Đó là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại VADS đã được Tòa án cấp dưới giải quyết bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo, kháng nghị nhằm xác lập
Trang 1MỤC LỤC
Lời mở đầu
Nội dung
I Khái quát chung về phiên tòa phúc thẩm dân sự
1 Khái niệm phiên tòa phúc thẩm dân sự
2 Đặc điểm về phiên tòa phúc thẩm dân sự
3 Ý nghĩa của phiên tòa phúc thẩm
II Quy định của pháp luật hiện hành về phiên tòa phúc thẩm dân sự
1 Chuẩn bị khai mạc phiên tòa PTDS và thủ tục bắt đầu phiên tòa
1.1 Chuẩn bị khai mạc phiên tòa phúc thẩm
1.2 Thủ tục bắt đầu phiên tòa
2.Thủ tục hỏi tại phiên tòa phúc thẩm
3.Thủ tục tranh luận
4.Nghị án
5.Tuyên án
III Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự
1.Đánh giá chung về qui định của pháp luật hiện hành về thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự
2/ Thực tiễn áp dụng những quy định về thủ tục tiến hành phiên tòa sơ thẩm dân sự
3/ Một số kiến nghị hoàn thiện
Kết bài
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, việc thực hiện các qui định của pháp luật nói chung và pháp luật về TTDS nói riêng mà đặc biệt là các qui định về thủ tục về phiên tòa phúc thẩm đang có nhiều những điểm đáng lưu ý Vấn đề này luôn dành được nhiều sự quan tâm nghiên cứu, sửa đổi bổ sung cho hoàn thiện từ đó mà yêu cầu thực tiễn đặt ra cần có những quy định đầy đủ hơn, có những văn bản hướng dẫn cụ thể hơn để có sự thống nhất trong áp dụng, đạt được hiệu quả trong tố tụng, đảm bảo quyền lợi ích của đương sự, phù hợp với chế độ nhà nước xã hội chủ nghĩa
Xuất phát từ lí do đó, với yêu cầu của đề tài “Thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự” em xin được
làm rõ những nội dung cơ bản sau
NỘI DUNG
I.Khái quát chung về phiên tòa phúc thẩm dân sự
1.Khái niệm phiên tòa phúc thẩm dân sự.
Trước tiên phải hiểu phúc thẩm dân sự là gì? Khi một quyết định sơ thẩm được tuyên thì bản án, quyết định sơ thẩm đó chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà còn có một thời hạn để các đương sự có thể kháng cáo, viện kiếm sát (VKS) có thể kháng nghị Nếu có kháng cáo hoặc kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm thì tòa án cấp trên trực tiếp sẽ tiến hành xét xử lại vụ án Thủ tục xét xử lại vụ án gọi là phúc thẩm dân sự (PTDS)
Vậy, phúc thẩm dân sự là gì? Đó là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại VADS đã được Tòa án cấp dưới giải quyết bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo, kháng nghị nhằm xác lập tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định đó theo những nguyên tắc và thủ tục nhất định.
Hiện nay, khái niệm về Phiên tòa phúc thẩm dân sự (PTPTDS) đang có nhiều quan điểm đưa ra Có quan điểm cho rằng, PTPTDS là phiên họp của Tòa án cấp trên xét xử lại một
vụ án mà Tòa án cấp dưới đã xét xử sơ thẩm mà có chống án Cũng có quan điểm cho rằng, PTPTDS là hoạt động xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định dân sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị của Tòa án Hay có quan điểm khác lại đưa ra định nghĩa như sau: PTPTDS là phiên họp của Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại VADS đã được Tòa án cấp dưới giải quyết bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo, kháng nghị nhằm xác lập tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án, quyết định đó
Một cách khái quát nhất , chúng ta có thể đưa ra định nghĩa như sau: Phiên tòa phúc thẩm dân sự là phiên họp của tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án dân sự đã được tòa án cấp dưới giải quyết bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo, kháng nghị với sự tham gia của những người tố tụng nhằm xác định tính hợp pháp và có căn cứ của bản án quyết định đó theo những nguyên tắc và thủ tục luật định.
2/ Đặc điểm về phiên tòa phúc thẩm dân sự.
