiến hành thủ tục hỏi BLTTDS quy định về thủ tục này có rất nhiều điểm mới so với pháp lệnh trước đây Ngay tên gọi cũng đổi từ “ thủ tục xét hỏi ” thành “ thủ tục hỏi tại phiên toà”, phản ánh được bản chất cũng như nguyên tắc của PTSTDS
- Hỏi đương sự về thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu.
Thủ tục này được quy định cụ thể tại Điều 217, 218, 219 BLTTDS Quy định này khá đầy
đủ, thể hiện được nguyên tắc tự định đoạt của đương sự, nhằm đảm bảo quyền lợi của đương sự trong phạm vi luật quy định Tuy nhiên, các quy định của pháp luật vẫn còn một số hạn chế, không cụ thể rõ ràng, chính vì vậy việc áp dụng pháp luật khó khăn, không thống nhất Điều 218
quy định “Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi yêu cầu của đương sự, nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu” Thế nào là” vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu”, BLTTDS và nghị Quyết 02/2006 không quy định rõ ràng Nghị quyết hướng dẫn “yêu cầu ban đàu là yêu cầu ban đầu là yêu cầu được thể hiện trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, đơn phản tố của bị đơn, đơn yêu cầu của những người có quyền và lợi ích liên quan” Hướng dẫn này chưa hợp lý và sẽ làm hạn chế
quyền tự định đoạt của đương sự Hơn nữa, quy định này đã dẫn đến các cách hiểu khác nhau trên thực tế: vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu là vượt quá phạm vi quan hệ pháp luật tranh chấp hoặc vượt quá phạm vi giá trị yêu cầu ban đầu, gây khó khăn cho tòa án trong việc áp dụng
- Hỏi về việc tự hòa giải của đương sự: Việc đương sự tự thỏa thuận giải quyết tranh
chấp trong mọi giai đoạn tố tụng luôn được khuyến khích, vì vậy điều 220 quy định trước khi xét xử Chủ tọa phải hỏi xem đương sự có thỏa thuận được với nhau không Nếu các đương sự tự nguyên thỏa thuận được thì HĐXX sẽ xem xét, quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương
sự Đây là điểm mới của BLTTDS so với các văn bản quy định trước đây Tuy nhiên, quy định này vẫn còn một số hạn chế bất cập BLTTDS không quy định rõ ràng phạm vi những vụ án mà Hội đồng xét xử hỏi các bên hòa giải, có thể hiểu tất cả cá vụ án đều được hỏi hòa giải, hoặc các
vụ án không được hỏi hòa giải tại thời điểm chuẩn bị xét xử thì không được hỏi tại phiên tòa
Trang 5Đồng thời không quy định rõ về việc công nhận trong trường hợp các đương sự thỏa thuận được một phần quan hệ trong vụ án
Ngoài ra, theo quy định thì quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự sẽ không được kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Quy định này là một lỗ hổng của pháp luật, bởi nếu trình độ chuyên môn của Hội đồng xét xử hạn chế, dẫn đến quyết định sai, việc quy định quyết định có hiệu lực ngay thì sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người có quyền và lợi ích liên quan, đồng thời còn bỏ đi nguyên tắc hai cấp xét xử
- Nghe đương sự trình bày về vụ án:
Một trong những nguyên tắc đặc thù của BLLTTDS là nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh thuộc về đương sự, để đảm bảo nguyên tắc này, Điều 221 BLTTDS 2004 quy định trình tự các bên đương sự trình bày việc kiện tại tòa Theo quy định này thì người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự và đương sự sẽ cùng tham gia tố tụng, cùng có quyền bổ sung chứng cứ và chứng minh Người bảo vệ quyền và lợi ích sẽ được trình bày trước Quy định này
là hợp lý, bởi người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự là người am hiểu pháp luật, nắm được tình hình của vụ việc, do đó có thể đảm bảo được quyền lợi của đương sự Những quy định mới này đã mởi rộng quyền dân chủ và vai trò của những NTGTT trong việc cung cấp chứng cứ, thực hiện nghĩa vụ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích của mình
Tuy nhiên, một hạn chế là BLTTDS không quy định cụ thể, chi tiết về thủ tục trình bày của đương sự mà quy định đan xen trong phần hỏi, dẫn đến thủ tục PTSTDS vẫn nặng về xét hỏi, đương sự chưa được chủ động trong việc đưa ra chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu của mình
