1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận cao học nội dung và ý nghĩa của báo cáo chính trị tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ vi của đảng

36 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận cao học nội dung và ý nghĩa của báo cáo chính trị tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ vi của đảng
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 1986
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 53,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài Ðại hội lần thứ VI đánh dấu sự đổi mới quan trọng của Ðảng trong lãnh đạo chính trị, tư tưởng, tổ chức Với tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ s[.]

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

- Ðại hội lần thứ VI đánh dấu sự đổi mới quan trọng của Ðảng tronglãnh đạo chính trị, tư tưởng, tổ chức Với tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật,đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật", Ðại hội khẳng định những thành tựu đãđạt được trong nhiệm kỳ trước, đồng thời chỉ rõ: Tình hình kinh tế - xã hộiđang có những khó khăn gay gắt: Sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất vàđầu tư thấp; tài nguyên của đất nước chưa được khai thác tốt; lưu thông khôngthông suốt, phân phối rối ren; những mất cân đối lớn trong nền kinh tế chậmđược thu hẹp, có mặt gay gắt hơn; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậmđược củng cố; đời sống nhân dân, nhất là công nhân, viên chức còn nhiều khókhăn; hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển

- Ðổi mới toàn diện thật sự là ý Ðảng, lòng dân Nghị quyết Ðại hội

VI vào cuộc sống là quá trình thể nghiệm, tìm tòi, từng bước cụ thể hóa, pháttriển và tổ chức thực hiện những định hướng lớn Ðảng và Nhà nước vừa tậptrung giải quyết những vấn đề kinh tế, xã hội cấp bách, giữ vững ổn địnhchính trị, vừa thực hiện đổi mới các lĩnh vực của đời sống xã hội Các chủtrương, chính sách đổi mới bắt đầu mang lại kết quả rõ rệt, tình hình kinh tế

và đời sống nhân dân dần được cải thiện, sinh hoạt dân chủ trong xã hội ngàycàng được phát huy, lòng tin của nhân dân vào công cuộc đổi mới tăng lên

2 Mục tiêu

- Đưa ra nội dung và ý nghĩa của báo cáo chính trị tại đại hội đại biểu

toàn quốc lần thứ VI của Đảng

3 Đối tượng

- Báo cáo chính trị tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của

Đảng

4 Phương pháp nghiên cứu

- Đọc và thu thập thông tin từ tác phẩm

Trang 3

Đại hội đề xướng và lãnh đạo thành công sự nghiệp Đổi mới Đại hội

VI đã đưa ra quan điểm mới về cải tạo xã hội chủ nghĩa dựa trên 3 nguyêntắc: 

- Nhất thiết phải theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất vớitính chất và trình độ của lực lượng sản xuất để xác định bước đi và hình thứcthích hợp. 

- Phải xuất phát từ thực tế của nước ta và là sự vận dụng quan điểmcủa Lênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng củathời kỳ quá độ. 

- Trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa phải xây dựng quan hệ sảnxuất mới trên cả 3 mặt xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độquản lý và chế độ phân phối xã hội chủ nghĩa

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI gồm 124 uỷviên chính thức và 49 uỷ viên dự khuyết

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ nhất bầu BộChính trị, Ban Bí thư Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thưBan Chấp hành Trung ương Đảng

Trang 4

Các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ được giaotrách nhiệm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đại hội khẳng định quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theotinh thần cách mạng và khoa học Đại hội nhận định: Năm năm qua là mộtđoạn đường đầy thử thách đối với Đảng và nhân dân ta Cách mạng nước tadiễn ra trong bối cảnh quốc tế và trong nước có những thuận lợi cơ bản,nhưng cũng có nhiều khó khăn phức tạp Thực hiện những nhiệm vụ, mụctiêu do Đại hội thứ V đề ra, nhân dân ta đã anh dũng phấn đấu đạt đượcnhững thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội,giành những thắng lợi to lớn trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và làmnghĩa vụ quốc tế Đại hội cũng nhận rõ: Tình hình kinh tế - xã hội đang cónhững khó khăn gay gắt; sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tưthấp; phân phối lưu thông có nhiều rối ren; những mất cân đối lớn trong nềnkinh tế chậm được thu hẹp; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm đượccủng cố; đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn… Nhìn chung,chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu tổng quát do Đại hội lần thứ V đề ra là

về cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân

Về nguyên nhân dẫn đến tình hình trên, Đại hội nhấn mạnh trongnhững năm qua việc nhìn nhận, đánh giá tình hình cụ thể về các mặt kinh tế,

xã hội của đất nước đã có nhiều thiếu sót Do vậy đã dẫn đến nhiều sai lầm

“trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹthuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế” Đại hội thẳng thắn chorằng: “Những sai lầm nói trên là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài vềchủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thựchiện”, đặc biệt là bệnh chủ quan duy ý chí, lạc hậu về nhận thức lý luận

