1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng Kinh tế học sinh thái

163 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài giảng kinh tế học sinh thái
Tác giả Trương Đức Toàn
Trường học Trường Đại Học Thủy Lợi
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 2,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TẠI SAO PHẢI NGHIÊN CỨU KINH TẾ HỌC (5)
    • 1.1 Kinh tế học là gì? (5)
    • 1.2 Mục đích của khóa học (7)
    • 1.3 Kinh tế học “đồng tiến hóa” (coevolutionary) (9)
      • 1.3.1 Từ hình thức săn bắn-hái lƣợm đến nền sản xuất công nghiệp (0)
      • 1.3.2 Cuộc cách mạng công nghiệp (10)
    • 1.4 Kỷ nguyên ràng buộc về sinh thái (11)
      • 1.4.1 Tỷ lệ thay đổi (11)
      • 1.4.2 Thách thức để đạt đƣợc thay đổi theo mong muốn (0)
      • 1.4.3 Mối liên hệ giữa quy mô bền vững và sự phân phối (12)
    • 1.5 Các ý chính cần ghi nhớ (13)
  • CHƯƠNG 2: TẦM NHÌN CĂN BẢN (15)
    • 2.1 Tổng thể và bộ phận (15)
    • 2.2 Quy mô tối ƣu (16)
    • 2.3 Lợi ích biên giảm dần và tăng trưởng phi kinh tế (17)
    • 2.4 Dịch chuyển mô hình (Paradigm shift) (21)
    • 2.5 Định luật Say: Cung tạo ra cầu của chính nó (23)
    • 2.6 Thất thoát và thâm nhập trong dòng chu chuyển (23)
    • 2.7 Nhập lƣợng tuyến tính và các định luật Nhiệt động lực học (26)
      • 2.7.1 Sự nhầm lẫn về quy mô (26)
      • 2.7.2 Vai trò của thông lƣợng (29)
    • 2.8 Các ý chính cần ghi nhớ (30)
  • CHƯƠNG 3: NHU CẦU, NGUỒN LỰC VÀ CHÍNH SÁCH (31)
    • 3.1 Nhu cầu và nguồn lực– Đối ngẫu song hành (31)
      • 3.1.1 Nguồn lực (31)
      • 3.1.2 Thông tin: Tài nguyên quan trọng? (32)
      • 3.1.3 Chất thải đƣợc xem nhƣ một nguồn tài nguyên? (0)
      • 3.1.4 Nhu cầu (34)
    • 3.2 Phỏng đoán chính sách (35)
    • 3.3 Thuyết tiền định (determinism) và thuyết tương đối (relativism) (35)
    • 3.4 Dải Nhu cầu – Nguồn lực (38)
    • 3.5 Ba chiến lƣợc lồng ghép sinh thái học và phát triển kinh tế (40)
      • 3.5.1 Thống trị về kinh tế (41)
      • 3.5.2 Quan điểm sinh thái học chủ nghĩa (43)
      • 3.5.3 Kết hợp hài hòa trong tiểu hệ thống (44)
    • 3.6 Các ý chính cần ghi nhớ (44)
  • CHƯƠNG 4: BẢN CHẤT CỦA TÀI NGUYÊN VÀ TÀI NGUYÊN CỦA THIÊN NHIÊN (45)
    • 4.1 Hành tinh hữu hạn (45)
      • 4.1.1 Hành tinh hữu hạn (45)
      • 4.1.2 Câu hỏi thảo luận (46)
    • 4.2 Các định luật Nhiệt động lực học (47)
      • 4.2.1 Tóm tắt lịch sử của lý thuyết nhiệt động lực học (48)
      • 4.2.2 Mức độ hỗn loạn và sự sống (50)
      • 4.2.3 Mức độ hỗn loạn và kinh tế học (51)
    • 4.3 Tài nguyên dự trữ-dòng và tài nguyên quỹ-dịch vụ (53)
    • 4.4 Tính loại trừ và tính cạnh tranh (55)
    • 4.5 Hàng hóa và dịch vụ cung cấp bởi hệ bền vững (56)
    • 4.6 Các điểm chính cần ghi nhớ (58)
  • CHƯƠNG 5: CÁC TÀI NGUYÊN PHI SINH HỌC (59)
    • 5.1 Nhiên liệu hóa thạch (59)
    • 5.2 Khoáng sản (63)
    • 5.3 Nước (67)
    • 5.4 Đất (68)
    • 5.5 Năng lƣợng mặt trời (68)
    • 5.6 Các ý chính cần ghi nhớ (70)
  • CHƯƠNG 6: CÁC TÀI NGUYÊN SINH HỌC (71)
    • 6.1 Cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái (71)
    • 6.2 Các tài nguyên có thể tái tạo (74)
    • 6.3 Các dịch vụ hệ sinh thái (77)
    • 6.4 Khả năng hập thụ chất thải (81)
    • 6.5 Các ý chính cần ghi nhớ (83)
  • CHƯƠNG 7: TỪ THẾ GIỚI TRỐNG ĐẾN THẾ GIỚI ĐẦY (84)
    • 7.1 Nguyên liệu hóa thạch (84)
    • 7.2 Tài nguyên khoáng sản (86)
    • 7.3 Nước (87)
    • 7.4 Tài nguyên tái tạo (88)
    • 7.5 Khả năng hấp thụ chất thải (89)
    • 7.6 Các ý chính cần ghi nhớ (91)
  • CHƯƠNG 8: PHƯƠNG TRÌNH THỊ TRƯỜNG CƠ BẢN (92)
    • 8.1 Các thành phần của phương trình cơ bản (92)
    • 8.2 Ý nghĩa của cân bằng thị trường (96)
    • 8.3 Độc quyền và phương trình thị trường cơ bản (99)
    • 8.4 Điều chỉnh phi-giá (100)
    • 8.5 Cung và cầu (101)
    • 8.6 Các ý chính cần ghi nhớ (105)
  • CHƯƠNG 9: CUNG VÀ CẦU (106)
    • 9.1 Di chuyển đường cong và dịch chuyển trên đường cong (106)
    • 9.2 Cân bằng P và Q, thiếu hụt và dƣ thừa (107)
    • 9.3 Co giãn của cầu và cung (110)
    • 9.4 Hàm tiện ích (112)
    • 9.5 Các ý chính cần ghi nhớ (115)
  • CHƯƠNG 10: THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG (116)
    • 10.1 Các đặc tính của hàng hóa thị trường (116)
      • 10.1.1 Tính loại trừ (116)
      • 10.1.2 Tính cạnh tranh (117)
      • 10.1.3 Tài nguyên không cạnh tranh nhƣng có thể bị tắc nghẽn (0)
      • 10.1.4 Tương tác giữa tính loại trừ, cạnh tranh và tắc nghẽn (119)
    • 10.2 Cơ chế tự do tiếp cận (119)
    • 10.3 Các hàng hóa có thể loại trừ và không cạnh tranh (122)
    • 10.4 Hàng hóa công cộng thuần túy (125)
    • 10.5 Ngoại ứng (127)
    • 10.6 Thiếu vắng thị trường (131)
      • 10.6.1 Chiết khấu xuyên thời gian (132)
    • 10.7 Các điểm tóm tắt (134)
    • 10.8 Các ý chính cần ghi nhớ (134)
  • CHƯƠNG 11: THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN PHI SINH HỌC (135)
    • 11.1 Nguyên liệu hóa thạch (135)
      • 11.1.1 Chi phí ngoại lai (136)
      • 11.1.2 Chi phí của người sử dụng (136)
      • 11.1.3 Các sai sót trong phân tích (140)
    • 11.2 Tài nguyên khoáng sản (140)
      • 11.2.1 Giá có phản ánh sự khan hiếm? (141)
    • 11.3 Nước ngọt (143)
    • 11.4 Đất đai (145)
    • 11.5 Năng lƣợng mặt trời (147)
    • 11.6 Các ý chính cần ghi nhớ (148)
  • CHƯƠNG 12: THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN SINH HỌC (149)
    • 12.1 Dự trữ và dòng tài nguyên tái tạo (149)
      • 12.1.1 Tối đa hóa lợi ích hàng năm (151)
      • 12.1.2 Khai thác tối đa hóa lợi nhuận khi lợi nhuận có thể đƣợc tái đầu tƣ: Giá trị hiện tại ròng (0)
    • 12.2 Các quỹ và dịch vụ tài nguyên tái tạo (155)
      • 12.2.1 Cổ tức tự nhiên từ các tài nguyên tái tạo (158)
    • 12.3 Khả năng hấp thụ chất thải (158)
    • 12.4 Các tài nguyên phi sinh học và sinh học: Hệ thống tổng thể (162)
    • 12.5 Các ý chính cần ghi nhớ (163)

Nội dung

Thesis writting BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƢỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ BỘ MÔN KINH TẾ BÀI GIẢNG KINH TẾ HỌC SINH THÁI (ECOLOGICAL ECONOMICS) TS Trƣơng Đức Toàn H[.]

TẠI SAO PHẢI NGHIÊN CỨU KINH TẾ HỌC

Kinh tế học là gì?

Kinh tế học nghiên cứu cách phân bổ tài nguyên khan hiếm cho các phương án sử dụng cạnh tranh Chẳng hạn, chúng ta có thể chọn phân bổ thép cho sản xuất lưỡi cày hoặc ô tô thể thao, với những sản phẩm này được chia cho các cá nhân khác nhau, như nông dân ở Somali hay ngôi sao Hollywood Mặc dù xã hội không thể xác định chính xác lượng thép cần cho từng loại sản phẩm, nhưng chúng ta có mong muốn tổng thể về việc lựa chọn sản phẩm Kinh tế học thực chất là về những mong muốn của chúng ta và sự đánh đổi cần thiết để đạt được những gì mình muốn.

Thực tế, có 3 câu hỏi chính luôn định hướng trong nghiên cứu kinh tế và chúng theo một thứ tự rõ ràng:

1 Chúng ta thực sự mong muốn cái gì?

2 Tài nguyên nào là hạn chế hay khan hiếm mà chúng ta cần có để duy trì những mong muốn trên?

3 Những mong muốn nào có sự ƣu tiên hơn và chúng ta nên phân bổ tài nguyên ở mức độ nào cho nó?

Câu hỏi thứ 3 chỉ có thể được trả lời nếu 2 câu hỏi trước được trả lời một cách rõ ràng

Theo truyền thống, các nhà kinh tế cho rằng phúc lợi của con người, hay "tính hữu dụng", phụ thuộc vào mong muốn của mọi người được thể hiện qua các giao dịch trên thị trường Phúc lợi này chủ yếu đến từ những hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng mua và bán, cho thấy sự ưa thích đối với các hàng hóa thị trường Tuy nhiên, giả định rằng hàng hóa phi thị trường đóng góp ít cho phúc lợi con người Mong muốn của con người được coi là vô hạn, do đó phúc lợi sẽ tăng lên khi có nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn, được đo lường qua giá trị thị trường Vì vậy, tăng trưởng kinh tế không giới hạn thường được xem là hợp lý và có thể được đo lường theo nhu cầu và mong muốn của con người.