- Tiến hành hỏi tại phiên tòa sơ thẩm:
Thủ tục hỏi được quy định tại điều 222 và hỏi từng người được quy định cụ thể tại các điều
223, 224, 225, 226 BLTTDS Trình tự hỏi tại phiên tòa theo quy định của BLTTDS 2004 có nhiều điểm mới so với quy định của các pháp lệnh trước đó Trước kia, sau khi HĐXX hỏi, đến kiểm sát viên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hỏi Điều 222 BLTTDS quy định, chủ toạ phiên toà là người hỏi trước, sau đó đến hội thẩm nhân dân, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự, những NTGTT khác và KSV là người hỏi sau cùng Quy định này đã hạn chế sự can thiệp của VKS vào việc giải quyết các tranh chấp dân sự, đảm bảo được tính khách quan và dân chủ của PTSTDS Về nội dung hỏi, HĐXX không hỏi về toàn bộ nội dung vụ án, mà chỉ hỏi về những vấn đề mà đương sự trình bày chưa
rõ hoặc có mâu thuẫn Trong thủ tục này, khi cần thiết, HĐXX cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi
âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình ( Điều 228) Đây là sự thể hiện việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động xét xử.(2)
Như vậy, có thể thấy thực chất của thủ tục hỏi tại PTSTDS theo quy định của pháp luật hiện hành là thủ tục trình bày yêu cầu, chứng cứ chứng minh của đương sự và kiểm tra chứng
cứ công khai của những người tiến hành tố tụng và NTGTT Các quy định này khá chi tiết, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế Một số quy định chưa rõ ràng và bao quát được các khả năng
Trang 6xảy ra trên thực tế, đặc biệt là việc giải quyết thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu, công nhận sự thỏa thuận của đương sự, cung cấp chứng cứ,…
3 Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm dân sự:
Tranh luận là hoạt động trung tâm tại PTSTDS, đảm bảo cho đương sự tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Thủ tục này là điểm khác biệt rõ nhất giữa tố tụng dân sự và tố tụng hình sự, nếu như trong tố tụng hình sự, phiên tòa chủ yếu diễn ra giới hình thực xét hỏi, hội đồng xét xử và Viện kiểm sát đóng vai trò quan trọng, thì trong PTSTDS vai trò của VKS bị hạn chế, thay vào đó vai trò của đương sự được thể hiện rõ nét hơn Các quy định của BLTTDS
từ điều 232 đến 235 đã cho thấy tầm quan trọng của hoạt động tranh luận trong việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án và xu hướng đổi mới hoạt động tư pháp ở nước ta là mở rộng quyền tranh luận của đương sự, đề cao vai trò chủ động của đương sự trong việc tranh luận ở tại phiên tòa, bảo đảm cho đương sự bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước toà án
- Thành phần tham gia tranh luận: Điều 232 quy định thành phần tham gia tranh luận
gồm có đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự, cơ quan
tổ chức khởi kiện, quy định này của pháp luật đã thể hiện được bản chất của PTSTDS
- Căn cứ tranh luận: Điều 233 BLTTDS quy định rõ khi phát biểu về đánh giá chứng
cứ, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án các bên phải căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa cũng như kết quả việc hỏi tại phiên tòa Việc BLTTDS 2004 quy định căn cứ tranh luận là điểm mới so với các pháp lệnh trước đó, góp phần hạn chế việc các bên khi tham gia tranh luận chỉ dựa vào suy đoán cảm tính, tranh luận không có căn cứ, đảm bảo cho PTST diễn ra nhanh chóng và hiệu quả
- Về trình tự tranh luận: Trình tự tranh luận được quy định tại điều 232 BLTTDS, theo