Từ thực tiễn, Đại hội nêu lên những bài học quan trọng Một là, trongtoàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”,xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động Hai là, Đảng

Trang 5

phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luậtkhách quan Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật khách quan làđiều kiện bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Ba là, phải biết kết hợpsức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới Bốn là,phải xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một Đảng cầm quyềnlãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. 

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình đất nước, tự phê bình về nhữngsai lầm khuyết điểm, đổi mới tư lý luận trải qua nhiều tìm tòi, khảo nghiệm từthực tiễn, Đại hội đề ra đường lối đổi mới

- Trước hết là đổi mới cơ cấu kinh tế (cơ cấu công – nông nghiệp; cơcấu nội bộ ngành nông nghiệp; ngành công nghiệp nhẹ và tiểu thủ côngnghiệp; công nghiệp nặng và kết cấu hạ tầng; cơ cấu kinh tế huyện)

- Thực hiện ba chương trình kinh tế bao gồm chương trình lương thực,thực phẩm; chương trình hàng tiêu dùng; chương trình hàng xuất khẩu

- Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng vàcải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế

Đại hội VI đã đưa ra quan điểm mới về cải tạo xã hội chủ nghĩa dựatrên 3 nguyên tắc: Nhất thiết phải theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệsản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất để xác định bước đi

và hình thức thích hợp Phải xuất phát từ thực tế của nước ta và là sự vậndụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là mộtđặc trưng của thời kỳ quá độ Trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa phảixây dựng quan hệ sản xuất mới trên cả 3 mặt xây dựng chế độ công hữu về tưliệu sản xuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối xã hội chủ nghĩa

Đại hội đã đề ra phương hướng nhiệm vụ xây dựng và củng cố quan hệsản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế xã hộichủ nghĩa; thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa; kinh tế tư bản tư nhân;kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chính sách xãhội, kế hoạch hoá dân số và giải quyết việc làm cho người lao động Chăm lo

Trang 6

đáp ứng các nhu cầu giáo dục, văn hoá, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ củanhân dân Trên lĩnh vực đối ngoại nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước ta là rasức kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phấn đấu giữ vững hoàbình ở Đông Dương, góp phần tích cực giữ vững hoà bình ở Đông Nam Á vàtrên thế giới, tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô

và các nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa, tranh thủ điều kiện quốc tếthuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồngthời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoàbình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội

Xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao độngvừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý đã được Đại hộilần thứ VI xác định là “cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội” Phươngthức vận động quần chúng phải được đổi mới theo khẩu hiệu: Dân biết, dânbàn, dân làm, dân kiểm tra Đó là nền nếp hàng ngày của xã hội mới, thể hiệnchế độ nhân dân lao động tự quản lý nhà nước của mình

NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA CỦA BÁO CÁO CHÍNH TRỊ

1 Thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật,chính sách cụ thể.

2 Xây dựng chiến lược kinh tế- xã hội và cụ thể hoá chiến lược đóthành những kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và kiểm tra việc thực hiện kếhoạch của Nhà nước, phát hiện những mất cân đối và đề ra những biện pháp

Trang 7

5 Thực hiện quy chế làm việc khoa học có hiệu suất cao.

6 Xây dựng bộ máy gọn nhẹ, có chất lượng cao, với đội ngũ cán bộ

có phẩm chất chính trị, có năng lực quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế, quản

lý xã hội.