Phân bổ tài nguyên là quá trình chia sẻ nguồn lực cho việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ Kinh tế học tân cổ điển nhấn mạnh vai trò của thị trường trong việc phân bổ tài nguyên, trong khi kinh tế học sinh thái xem thị trường chỉ là một trong nhiều cơ chế có thể sử dụng cho mục đích này.

Nhiều nhà kinh tế học tân cổ điển cho rằng kinh tế học là một môn khoa học thực chứng, dựa trên các mệnh đề và phân tích trung hòa về giá trị Họ cho rằng mong muốn mang tính chuẩn tắc và do đó nằm ngoài phạm vi phân tích kinh tế.

Ba giả định không giới hạn cho thấy rằng chúng ta có thể không bao giờ sở hữu đầy đủ tất cả hàng hóa, mặc dù có thể có đủ một loại hàng hóa nào đó trong một thời điểm nhất định.

Kinh tế học tân cổ điển (NCE) là một trường phái cơ bản trong kinh tế học hiện đại, với giả định rằng thị trường phản ánh hầu hết các mong muốn và tài nguyên khan hiếm chủ yếu là hàng hóa có thể trao đổi Các nhà kinh tế học tân cổ điển tập trung vào cơ chế phân bổ tài nguyên thông qua các phương án khác nhau, dựa vào cơ chế thị trường.

Phân bổ hiệu quả Pareto là phân bổ tài nguyên mà tối ưu hóa lợi ích cho ít nhất một người mà không làm tổn hại đến ai khác Khái niệm này đóng vai trò quan trọng trong kinh tế học tân cổ điển, thường được coi là mục tiêu cuối cùng trong quá trình phân bổ tài nguyên.

Chúng ta cần nhận thức rằng một kết cục xấu chỉ làm mọi việc tồi tệ hơn, như trường hợp của Hitler trong việc giết hại người Do Thái Hiệu quả chỉ có giá trị khi mục tiêu hướng tới điều tốt đẹp và tuân theo trật tự xã hội; những công việc không có giá trị cũng không xứng đáng để thực hiện một cách hiệu quả Vấn đề này sẽ được thảo luận thêm trong phần về dải nhu cầu-nguồn lực trong Chương 3.

Kinh tế học sinh thái tiếp cận vấn đề phân bổ hiệu quả khác với kinh tế học tân cổ điển, nhấn mạnh rằng bên cạnh hiệu quả, còn có những yếu tố quan trọng khác Ví dụ, khi chất hàng hóa lên một con tàu, việc đảm bảo tải trọng cân bằng và phân bố đều từ trước tới sau là cần thiết để tàu nổi ổn định Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là tải trọng không vượt quá giới hạn cho phép Hơn nữa, quyền lợi của hành khách và sự phân phối hàng hóa cũng cần được xem xét, tránh tình trạng hành khách hạng nhất phải chịu đựng trong khi nhân viên thiếu thốn thực phẩm và quần áo trong suốt hành trình.

Các nhà kinh tế học sinh thái coi trái đất như một con tàu, với tổng lượng vật liệu của nền kinh tế là hàng hóa trên tàu Khả năng đi biển của tàu tượng trưng cho sức khỏe sinh thái của trái đất, phụ thuộc vào sự dƣ thừa cung cấp và thiết kế Hiện tại, chúng ta đang chèo lái trên biển lạ, không thể dự đoán thời tiết cho hành trình, khiến chúng ta không biết trọng lượng hàng hóa nào là an toàn Nếu trọng lượng quá nặng, con tàu sẽ gặp nguy hiểm và có thể chìm.

Các nhà kinh tế học tân cổ điển tập trung vào phân bổ hiệu quả tài nguyên, trong khi kinh tế môi trường, một nhánh của kinh tế học này, nhấn mạnh rằng phúc lợi xã hội phụ thuộc vào hệ sinh thái và bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm Khi thị trường không có cho các dịch vụ sinh thái, các nhà kinh tế môi trường áp dụng các kỹ thuật để gán giá trị thị trường cho chúng Ngược lại, các nhà kinh tế học sinh thái cho rằng cần duy trì giới hạn khả năng chịu đựng của hệ sinh thái, đảm bảo rằng tất cả các nguồn lực đều đủ cho hành trình Việc chất hàng hóa lên "con tàu" chỉ được coi là hiệu quả khi hai vấn đề này được giải quyết an toàn.

Hàng hóa chất lên tàu quá nhiều có thể dẫn đến sự không an toàn trong hành trình, trong khi hành khách thường không được phép mang theo những vật dụng cần thiết Hệ sinh thái của chúng ta đang phải đối mặt với sự gia tăng khí nhà kính và các hợp chất độc hại Để tạo khoảng trống cho hàng hóa, chúng ta cần xem xét lại các thành phần của con tàu mà chúng ta thường coi là không quan trọng Mặc dù chúng ta sống trên một con tàu tinh vi, nhưng hiểu biết của chúng ta về thiết kế và tác động của lựa chọn cá nhân đến cấu trúc của nó là rất hạn chế Cần phải xem xét số lượng rừng và đầm lầy cần thiết để duy trì sự nổi của con tàu, cũng như các loài động vật quan trọng mà nếu mất đi, con tàu sẽ không thể hoạt động Kinh tế học sinh thái giải quyết những vấn đề này, nhấn mạnh rằng mục tiêu của chúng ta không chỉ là chất hàng hóa lên con tàu mà còn phải duy trì không gian sống thoải mái và đẹp đẽ cho các thế hệ tương lai.

Nghiên cứu kinh tế học là cần thiết để đảm bảo rằng chúng ta không theo đuổi những mục tiêu kém quan trọng, dẫn đến việc cạn kiệt nguồn tài nguyên trong khi các mục tiêu quan trọng vẫn chưa đạt được Nếu không nghiên cứu các yếu tố liên quan, chúng ta có thể làm cho "con tàu" của mình trở nên quá tải và gặp nguy hiểm, tương tự như việc không tìm hiểu về các vùng biển mà con tàu sẽ đi qua và thiết kế cũng như chức năng của chính nó.

Mục đích của khóa học

Khóa học này khám phá kinh tế học sinh thái như một cuộc cách mạng quan trọng trong tư tưởng kinh tế hiện đại, phê phán lý thuyết kinh tế học tân cổ điển đã chiếm ưu thế trong hơn một thế kỷ Các chương trong sách không chỉ chỉ trích nền kinh tế thị trường dựa trên tăng trưởng mà còn đặt ra câu hỏi về tính đầy đủ của niềm tin vào thị trường trong việc phản ánh mong muốn của con người Mặc dù các nhà kinh tế học sinh thái không hoàn toàn phủ nhận vai trò của thị trường, họ nghi ngờ liệu thị trường có thể phân bổ và phân phối tài nguyên một cách hiệu quả và bền vững về mặt sinh thái hay không.

Cuốn sách nhằm giải thích thị trường và chỉ ra những ưu điểm của nó, đồng thời phân tích lý do tại sao việc không điều tiết hệ thống thị trường có thể dẫn đến phân bổ không hiệu quả các hàng hóa và dịch vụ liên quan đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường Phần này chứa nhiều tranh luận, chủ yếu xuất phát từ các khía cạnh của kinh tế học tân cổ điển.

Nhiều tranh luận trong kinh tế học sinh thái tập trung vào giải pháp cho vấn đề tăng trưởng, được định nghĩa là sự gia tăng thông lượng tài nguyên thiên nhiên từ môi trường qua nền kinh tế và trở lại môi trường dưới dạng chất thải Tăng trưởng không thể vô hạn do giới hạn của trái đất và tài nguyên Ngừng tăng trưởng không đồng nghĩa với việc ngừng phát triển, mà là xác định những thay đổi định tính, nhận biết tiềm năng và hướng tới một hệ thống cải thiện chất lượng hàng hóa và dịch vụ, được đo bằng phúc lợi con người Nhiều nhu cầu thiết yếu có thể được đáp ứng với ít tài nguyên vật chất Khái niệm “phát triển bền vững” nhấn mạnh sự cải thiện định tính trong khả năng thỏa mãn nhu cầu mà không cần tăng trưởng lượng vượt quá khả năng đáp ứng của môi trường Giới hạn tăng trưởng không nhất thiết phải hạn chế sự phát triển.

Các nhà kinh tế học tân cổ điển định nghĩa tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng sản xuất hàng hóa và dịch vụ, được đo bằng giá trị thị trường của chúng, tức là tổng sản phẩm quốc dân (GNP) Tuy nhiên, một nền kinh tế có thể phát triển mà không cần tăng trưởng, hoặc có thể xảy ra tình trạng tăng trưởng mà không đi kèm với phát triển, hoặc cả hai hiện tượng này có thể xảy ra đồng thời.

Mặc dù đã phân biệt giữa tăng trưởng và phát triển, việc tìm kiếm sự tăng trưởng hợp lý đòi hỏi một sự thay đổi cách mạng trong nhận thức xã hội về hàng hóa cụ thể, bao gồm cả mong muốn và phân loại của chúng.

Nền kinh tế thị trường được coi là một thể chế xuất sắc, đã tạo ra sự gia tăng đáng kể về hàng hóa tiêu dùng trong hơn 300 năm qua Ngày nay, người nghèo có thể tiếp cận nhiều sản phẩm mà trước đây chỉ có vua chúa ở Châu Âu mới có thể mơ ước Điều này đạt được nhờ hệ thống thị trường dựa trên sự lựa chọn tự do, nơi cá nhân có quyền tự do sản xuất và tiêu dùng hàng hóa mà không bị kiểm soát, ngoài những quyết định tự do của chính họ.

4 Tăng trưởng là sự gia tăng định lượng về kích cỡ hay sự gia tăng về thông lượng

Thông lƣợng là dòng vật liệu sống và năng lƣợng từ hệ sinh thái toàn cầu, đi qua nền kinh tế và trở lại hệ sinh thái dưới dạng chất thải Mặc dù tồn tại chủ yếu trên lý thuyết, nhưng trong một thị trường cạnh tranh, nó có thể tạo ra sức mạnh ấn tượng Những tranh luận nhằm thay đổi một hệ thống đã được thừa nhận cần phải thực sự thuyết phục Thực tế cho thấy, lịch sử về thị trường và kinh tế học đã chứng minh rằng những thay đổi thường xuyên xảy ra.