đó thì khi phát biểu khi tranh luận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nguyên đơn phát biểu trước, sau đó đương sự bổ sung ý kiến Quy định này đã khắc phục hạn chế trong các pháp lệnh trước đó, thể hiện ở việc quy định cho người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự tranh luận trước, họ là những người am hiểu pháp luật, có kĩ năng tranh luận, do đó có thể bảo vệ quyền lợi của đương sự hiệu quả; sử dụng mọi khả năng tranh luận và các phương pháp chứng minh theo luật định để bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của đương sự Ngoài ra, BLTTDS không giới hạn thời gian tranh luận, chủ tọa phiên tòa chỉ có quyền cắt những ý kiến không có liên quan Điều này tạo điều kiện tối đa cho cho đương sự và những đại diện của họ được thực hiện đầy đủ khả năng tranh luậncủa mình
Có thể thấy các quy định về thủ tục tranh luận tại tòa có nhiều đổi mới hợp lý hơn, tuy nhiên do không quy định cụ thể nguyên tắc tranh luận tại tòa, nên việc tranh luận còn một số hạn chế trên thực tế Nhiều phiên tòa, tại thủ tục tranh luận còn có sự can thiệp quá nhiều của Tòa án và VKS, tính dân chủ, khách quan không được đảm bảo
VKS phát biểu: Tại PTSTDS sự tham gia của VKS là không bắt buộc trong mọi trường
hợp Theo quy định của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS 2004 được thông qua năm 2011 thì: Sau khi những NTGTT phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát
Trang 7biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của NTGTT Đây là điểm mới trong quy định của pháp luật, thể hiện được chức năng giám sát của VKS VKS chỉ phát biểu đối với việc tuân thủ pháp luật, nhưng không được phát biểu về nội dung của vụ án, về sự trình bày của các bên; điều này đảm bảo tính dân chủ, khách quan trong quá trình tố tụng Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong nhiều trường hợp VKS còn can thiệp vào việc giải quyết vụ án, gây ảnh hưởng đến sự vô tư của HĐXX trong quá trình giải quyết Vụ án, đồng thời hạn chế tính dân chủ của PTSTDS
4 Nghị án và tuyên án
Nghị án: là việc hội đồng xét xử xem xét, quyết định giải quyết vụ án trên cơ sở kết quả
của việc hỏi và tranh luận tại phiên tòa Nghị án được BLTTDS quy định tại hai điều 236 và
237 Theo Điều 236 BLTTDS, việc nghị án được tiến hành tại phòng riêng, chỉ có các thành viên của hội đồng xét xử mới có quyền nghị án Quy định này nhằm đảm bảo nguyên tắc nghị
án bí mật, nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, đảm bảo được quyền lợi ích của các bên tham gia
Thứ tự nghị án: hội thẩm nhân dân biểu quyết trước,thẩm phán biểu quyết sau cùng.
Quy định này giúp phát huy vai trò, trách nhiệm của hội thẩm nhân dân
Thời gian nghị án: tối đa không quá 5 ngày làm việc Quy định này đảm bảo nguyên
tắc xét xử liên tục, phát huy trách nhiệm của các thành viên HĐXX trong việc giải quyết vụ án Nhằm mở rộng khả năng tranh tụng, đảm bảo tính dân chủ, tính thận trọng, khách quan, công bằng, Điều 237 BLTTDS quy định nếu xét thấy có tình tiết chưa được xem xét, việc hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì HĐXX quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận
Tuyên án: Sau khi bản án đã được thông qua, hội đồng xét xử trở lại phòng xét xử để
tuyên án Việc quyên án được quy định tại Điều 239 BLTTDS Tuy quy định này có một số điểm mới so với các pháp lệnh trươc đây, đã chú ý đến việc bảo vệ quyền lợi của các đối tượng đặc biệt, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế, không có tính khả thi trên thực tế: điều 239 quy định sau khi tuyên án, nếu đương sự không biết tiếng Việt thì phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ khác Thế nào là sau khi tuyên án, BLTTDS không quy định rõ ràng Thực tế, không phải tại phiên tòa nào cũng có người giỏi ngoại ngữ để có thể dịch chính xác bản án, đặc biệt là đối với các ngôn ngữ không thông dụng, chính vì vậy quy định này không phù hợp và rõ ràng
III Kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về thủ tục tiến hành phiên tòa sơ thẩm dân sự
Qua những phân tích ở trên, có thể thấy BLTTDS và các văn bản hướng dẫn đã quy định khá cụ thể chi tiết về thủ tục tiến hành PTSTDS, có nhiều quy định mới, tiến bộ, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong việc giải quyết các vụ án dân sự,… tuy nhiên, vẫn còn một số quy định không phù hợp, gây khó khăn cho việc hiểu và áp dụng trên thực tế, dẫn đến hiệu quả giải quyết vụ án không cao Nhằm khắc phục những hạn chế còn tồn tại, đảm bảo cho phiên