- Khái niệm thể chế hóa:

Thuật ngữ “thể chế hóa” được sử dụng lần đầu trong Văn kiện Đại hội

V của Đảng Báo cáo Chính trị tại Đại hội đã khẳng định: Cơ chế “Đảng lãnhđạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý đã được thể chế hóa trong Hiến

pháp ”.Đến Đại hội VI, thuật ngữ “thể chế hóa” được sử dụng khái quát

hơn, thể hiện quan điểm mới của Đảng về pháp luật thời kỳ đổi mới: “Phápluật là thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhândân phải được thực hiện thống nhất trong cả nước Tuân theo pháp luật làchấp hành đường lối, chủ trương của Đảng” Quan điểm mới của Đảng vềpháp luật tiếp tục được khẳng định qua các Đại hội Đảng Đại hội XII đã nhấnmạnh: “Thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, phápluật phù hợp với thực tiễn và đáp ứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng của

nhân dân” Thuật ngữ “thể chế hóa” còn được sử dụng nhiều trong các văn

kiện Đảng, gắn với các quan điểm, chủ trương lớn, mới của Đảng về pháttriển xã hội, Nhà nước, về công tác cán bộ và phương thức lãnh đạo củaĐảng Trong khi đó, giáo trình của các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật, các

từ điển luật học, ngôn ngữ học lại rất ít và hầu như không đề cập đến thuậtngữ này Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (Hoàng Phê chủ biên)chỉ giải thích thuật ngữ “thể chế”, “là những quy định, luật lệ của một chế độ

xã hội, buộc mọi người phải tuân theo (nói tổng quát)” Thực ra, khái

niệm thể chế có nghĩa rộng hơn, không chỉ có thể chế nhà nước mà còn có thể

chế xã hội, và không phải bất kỳ quy định pháp luật nào cũng tạo lập thể chế.Thể chế nhà nước là loại thể chế mà việc xác lập chỉ thuộc thẩm quyền của cơquan nhà nước cao nhất ở Trung ương, địa phương Về nội dung, thể chế lànhững quy định luật lệ xác lập về mặt tổ chức, tức là những quy định xác lập

Trang 8

các thiết chế pháp luật, tổ chức các loại, các lĩnh vực hoạt động nhà nước,hoạt động xã hội, bảo đảm tính hữu dụng và hiệu quả Thể chế như vậy khôngbất biến nhưng là bộ phận ổn định nhất, có hiệu lực pháp lý cao của hệ thốngpháp luật.

Quan niệm về thể chế nêu trên là cơ sở tiếp cận khái niệm thể chế hóa trên những phương diện chủ yếu sau:

Thể chế hóa là phương thức xây dựng pháp luật cổ xưa nhất, có “sức

sống” lâu bền, được các nhà nước từ cổ đại đến hiện đại áp dụng Chính từ

phương thức này mà các hình thức “tập quán pháp”, “tiền lệ pháp”  ra đời.

Với nghĩa là phương thức xây dựng pháp luật, thể chế hóa được thực

hiện theo những hình thức khác nhau, trong đó hình thức được áp dụng phổbiến gồm:

Hình thức trực tiếp, là việc nhà nước thừa nhận những tập quán, quy

tắc đạo đức xã hội, các quyết định cá biệt của cơ quan hành chính, các án lệ

và thể hiện chúng dưới những hình thức pháp luật Việc thể chế hóa các điềuước quốc tế mà nhà nước ký kết hoặc công nhận được thực hiện bằng văn

bản “nội luật hóa”,  hoặc được thực hiện trực tiếp bằng một tuyên bố chính

thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thể hiện trong một văn  bản phápluật cụ thể

Hình thức gián tiếp:Hình thức này được thực hiện bằng việc nhà nước

thể chế hóa một tổ chức, hoặc thể chế hóa một số nhiệm vụ thuộc chức năngcủa tổ chức Với sự thể chế hóa đó, các văn bản do tổ chức ban hành hoặc cácvăn bản thực hiện các nhiệm vụ được thể chế hóa của tổ chức đều có giá trịpháp lý, có tính ràng buộc, tính bắt buộc thi hành một cách phổ biến

Hình thức thể chế hóa gián tiếp cũng được nhiều nhà nước trong lịch sử

áp dụng Vào nửa cuối thế kỷ XVI “nước Anh về thực chất là Nhà nước Cơđốc giáo Nhà nước và nhà thờ hoàn toàn hòa làm một và không thể bị chiaxẻ” Năm 1571, Nghị viện Anh đã thông qua 39 điều khoản là tín điều củanhà thờ Anh, và do đó, “việc không thừa nhận ba mươi chín điều khoản

Trang 9

không còn là tội báng bổ thần thánh nữa, nhưng thay vào đó, được nâng lênthành tội quốc sự”.