Kinh tế học “đồng tiến hóa” (coevolutionary)

Karl Polanyi trong tác phẩm "Sự chuyển giao vĩ đại" đã nhấn mạnh rằng hệ thống kinh tế là một phần không thể tách rời của văn hóa con người, và sự tiến hóa không ngừng của nó phản ánh khả năng thích ứng với thay đổi môi trường Khả năng này là điểm khác biệt giữa con người và các loài động vật khác, với hệ thống kinh tế, xã hội, chính trị và công nghệ là những ví dụ rõ ràng về sự thích ứng văn hóa Những thay đổi trong các hệ thống này không chỉ phản ánh sự thích nghi với môi trường mà còn tạo ra những thay đổi mới, yêu cầu con người tiếp tục điều chỉnh trong quá trình tiến hóa Một số ví dụ về sự thích ứng đồng tiến hóa sẽ làm rõ khái niệm này và gợi ý về những thay đổi trong tương lai.

1.3.1 Từ hình thức săn bắn-hái lượm đến nền sản xuất công nghiệp

Trong hơn 90% lịch sử loài người, con người đã sống trong các bầy đàn và theo lối sống du mục, chủ yếu dựa vào săn bắn và hái lượm Nghiên cứu nhân chủng học và khảo cổ học đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn về nền kinh tế săn bắn hái lượm, cho thấy rằng những người tiền sử chỉ cần làm việc vài giờ mỗi ngày để đáp ứng nhu cầu thiết yếu Họ có đủ nguồn tài nguyên để nuôi sống cả người già, trẻ em, trong khi người già đóng góp rất ít vào việc tìm kiếm lương thực.

Người !Kung, sống trong môi trường khô cằn và biệt lập, cho thấy rằng 10% dân số của họ có tuổi thọ trên 60 tuổi, tỷ lệ này tương đối cao so với tuổi thọ của dân số ở các nước công nghiệp hiện nay.

Các nhóm săn bắn-hái lượm thường khai thác tài nguyên ở một khu vực cho đến khi cạn kiệt, sau đó di chuyển đến nơi có tài nguyên dồi dào hơn, cho phép tài nguyên cũ hồi phục Tính di động là yếu tố sống còn, trong khi việc tích lũy hàng hóa có thể làm giảm tính di động Các ghi chép lịch sử cho thấy rằng con người thời kỳ này ít quan tâm đến hàng hóa vật chất, sẵn sàng từ bỏ những gì mình sở hữu và tin tưởng vào khả năng tạo ra sản phẩm mới khi cần Quyền sở hữu đất đai không có ý nghĩa trong xã hội du mục, và trước khi hình thành gia đình cách đây khoảng 10.000 năm, quyền sở hữu động vật hoang dã cũng không tồn tại Thực phẩm được chia sẻ mà không quan tâm đến nguồn cung cấp, có thể do hạn chế về công nghệ.

6 K Polanyi The Great Transformation: The Political and Economic Origins of Our Time Boston: Beacon Press (2001)

7 R Lee, “What Hunters Do for a Living.” In J Gowdy, ed Limited Wants, Unlimited Means: A Reader on

Hunter-Gatherer Economics and the Environment Washington, DC, Island Press, 1998

Theo M Sahlins trong "The Original Affluent Society," việc săn bắn thường được thực hiện bởi những cá nhân đơn lẻ, và nếu một thợ săn mang về một con vật lớn mà không chia sẻ, thực phẩm có thể bị thối rữa hoặc thu hút các loài động vật ăn thịt nguy hiểm Nghiên cứu về người !Kung và các bộ lạc khác cho thấy rằng cả người già và trẻ em thường không phải tham gia tìm kiếm lương thực, trong khi nhiều người trưởng thành cũng chọn không tham gia nhưng vẫn nhận được phần chia đều từ sản phẩm săn bắn Trong hầu hết thời gian tồn tại của con người, khái niệm sở hữu cá nhân và tích lũy tài sản không thực tế và không tồn tại trong xã hội, cho thấy rằng các đặc điểm văn hóa có thể quan trọng hơn những yếu tố cố hữu trong bản chất con người.

Theo thời gian, xã hội săn bắn-hái lượm đã phát triển công nghệ dự trữ thực phẩm, dẫn đến sự chuyển mình sang sản xuất nông nghiệp và chấm dứt cuộc sống du mục Con người bắt đầu định cư tại các thị trấn nhỏ, tạo ra sự tập trung dân số lớn hơn Công nghệ tích trữ và nông nghiệp đã thay đổi quyền sở hữu, với nông nghiệp khởi nguồn cho các hình thức quyền sở hữu đất đai Sự tạo ra thặng dư đã khuyến khích phân chia lao động và chuyên môn hóa, dẫn đến sản xuất lớn hơn, thương mại phát triển và sự ra đời của tiền tệ Khi dân số gia tăng, nhu cầu bảo vệ tài sản và quyền sở hữu trong cộng đồng trở nên cấp thiết, yêu cầu vai trò của nhà nước và lãnh đạo xã hội Lãnh đạo và vai trò của nhà nước cần được hỗ trợ bởi khả năng sản xuất hiệu quả, dẫn đến hệ thống thuế và sự tập trung tài sản trong tay tầng lớp thượng lưu.

Chuỗi sự kiện tiến hóa không dừng lại ở việc gia tăng dân số và sản xuất nông nghiệp, mà còn gây ra sự phá vỡ hệ sinh thái và giảm khả năng sản xuất lương thực Điều này đã làm tăng nhu cầu phụ thuộc vào nông nghiệp trong xã hội Sự trao đổi ý tưởng nhanh chóng trong các cộng đồng đông đúc đã thúc đẩy sự phát triển của công nghệ mới, như tưới quy mô lớn Tuy nhiên, việc áp dụng tưới tiêu đã dẫn đến mặn hóa đất, làm suy giảm khả năng của hệ sinh thái trong việc đáp ứng nhu cầu dân số cao, trừ khi có những đổi mới trong nông nghiệp hoặc phải di cư đến nơi khác.

1.3.2 Cuộc cách mạng công nghiệp

Sản xuất với thặng dư lớn từ các con tàu lớn đã mở rộng quy mô thương mại, cho phép trao đổi không chỉ hàng hóa mà còn cả ý tưởng, từ đó thúc đẩy sự phát triển công nghệ Việc khai thác tài nguyên khoáng sản không tái tạo là một bước nhảy quan trọng trong tiến bộ công nghệ Thương mại cũng khuyến khích chuyên môn hóa ở nhiều vùng miền, không chỉ giới hạn trong một xã hội Sự phát triển công nghệ và thị trường toàn cầu đã tạo nền tảng cho cuộc cách mạng công nghiệp.

Cuộc cách mạng công nghiệp đã làm thay đổi sâu sắc nền kinh tế, xã hội và hệ sinh thái toàn cầu, khiến con người ngày càng phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và tài nguyên không tái tạo Sự giảm sút tài nguyên rừng đã thúc đẩy nhu cầu về nhiên liệu hóa thạch, cho phép thay thế lao động bằng năng lượng hóa học và gia tăng nguồn năng lượng Điều này đã mở ra khả năng tiếp cận nguồn vật liệu sống, từ sinh học đến khoáng sản Các công nghệ mới cùng với năng lượng hóa thạch dồi dào đã cho phép sản xuất hàng hóa tiêu dùng với quy mô chưa từng có Nhu cầu đối với hàng hóa sản xuất hàng loạt và nguồn vật liệu mới đã đóng vai trò quan trọng trong chế độ thuộc địa và đế quốc, trong khi nền kinh tế thị trường tiến triển đã nâng cao hiệu quả phân bổ hàng hóa và kích thích sản xuất.

Sự bùng nổ trong thương mại quốc tế đã kết nối các quốc gia với nhau như chưa từng thấy, tạo ra khả năng đáp ứng nhu cầu cơ bản và nâng cao vệ sinh cũng như tiến bộ y học Tuy nhiên, điều này dẫn đến sự gia tăng dân số nhanh chóng, kéo theo nhu cầu sử dụng năng lượng lớn hơn và sự suy giảm tài nguyên tự nhiên Sự gia tăng dân số cũng gây ra vấn đề di cư do cạn kiệt nguồn tài nguyên, trong khi mức tiêu dùng bình quân đầu người tăng nhanh cùng với lượng chất thải gia tăng đang đe dọa hệ sinh thái của chúng ta.

Kỷ nguyên ràng buộc về sinh thái

Kinh tế học nghiên cứu cách phân bổ tài nguyên khan hiếm giữa các phương án cạnh tranh Cuộc cách mạng công nghiệp đã làm giảm sự khan hiếm hàng hóa tiêu dùng cho nhiều người, nhưng tăng trưởng kinh tế hiện tại đang đe dọa sự phong phú của các hàng hóa và dịch vụ tự nhiên mà con người cần Những tài nguyên này đang trở thành khan hiếm, buộc chúng ta phải thiết kế hệ thống kinh tế phù hợp Khó khăn lớn nhất là khả năng tiêu dùng gia tăng trong khi cạn kiệt nguồn tài nguyên cơ bản, dẫn đến việc con người và nền kinh tế ảnh hưởng đến thiên nhiên Hệ thống hiện tại cho thấy rằng sự giàu có không đảm bảo duy trì tài nguyên thiên nhiên, trong khi sự thịnh vượng lại phụ thuộc vào tài nguyên vật chất và thông tin Một công thức nấu ăn tốt có thể cải thiện bữa ăn, nhưng không thể thay thế cho một bữa ăn.

1.4.1 Tỷ lệ thay đổi Đối với phần lớn thời gian trong lịch sử loài người, những thay đổi về công nghệ, xã hội và môi trường đã xảy ra với tốc độ rất chậm Cuộc cách mạng nông nghiệp không thực sự là một cuộc cách mạng nhƣng đó là một sự tiến hóa Ví dụ, để tạo ra giống ngô từ một loài cỏ, tổ tiên ta có thể đã phải mất vài ngàn năm Con người nói chung không thấy sự thay đổi nào từ thế hệ sang thế hệ tiếp theo và văn hóa của con người có thể tiến hóa với tốc độ chậm tương ứng để thích ứng với những thay đổi đã xảy ra Chỉ với cuộc cách mạng công nghiệp thay đổi thực sự nhanh chóng với một tốc độ mà chúng ta có thể nhận thấy từ thế hệ này tới thế hệ kế tiếp Nhiều khía cạnh mà cuộc cách mạng công nghiệp đã thực hiện đó là gia tăng sự khai thác tài nguyên không tái tạo, do đó làm tăng tiêu dùng vật chất của con người Kết quả từ sự đóng góp của thiên nhiên, một nhận thức chung đó là tương lai sẽ luôn trở nên tốt hơn Ứng xử của chúng ta đó là khai thác hết nguồn hỗ trợ từ thiên nhiên với một tốc độ lớn chƣa từng thấy, do đó hiện nay, lần đầu tiên trong lịch sử loài người chúng ta có thể làm thay đổi đột ngột hệ sinh thái của trái đất với quy mô vòng đời một con người Thực tế, nó đang đe dọa và làm thay đổi khả năng của trái đất trong việc cưu mang sự sống Trong khi văn hóa đã và đang tiếp tục tiến hóa một cách chậm chạp trong việc thích ứng với công nghệ mới và những khó khăn mới, tỷ lệ thay đổi chƣa từng thấy về công nghệ và sự suy giảm sinh thái có nghĩa rằng chúng ta sẽ không còn những thứ xa xỉ trước đây trong thời gian thế hệ chúng ta Khả năng có thể xảy ra nhất đó là chúng ta sẽ phải thay đổi thể chế văn hóa và giá trị một cách tương xứng, đặc biệt thể chế kinh tế và giá trị đã dẫn tới tình trạng nhƣ vậy Khi có sự giới hạn tới tốc độ có thể thích ứng về mặt văn hóa, chúng ta cũng cần xem xét nghiêm túc về việc làm thế nào để làm chậm tốc độ thay đổi đang thúc ép để thích ứng Chúng ta cần nhớ rằng không phải tất cả các thay đổi đều là mong muốn đúng đắn và rằng thậm chí những mong muốn thay đổi có thể là quá nhanh