Trang 8tòa được tiến hành nhanh chóng, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan, em xin đưa ra một số kiến nghị như sau:
1 Thay đổi thành phần của Hội đồng xét xử:
Theo quy định hiện hành thì thành phần HĐXX gồm 1 thẩm phán và 2 hội thẩm, trong trường hợp đặc biệt là 2 thẩm phán và 3 hội thẩm Tuy nhiên thực tế cho thấy, năng lực của hội thẩm nhân dân còn hạn chế, nhiều phiên tòa sự tham gia của hội thẩm nhân dân chỉ mang tính hình thức, hiệu quả nghị án và việc giải quyết VADS chưa cao, nhiều vụ việc xét xử còn sai sót Do đó điều 52 BLTTDS nên sửa theo hướng tăng số lượng thẩm phán so với hội nhẩm:
“HĐXX sơ thẩm VADS gồm 2 thẩm phán và 1 hội thẩm nhân dân Trong trường hợp đặc biệt thì HĐXX sơ thẩm có thể gồm 3 thẩm phán và 2 hội thẩm nhân dân”.
2 Giải thích rõ phạm vi thay đổi, bổ sung yêu cầu của các đương sự.
BLTTDS và các văn bản hướng dẫn chưa quy định cụ thể thế nào là “vượt quá phạm vi
yêu cầu ban đầu”, gây khó khăn cho việc hiểu và áp dụng Vì vậy cần phải có các quy định
hướng dẫn cụ thể, hợp lý quy định này Theo ý kiến của cá nhân em, có thể hiểu phạm vi yêu cầu là phạm vi nội dung quan hệ pháp luật dân sự mà các bên đã yêu cầu pháp luật giải quyết
và phạm vi giá trị yêu cầu Do đó cần quy định tại phiên toà đương sự được quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu nhưng không được vượt quá phạm vi nội dung quan hệ pháp luật theo yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu; không được đưa thêm yêu cầu mới đồng thời không được tăng giá trị yêu cầu gây bất lợi cho các đương sự khác
3 Sửa đổi bổ sung các căn cứ hoãn phiên tòa:
Nên bỏ căn cứ hoãn phiên tòa là trường hợp đương sự vắng mặt lần đầu mà không có lý
do chính đáng Trong các trường hợp này, để nâng cao ý thức hợp tác của các đương sự, đảm bảo quyền và lợi ích của các đương sự khác, nên bổ sung vào khoản 4 Điều 202 về xét xử
trong trường hợp đương sự vắng mặt như sau: “4 nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, lợi ích liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng”.
Ngoài ra, cần bỏ căn cứ hoãn phiên tòa theo khoản 4 Điều 230, và quy định đó là căn cứ tạm ngừng phiên tòa Vì hoãn phiên toà chỉ nên tiến hành khi bắt đầu phiên toà, tức là chưa xem xét giải quyết về mặt nội dung vụ án, còn khi đã xem xét giải quyết về mặt nội dung vụ án nhưng cần phải thu thập thêm chứng cứ mới có thể giải quyết được vụ án thì Hội đồng xét xử phải quyết định tạm ngừng phiên toà
4 Hướng dẫn cụ thể các trường hợp thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự, và đương sự vắng mặt
Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần có hướng dẫn cách giải quyết những vấn đề phát sinh từ việc thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự theo quy định của Điều 219 Theo cá nhân em, khi thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự thì cần công bố rõ địa vị tố tụng mới của đương sự, đồng thời cần quy định rõ kể từ thời điểm thay đổi địa vị tố tụng các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo địa vị được thay đổi
Trang 9Ngoài ra, cần phải giải thích cụ thể thế nào là trường hợp đương sự không có mặt tại tòa, bởi nó ảnh hưởng đến quyền kháng cáo của đương sự sau này Thực tế cho thấy, nhiều vụ
án đương sự đã được triệu tập và có mặt tại PTSTDS, nhưng tại thời điểm nghị án và tuyên án, đương sự bỏ về Vậy đây có thể được xem là trường hợp đương sự vắng mặt không, BLTTDS không quy định rõ Theo em thì nên xem đây là trường hợp đương sự không có mặt tại phiên tòa, để đảm bảo quyền lợi của đương sự
5 Bổ sung các quy định về phần hỏi tại phiên tòa sơ thẩm:
- Sửa đổi quy định về việc công nhận kết quả tự hòa giải của đương sự tại phiên tòa.