Ở Việt Nam, hình thức thể chế hóa gián tiếp được áp dụng là việc Nhànước bằng Hiến pháp, luật (Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Côngđoàn ) để ghi nhận một số nhiệm vụ của tổ chức chính trị - xã hội là

những “nhiệm vụ nhà nước”, như với Mặt trận là nhiệm vụ xây dựng bộ máy

chính quyền, giám sát hoạt động của cơ quan, công chức nhà nước, phản biện

xã hội đối với các chính sách, pháp luật của Nhà nước Trong khuôn khổthực hiện những nhiệm vụ đó, các văn bản do tổ chức chính trị - xã hội banhành, chủ yếu là do cơ quan lãnh đạo trung ương của tổ chức ban hành có giátrị pháp lý

Hình thức thể chế hóa gián tiếp còn có thể được áp dụng trong trườnghợp nhà nước thừa nhận quyền tự quản của một cộng đồng lãnh thổ, với sựbảo trợ của nhà nước Các văn bản của cộng đồng tự quản này có giá trị pháp

lý, song chỉ trong phạm vi lãnh thổ tự quản

Hình thức hỗn hợp:  Ở Việt Nam, hình thức này được áp dụng trong

trường hợp các cơ quan lãnh đạo đảng, lãnh đạo trung ương, các tổ chứcchính trị - xã hội được thể chế hóa phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩmquyền ban hành pháp luật để ra văn bản liên tịch có giá trị pháp lý; hoặc cóthể trong trường hợp thực hiện nhất thể hóa, bằng việc hợp nhất cơ quan lãnhđạo đảng với cơ quan nhà nước theo những tiêu chí nhất định Hiện nay, đây

là xu hướng mới trong đổi mới tổ chức bộ máy đảng Đại hội XII xác định:

“Nghiên cứu thực hiện thí điểm hợp nhất một số cơ quan đảng và nhà nướctương đồng về chức năng, nhiệm vụ”(7).Như thế, theo xu hướng trên, hình

thức hỗn hợp trong thế chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng sẽ rất linhhoạt, được sử dụng phổ biến

- Những đặc điểm của thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảngthành pháp luật

Thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật không

Trang 10

đơn thuần chỉ là phương thức xây dựng pháp luật của Nhà nước Điều đóđược thể hiện qua những đặc điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất, thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng là cơ chế bảo

đảm mang tính chính trị - pháp lý, bảo đảm cho Đảng xác lập và thực hiệnđược sự lãnh đạo của mình đối với Nhà nước và xã hội

Với tính cách là cơ chế bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, thể chế hóađường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật có vai trò đặc biệt quantrọng, đó là:

Thống nhất ý chí của Đảng với ý chí xã hội mà Nhà nước đại diện.Thống nhất giữa tính khoa học, thuyết phục của đường lối, chủ trươngcủa Đảng với tính pháp lý, sự bảo đảm thi hành bởi quyền lực nhà nước vàbằng toàn bộ hoạt động của bộ máy công quyền;

Cụ thể hóa những vấn đề có tính quy luật, định hướng, mục tiêu, quanđiểm, những vấn đề chung về phát triển Nhà nước, phát triển xã hội trongđường lối, chủ trương của Đảng thành các quy tắc xử sự pháp luật điều chỉnhhành vi, hoạt động cụ thể của cá nhân, tổ chức Bằng sự cụ thể hóa đó, thể chếhóa bảo đảm cho đường lối, chủ trương của Đảng được thực hiện chính xác,kịp thời, thống nhất trong toàn quốc, với mọi cá nhân, tổ chức;

Pháp luật có hai chức năng cơ bản - chức năng điều chỉnh và chứcnăng đánh giá Với chức năng đánh giá, pháp luật là tiêu chuẩn khách quan đểphán xét một hành vi, một hoạt động của cá nhân, tổ chức là cần thiết haykhông cần thiết, là hợp lý hay không hợp lý, là đúng hay sai Vì lẽ ấy, thể chếhóa đường lối, chủ trương của Đảng cung cấp cho Đảng những tiêu chí kháchquan đánh giá chất lượng lãnh đạo, chất lượng tổ chức đảng, đảng viên; cũnggiúp cho Đảng kịp thời hoàn thiện đường lối, chủ trương của mình từ kết quảhoạt động thể chế hóa

Những vai trò trên của thể chế hóa còn cho thấy: Thể chế hóa đườnglối, chủ trương của Đảng giúp phân biệt rõ ràng sự lãnh đạo của Đảng vớiquản lý của Nhà nước