1.4.2 Thách thức để đạt được thay đổi theo mong muốn

Việc tìm ra sự cân bằng giữa giới hạn và khả năng thích ứng với thay đổi là một thách thức lớn Hệ thống kinh tế hiện tại chủ yếu tập trung vào phân bổ hiệu quả trong kinh tế vi mô và tối đa hóa tăng trưởng trong kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, kinh tế học sinh thái mở rộng vấn đề này bằng cách đặt ra câu hỏi về quy mô kinh tế và mối liên hệ với hệ sinh thái Nhiều người tin rằng chúng ta đã vượt qua một ngưỡng tối ưu, điều này dẫn đến yêu cầu cần phải dừng lại sự tăng trưởng Nếu chúng ta chấp nhận việc dừng tăng trưởng, điều đó đồng nghĩa với việc cần phải giải quyết vấn đề phân phối một cách nghiêm túc hơn.

1.4.3 Mối liên hệ giữa quy mô bền vững và sự phân phối

Phân phối là sự phân chia tài nguyên giữa các cá nhân khác nhau Tại sao dừng tăng trưởng chúng ta cần tập trung vào việc phân phối?

Việc sử dụng tài nguyên một cách quá mức có thể gây ra những tác động tiêu cực cho các thế hệ tương lai, khiến họ gặp khó khăn hơn so với thế hệ hiện tại Điều này đặt ra mối quan tâm về sự công bằng giữa các thế hệ, đặc biệt khi hiện nay có khoảng 1,2 tỷ người đang sống trong tình trạng nghèo đói tuyệt đối, trong khi nhiều người giàu lại không biết cách tiêu tiền một cách hợp lý.

Tại sao việc sử dụng quá mức tài nguyên có thể dẫn đến những tác động lớn hơn đối với các thế hệ tương lai?

Khái niệm phân bổ hiệu quả Pareto nhấn mạnh việc tối ưu hóa tài nguyên giữa các thế hệ Nếu thế hệ hiện tại được xem là người sở hữu toàn bộ nguồn tài nguyên, việc tiêu thụ ít tài nguyên hơn để đảm bảo sự phát triển bền vững cho các thế hệ tương lai có thể được coi là một phương án đạt hiệu quả Pareto.

Khi nền kinh tế phát triển, chúng ta có cơ hội cải thiện viễn cảnh cho người nghèo Một số ý kiến cho rằng không cần phân phối lại tài sản ngay lập tức vì vốn đã được đầu tư vào hệ thống tiền tệ, và nếu người nghèo kiên nhẫn, tương lai của họ sẽ tốt hơn Tuy nhiên, khi kêu gọi ngừng tăng trưởng, phương án này trở nên không khả thi Chúng ta không thể yêu cầu người nghèo hy sinh hy vọng cho một tương lai tốt đẹp hơn, trong khi thế hệ chưa sinh ra có thể hưởng lợi từ những nhu cầu thiết yếu mà họ chỉ có thể mơ ước Việc chần chừ trong phân phối lại tài sản hiện tại có thể dẫn đến việc những đứa trẻ trong tương lai sẽ là con của bất kỳ ai Do đó, phân phối lại tài sản đóng vai trò trung tâm trong kinh tế học sinh thái.

Kinh tế học tân cổ điển chủ yếu tập trung vào phân bổ hiệu quả, trong khi kinh tế học sinh thái không chỉ quan tâm đến vấn đề này mà còn xem xét quy mô và phân phối Thực tế cho thấy, một phân bổ hiệu quả không thể được xác định lý thuyết nếu không giải quyết các vấn đề về phân phối và quy mô Do đó, cần xem xét cách thức phân bổ và quy mô hiện tại để có giải pháp phù hợp.

McNeill nhấn mạnh rằng cuộc đại suy thoái đã làm thay đổi cách chúng ta nhìn nhận kinh tế học Cuốn sách này sẽ chỉ ra rằng nếu chúng ta không hiểu rõ về suy thoái, nhiều khía cạnh trong kinh tế học sẽ trở nên khó áp dụng, đặc biệt là trong bối cảnh tăng trưởng độc lập về mặt ý thức hệ Chúng tôi sẽ trình bày các công cụ kinh tế cơ bản, giúp tối ưu hóa và cung cấp những hiểu biết quan trọng cho các cuộc thảo luận về tăng trưởng.

Nghiên cứu kinh tế học, đặc biệt là kinh tế học sinh thái, là cần thiết vì nó giúp chúng ta hiểu rõ những gì chúng ta mong muốn và những gì chúng ta phải đánh đổi để đạt được điều đó Tăng trưởng là một mục tiêu mà chúng ta hướng tới, nhưng để đạt được nó, chúng ta cần cân nhắc những hy sinh cần thiết Các nhà kinh tế học sinh thái thường đặt câu hỏi liệu việc tăng trưởng có xứng đáng với những gì chúng ta phải từ bỏ hay không, trong khi các nhà kinh tế học tân cổ điển thường bỏ qua vấn đề này hoặc tin rằng câu trả lời luôn là khẳng định.

Các ý chính cần ghi nhớ

 Mong muốn và phương tiện để đạt được mong muốn

 Phân bổ hiệu quả Pareto

 Phân bổ, phân phối, quy mô

 Tăng trưởng so với phát triển

 Kinh tế học đồng tiến hóa

TẦM NHÌN CĂN BẢN

Tổng thể và bộ phận

Kinh tế học sinh thái và kinh tế học tân cổ điển đương đại chia sẻ nhiều khái niệm, như “chi phí cơ hội”, nhưng có sự khác biệt cơ bản về cách nhìn nhận thế giới thực Kinh tế tân cổ điển coi nền kinh tế như một tổng thể thống nhất, trong khi kinh tế học sinh thái xem nền kinh tế vĩ mô là một phần của hệ thống lớn hơn, bao gồm trái đất, bầu khí quyển và các hệ sinh thái Nền kinh tế được hiểu như một hệ thống phụ thuộc vào hệ thống trái đất lớn hơn, mà hệ thống này là hữu hạn và không thể tăng lên, mặc dù có sự tiếp xúc với nguồn năng lượng mặt trời.

Một khía cạnh quan trọng cần hiểu là sự phân biệt giữa hệ thống mở, đóng và biệt lập Hệ thống mở có khả năng trao đổi vật chất và năng lượng, ví dụ như nền kinh tế Ngược lại, hệ thống đóng chỉ cho phép năng lượng vào hoặc ra, trong khi vật chất không thể thoát ra ngoài, như Trái đất Hệ thống biệt lập là nơi không có sự trao đổi vật chất và năng lượng, với vũ trụ là ví dụ điển hình Trái đất được xem là hệ thống đóng vì không thể trao đổi vật chất với không gian bên ngoài, mặc dù có thể có thiên thạch hay tên lửa được phóng đi Trong tương lai, có thể có sự trao đổi vật chất, nhưng điều này vẫn chưa chắc chắn Tuy nhiên, Trái đất nhận được năng lượng từ ánh sáng mặt trời và bức xạ nhiệt, nguồn năng lượng này là hữu hạn và không tăng lên Nguyên tắc cơ bản của Trái đất là năng lượng truyền qua và vật chất di chuyển xung quanh.

Tổng thể hoặc bộ phận của nền kinh tế là vấn đề quan trọng vì nếu nền kinh tế được coi là tổng thể, nó có thể mở rộng không giới hạn mà không phải đối mặt với chi phí cơ hội Ngược lại, nếu nền kinh tế là một bộ phận trong một tổng thể hữu hạn, việc mở rộng sẽ đi kèm với chi phí cơ hội, tức là phải hy sinh một cái gì đó khác Tăng trưởng này không chỉ có thể là kinh tế mà còn có thể không kinh tế, dẫn đến việc cần xác định quy mô tối ưu của nền kinh tế vĩ mô trong hệ sinh thái Do đó, việc đánh giá xem chúng ta đã đạt được quy mô tối ưu hay chưa là rất cần thiết.

Việc vượt quá mở rộng vật lý với quy mô tối ưu có thể dẫn đến tăng trưởng không kinh tế, mặc dù vẫn được gọi là tăng trưởng “kinh tế” Chúng ta hiểu từ “kinh tế” theo hai nghĩa: (1) duy trì nền kinh tế và (2) tạo ra lợi ích ròng lớn hơn chi phí.

Quy mô tối ƣu

Quy mô tối ưu là một khái niệm quen thuộc trong kinh tế học vi mô, liên quan đến việc cân bằng giữa lợi ích và chi phí khi gia tăng hoạt động sản xuất Khi sản xuất giày hoặc ăn kem, chúng ta đạt được lợi ích nhưng cũng phải chịu chi phí Tuy nhiên, sau một điểm nhất định, chi phí sẽ tăng nhanh hơn lợi ích, dẫn đến việc lợi ích gia tăng không còn đáng giá so với chi phí tăng thêm Điểm tối ưu đạt được khi chi phí biên bằng với lợi ích biên (MC=MB) Nếu vượt qua điểm này, chi phí sẽ vượt lợi ích, khiến cho hoạt động trở nên không hiệu quả.

Trong kinh tế học vĩ mô, không có nguyên tắc điểm dừng hay khái niệm quy mô tối ưu cho nền kinh tế Nguyên tắc chủ đạo là "tăng trưởng mãi mãi", đặt ra câu hỏi tại sao lại không thể tăng trưởng nếu không có chi phí cơ hội Điều quan trọng là làm thế nào để xác định chi phí cơ hội liên quan đến sự tăng trưởng của nền kinh tế vĩ mô khi xem xét nó như một tổng thể.

Khi tuân thủ nguyên tắc cơ bản của kinh tế học sinh thái, chúng ta nhận thấy rằng nền kinh tế là một hệ thống phụ thuộc vào hệ sinh thái Điều này cho phép chúng ta tiếp tục tăng trưởng miễn là hệ thống phụ thuộc vẫn còn tương đối nhỏ so với hệ sinh thái tổng thể.

Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta đang sống trong một “nền kinh tế thế giới đầy”, nơi mà các dịch vụ hệ sinh thái trở nên vô cùng quý giá do sự tăng trưởng liên tục của nền kinh tế vật chất trong một hệ sinh thái hữu hạn Mặc dù trước đây, môi trường không phải là khan hiếm và chi phí cơ hội cho việc mở rộng kinh tế là không đáng kể, nhưng thực tế cho thấy rằng sự phát triển bền vững hiện nay đã trở thành một thách thức lớn Các nhà kinh tế học sinh thái nhấn mạnh rằng chúng ta cần nhận thức rõ ràng về giá trị của các dịch vụ hệ sinh thái để đảm bảo sự phát triển kinh tế không làm tổn hại đến môi trường.

Khía cạnh kinh tế sinh thái cho thấy rằng khi tăng trưởng kinh tế diễn ra, phúc lợi từ các dịch vụ kinh tế tăng lên, trong khi phúc lợi từ dịch vụ hệ sinh thái giảm xuống Ví dụ, việc chặt cây để sản xuất bàn ghế mang lại lợi ích kinh tế nhưng đồng thời làm mất đi các dịch vụ hệ sinh thái quan trọng như tăng cường quang hợp, ngăn chặn xói mòn đất và cung cấp nơi trú ẩn cho động vật hoang dã.

Theo truyền thống, vốn được định nghĩa là phương tiện sản xuất do con người tạo ra, nhưng các nhà kinh tế sinh thái đã mở rộng khái niệm này để bao gồm cả những nguồn lực tự nhiên Vốn được hiểu là trữ lượng tạo ra luồng hàng hóa và dịch vụ trong tương lai, bao gồm cả vốn do con người như cơ thể, trí óc, sản phẩm và cấu trúc xã hội Đồng thời, vốn thiên nhiên cũng là trữ lượng tạo ra dịch vụ và tài nguyên thiên nhiên, như năng lượng mặt trời, đất, khoáng sản, nhiên liệu hóa thạch, nước, các sinh vật sống, cùng với các dịch vụ từ sự tương tác của các yếu tố này trong hệ sinh thái.

Hình 2.1: Từ thế giới trống đến thế giới đầy

Chúng ta có hai nguồn phúc lợi: dịch vụ vốn con người và dịch vụ vốn thiên nhiên, như được thể hiện trong Hình 2.1 Phúc lợi được coi là một khía cạnh tâm linh, không phải vật chất, trong khi cường độ vật chất thuộc về vòng tròn bên trong Nếu chúng ta chỉ tập trung vào cường độ phi vật chất trong kinh tế, điều đó sẽ thiếu cơ sở khoa học và dẫn đến việc coi hệ thống kinh tế như một cỗ máy chuyển đổi tài nguyên thành chất thải Sản phẩm cuối cùng của quá trình kinh tế là sự suy giảm vật chất và năng lượng, tức là chất thải Việc bỏ qua khía cạnh vật chất sinh học đã tạo ra một bức tranh thiếu sót, trong khi việc lãng quên khía cạnh tâm linh sẽ dẫn đến sự vô nghĩa Nếu không có khái niệm phúc lợi hay hưởng thụ cuộc sống, quá trình chuyển đổi tài nguyên thành hàng hóa và sau đó thành rác thải chỉ đơn thuần là một kết thúc Cả kinh tế học đương đại và kinh tế học sinh thái đều công nhận khía cạnh tâm linh của phúc lợi, nhưng khác nhau ở mức độ đóng góp của vốn con người và vốn thiên nhiên trong quá trình này.

Lợi ích biên giảm dần và tăng trưởng phi kinh tế

Khi nền kinh tế phát triển, vốn thiên nhiên được chuyển đổi thành vốn con người, dẫn đến việc gia tăng kết quả dịch vụ từ nguồn vốn này Tuy nhiên, sự giảm dần của vốn thiên nhiên sẽ kéo theo sự giảm sút trong dòng dịch vụ từ nguồn tài nguyên đó Mặc dù tăng trưởng kinh tế có thể làm tăng dịch vụ, nhưng tỷ lệ tăng trưởng sẽ giảm dần khi các nhu cầu được thỏa mãn, thể hiện nguyên tắc tính hữu dụng biên giảm dần Việc khai thác tài nguyên từ hệ sinh thái nhiều hơn sẽ buộc chúng ta phải hy sinh một số dịch vụ khác, và mặc dù lý tưởng là hy sinh những dịch vụ kém quan trọng nhất, thực tế cho thấy chúng ta chưa hiểu rõ về sự vận hành của hệ sinh thái, chỉ bắt đầu quan tâm đến các dịch vụ khi chúng trở nên khan hiếm.

Nguyên tắc chi phí biên tăng lên chỉ ra rằng khi mở rộng kinh tế vượt qua một ngưỡng nhất định, chúng ta sẽ phải hy sinh một dịch vụ hệ sinh thái quan trọng hơn Điều này dẫn đến việc chi phí biên gia tăng trong khi lợi ích biên lại giảm đi Cuối cùng, sẽ có một điểm mà chi phí biên và lợi ích biên trở nên tương đương.

Hộp 2-1: Tính hữu dụng biên và chi phí biên

Tính hữu dụng biên của một sản phẩm đề cập đến lợi ích hoặc sự thỏa mãn gia tăng khi sử dụng thêm một đơn vị sản phẩm Nguyên tắc giảm dần của tính hữu dụng biên cho thấy rằng mỗi đơn vị hàng hóa tiêu dùng sẽ mang lại mức độ thỏa mãn thấp hơn so với đơn vị trước đó Chẳng hạn, khi bạn khát nước, chai nước đầu tiên mang lại cảm giác thỏa mãn cao, nhưng các chai nước tiếp theo sẽ mang lại ít thỏa mãn hơn.

Chi phí biên là chi phí phát sinh khi sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm, tương tự như nguyên tắc giảm dần của tính hữu dụng biên Khi thu hoạch lúa, việc sử dụng đất đai và lao động có giới hạn, dẫn đến lợi ích giảm dần khi sử dụng thêm các yếu tố đầu vào như lao động và phân bón Kinh tế học tân cổ điển so sánh chi phí biên với lợi ích biên để xác định quy mô tối ưu trong hoạt động kinh tế vi mô, nhưng logic này không áp dụng cho nền kinh tế vĩ mô, nơi không tồn tại quy mô tối ưu Kinh tế học sinh thái cho rằng quy mô tối ưu liên quan đến cả nền kinh tế vĩ mô và các bộ phận của nó.

Bước đầu tiên trong phân tích kinh tế học sinh thái có thể được thể hiện qua biểu đồ Hình 2.2 William Stanley Jevons (1871) đã đưa ra logic cơ bản liên quan đến cung lao động, phân tích mối quan hệ giữa cân bằng tính hữu dụng biên của tiền lương và tính bất thỏa dụng biên về lao động.

11 Trong giáo trình này, thuật ngữ “tính hữu dụng” hay “tiện ích” hay “thỏa dụng” đƣợc sử dụng thay cho nhau

Tính hữu dụng là khái niệm kinh tế mô tả mức độ "sử dụng" mà người tiêu dùng đạt được từ hàng hóa Nó đo lường sự hài lòng của cá nhân với công việc và đặt ra câu hỏi về thời điểm nỗ lực lao động vượt quá giá trị tiền lương Các nhà kinh tế sinh thái cũng quan tâm đến chi phí mà chúng ta phải chịu khi thay thế hệ sinh thái, so với giá trị gia tăng mà chúng ta tạo ra Đường hữu dụng biên thể hiện tính hữu dụng biên giảm dần khi tăng thêm vốn con người, trong khi đường bất thỏa dụng biên phản ánh chi phí biên tăng lên do mất mát dịch vụ từ vốn thiên nhiên khi chuyển đổi sang vốn con người.

Hình 2.2: Giới hạn phát triển của nền kinh tế vĩ mô

Quy mô tối ưu của nền kinh tế vĩ mô, được xác định tại điểm d, là nơi mà lợi ích biên (MU) bằng chi phí biên (MDU), tức là ab = bc Tại điểm này, tính hữu dụng thực đạt mức tối đa, được tính bằng diện tích dưới đường MU trừ đi diện tích trên đường MDU.

Điểm e nhấn mạnh rằng khi MU = 0, việc gia tăng thêm là vô nghĩa, ngay cả khi chi phí là 0 Điểm d cảnh báo về khả năng xảy ra thảm họa sinh thái, khiến MDU dịch chuyển tới vô cực Ví dụ, một số chất ô nhiễm hóa học không cần thiết với khối lượng lớn có thể ngăn cản sự quang hợp của cây xanh, dẫn đến việc cây cối không thể hấp thụ năng lượng mặt trời, từ đó đe dọa sự tồn tại của muôn loài Chúng ta có thể đối mặt với thảm họa sinh thái trước khi đạt được sự thỏa mãn về phát triển kinh tế.

Hình 2.2 minh họa rằng tăng trưởng đến điểm b thể hiện sự phát triển kinh tế, nơi lợi ích vượt trội hơn chi phí, trong khi tăng trưởng vượt điểm b trở thành phi kinh tế, với chi phí cao hơn lợi ích Khi vượt qua điểm b, GNP trở thành chỉ số của sự rủi ro, phản ánh việc tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ và tính hữu dụng của nó có thể được đánh giá dựa trên từng trường hợp cụ thể.

13 Tính bất thỏa dụng (disutility) là mức độ mà một hàng hóa hay hành động không làm thỏa mãn mong muốn của con người

MU = tính hữu dụng biên từ việc tiêu dùng hàng hóa hay dịch vụ MU giảm dần theo nguyên tắc tính hữu dụng biên giảm dần

MDU đại diện cho tổn thất biên do tiêu dùng hàng hóa và sản phẩm gia tăng, bao gồm tính phi hữu dụng của lao động, sự mất mát về thụ hưởng, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm và hủy hoại môi trường, điều mà học giả John Ruskin đã dự đoán từ hơn một thế kỷ trước Điểm b (giới hạn kinh tế) nổi bật vì nó xảy ra trước và giúp chúng ta tối đa hóa lợi ích thuần, đồng thời ngăn chặn việc tàn phá trái đất.

Khái niệm quy mô tối ưu và tăng trưởng phi kinh tế có sự liên hệ chặt chẽ, áp dụng cho cả nền kinh tế vĩ mô và các đơn vị kinh tế vi mô Việc bỏ qua vấn đề này trong kinh tế học vĩ mô khiến chúng ta không thể nhận ra tầm quan trọng của đường MDU và quy mô tối ưu trong nền kinh tế Có hai khả năng xảy ra cho tình huống này.

Tầm nhìn về một thế giới trống cho thấy khái niệm tăng trưởng phi kinh tế, tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa đạt tới điểm đó Các nhà kinh tế học tân cổ điển cho rằng giá trị biên (MU) vẫn rất lớn trong khi giá trị biên giảm dần (MDU) không đáng kể Điều này mở ra khả năng có chứng cứ thực tế để giải quyết sự khác biệt và sẽ được thực hiện trong tương lai.