Điều 220 không quy định cụ thể việc công nhân sự thỏa thuận là đối với thỏa thuận một phần hay toàn bộ vụ án, do đó để đảm bảo nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự, giúp việc áp dụng pháp luật trên thực tế được dễ dàng, thống nhất, cần sửa đổi, bổ sung quy định tại điều
220 như sau: “Nếu tại PTST, các đương sự thỏa thuận được một trong số các quan hệ tranh chấp thì tòa án ra quyết định tác vụ án và ra quyết định công nhận sự thỏa thuận đối với các quan hệ mà các bên thỏa thuận được, tiếp tục xét xử đối với các quan hệ còn lại” (4)
- Quy định cụ thể, rõ ràng thủ tục từng NTGTT tự trình bày: để tránh tình trạng phiên
tòa nặng về phần xét hỏi, đảm bảo tính dân chủ cũng như quyền lợi của các đương sự cần phải
có quy định cụ thể về thủ tục những người tham gia tố tụng tự trình bày, không nên quy định xen lẫn với thủ tục hỏi
- Thay đổi quy định về phần trình bày của đương sự: Để đảm bảo cho việc xét xử nhanh
chóng, tranh sự rườm rà, mất thời gian, nên thay đổi quy định tại khoản 1 điều 221 theo hướng quy định đương sự không cần trình bày lại về yêu cầu, yêu cầu độc lập, yêu cầu phản tố, đề nghị chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ mà trước đây họ đã trình bày
5 Bỏ sự tham gia của VKS:
Mặc dù các quy định của pháp luật hiện hành đã hạn chế sự tham gia của VKS vào việc giải quyết nội dung của VADS, tuy nhiên thực tế cho thấy, trong rất nhiều vụ án, VKS vẫn can thiệp sâu vào quá trình hỏi và tranh luận, và nghị án Điều đó dẫn đến việc không đảm bảo sự
vô tư, khách quan trong quá trình xét xử, cũng như hạn chế tính dân chủ Do đó em xin đưa ra kiến nghị là hủy bỏ việc tham gia của VKS trong thủ tục hỏi và tranh luận tại PTSTDS
6 Bổ sung quy định về dịch bản án.
Điều 239 quy định sau khi tuyên án, nếu đương sjw không hiểu tiếng việt thì phải dịch sang tiếng nước ngoài Quy định này tuy đảm bảo quyền lợi của đương sự, nhưng lại không khả thi, do không quy định thời gian dịch bản án Vì bản án bản án của toà án là phán quyết nhân danh nhà nước nên việc dịch bản án phải chính xác Do đó cần có thời gian để người phiên dịch dịch bản án sang tiếng nước ngoài Điều 239 BLTTDS cần quy định theo hướng
“trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì chậm nhất sau năm ngày kể từ ngày tuyên án, toà án phải triệu tập đương sự đến nghe người phiên dịch dịch toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ hiểu”.
Trang 10C KẾT LUẬN
Thông qua việc tìm hiểu các quy định của pháp luật TTDS về thủ tục tiến hành PTSTDS
có thể thấy các quy định hiện hành ngày càng được đổi mới theo hướng mởi rộng tranh tụng,
và tính dân chủ trong quá trình xét xử Các quy định này khá cụ thể, đảm bảo được các nguyên tắc trong TTDS, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Tuy nhiên, một
số quy định về thành phần HĐXX, về việc thay đổi bổ sung yêu cầu, về hoãn phiên tòa, về thủ tục hỏi, tranh tụng và nghị án,… còn hạn chế, chưa được quy định rõ ràng, cụ thể dẫn đến việc hiểu và áp dụng trên thực tế còn nhiều khó khăn, hiệu quả của việc giải quyết vụ án chưa cao
Do đó, hi vọng những kiến nghị mà em đưa ra sẽ giúp hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật, nâng cao tính dân chủ, khách quan, công bằng và chính xác của PTSTDS
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.