Trang 11

Thứ hai, việc thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng được thực hiện qua hai giai đoạn có quan hệ chặt chẽ với nhau, gồm giai đoạn “nhà nước hóa” và giai đoạn “cụ thể hóa”. Ở giai đoạn “nhà nước hóa”, các cơ

quan nhà nước có thẩm quyền xác định những nội dung của đường lối, chủtrương trong các văn kiện của Đảng phải được ghi nhận trong kế hoạch,

chương trình xây dựng pháp luật hằng năm, nhiệm kỳ; ở giai đoạn “cụ thể hóa” những nội dung đó được thể chế hóa thành các điều khoản trong các

hình thức văn bản pháp luật cụ thể

Thứ ba, thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng được thực hiện

theo hai cấp - cấp trung ương là Quốc hội, Chính phủ; cấp địa phương làchính quyền cấp tỉnh, gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân

Từ những đặc điểm của thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng

thành pháp luật được phân tích ở trên khái quát lại là: “Thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật là hoạt động mang tính chính trị - pháp lý, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương, địa phương cấp tỉnh thực hiện qua hai giai đoạn nhà nước hóa và cụ thể hóa, thể hiện trong chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật, bằng các hình thức văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao và thống nhất với nhau, nhằm bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, xây dựng được một hệ thống pháp luật thể hiện thống nhất ý chí của Đảng và nhân dân, có tính khoa học và thực tiễn, hiệu lực và hiệu quả”.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, ngoài việc đưa rađường lối đổi mới về kinh tế mang tầm chiến lược, còn đề ra phương hướng,nhiệm vụ và mục tiêu cho kế hoạch 5 năm 1986-1990 Về kinh tế-xã hội, Đạihội đề ra ba chương trình kinh tế lớn: Chương trình sản xuất lương thực, thựcphẩm; Chương trình sản xuất hàng tiêu dùng và Chương trình sản xuất hàngxuất khẩu, cùng với năm chỉ tiêu cần phấn đấu là:

- Thu nhập quốc dân tăng bình quân mỗi năm 6-7%

- Phấn đấu đến năm 1990 sản xuất được 22-23 triệu tấn lương thực quy

Trang 12

- Sản xuất hàng tiêu dùng tăng bình quân mỗi năm 13-15%

- Giá trị xuất khẩu trong 5 năm 1986-1990 tăng 70% so với 5 năm1981-1985

- Hạ tỷ lệ tăng dân số xuống chỉ còn 1,7% vào năm 1990

Ngày 29-6-1987, Hội đồng Bộ trưởng đã họp bàn việc thực hiệnchương trình công tác 6 tháng cuối năm, tập trung chỉ đạo giải quyết nhữngvấn đề mấu chốt là: xây dựng và thực hiện Ba chương trình kinh tế lớn, bảođảm vật tư nguyên liệu cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ côngnghiệp; đẩy mạnh sản xuất lương thực và huy động, vận chuyển lương thực,bảo đảm lương thực, đặc biệt cho các khu vực trọng điểm, tập trung xử lý tìnhhình giá cả, tiền lương và ổn định đời sống; đổi mới cơ chế quản lý; bảo đảm

an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội

Ngày 3-7-1987, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ký Quyết định số

218-CT cho làm thử việc chuyển hoạt động của ngành Ngân hàng sang hạch toánkinh doanh xã hội chủ nghĩa

Từ ngày 20 đến ngày 28-8-1987, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hànhTrung ương Đảng (Khoá VI) đã họp và thông qua Nghị quyết về “Chuyểnhoạt động của các đơn vị kinh tế cơ sở quốc doanh sang kinh doanh xã hộichủ nghĩa, đổi mới quản lý Nhà nước về kinh tế”

Ngày 9-10-1987, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ký Quyết định về một

số chính sách khuyến khích sản xuất vụ đông, nhằm tăng nhanh lương thực,thực phẩm và hàng xuất khẩu đối với các tỉnh phía Bắc

Ngày 3-11-1987, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số HĐBT về việc chuyển hoạt động của ngành lương thực sang hạch toán kinhdoanh xã hội chủ nghĩa

209a-Ngày 14-11-1987, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 217-HĐBTban hành các chính sách đổi mới kế hoạch hoá và hạch toán kinh doanh xã hộichủ nghĩa đối với các xí nghiệp quốc doanh Quyết định đã trao quyền tự chủ

Trang 13

trong sản xuất, kinh doanh cho các xí nghiệp quốc doanh Xí nghiệp quốcdoanh phải thực hiện hạch toán kinh tế, lấy thu bù chi, Nhà nước không baocấp bù lỗ như trước đây.