Sự khác biệt về mô hình giữa nền kinh tế và hệ sinh thái là lý do thứ hai giải thích cho sự sao lãng về chi phí của tăng trưởng Trong quan điểm này, nền kinh tế không được coi là một phần của hệ sinh thái, mà ngược lại, hệ sinh thái được xem như một bộ phận của nền kinh tế.

Hình 2.3: Hệ sinh thái nhƣ là một tiểu hệ thống của nền kinh tế

Hệ sinh thái là sự kết hợp giữa khai thác tài nguyên và xả thải của nền kinh tế Khi tài nguyên khan hiếm, sự phát triển công nghệ cho phép hoán đổi giữa vốn con người và vốn tài nguyên thiên nhiên, dẫn đến việc tăng trưởng vẫn có thể được thúc đẩy Thiên nhiên cung cấp các thực thể có thể thay thế và dư thừa, với giới hạn duy nhất của tăng trưởng là khía cạnh công nghệ Nếu chúng ta phát triển công nghệ mới, sẽ không có giới hạn cho tăng trưởng kinh tế, và khái niệm “tăng trưởng phi kinh tế” sẽ không tồn tại trong mô hình này.

14 J Ruskin, Unto This Last, (1862) in Lloyd J Hubenka, ed., Four Essays on the First Principles of Political

Economy, Lincoln: University of Nebraska Press, 1967

Kinh tế vi mô không chỉ đơn thuần là những vấn đề nhỏ, trong khi kinh tế vĩ mô không chỉ là những vấn đề lớn; thực tế, kinh tế vi mô tập trung vào các bộ phận riêng lẻ, còn kinh tế vĩ mô xem xét toàn bộ nền kinh tế Sự phân biệt này cho thấy rằng một bộ phận có thể lớn, trong khi tổng thể lại có thể nhỏ.

Hệ sinh thái Khai thác TN

Dịch chuyển mô hình (Paradigm shift)

Kinh tế học hiện đại nhấn mạnh vào tăng trưởng bền vững, trong khi kinh tế học sinh thái tập trung vào sự ổn định và quy mô tối ưu của nền kinh tế Hai trường phái này có những lập luận và quan điểm đối lập, dẫn đến sự khác biệt cơ bản mà không thể hòa hợp.

Kinh tế học sinh thái đòi hỏi một sự chuyển đổi mô hình, như quan điểm của triết gia Thomas Kuhn, và điều này phù hợp với ý tưởng của nhà kinh tế học Joseph Schumpeter Schumpeter nhấn mạnh rằng việc phân tích cần dựa trên nhận thức để cung cấp dữ liệu thô cho các nỗ lực phân tích Ông gọi hành động nhận thức trước khi phân tích là "tầm nhìn".

Kuhn phân biệt giữa "khoa học thông thường" và "khoa học mang tính cách mạng", trong đó khoa học thông thường giải quyết công việc hàng ngày dựa trên các nguyên tắc đã được thiết lập, còn khoa học cách mạng thay thế mô hình cũ bằng mô hình mới Các nhà khoa học thường xem mô thức là yếu tố tích lũy trong công việc của họ, giúp phân biệt giữa cộng đồng khoa học chân chính và những kẻ lang băm Họ thường phản đối các cuộc cách mạng khoa học, vì mọi vấn đề cuối cùng đều được giải quyết trong khuôn khổ mô hình hiện tại Kuhn chỉ ra rằng sự dịch chuyển mô hình, dù lớn hay nhỏ, là giai đoạn cần thiết trong lịch sử khoa học, ví dụ như sự chuyển từ quan điểm trái đất là trung tâm sang mặt trời là trung tâm trong khoa học vũ trụ, và sự so sánh giữa thuyết tuyệt đối của Newton và thuyết tương đối của Einstein.

Sự dịch chuyển mô hình trong vật lý thường không được giải thích rõ ràng trong các sách giáo trình, dẫn đến việc sinh viên có thể cảm thấy bối rối khi phải từ bỏ kiến thức đã học về các hạt vật chất Sau ba chương đầu, việc chuyển sang lý thuyết mới mà không có sự giải thích hợp lý về yếu tố lịch sử có thể gây khó khăn cho sinh viên trong việc chấp nhận các khái niệm như trọng lực và sự tương tác ở khoảng cách xa.

Trong ba mươi năm qua, môn học lịch sử các học thuyết kinh tế đã trở thành bắt buộc cho các khóa cử nhân kinh tế, nhưng hiện nay, nó thường bị coi là môn học lựa chọn Điều này phản ánh sự tự tin thái quá của các nhà kinh tế học đối với các mô hình hiện tại Nhiều người đặt câu hỏi tại sao cần học về những sai lầm trong quá khứ khi chúng ta đã biết sự thật Kết quả là, có sự thay đổi trong cách nhìn nhận về lịch sử các học thuyết kinh tế, mà nhiều sinh viên và giáo sư chưa thực sự hiểu rõ.

16 T Kuhn, The Structure of Scientific Revolutions, Chicago: University of Chicago Press, 1962

17 J Schumpeter, History of Economic Analysis, New York: Oxford University Press, 1954

Sự thay đổi trong tầm nhìn kinh tế từ việc coi nền kinh tế như một tổng thể sang việc xem nó như một phần trong hệ sinh thái liên quan đã dẫn đến một sự dịch chuyển cơ bản trong mô hình kinh tế học Các chương tiếp theo sẽ phân tích cụ thể hơn về hậu quả của sự thay đổi này.

Dòng chu chuyển và thông lƣợng tuyến tính

Quan điểm phân tích khác nhau tạo ra những khác biệt cơ bản trong kinh tế học chuẩn tắc và kinh tế học sinh thái, mặc dù nhiều công cụ phân tích là tương tự Chúng ta sẽ thảo luận về những khác biệt này trong bài viết tiếp theo.

Trong kinh tế học chuẩn tắc, nền kinh tế được xem như một tổng thể, với hai thành phần chính là đơn vị sản xuất (các công ty) và đơn vị tiêu dùng (hộ gia đình) Các công ty chịu trách nhiệm sản xuất và cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho hộ gia đình, trong khi hộ gia đình tiêu thụ các sản phẩm này Tại thị trường, cung của các công ty và cầu của các hộ gia đình tương tác với nhau, dẫn đến việc xác định giá cả dựa trên sự cân bằng giữa cung và cầu.

Hình 2.4: Dòng chu chuyển của nền kinh tế

Trong nền kinh tế, các công ty cần các yếu tố sản xuất từ hộ gia đình, và hộ gia đình cung cấp các yếu tố đó cho các công ty Giá cả của các yếu tố như đất đai, lao động và vốn được xác định bởi cung và cầu trên thị trường yếu tố, và giá cả này là cơ sở để tính thu nhập của hộ gia đình Tổng thu nhập của hộ gia đình chính là tổng thu nhập quốc gia Tương tự, tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ mà các công ty sản xuất và bán trên thị trường, nhân với giá mỗi hàng hóa, sẽ tạo ra tổng sản phẩm quốc gia Theo quy luật, tổng sản phẩm quốc gia phải tương đương với tổng thu nhập quốc gia, vì lợi nhuận (tính bằng giá trị tổng sản xuất trừ đi tổng chi phí yếu tố) được coi là một phần của tổng thu nhập quốc gia.

Anh/chị có cho rằng ở trạng thái cân bằng vẫn xảy ra khi lợi nhuận là âm? Giải thích tại sao

Các hình tròn bên trong và bên ngoài thể hiện sự cân bằng giữa sản xuất và tiêu dùng, tạo thành dòng chu chuyển giá trị trong kinh tế học Điều này nhấn mạnh mối quan hệ giữa cung và cầu, nơi các công ty tối đa hóa lợi nhuận trong khi các hộ gia đình tối đa hóa tính hữu dụng Sự tương tác giữa cung và cầu không chỉ xác định giá cả mà còn ảnh hưởng đến phân bổ các yếu tố sản xuất hàng hóa và dịch vụ Hơn nữa, sơ đồ dòng chu chuyển là nền tảng cho kinh tế học vĩ mô, phản ánh hành vi của các công ty và hộ gia đình trong việc xác định tổng thu nhập quốc gia và tổng sản phẩm quốc gia.

Định luật Say: Cung tạo ra cầu của chính nó

Sự cân bằng giữa thu nhập quốc gia và sản phẩm quốc gia là yếu tố quan trọng để đảm bảo sức mua của hộ gia đình đủ để tiêu dùng hàng hóa do doanh nghiệp sản xuất Tuy nhiên, không phải tất cả hàng hóa đều được tiêu thụ, dẫn đến giá sản phẩm giảm và có thể thấp hơn chi phí sản xuất, gây thua lỗ cho doanh nghiệp Dòng chu chuyển kinh tế không đảm bảo rằng mọi doanh nghiệp sẽ bán hết sản phẩm và có lãi, nhưng nó cho thấy rằng sản xuất có thể vượt quá tổng thu nhập Định luật Say, hay còn gọi là "cung tạo ra cầu", đã được các nhà kinh tế tin tưởng trong một thời gian dài, mặc dù đã có sự xem xét lại từ quan điểm của John Maynard Keynes về các cuộc suy thoái kinh tế.

Chúng ta luôn có đủ thu nhập từ quá trình sản xuất để tiêu dùng các sản phẩm đã được tạo ra Tuy nhiên, không phải tất cả thu nhập này đều được chi tiêu ngay lập tức, cho hàng hóa và dịch vụ, hoặc trong thị trường nội địa Điều này dẫn đến sự tồn tại của những thất thoát trong dòng chu chuyển, cũng như các luồng khác thâm nhập vào nó Tuy nhiên, chúng ta không thể chắc chắn rằng các dòng thất thoát và thâm nhập này là bằng nhau.

Thất thoát và thâm nhập trong dòng chu chuyển

Câu hỏi đặt ra là những dòng thất thoát và dòng thâm nhập bao gồm những gì?

Dạng thất thoát đầu tiên trong dòng chi tiêu là tiết kiệm, khi con người có xu hướng dành dụm cho tương lai Đầu tư là dòng thâm nhập tương ứng, dẫn đến việc chi tiêu hiện tại và tăng sản xuất trong tương lai Nếu tiết kiệm tương đương với đầu tư, dòng chu chuyển có thể được khôi phục Chu trình tiết kiệm thành đầu tư diễn ra qua thị trường tài chính và tỷ lệ lãi suất, trong đó các tổ chức tài chính thu gom tiết kiệm để cho các nhà đầu tư vay.

Dạng thất thoát thứ hai trong dòng chu chuyển kinh tế là chi trả thuế, trong khi dòng thâm nhập tương ứng là chi tiêu của chính phủ Ô hình vuông đại diện cho các tổ chức tài chính công, nơi các chính sách tài chính có thể cân đối giữa thuế và chi tiêu hoặc cố ý không cân đối để bù đắp cho sự mất cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư Chẳng hạn, nếu tiết kiệm vượt quá đầu tư, chính phủ có thể ngăn chặn suy thoái bằng cách cho phép chi tiêu vượt quá mức thuế thu được với một lượng tương tự.