Cũng giống như phiên tòa sơ thẩm dân sự, phiên tòa PTDS cũng mang những đăc điểm chung là nhằm xét xử vụ án một cách có căn cứ và hợp pháp Mặc dù về hình thức thì cũng có những nét giống nhau cơ bản Song, xét về bản chất pháp lí thì phiên tòa phúc thẩm vụ án dân
sự cũng có những đặc điểm riêng phân biệt với phiên tòa sơ thẩm, khác với giám đốc thẩm và tái thẩm ở những nét cơ bản sau:
Thứ nhất, cơ sở tiến hành phiên tòa PTDS là dựa trên kháng cáo, kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
Trang 3Thứ hai, phiên tòa PTDS là phiên họp của tòa án để xét xử lần thứ hai một vụ án dân sự
mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị
Thứ ba, phiên tòa PTDS được tiến hành công khai với sự có mặt của những người tham gia tố tụng có liên quan đến giai quyết kháng cáo, kháng nghị
Thứ tư, thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án dân sự do tòa án cấp trên trực tiếp của tòa
án đã xét xử sơ thẩm vụ án dân sự đó tiến hành
Thứ năm, nội dung của phiên tòa phúc thẩm là kiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án quyết định sơ thẩm trên cơ sở đánh giá chứng cứ đã thu thập được ở cấp sơ thẩm
và những chứng cứ mới thu thập được trong quá trình phúc thẩm để xác định tính có căn cứ, tính hợp pháp của bản án, quyết định sơ thẩm
Thứ sáu, xét xử phúc thẩm dựa trên kháng cáo, kháng nghị nên phạm vi xét xử là những phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị hoặc những phần bản án quyết định có liên quan đến khang cáo, kháng nghị
3/ Ý nghĩa của phiên tòa phúc thẩm.
Dưới góc độ pháp lí: Thông qua việc xét xử tại phiên tòa phúc thẩm, tòa án có thể xem
xét, sửa chữa những sai lầm, vi phạm của tòa án cấp dưới để đảm bảo bản án đã tuyên là có hợp pháp, có căn cứ, xử đúng người, đúng tội và không bỏ lọt tội phạm Đồng thời, đảm bảo được một trong những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự Việt Nam Tại phiên tòa phúc thẩm bản án quyết định bị kháng cáo, kháng nghị căn cứ tài liệu được xem xét đánh giá dựa trên các quy định pháp luật vì thế tòa án cấp trên có thể có thể kiểm tra, đánh giá được chất lượng hoạt động của tòa án câp dưới, phát hiện và khắc phục kịp thời những sai sót, vi phạm pháp luật của tòa án cấp dưới
Dưới góc độ xã hội: Phiên tòa phúc thẩm nhằm khắc phục những sai sót của tòa sơ
thẩm trong việc giải quyết vụ án làm cho các quyền và lợi ích chính đáng của đương sự được đảm bảo một cách đúng đắn, đầy đủ
Dưới góc độ chính trị: Với việc xét xử lại vụ án phiên tòa phúc thẩm góp phần khắc
phục những thiếu sót của bản án quyết định sơ thẩm hoặc là lần nữa khăng định tính đúng đắn của bản án, quyết định sơ thẩm dựa trên những quy định của pháp luật
II/ Quy định của pháp luật hiện hành về phiên tòa phúc thẩm dân sự.
Theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành thi thủ tục tiến hành phiên tòa
phúc thẩm bao gồm các nội dung chính như sau: Chuẩn bị khai mạc phiên tòa phúc thẩm dân
sự và thủ tục bắt đầu phiên tòa; thủ tục hỏi; Thủ tục tranh luận; Nghị án
1/ Chuẩn bị khai mạc phiên tòa PTDS và thủ tục bắt đầu phiên tòa.
Cơ sở pháp lí: được qui định trong BLTTDS năm 2005 từ Điều 212 đến Điều 216 và
theo hướng dẫn phần III 3 nghị quyết 05/2006/HĐTP
1.1/ Chuẩn bị khai mạc phiên tòa phúc thẩm.
Đây là thủ tục bắt buộc đảm bảo cho phiên tòa diễn ra có sự tham gia đầy đủ của những người tham gia tố tụng, kiểm tra xem có trường hợp nào phải hoãn phiên tòa không? Đồng thời còn nhằm xác lập trật tự của phiên tòa trước khi khai mạc Theo qui định của pháp luật thì việc thực hiện các công việc trong bước chuẩn bị khai mạc là nhiệm vụ của Thư kí tòa án
Điều 212 BLTTDS qui định, trước khi khai mạc phiên tòa, thư ký tòa án phải tiến hành các công việc như: phổ biến nội qui phiên tòa, kiểm tra xác định sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của tòa án; Ổn định trật tự phòng
xử án, yêu cầu mọi người trong phòng xử án đứng dậy khi HĐXX vào phòng xử án
1.2/ Thủ tục bắt đầu phiên tòa.
Trang 4- Điều 213 BLTTDS qui định chi tiết về việc khai mạc phiên tòa Đây là một thủ tục bắt buộc phải thực hiện trước khi HĐXX tiến hành xét xử Thủ tục này bao gồm những nội dung chính như sau:
+ Chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử khi khai mạc phiên tòa, chủ tọa phiên tòa yêu cầu mọi người trong phòng xử án đứng dậy.( khoản 1 Điều 213)
Đối với trường hợp HĐXX quyết định hoãn phiên tòa, chủ tọa phiên tòa không đọc lại quyết định đưa vụ án ra xét xử
+ Thư kí tòa án báo cáo với HĐXX về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa(Khoản 2 Điều 213)
+ Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người tham gia phiên tòa trên cơ
sở báo cáo của thư kí tòa và kiểm tra căn cước của các đương sự.( khoản 3 Điều 213)…
- Sau khi khai mạc phiên tòa, trong trường hợp có người yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch thì HĐXX phải xem xét, nghe ý kiến của họ trước khi chấp nhận hoặc không chấp nhận, trường hợp không chấp nhận thì HĐXX phải nêu
rõ lý do
- Xem xét, quyết định hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt
- Bảo đảm tính khách quan của người làm chứng
2.Thủ tục hỏi tại phiên tòa phúc thẩm.
Thủ tục hỏi tại phiên tòa phúc thẩm được qui định khá cụ thể và chi tiết từ điều 268 đến điều 272 và từ điều 222 đến điều 231 BLTTDS năm 2005 và nghị quyết 05/2006/HĐTP
So với các pháp lệnh trước đây thì BLTTDS có nhiều thay đổi hợp lý với các quy định chặt chẽ hơn Theo qui định tại khoản 1 điều 268 BLTTDS thì sau khi kết thúc thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm, một thành viên của HĐXX phúc thẩm công bố nội dung của vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và nội dung kháng cáo kháng nghị
Bên cạnh đó, tại khoản 2 điều 268, 269, 270 BLTTDS cũng qui định về việc chủ tọa phiên tòa tiến hành hỏi các đương sự và giải quyết các vấn đề như:
- Hỏi nguyên đơn có rút đơn kiện hay không Nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì HĐXX hỏi bị đơn có đồng ý không Nếu bị đơn không đồng ý thì HĐXX không chấp nhận việc rút đơn của nguyên đơn và phiên tòa phúc thẩm vẫn tiến hành bình thường Nếu bị đơn đồng ý thì HĐXX chấp nhận việc rút đơn và ra quyết định hủy bỏ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án Trong trường hợp này các đương sự vẫn phải chịu án phí thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm và chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật
- Hỏi người kháng cáo, kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị hay không Nếu có thì HĐXX phải xem xét xem có vượt quá nội dung kháng cáo kháng nghị ban đầu không Việc thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị được hướng dẫn cụ thể chi tiết tại phần I.10.1 nghị quyết 05/2006/HĐTP Về việc rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị thì HĐXX quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần có kháng cáo, kháng nghị đã rút (Điều 256) Trong trường hợp người kháng cáo, VKS kháng nghị rút một phần thì HĐXX ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần đã rút khi có đủ điều kiện quy định tại phần I.10.a nghị quyết 05/2006/HĐTP
- Hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án không Nếu
họ thỏa thuận được và việc thỏa thuận là không trái đạo đức, không trái pháp luật thì HĐXX phúc thẩm ra các bản án phúc thẩm sửa lại bản án sơ thẩm và công nhận sự thỏa thuận quy định này nhằm bảo vệ quyền tự định đoạt của đương sự, phù hợp với lý luận về TTDS
Trang 5- Điều 271 BLTTDS qui định: sau khi chủ tọa phiên tòa đã hỏi mà nguyên đơn không rút đơn khơi kiện, người kháng cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo, VKS vẫn giữ kháng nghị mà các đương sự không thỏa thuận được với nhau thì HĐXX phúc thẩm bắt đầu xét xử bằng việc nghe lời trình bày của các đương sự
- Sau khi nghe các đương sự trình bày về yêu cầu, đề nghị của mình, HĐXX tiến hành hỏi, công bố tài liệu và xem xét vật chứng
3/ Thủ tục tranh luận:
Như chúng ta biết, tranh luận tại phiên tòa là hoạt động trung tâm của phiên tòa, bảo đảm cho đương sự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước tòa án Để mở rộng quyền tranh luận của đương sự, đề cao vai trò chủ động của đương sự BLTTDS đã qui định thủ tục tranh luận tại phiên tòa nhằm tìm ra sự thật khách quan của vụ án và phù hợp với xu hướng đổi mới hoạt động tư pháp ở nước ta Tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm được thể hiện giống như tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, thứ tự phát biểu khi tranh luận được thực hiện theo quy định tại điều 271 BLTTDS và chỉ được tranh luận về các vấn đề thuộc phạm vi xét
xử phúc thẩm và đã được hỏi tại phiên tòa phúc thẩm
Về nội dung tranh luận cần tập trung hai nội dung quan trọng đó là: Phân tích đánh giá chứng cứ, tranh luận bảo vệ lý lẽ của mình, đưa ra các chứng cứ để bác bỏ lý lẽ bên kia và chi
rõ việc áp dụng quy phạm pháp luật nào để giải quyết vụ án và trong khi phát biểu tranh luận các bên đề xuất quan điểm của mình về hướng giải quyết trên cơ sở các tài liệu chứng cứ đã thu thập được và đã được các bên thảo luận, xem xét, xác minh, thừa nhận tại phiên tòa
Về phạm vi tranh luận : phạm vi tranh luận tại phiên tòa PTDS chỉ giới hạn ở những vấn đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm, nghĩa là những vấn đề có khánh cáo, kháng nghị hoặc liên quan đến vấn đề giải quyết kháng cáo, kháng nghị
Về trình tự tranh luận: bao gồm hai nội dung chính như sau:
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự kháng cáo trình bày nội dung kháng cáo và căn cứ của kháng cáo, người kháng cáo có quyền bổ sung Nếu chỉ có VKS kháng nghị thì kiểm sát viên trình bày nội dung kháng nghị và các căn cứ kháng nghị, trong trường hợp vừa có căn cứ kháng cáo và vừa có kháng nghị thì nguyên đơn trình bày trước sau
đó đến kiểm sát viên
Trong trường hợp đương sự không có người bảo vê quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thì họ tự trình bày về nội dung kháng cáo và căn cứ kháng cáo
Sau khi người tham gia tố tụng dân sự phát biểu tranh luận và đối đáp xong, trong trường hợp có VKS tham gia phiên tòa, chủ tọa phiên tòa đề nghị kiểm sát viên phát biểu ý kiến của VKS về hướng giải quyết vụ án
4.Nghị án.
Nghị án là việc dựa trên cơ sở kết quả của việc hỏi và tranh luận tại phiên tòa, HĐXX xem xét quyết đinh giải quyết vụ án Điều 274 BLTTDS thì việc nghị án, trở lại việc hỏi và tranh luận, thời gian nghị án, sửa chữa, bổ sung bản án phúc thẩm được tiến hành như thủ tục
sơ thẩm So với các quy định tố tụng trước đây về thủ tục nghị án, Điều 236 BLTTDS quy định khá đầy đủ và chi tiết về nguyên tăc, trình tự, căn cứ và nội dung nghị án
- Về nguyên tắc và trình tự nghị án,Điều 236 quy định chỉ có các thành viên HĐXX mới có quyền nghị án, giải quyết các vấn đề bằng biểu quyết theo đa số, hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, thẩm phán biểu quyết sau cùng…người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày
ý kiến bằng văn bản như vậy, việc nghị án là bí mật
Trang 6- Căn cứ nghị án được quy đinh tại khoản 3 Điều 236 BLTTDS theo đó khi nghị án các thành viên HĐXX chỉ được căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả hỏi tại phiên tòa và xem xét đầy đủ các ý kiến của người tham gia tố tụng, Kiểm sát viên
- Về nội dung nghi án, khoản 2 Điều 236 có quy định khi nghị án các thành viên HĐXX phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án Đối với phiên tòa phúc thẩm dân sự phải giải quyết các vấn đề trong phạm vi kháng cáo, kháng nghị và những vấn đề có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị
- Về thời gian nghị án, quy định tại khoản 5 Điều 236: trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, việc nghị án đòi hỏi phải có thời gian dài thì HĐXX có thể quyết định thời gian nghị án, nhưng không quá 5 ngày kể từ khi kết thúc tranh luận tại phiên tòa
Kết luận: Khi nghị án có thể xảy ta hai trường hợp: một là, qua nghị án, nếu thấy tình
tiết của vụ án chưa được xem xét, việc hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ, HĐXX quyết định trở lại việc hỏi va tranh luận.hai là, HĐXX ra bản án, quyết định về giải quyết vụ án dân sự
5/Tuyên án.
Theo quy định tại Điều 274 BLTTDS thủ tục tuyên án tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện như phiên tòa sơ thẩm được quy định tại Điều 239 BLTTDS
Sau khi bản án được thông qua, HĐXX trở lại phòng xét xử để tuyên án, theo Điều
239 BLTTDS khi tuyên án mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy, trừ trường hợp đặc biệt được phép của chủ tọa phiên tòa Chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viễn khác của HĐXX đọc bản án và sau khi đọc xong có thể giải thích thêm về việc thi hành bản án và quyền kháng cáo Trong trường hợp đương sự không biết tiếng việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết để thực hiện quy định này thống nhất, phần III.11 của nghị quyết 02/2006/HĐTP đã có quy định hướng dẫn cụ thể hơn
III Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự.
1.Đánh giá chung về qui định của pháp luật hiện hành về thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự.
Trong BLTTDS, chế định phúc thẩm dân sự được quy định tại Phần thứ ba gồm 3 chương (từ Chương XV đến Chương XVII), 39 điều luật (từ Điều 242 đến Điều 281) Có thể nói, các quy định trong BLTTDS về thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự đã được kế thừa từ Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động Tuy nhiên, các quy định này đã
có sự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước cũng như công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta Những sửa đổi, bổ sung cơ bản về thủ tục phúc thẩm dân sự trong BLTTDS gồm những vấn đề cơ bản sau đây:
Điều 68 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các VADS, Điều 69 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các VAKT, Điều 70 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động quy định về thủ tục phiên toà phúc thẩm rất sơ sài, chỉ quy định chung chung là được tiến hành tương tự phiên toà
sơ thẩm Trong BLTTDS đã quy định cụ thể, chi tiết về trình tự, thủ tục tiến hành phiên toà phúc thẩm từ khi chuẩn bị khai mạc phiên toà đến khi kết thúc phiên toà trong đó đã bổ sung các quy định để đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp, mở rộng quyền dân chủ, phát huy tính
Trang 7tích cực, chủ động của các đương sự và những người tham gia tố tụng khác trong việc trình bày yêu cầu, đề nghị, xuất trình chứng cứ, xét hỏi và tranh luận tại phiên toà Cụ thể:
- Trước khi khai mạc phiên toà, thư ký toà án phải tiến hành các công việc để chuẩn bị khai mạc phiên toà Sau đó, chủ toạ phiên toà khai mạc phiên toà; giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; xem xét, quyết định, hoãn phiên toà khi có người vắng mặt; bảo đảm tính khách quan của người làm chứng (Điều 267, 212,
213, 214, 215, 216)
- Trong phần hỏi tại phiên toà, BLTTDS đã có một số quy định mới so với các văn bản pháp luật tố tụng trước đây cụ thể như sau:
Thứ nhất, chủ toạ phiên toà hỏi và hội đồng xét xử xem xét việc rút đơn khởi kiện của
nguyên đơn, việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị, việc thoả thuận của cá đương
sự tại phiên toà phúc thẩm
Nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì hội đồng xét xử phải hỏi bị đơn có đồng ý hay không? Nếu bị đơn không đồng ý thì hội đồng xét xử không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn và phiên toà phúc thẩm vẫn tiến hành bình thường Nếu bị đơn đồng ý thì hội đồng xét xử chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn và ra quyết định huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án (Điều 268, 269) Quy định mới này vừa thể hiện sự tôn trọng nguyên tắc quyền tự định đoạt của dương sự đồng thời vừa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác
Nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, thoả thuận của họ
là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, thì hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm sửa lại bản án sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận của đương sự (Điều 268, 270)
Thứ hai, việc nghe lời trình bày của các đương sự tại phiên toà Theo quy định tại Điều
271 BLTTDS người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự thường trình bày trước sau đó đương sự bổ sung ý kiến Quy định mới này cho thấy việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự dần dần được giao cho những người am hiểu pháp luật và có chuyên môn cao thực hiện như vậy chất lượng và hiệu quả xét xử sẽ được nâng cao cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo vệ một cách tốt nhất
Việc tiến hành tranh luận, nghị án, trở lại việc hỏi và tranh luận, thời gian nghị án, tuyên án, sửa chữa, bổ sung bản án phúc thẩm được thực hiện như thủ tục sơ thẩm tuy nhiên việc hỏi và tranh luận chỉ về những vấn đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm (Điều 273, 274)
Các quy định BLTTDS về phiên toà phúc thẩm đều nhằm thể hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong hoạt động tư pháp theo xu hướng thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch trong phiên toà đồng thời tôn trọng và phát huy quyền tự định đoạt của đương
sự qua đó toà án có thể ra được một bản án chính xác, công bằng và đúng pháp luật
2/ Thực tiễn áp dụng những quy định về thủ tục tiến hành phiên tòa sơ thẩm dân sự:
a/Một số thành tựu:
Năm 2007, việc giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình: các tòa án cấp phúc thẩm đã thụ lý 17.660 vụ việc, đã giải quyết 16.722 vụ việc, đối với công tác giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về kinh doanh thương mai và yêu cầu tuyên bố phá sản, tòa
án cấp phúc thẩm đã thụ lý 485 vụ viêc, đã giải quyết được 401 vụ việc, công tác giải quyết tranh chấp, yêu cầu về lao động tòa án phúc thẩm đã thụ lý 244 vụ việc, đã giải quyết 240 vụ việc
Năm 2008, việc giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình: các tòa án cấp phúc thẩm đã thụ lý 16.862 vụ việc, đã giải quyết 16.098 vụ việc, đối với công tác
Trang 8giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về kinh doanh thương mai và yêu cầu tuyên bố phá sản, tòa
án cấp phúc thẩm đã thụ lý 626 vụ viêc, đã giải quyết được 538 vụ việc, công tác giải quyết tranh chấp, yêu cầu về lao động tòa án phúc thẩm đã thụ lý 193 vụ việc, đã giải quyết 189 vụ việc
Năm 2009, vê dân sự, tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý 214.174 vụ việc, đã giải quyết, xét xử được 194.358 vụ việc đã đạt được 90,7 % Trong đó, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm 15.893 vụ việc
Như vậy, trên cơ sở các con số đã được thống kê thì hàng năm số lượng vụ án tòa án các cấp đã thụ lý, giải quyết theo trình tự phúc thẩm có xu hướng tăng, tuy nhiên tỉ lệ giải quyết các vụ án đã thụ lý của tòa án phúc thẩm còn đạt tỷ lệ cao Điều đó cho thấy khả năng hiệu quả hoạt động cuat tòa án các cấp còn nhiều hạn chế và bất cập Mặc dù vậy thì ta có thể nói tòa án các cấp đã hoàn thành các tiêu chí công tác đề ra, chất lượng xét xử tại phiên tòa phúc thẩm dân sự được đảm bảo hơn
b/ Một số bất cập và hạn chế trong thực tiễn hoạt động của phiên tòa phúc thẩm.
Bên cạnh những thành tựu đạt được thì cũng còn không ít những hạn chế, những bất cập trong qui định của pháp luật hiện hành cũng như trên thực tiễn hoạt động của tòa án khi tiến hành phiên tòa phúc thẩm Vậy, những bất cập đó là gì?
Thứ nhất, không đưa đầy đủ người vào tham gia tố tụng.
Việc bỏ sót người tham gia tố tụng là một trong những sai lầm nghiêm trọng nên tòa án cấp trên phải hủy bản án hoặc kháng nghị bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật để giải quyết lại các sai lầm thường gặp là việc tòa án không đưa ra đầy đủ người tham gia tố tụng trong trường hợp giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi của một người nào đó mà không ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan Trên thực tế, có tòa án không đưa đầy đủ các đồng sở hữu hoặc các đồng thừa kế tham gia tố tụng nhưng lại giải quyết cả phần tài sản của họ trong khối tài sản chung với người khác
có tranh chấp trong vụ án nên việc giải quyết là sai
Tòa án cấp sơ thẩm bỏ sót người tham gia tố tụng, tòa án cấp phúc thẩm phát hiện ra việc này đưa họ ra tham gia tố tụng và buộc người đó phải chịu nghĩa vụ là vi phạm nghiêm trọng trong tố tụng về phạm vi xét xử phúc thẩm Khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã không xác minh đầy đủ những người có liên quan đến nội dung đang tranh chấp để họ tham gia tố tụng Bản án sơ thẩm có kháng cáo, Tòa án cấp phúc thẩm phát hiện ra những sai xót này, nhưng thay vì phải hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại sơ thẩm, thì Tòa án cấp phúc thẩm lại đưa thêm người tham gia tố tụng, đồng thời buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ là xét xử cả phần cấp sơ thẩm chưa xét xử và vi phạm
Bị đơn chết, tòa án không đưa người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn vào tham gia tố tụng Điều 62 BLTTDS quy định kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: “ trường hợp đương sự là cá nhân…tham gia tố tụng ”Do đó, chỉ có đương sự trong vụ án chết thì tòa án phải làm rõ là họ để lại tài sản thừa kế hay không và ai là người được thừa kế tài sản để từ đó, triệu tập người thừa kế tham gia tố tụng và giải quyết vụ án Nếu chưa có người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng thì căn cứ khoản 1 điều 189 BLTTDS để tạm đình chỉ giải quyết vụ
án, nếu đương sự chết mà quyền và nghĩa vụ không được thừa kế thì căn cứ điều 192 BLTTDS để đình chỉ
Thực tế khi tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết vụ án thì bị đơn chết hoặc sau khi xét xử
sơ thẩm bị đơn chết và người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng nhưng tòa án không triệu tập người thừa kế của bị đơn tham gia tố tụng là không đúng pháp luật
Trang 9Thứ hai, Tòa án giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự.
Pháp luật TTDS đã qui định rõ về quyền khởi kiện, phạm vi khởi kiện, nội dung, hình thức đơn khởi kiện…của đương sự Tại phiên tòa thì người khởi kiện vẫn có quyền thay đổi,
bổ sung yêu cầu khởi kiện nhưng viậc bổ sung, sửa đổi của họ không được vuợt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện Trong thực tế, có một số trường hợp người khởi kiện đã thể hiện rõ yêu cầu, nhưng khi xét xử thì Tòa án phúc thẩm lại buộc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ vuợt quá yêu cầu của nguyên đơn
Trong thực tiễn áp dụng các qui định của pháp luật tố tụng tại PTPTVADS còn nhiều tồn tại bất cập như việc Tòa án cấp phúc thẩm phát hiện một số sai lầm nghiêm trọng của Tòa
án cấp sơ thẩm, nhưng không hủy bản án sơ thẩm mà lại kiến nghị Giám đốc thẩm bản án
3/ Một số kiến nghị hoàn thiện:
Trước những vướng mắc như đã nêu ở trên, chúng ta cần có một sự điều chỉnh phù hợp với những thay đổi của thực tế Bên cạnh những giải pháp về pháp luật chúng ta cũng cần có những giải pháp về thực tế thực hiện những qui định của pháp luật về thủ tục phiên tòa phúc thẩm để đảm bảo đúng yêu cầu và trình tự thủ thủ của quá trình giải quyết một vụ án dân sự Những giải pháp được đưa ra đó là:
Thứ nhất, pháp luật cần bổ sung qui định về khái niệm thế nào là “vượt quá nội dung
kháng cáo, kháng nghị ban đầu” Thông thường khi vụ án đã được xét xử tại phiền tòa phúc thẩm thì cũng đã hết thời hạn kháng cáo, có nghĩa thường thì tại phiên tòa phúc thẩm nếu đương sự, VKS có thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị thì HĐXX phải xem xét xem việc
bổ sung thay đổi có vượt quá nội dung kháng cáo, kháng nghị ban đầu không, tuy nhiên thế nào là vượt quá nội dung kháng cáo, kháng nghị ban đầu thì BLTTDS cũng như nghi quyết 05/2006/HĐTP lại không có quy định cụ thể, vì thế cần thiết phải có văn bản ban hành hướng dẫn vấn đề này
Thứ hai, về vấn đề đình chỉ tại phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự: Tại phiên tòa phúc
thẩm, HĐXX có thể đình chỉ xét xử phúc thẩm hoặc có thể đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Tính chất của đình chỉ xét xử phúc thẩm không làm chấm dứt các quyền và nghĩa vụ về mặt nội dung mà chỉ chấm dứt thủ tục tố tụng phúc thẩm Nói cách khác, đình chỉ xét xử phúc thẩm làm chấm dứt hoạt động hoạt động xét xử phúc thẩm nhưng cũng đồng thời làm phát sinh hiệu lực pháp luật của bản án, quyết định sơ thẩm, như vậy quyền và nghĩa vụ trong bản
án, quyết định sơ thẩm của các đương sự phải được đương sự tôn trọng và thi hành Căn cứ của việc đình chỉ xét xử phúc thẩm được quy định tại Điều 192, 260 BLTTDS Như vậy theo quy định của BLTTDS thì hai căn cứ đầu của Điều 192 cùng với quy định điều 260 BLTTDS
ta thấy nó vừa là căn cứ đình chỉ giải quyết đình chỉ vụ án tại thủ tục phúc thẩm vừa là căn cứ đình chỉ xét xử phúc thẩm Quy định này đã gây ra khó khăn trong thực tiễn áp dụng khi nào tòa án cấp phúc thẩm sẽ đình chỉ giải quyết vụ án và khi nào sẽ đình chỉ xét xử phúc thẩm Nghị định 05/2006 cũng không có hướng dẫn về quy đinh này Vậy nên sự bổ sung quy định hướng dẫn vấn đề này là cần thiết
Thứ ba, về về việc hoãn phiên tòa: Đối với trường hợp vụ án có nhiều đương sự phải
tham gia phiên tòa phúc thẩm có thể xảy ra trường hợp phải hoãn phiên tòa nhiều lần do họ vắng mặt lần lượt tại các phiên tòa vì nhiều lý do BLTTDS hiện nay chưa có quy đinh nhằm chi phối vấn đề này Để đưa ra biện pháp hạn chế số lần hoãn phiên tòa mà vẫn bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của các đương sự là hết sức khó khăn, đây cũng là khe hở cho các đương
sự không có thiện chí cố ý kéo dài thời gian giải quyết vụ án
Trang 10Thứ tư, về tranh luận tại phiên tòa: Về những người tham gia tranh luận cần bổ sung
thêm điều luật quy định về người có quyền tham gia tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm đó là đương sự, người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương
sự có quyền tham gia tranh luận Trong trường hợp viện kiểm sát kháng nghị thì viện kiểm sát
có quyền tranh luận
KẾT BÀI
Trên cơ sở những phân tích về thủ tục phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự, chúng ta thấy được những ý nghĩa vô cùng quan trọng của phiên tòa phúc thẩm trong quá trình giải quyết vụ
án dân sự để cho hoạt động đấu tranh phòng chống những sai phạm, thiếu sót trong quá trình
vụ án dân sự được đảm bảo tốt hơn Tuy nhiên, một thực tế cho thấy rằng, bên cạnh những thành tựu đạt được thì cũng tồn tại cũng không ít những bất cập và hạn chế, vì vậy chúng ta cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục những thiếu sót trên để cho hoạt động tố tụng của pháp luật Việt Nam được hoàn thiện hơn