Ngày 29-12-1987, kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá VIII, đã thông qua Luậtđất đai, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Ngày 31-12-1987, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 231-HĐBT vềviệc chuyển ngành vật tư sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa và sắpxếp lại tổ chức kinh doanh vật tư

Ngày 9-3-1988, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định số 27-HĐBT, banhành bản Quy định về chính sách đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sảnxuất nông nghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây dựng, vận tải; Nghị định số 28-HĐBT ban hành bản Quy định về chính sách đối với các đơn vị kinh tế tậpthể sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây dựng, vận tải; Nghị định

số 29-HĐBT ban hành bản Quy định về chính sách đối với kinh tế gia đìnhtrong hoạt động sản xuất và dịch vụ sản xuất Cùng với Nghị quyết số 16 của

Bộ Chính trị, các Nghị định trên được ban hành kịp thời, nhằm tạo môi trườngpháp lý cho các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh yên tâm bỏ vốn đầu tư

và mở rộng sản xuất kinh doanh

Ngày 10-3-1988, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng từ trần,trong khi chờ Quốc hội bầu Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng mới, ông Võ VănKiệt, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng làm quyền Chủ tịch Hộiđồng Bộ trưởng

Ngày 24-3-1988, Hội đồng Nhà nước ra Nghị quyết số 66-NQ/HĐNN8

về việc kiện toàn một bước các cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng; cử vàmiễn nhiệm một số thành viên của Hội đồng Bộ trưởng:

Bộ Ngoại thương và ủy ban Kinh tế đối ngoại

Thành lập Bộ Xây dựng (mới) trên cơ sở sáp nhập Bộ Xây dựng và ủyban Xây dựng cơ bản Nhà nước

- Sáp nhập Tổng cục Điện tử và Kỹ thuật tin học vào Bộ Cơ khí và

Trang 14

Luyện kim để tổ chức lại và phát triển ngành điện tử và kỹ thuật tin học.

- Ngày 5-4-1988, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết số NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp Tiếp đó, ngày 20-4-1988,Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ra Chỉ thị số 67-HĐBT về việc triển khaithực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nôngnghiệp Theo tinh thần của Nghị quyết trên, người nông dân được hưởng trêndưới 40% sản lượng nhận khoán Do vậy đã khuyến khích nông dân đầu tưthêm lao động, tiền vốn để phát triển sản xuất Nhiều địa phương, nông dân

10-đã góp vốn làm thuỷ lợi, xây dựng đường giao thông nông thôn, mua thêmmáy móc công nghiệp nhỏ và trâu bò cày kéo, áp dụng kỹ thuật mới, thay thếcây trồng và lựa chọn vật nuôi

Ngày 22-6-1988, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá VIII đã bầu ông ĐỗMười làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (mới)

Trong kỳ họp này Quốc hội đã thông qua Luật quốc tịch Việt Nam và

Bộ Luật tố tụng hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Ngày 6-8-1988, ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư được thành lập,

để chỉ đạo và quản lý thống nhất việc hợp tác và đầu tư của nước ngoài tạiViệt Nam

Ngày 14-11-1988, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định số 169-HĐBT banhành bản Quy định về cơ chế quản lý kinh tế các cơ sở quốc doanh sản xuấtnông nghiệp; Nghị định số 170-HĐBT ban hành bản Quy định về chính sáchđối với kinh tế cá thể, xí nghiệp tư doanh trong nông, lâm, ngư nghiệp; Nghịđịnh số 171-HĐBT ban hành bản Quy định về chấn chỉnh tổ chức, đổi mớiquản lý hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp

Ngày 20-12-1988, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 183-HĐBT vềviệc giải quyết một số vấn đề nhằm đổi mới hoạt động của thương nghiệpquốc doanh

Cuối tháng 1-1989, Hội đồng Bộ trưởng đã họp kiểm điểm công tác chỉđạo, điều hành thực hiện các nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 1988 và bàn nhiệm

Trang 15

vụ năm 1989.