Dạng thất thoát thứ ba trong dòng chu chuyển quốc gia là chi cho nhập khẩu hàng hóa, phản ánh lượng mua vào của các nước đối với hàng hóa xuất khẩu Tài chính quốc tế và tỷ giá hối đoái đóng vai trò quan trọng trong việc cân đối xuất khẩu và nhập khẩu Dòng tài chính quốc tế được biểu thị bằng hình vuông với các đường kẻ gạch chéo Dòng chu chuyển sẽ được khôi phục khi tổng các khoản thất thoát bằng với dòng tiền bơm vào, tức là khi tiết kiệm cộng với thuế và nhập khẩu bằng với đầu tư cộng với chi tiêu chính phủ và xuất khẩu Nếu tổng thất thoát lớn hơn tổng bơm vào, có thể dẫn đến thất nghiệp hoặc giảm phát, trong khi nếu tổng bơm vào lớn hơn tổng thất thoát, xu hướng mở rộng sản xuất hoặc lạm phát có thể xảy ra.

Thất thoát và luồng thêm vào dòng chu chuyển đƣợc thể hiện ở Hình 2.5

Dòng chu chuyển trong nền kinh tế bao gồm luồng thất thoát và thâm nhập, trong đó các hộ gia đình được coi là những nhà tiết kiệm, người nộp thuế và người nhập khẩu Ngược lại, các doanh nghiệp đóng vai trò là nhà đầu tư, nhận chi tiêu từ chính phủ và là các nhà xuất khẩu.

Sơ đồ dòng chu chuyển kết hợp giữa kinh tế học vi mô và vĩ mô, đồng thời chỉ ra các vấn đề cơ bản liên quan đến tiền tệ, tài chính và chính sách tỷ giá hối đoái Điều này giúp duy trì dòng chu chuyển, tránh thất nghiệp và lạm phát Với nhiều ưu điểm, vai trò của dòng chu chuyển trong nền kinh tế là rất quan trọng.

Mô hình dòng chu chuyển thường được sử dụng để phân tích luồng giá trị trong nền kinh tế, nhưng thực tế cho thấy việc phân tích này gặp khó khăn do nền kinh tế thường được coi là một hệ thống biệt lập, không cho phép thâm nhập hay thoát ra từ bên ngoài Mặc dù có sự thảo luận về các dòng thất thoát và dòng thâm nhập, khái niệm này vẫn không thay đổi thực tế rằng trong một hệ thống biệt lập, không có gì có thể ra vào Ý tưởng chủ đạo trong phân tích này là kết nối các dòng với nhau và sau đó đóng hệ thống lại Tuy nhiên, vấn đề nảy sinh từ việc hệ thống biệt lập thiếu môi trường bên ngoài, dẫn đến việc không thể phân tích mối quan hệ với môi trường xung quanh Nếu chúng ta xem nền kinh tế như một tổng thể, thì điều này sẽ hạn chế khả năng phân tích mối quan hệ của nó với môi trường.

Hệ thống kinh tế không thể tồn tại như một tổng thể độc lập; thay vào đó, nó là một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống lớn hơn, đó chính là hệ sinh thái của trái đất.

Mô hình dòng chu chuyển là một khái niệm phức tạp, thể hiện thông lượng tuyến tính của dòng vật chất-năng lượng trong nền kinh tế, tồn tại trong môi trường xung quanh Thông lượng này bao gồm dòng vật liệu và năng lượng từ các nguồn sinh thái toàn cầu, như mỏ, giếng khoan, và đất nông nghiệp, trước khi trở lại hệ sinh thái dưới dạng chất thải Tương tự như cách nhà sinh vật học mô tả vòng đời của động vật mà không nhắc đến hệ tiêu hóa, mô hình dòng chu chuyển cũng cần xem xét cơ chế tiêu hóa của nền kinh tế Định luật về sự hỗn loạn cho thấy năng lượng và vật chất chuyển từ trạng thái trật tự sang trạng thái kém trật tự, như động vật tiêu thụ thức ăn và thải ra chất thải Tuy nhiên, các nhà kinh tế thường bỏ qua yếu tố chuyển hóa trong dòng chu chuyển giá trị, vì họ coi nền kinh tế như một tổng thể, khác với cách các nhà sinh vật học nhìn nhận động vật.

Nhập lƣợng tuyến tính và các định luật Nhiệt động lực học

Thông lượng tuyến tính tuân thủ Định luật bảo toàn khối lượng và năng lượng, cùng với Định luật về sự hỗn loạn Dòng chu chuyển trong các đơn vị trao đổi không bị ràng buộc bởi giới hạn vật lý nào và có thể tăng trưởng mãi mãi do lạm phát Tuy nhiên, cần đặt câu hỏi về khả năng giá trị kinh tế thực sự của phát triển có thể mãi mãi thỏa mãn mong muốn của con người hay không.

2.7.1 Sự nhầm lẫn về quy mô

Mô hình kinh tế phát triển từ môi trường mà không xem xét mối quan hệ với môi trường sẽ không mang lại ý nghĩa trong nghiên cứu Alfred North Whitehead, nhà triết học và toán học, đã chỉ ra rằng việc sử dụng mô hình trừu tượng để hiểu một khía cạnh thực tế mà không nhận thức được các khía cạnh khác là một sai lầm, được ông gọi là sự nhầm lẫn về quy mô Ông không phản đối tư duy trừu tượng, mà nhấn mạnh rằng sự tưởng tượng là cần thiết cho suy nghĩ Tuy nhiên, điều quan trọng là nhận thức được giới hạn của sự trừu tượng, vì sức mạnh của tư duy trừu tượng thường đi kèm với chi phí mà chúng ta không nên bỏ qua.

Các nhà kinh tế học chuẩn tắc đã phát triển mô hình vòng tuần hoàn, được gọi là thông lượng, mô tả dòng chuyển hóa vật chất từ nguyên liệu thô đến sản phẩm đầu ra và chất thải Thông lượng thường được đo bằng các đơn vị vật lý, vì vậy các định luật vật lý được áp dụng một cách nghiêm ngặt trong mô hình này.

Theo Định luật thứ nhất về Nhiệt động lực học, sự bảo toàn vật chất và năng lượng cho thấy thông lượng có xu hướng tiến tới trạng thái cân bằng, trong đó nhập lượng bằng xuất lượng cộng với tích lũy Khi có tích lũy, hệ thống kinh tế đang phát triển, nhưng ở trạng thái cân bằng ổn định, tăng trưởng và tích lũy sẽ bằng 0 Tất cả nhập lượng sẽ trở thành xuất lượng thải, dẫn đến hai hậu quả chính: suy giảm nguồn lực môi trường và ô nhiễm Việc bỏ qua khái niệm thông lượng tương đương với việc không chú ý đến sự suy giảm nguồn lực và ô nhiễm môi trường Khác với giá trị trao đổi, dòng thông lượng chỉ diễn ra một chiều từ nguồn hỗn loạn thấp tới hỗn loạn cao, phản ánh Định luật thứ hai về Nhiệt động lực học.

Chúng ta có thể tái chế vật liệu tuy nhiên sẽ không bao giờ đảm bảo đƣợc 100% Tái

Định luật thứ nhất về Nhiệt động lực học khẳng định rằng năng lượng và vật chất không tự sinh ra hay mất đi Theo định luật hỗn loạn, năng lượng không thể được tái chế, và năng lượng cần thiết để tái chế thường lớn hơn lượng có thể tái chế Do đó, việc tái chế năng lượng không khả thi về mặt vật chất và luôn không kinh tế, bất kể giá năng lượng như thế nào Không có động vật nào có thể tái chế trực tiếp các sản phẩm thải của chính mình, và nếu có, sẽ cần một cỗ máy vận hành vĩnh cửu Tương tự, không nền kinh tế nào có thể tồn tại chỉ nhờ vào việc tái sử dụng trực tiếp các sản phẩm thải của chính nó như các vật liệu sống.

Hộp 2.2: Quy luật nhiệt động lực học Đồng hồ cát phía bên trái biểu thị một hệ thống biệt lập; không có cát đi vào và không có cát tồn tại Hơn nữa, trong đồng hồ cát không có sự tạo ra hay phân hủy của cát; khối lượng cát trong đồng hồ cát là không đổi Ở đây dĩ nhiên là tương tự với định luật nhiệt động lực học thứ nhất, sự bảo toàn vật chất và năng lƣợng Cuối cùng, cát sẽ tiếp tục chảy trong phễu trên và lưu giữ cát ở phễu phía dưới Cát trong phễu phía dưới sử dụng hết khả năng của nó và do vậy hoạt động bình thường Ở đó có sự hỗn loạn cao hay nói cách khác vật chất-năng lƣợng không còn nữa Cát trong phễu phía trên vẫn có khả năng chảy xuống; khi đó gọi là sự hỗn loạn thấp hay vật chất-năng lượng vẫn tồn tại (vẫn có tác dụng) Điều này tương tự với Định luật thứ hai về Nhiệt động lực học: Mức độ hỗn loạn, hay “sự tiêu thụ hết”, tăng lên trong một hệ thống biệt lập Sự tương tự của đồng hồ cát đặc biệt phù hợp bởi vì mức độ hỗn loạn trong vật lý gòn gọi là “mũi tên thời gian”- mức độ hỗn loạn tăng lên là có xảy ra hay không Tuy nhiên, không giống với đồng hồ cát thực tế, đồng hồ cát về sự hỗn loạn không thể lật theo chiều ngƣợc lại đƣợc

Chúng ta có thể hình dung lượng cát trong phễu trên như là nguồn dự trữ nhiên liệu hóa thạch với mức độ hỗn loạn thấp, trong khi năng lượng hóa thạch được sử dụng theo tỷ lệ xác định bởi phần giữa của đồng hồ cát Con người có khả năng điều chỉnh mức tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch, và khi cát rơi xuống phễu dưới, nó tích tụ như chất thải, cản trở các quá trình sống Đỉnh đồng hồ cát đại diện cho năng lượng mặt trời, với lượng lớn nhưng chỉ một phần nhỏ được khai thác tại một thời điểm Nguồn năng lượng mặt trời dồi dào nhưng dòng khai thác lại hạn chế, trong khi nguồn trên mặt đất là hạn chế nhưng dòng khai thác dồi dào cho đến khi cạn kiệt Sự bất đối xứng này rất quan trọng, khi mà chúng ta ngày càng phụ thuộc vào nguồn vật liệu với mức độ hỗn loạn thấp Định luật thứ hai về Nhiệt động lực học cho thấy mức độ hỗn loạn không bao giờ giảm trong một hệ thống biệt lập, mặc dù khối lượng vật chất và năng lượng không đổi nhưng chất lượng của chúng lại thay đổi, điều này khó đoán và phụ thuộc vào khả năng sử dụng của chúng.