Năm 1988, sự chỉ đạo, điều hành của Hội đồng Bộ trưởng đã có nhữngtiến bộ mới, nổi bật là đã xúc tiến nghiên cứu và ban hành nhiều cơ chế, chínhsách trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng và vậntải quốc doanh, trong lĩnh vực thương nghiệp, kế hoạch hoá gia đình Những

cơ chế này đã thể hiện sự đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI nhằmgiải phóng các năng lực sản xuất, phát huy khả năng của các thành phần kinh

tế và chuyển mạnh các hoạt động kinh tế sang hạch toán kinh doanh Hoạtđộng của Hội đồng Bộ trưởng trong năm 1988 đã tập trung vào các lĩnh vựcnóng bỏng nhất là chống lạm phát, giải quyết các vấn đề giá, lương, tiền, tàichính, thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ để đổi mới tổ chức và quản lý sảnxuất, kinh doanh, đồng thời cũng đã chú trọng giải quyết một số vấn đề vềlĩnh vực văn hoá, xã hội để ổn định từng bước đời sống nhân dân

Năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng phấn đấu nâng cao năng lực quản lýtoàn diện các hoạt động kinh tế-xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao; tiếptục bổ sung, hoàn chỉnh cơ chế, chính sách, nhằm khơi dậy mạnh mẽ hơn nữakhả năng của các thành phần kinh tế, mở rộng hơn nữa kinh tế đối ngoại,tranh thủ những điều kiện thuận lợi mới để khắc phục khó khăn, đưa các hoạtđộng kinh tế-xã hội tiến lên nhanh hơn, có hiệu quả hơn

Ngày 1-2-1989, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 13-HĐBT

về giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất

Ngày 9-3-1989, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 23-HĐBT

về một số vấn đề cấp bách trong công tác giáo dục và đào tạo

Từ ngày 20 đến ngày 29-3-1989, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hànhTrung ương Đảng (Khoá VI) đã họp kiểm điểm hai năm thực hiện Nghị quyếtĐại hội VI và xác định phương hướng, nhiệm vụ ba năm tới Nghị quyết củaHội nghị Trung ương lần này đã tạo ra bước ngoặt cơ bản chuyển sang cơ chếkinh tế mới với chủ trương: phát triển một thị trường xã hội thống nhất thôngsuốt trong cả nước gắn với thị trường thế giới; khẳng định chính sách phát

Trang 16

triển nền kinh tế nhiều thành phần là một chiến lược lâu dài; chấp nhận cơ chếthị trường-cơ chế khách quan của nền kinh tế hàng hoá với sự vận dụng phùhợp trong các hoạt động kinh tế và trong sự quản lý của Nhà nước nhằm bảođảm định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ngày 10-4-1989, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số HĐBT về chính sách liên kết kinh tế trong sản xuất, lưu thông, dịch vụ

38-Ngày 28-4-1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra Chỉ thị số 46-HĐBT

về việc bảo hộ và phát triển sản xuất hàng trong nước

Ngày 24-5-1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ký Quyết định số139-CT về việc cho phép các đơn vị kinh tế quốc doanh, tập thể, hộ cá thểkinh doanh vàng bạc, đá quý

Tiếp đó, ngày 10-6-1989, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định số HĐBT ban hành bản Quy định về chế độ và tổ chức quản lý hoạt động kinhdoanh xuất nhập khẩu

64-Ngày 30-6-1989, kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá VIII, đã Quyết định:

- Chia tỉnh Nghĩa Bình thành 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định

- Chia tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh Phú Yên và Khánh Hoà

- Chia tỉnh Bình Trị Thiên thành 3 tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị vàThừa Thiên-Huế

Ngày 29-9-1989, Chính phủ Việt Nam đã ra Tuyên bố về việc hoànthành rút toàn bộ quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia về nước; khẳngđịnh thiện chí của Việt Nam tiếp tục cố gắng góp phần tích cực cho một giảipháp chính trị về vấn đề Campuchia trên cơ sở các nguyên tắc tôn trọng độclập, chủ quyền và quyền tự quyết của nhân dân Campuchia

Ngày 11-12-1989, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định số 196-HĐBT vềviệc quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước của cácBộ

Ngày 28-12-1989, kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá VIII, đã thông qua LuậtBáo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự

Trang 17

Ngày 29 và 30-12-1989, Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng đã họp vớiChủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và đặc khu để kiểm điểm, rútkinh nghiệm sự chỉ đạo điều hành của Hội đồng Bộ trưởng và ủy ban nhândân các địa phương năm 1989; bàn các biện pháp thực hiện Nghị quyết củaQuốc hội kỳ họp thứ 6, khoá VIII Hội đồng Bộ trưởng quyết định phải tiếptục quy định cụ thể hơn về cơ chế, chính sách để tiếp tục đổi mới toàn diệntheo hướng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội Sự chỉ đạo, điềuhành của các cấp chính quyền phải đáp ứng thật tốt yêu cầu của sự nghiệpphát triển kinh tế; khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển sản xuấtkinh doanh theo pháp luật-gắn chặt chính sách kinh tế với chính sách xã hội,phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa,bảo đảm các quyền lợi và nghĩa vụ của công dân Sau đó từ ngày 2 đến 3-1-

1990, Hội đồng Bộ trưởng đã họp kiểm điểm, tự phê bình và phê bình trongnội bộ Hội đồng Bộ trưởng về sự chỉ đạo, điều hành, cách làm việc trong năm

1989 và quyết định chương trình công tác trong năm 1990

Ngày 4-1-1990, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 07-HĐBT thànhlập hệ thống Kho bạc Nhà nước, chuyển giao nhiệm vụ quản lý Quỹ ngânsách Nhà nước và các Quỹ dự trữ Nhà nước từ Ngân hàng Nhà nước sang BộTài chính

Ngày 31-3-1990, Hội đồng Nhà nước đã quyết định kiện toàn một bướccác cơ quan của Hội đồng Bộ trưởng; cử và miễn nhiệm một số thành viêncủa Hội đồng Bộ trưởng:

1- Thành lập Bộ Văn hoá - Thông tin - Thể thao và Du lịch trên cơ sởcác Bộ Văn hoá, Bộ Thông tin, Tổng cục Thể dục Thể thao và Tổng cục Dulịch để thống nhất quản lý Nhà nước về văn hoá, thông tin, phát thanh, truyềnhình, báo chí, xuất bản, thể dục thể thao và du lịch

2- 2- Thành lập Bộ Thương nghiệp trên cơ sở các Bộ Kinh tế đốingoại, Bộ Nội thương, Bộ Vật tư để thống nhất quản lý Nhà nước đối với cáchoạt động thương mại và dịch vụ

Trang 18

3- 3- Đổi tên Bộ Cơ khí và Luyện kim thành Bộ Công nghiệp nặng đểthống nhất quản lý Nhà nước đối với các hoạt động cơ khí, luyện kim, điện tử,

mỏ, địa chất, dầu khí và hoá chất Phê chuẩn việc giải thể Tổng cục Mỏ vàĐịa chất, Tổng cục Hóa chất, Tổng cục Dầu khí

4- 4- Đổi tên Bộ Giao thông vận tải thành Bộ Giao thông vận tải vàBưu điện Giao cho Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện đảm nhiệm chức năngquản lý Nhà nước đối với ngành Bưu điện và ngành Hàng không dân dụng.Phê chuẩn giải thể Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam

5- 5- Đổi tên ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước thành ủy banKhoa học Nhà nước để thống nhất quản lý Nhà nước về Khoa học tự nhiên,khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội

6- 6- Giao chức năng quản lý Nhà nước đối với ngành Cao su cho BộNông nghiệp và công nghiệp thực phẩm Phê chuẩn giải thể Tổng cục Cao su

Ngày 26-6-1990, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 240-HĐBT vềđấu tranh chống tham nhũng

Ngày 30-6-1990, kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá VIII, đã thông qua cácđạo luật: Luật Công đoàn; Luật thuế doanh thu; Luật thuế tiêu thụ đặc biệt;Luật thuế lợi tức; Bộ Luật hàng hải Việt Nam; Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Bộ Luật tố tụng hình sự

Ngày 1-9-1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số HĐBT về chấn chỉnh và tổ chức lại sản xuất và kinh doanh trong khu vựckinh tế quốc doanh Quy định một số điểm cơ bản về thủ tục giải thể xínghiệp quốc doanh bị thua lỗ nghiêm trọng Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởngcũng đã ra Chỉ thị số 316-CT về việc thí điểm trao quyền sử dụng và tráchnhiệm bảo hoàn vốn sản xuất-kinh doanh của các đơn vị cơ sở

315-Tháng 12-1990, Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 8 đã thông qua các đạoluật: Luật doanh nghiệp tư nhân; Luật công ty; Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Luật nghĩa vụ quân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sĩquan Quân đội nhân dân Việt Nam

Ngày đăng: 19/03/2023, 16:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w