Trong một hệ thống biệt lập như vũ trụ, sự hỗn loạn có xu hướng gia tăng theo định luật thứ hai của nhiệt động lực học Điều này cho thấy rằng tự nhiên có khuynh hướng hướng tới sự xáo trộn hơn là trật tự Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường nhận thấy rằng mọi vật có xu hướng hỗn tạp và phân bố không đồng đều Thực tế, trật tự không phải là trạng thái tự nhiên mà xảy ra một cách tự phát.

Sơ đồ dòng chu chuyển thường gây ra hiểu lầm rằng nền kinh tế có thể tái sử dụng trực tiếp Heilbroner và Thurow đã chỉ ra rằng “xuất lượng là dòng chu chuyển, tự đổi mới và tự nuôi dưỡng” Điều này gợi ý rằng nền kinh tế hoạt động như một cỗ máy chuyển động vĩnh cửu Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để giải thích tính chu chuyển của quá trình kinh tế, khi xuất lượng thường trở lại như những nhập lƣợng mới Cần xem xét cách mà đồng đô la chi tiêu tái xuất hiện như những đồng đô la kiếm được trong dòng chu chuyển về giá trị trao đổi, và làm thế nào sức mua được tái tạo qua quá trình sản xuất Để hiểu cách xuất lượng trở lại như nhập lƣợng, cần khám phá những bí mật của sự chuyển động vĩnh cửu và cách thức nền kinh tế tái sản xuất, duy trì sự tiếp diễn trong các vòng quay khác Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bổ sung từ bên ngoài hệ thống kinh tế.

The economic system is often viewed as a self-contained entity, which can lead to neglect of external influences and potential errors in understanding its components If the economy is considered a whole, it operates as an isolated system without external penetration.

2.7.2 Vai trò của thông lượng

Chúng ta sẽ khám phá lý thuyết về tầm quan trọng của thông lượng thông qua việc phân tích thực nghiệm quy mô và các thành phần của nền kinh tế hiện đại Bài viết cũng sẽ trích dẫn từ một cuốn sách về mối quan hệ giữa nền kinh tế và môi trường, nhấn mạnh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng.

Nghiên cứu cho thấy, ngành công nghiệp đã tiêu tốn khoảng 4 triệu pounds vật liệu mỗi năm để phục vụ nhu cầu của một gia đình trung lưu Vào năm 1990, trung bình mỗi người tiêu thụ khoảng 123 khối lượng khô vật liệu mỗi ngày, tương đương với hàng tỷ xe tải hàng năm Trong đó, 47 pounds là nhiên liệu, 46 pounds là vật liệu xây dựng, và 15 pounds là đất nông nghiệp Mỗi người Mỹ thải ra 130 pounds khí thải, 45 pounds vật liệu nhân tạo, và 3,5 pounds chất thải phi khí vào môi trường Hàng ngày, mỗi người cũng tiêu thụ khoảng 2000 pounds nước, gây ô nhiễm cho các hệ thống nước Tóm lại, người Mỹ tạo ra gần một triệu pounds chất thải mỗi năm, một con số đáng kể từ mô hình tiêu thụ hiện tại Mặc dù chất thải là cần thiết để đáp ứng nhu cầu dân số, việc cải thiện công nghệ và ưu tiên thứ tự tiêu thụ có thể giảm thiểu lượng chất thải mà không làm giảm chất lượng sống Tuy nhiên, câu hỏi về mức độ và chính sách cụ thể vẫn là thách thức lớn trong lĩnh vực kinh tế học sinh thái.

Năm 1997, một liên minh gồm Viện Tài nguyên thế giới (WRI), Viện Wupperal, Bộ Quy hoạch nhà và môi trường Hà Lan, và Viện nghiên cứu môi trường quốc gia Nhật Bản đã nghiên cứu thông lượng vật liệu tại các quốc gia phát triển từ 1975 đến 1993 Kết quả cho thấy tổng lượng vật liệu yêu cầu bình quân đầu người không thay đổi, dao động từ 45-85 tấn tài nguyên thiên nhiên mỗi người/năm, với Mỹ ở mức cao nhất, trong khi Nhật Bản và Đức có mức thấp hơn Trong giai đoạn này, dòng thông lượng của Mỹ giảm nhẹ, trong khi các quốc gia khác có sự gia tăng nhẹ Sự giảm nhẹ ở Mỹ chủ yếu là do cải thiện kiểm soát xói mòn đất, không phải nhờ hiệu quả sản xuất công nghiệp Tổng cầu tài nguyên không thay đổi theo thời gian là hệ quả của việc giảm cầu tài nguyên trên mỗi đô la GDP, mặc dù tổng sản phẩm quốc nội tăng trưởng.

20 P Hawken, A Lovins, and H Lovins, Natural Capitalism, Boston: Little, Brown, 1999, pp 51–52

21 Resource Flows: The Material Basis of Industrial Economies, Washington, DC: WRI, 1997

Mặc dù GDP của cả bốn quốc gia đã tăng, nhưng sự cải thiện hiệu quả không đến từ việc tiết kiệm hơn Việc sản xuất ô tô tiết kiệm nhiên liệu dẫn đến việc người tiêu dùng lái xe nhiều hơn, khiến lượng nhiên liệu tiêu thụ không thay đổi.

Bạn sẽ thực hiện mục tiêu nào trước, hiệu quả hay tiết kiệm? Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này sau

Thông tin thực nghiệm về quy mô vật lý, thành phần và sự thay đổi theo thời gian của thông lượng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá chi phí môi trường Cần hiểu khả năng của hệ sinh thái trong việc hấp thụ và tạo ra các yếu tố này, cũng như chi phí cơ hội liên quan Bên cạnh đó, sự đa dạng của các giống loài cũng cần được xem xét Tổ chức Quỹ động vật hoang dã đã cung cấp một phần câu trả lời cho những vấn đề này.

Các ý chính cần ghi nhớ

 Tổng thể và bộ phận

 Các hệ thống mở, đóng và biệt lập

 Thế giới đầy so với thế giới trống

 Tính hữu dụng biên giảm dần

 Chi phí biên tăng dần

 Mô hình mẫu và các vấn đề chính trước khi phân tích

 Thất thoát và thâm nhập

 Các định luật Nhiệt động lực học

 Sự nhầm lẫn về quy mô

 Đồng hồ cát về mức độ hỗn loạn

NHU CẦU, NGUỒN LỰC VÀ CHÍNH SÁCH

BẢN CHẤT CỦA TÀI NGUYÊN VÀ TÀI NGUYÊN CỦA THIÊN NHIÊN

CÁC TÀI NGUYÊN PHI SINH HỌC

CÁC TÀI NGUYÊN SINH HỌC

TỪ THẾ GIỚI TRỐNG ĐẾN THẾ GIỚI ĐẦY

PHƯƠNG TRÌNH THỊ TRƯỜNG CƠ BẢN

CUNG VÀ CẦU

THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG

THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN PHI SINH HỌC

THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN SINH HỌC

Ngày đăng: 02/10/2023, 13:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Từ thế giới trống đến thế giới đầy - Bài giảng Kinh tế học sinh thái
Hình 2.1 Từ thế giới trống đến thế giới đầy (Trang 17)
Hình 7.2: Đường Hubbert về lượng dầu được phát hiện mới - Bài giảng Kinh tế học sinh thái
Hình 7.2 Đường Hubbert về lượng dầu được phát hiện mới (Trang 86)
Hình 8.4: Cung cầu xác định giá P* và khối lƣợng Q* - Bài giảng Kinh tế học sinh thái
Hình 8.4 Cung cầu xác định giá P* và khối lƣợng Q* (Trang 104)
Hình 9.1: Sự dịch chuyển của đường cung và đường cầu - Bài giảng Kinh tế học sinh thái
Hình 9.1 Sự dịch chuyển của đường cung và đường cầu (Trang 107)
Hình 9.2: Thiếu hụt, dƣ thừa và cân bằng - Bài giảng Kinh tế học sinh thái
Hình 9.2 Thiếu hụt, dƣ thừa và cân bằng (Trang 108)
Hình 9.3: Thặng dư người tiêu dùng và thặng dư nhà sản xuất - Bài giảng Kinh tế học sinh thái
Hình 9.3 Thặng dư người tiêu dùng và thặng dư nhà sản xuất (Trang 109)
Hình 10.2: Mức độ ô nhiễm “tối ƣu” - Bài giảng Kinh tế học sinh thái
Hình 10.2 Mức độ ô nhiễm “tối ƣu” (Trang 129)
Hình  11.3:  Khai  thác  tối  ƣu  nhiên  liệu  hóa  thạch  (Q’’,  P’’)  khi  có  sự  khan  hiếm  và  ngoại ứng tiêu cực - Bài giảng Kinh tế học sinh thái
nh 11.3: Khai thác tối ƣu nhiên liệu hóa thạch (Q’’, P’’) khi có sự khan hiếm và ngoại ứng tiêu cực (Trang 138)
Hình 11.4: Giá dầu thô từ năm 1869 đến 1997 theo giá đô la năm 1996 - Bài giảng Kinh tế học sinh thái
Hình 11.4 Giá dầu thô từ năm 1869 đến 1997 theo giá đô la năm 1996 (Trang 140)
Hình 11.5: Độ co giãn của giá nước cho các khối lượng nước khác nhau (% thay đổi - Bài giảng Kinh tế học sinh thái
Hình 11.5 Độ co giãn của giá nước cho các khối lượng nước khác nhau (% thay đổi (Trang 145)
Hình 12.1: Đường sản lượng và đánh bắt bền vững - Bài giảng Kinh tế học sinh thái
Hình 12.1 Đường sản lượng và đánh bắt bền vững (Trang 150)
Hình 12.2: Tối đa hóa lợi nhuận hàng năm từ khai thác tài nguyên tái tạo - Bài giảng Kinh tế học sinh thái
Hình 12.2 Tối đa hóa lợi nhuận hàng năm từ khai thác tài nguyên tái tạo (Trang 151)
Hình 12.4: Khai thác tối ƣu của tài nguyên có thể tái tạo khi có xem xét đến các dịch - Bài giảng Kinh tế học sinh thái
Hình 12.4 Khai thác tối ƣu của tài nguyên có thể tái tạo khi có xem xét đến các dịch (Trang 156)
Hình 12.6: Cổ tức tự nhiên 108  từ khai thác tài nguyên tái tạo - Bài giảng Kinh tế học sinh thái
Hình 12.6 Cổ tức tự nhiên 108 từ khai thác tài nguyên tái tạo (Trang 158)
Hình 12.7: Khả năng hấp thụ chất thải: chi phí và lợi ích biên của ô nhiễm - Bài giảng Kinh tế học sinh thái
Hình 12.7 Khả năng hấp thụ chất thải: chi phí và lợi ích biên của ô nhiễm (Trang 161)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm