ĐỀ TÀI TỔNG QUAN VỀ THUẾ I TỔNG QUAN VỀ THUẾ 1 Các vấn đề cơ bản về thuế a Khái niệm, đặc điểm thuế Khái niệm Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật pháp qui định đối với các pháp[.]
TỔNG QUAN VỀ THUẾ
Các vấn đề cơ bản về thuế
a Khái niệm, đặc điểm thuế
Thuế là khoản đóng góp bắt buộc theo quy định của pháp luật dành cho các cá nhân và tổ chức chịu thuế, nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước Đây là hình thức phân phối lại nguồn tài chính trong xã hội, không có tính chất hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế.
Tính bắt buộc của thuế là một thuộc tính cơ bản, giúp phân biệt thuế với các hình thức động viên tài chính khác của ngân sách nhà nước Đặc điểm này thể hiện rõ nội dung kinh tế của thuế, với các quan hệ tiền tệ hình thành khách quan và mang ý nghĩa xã hội đặc biệt, đó là việc nhà nước thực hiện động viên tài chính một cách bắt buộc Phân phối thuế là phương thức mà qua đó một phần thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho nhà nước mà không kèm theo quyền lợi nào khác, thể hiện nghĩa vụ của công dân trong việc đóng thuế.
Tính không hoàn trả trực tiếp của thuế cho thấy rằng, thay vì hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế, thuế được hoàn trả gián tiếp thông qua việc cung cấp các dịch vụ công cộng từ nhà nước.
Sự không hoàn trả trực tiếp từ nhà nước đối với người nộp thuế thể hiện rõ ràng cả trước và sau khi thu thuế Trước khi thu thuế, nhà nước không cung cấp dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế, và sau khi nộp thuế, cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào diễn ra.
Thuế là một công cụ tài chính với tính pháp lý cao, được xác định bởi quyền lực chính trị của nhà nước, và quyền lực này được thể hiện qua các quy định pháp luật Hệ thống thuế đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển lịch sử đáng kể.
Thuế có lịch sử phát triển kéo dài từ ít nhất 2500 đến 4500 năm, đóng vai trò quan trọng trong nền văn minh nhân loại ở cả phương Đông và phương Tây Hình thức thuế sớm nhất được ghi nhận là corvée, một loại lao động bắt buộc.
“lao động” trong tiếng Ai Cập cổ cũng đồng nghĩa với từ “thuế”) Ở nước ta cho đến khoảng thế kỉ XI, đời vua Trần Thái Tông ( 1225-
Vào năm 1237, việc đánh thuế đã được tổ chức một cách có hệ thống, giúp triều đình tạo ra nguồn thu cho công quỹ của nhà Vua Theo sử sách, trong thời kỳ nhà Trần, có hai loại thuế chính được áp dụng là thuế thân và thuế điền.
Chế định thuế dưới triều đại nhà Hồ:
Từ thời nhà Trần, việc đóng thuế đã trở thành quy định cố định và không có nhiều thay đổi trong thời nhà Hồ Cụ thể, quy định về thuế thân được điều chỉnh, yêu cầu đóng 3 quan tiền mặt mỗi năm đối với những hộ có diện tích từ 2 mẫu 6 sào trở lên.
Chế định thuế dưới triều đại nhà Lê:
Ngoài thuế ruộng (thuế điền), còn đặt thêm thuế đất (thổ), thuế đất bãi trồng dâu nuôi tằm.
Chế định thuế dưới thời chúa Trịnh:
Ngoài việc duy trì các loại thuế như trước, Chúa Trịnh ở miền bắc còn đặt ra thêm các loại thuế khác như:
Thuế Mỏ (khai thác hầm mỏ), thuế đò (lệ phí giao thông), thuế chợ, thuế thổ sản có thể xem như thuế tài nguyên bây giờ.
Thuế tuần tuy: đánh vào các thuyền buôn.
Thuế muối: tăng thuế muối cao hơn thời nhà Trần.
Thuế thổ sản: như vàng, bạc, đồng, kẽm, tre, gỗ, tơ, lụa
Chế định thuế dưới thời Pháp thuộc:
Hệ thống thuế trong ngân sách thuộc địa được tổ chức theo nhiều tầng nấc, nhưng thay vì phục vụ cho sự phát triển xã hội, các khoản thuế này lại được chuyển về chính quốc, phục vụ cho mục tiêu của chủ nghĩa thực dân Chính phủ thực dân Pháp áp dụng các loại thuế gián thu như thuế tiêu thụ thuốc lá, thuế rượu, thuế muối và thuế quan, cùng với các thuế trực thu như thuế môn bài và thuế thổ trạch.
Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 đến năm 1954, Chính phủ Việt Nam đã bãi bỏ các sắc thuế phi nhân đạo như thuế thân và thuế thổ trạch, miễn thuế điền thổ cho vùng bị lụt và giảm thuế điền 20% trên toàn quốc, đồng thời đình chỉ thu thuế ở miền Nam Sau năm 1946, Nhà nước cải tiến chế độ thuế bằng cách tăng thuế suất nhiều loại thuế và tiếp tục dựa vào các nguồn đóng góp mới như Qũy "tham gia kháng chiến" và Qũy "Công lương" Đến năm 1951, Chính phủ đã ban hành chính sách pháp luật thuế mới dựa trên nguyên tắc công bằng và phù hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội cũng như điều kiện chiến tranh.
Giai đoạn từ năm 1954 đến 1975, chính phủ đã ban hành 12 loại thuế mới dựa trên việc sửa đổi các chế độ thuế từ năm 1951, bao gồm thuế doanh nghiệp, thuế hàng hóa, thuế sát sinh, thuế buôn chuyến, thuế thổ trạch, thuế kinh doanh nghệ thuật, thuế môn bài, thuế trước bạ, thuế muối, thuế rượu, thuế xuất nhập khẩu và chế độ thu quốc doanh Trong thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa, hệ thống thuế công thương nghiệp đã được cải cách mạnh mẽ, chuyển từ ít hình thức thuế sang nhiều loại thuế áp dụng trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa, với sự phân biệt giữa các ngành nghề và kinh tế tập thể cũng như tư nhân Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Nhà nước đã thử nghiệm chế độ thu quốc doanh, xác định mức thu riêng cho từng mặt hàng theo giá cả do Nhà nước quy định và chỉ thu ở khâu sản xuất.
Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1990:
Trong giai đoạn 1975 - 1980, miền Bắc tiếp tục thực hiện hệ thống pháp luật thuế đã được ban hành trước đó, điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới Trong khi đó, miền Nam áp dụng một số loại thuế cũ từ chính quyền Sài Gòn, đồng thời xóa bỏ các loại thuế phản tiến bộ và sửa đổi để thích ứng với điều kiện của đất nước thống nhất.
Từ giữa những năm 1980, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế, dẫn đến việc nghiên cứu và hình thành một hệ thống pháp luật thuế mới vào năm 1990 Giai đoạn này đánh dấu sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thuế, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế đất nước.
Cơ sở thuế phân loại thuế
a Cơ sở thuế (Tax base).
Thuế được tính dựa trên nhiều yếu tố khác nhau, tùy thuộc vào mục đích và tính chất của từng loại sắc thuế Cơ sở thuế có thể là các khoản thu nhập mà tổ chức hoặc cá nhân nhận được trong kỳ tính thuế Có ba loại cơ sở tính thuế chính: thu nhập, tiêu dùng và của cải Ví dụ, cơ sở thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định là tổng thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp trong kỳ.
Cơ sở thuế được xác định là tổng giá trị hàng hoá và dịch vụ tiêu thụ trong kỳ, đặc biệt đối với thuế đánh vào hàng hoá và dịch vụ Ví dụ, cơ sở tính thuế doanh thu là tổng doanh thu nhận được trong kỳ tính thuế, trong khi cơ sở tính thuế giá trị gia tăng cho hàng hoá sản xuất trong nước là giá bán chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng.
Thuế suất trung bình (ATR) là chỉ số cho biết số thuế phải nộp trung bình cho mỗi đơn vị giá trị cơ sở thuế Công thức tính ATR được xác định là ATR = T/Y, trong đó T là số thuế thực sự phải đóng và Y là tổng thu nhập.
Là mức thuế đánh trên đồng thu nhập cuối cùng
- Thuế lũy tiến : Y tăng dẫn tới ATR tang.
- Thuế lũy thoái: Y tăng dẫn tới TR giảm.
- Thuế tỷ lê : Y tăng nhưng ATR không đổi
Nếu thu nhập dưới 4tr thì được mien thuế, trên 4tr đóng thuế suất 20% Đây là thuế gỉ?
Y Thu nhập chịu thuếYtY- Yo
15 15-4 11*0.2= 2.2 2.2/15 1/5= 0.2 Đây là thuế lũy tiến : Y tăng thì ATR tăng.
Nhân xét: thuế lũy tiến: ATR < MTR
Thuế lũy thoái ATR > MTR
Thuế tỉ lệ ATR = MTR b Phân loại thuế.
Căn cứ vào tính chất của nguồn tài chính động viên vào ngân sách Nhà nước.
Thuế trực thu Thuế gián thu
Thuế trực tiếp là loại thuế mà nhà nước thu từ các pháp nhân hoặc thể nhân khi họ có tài sản hoặc thu nhập theo quy định Người nộp thuế chính là người chịu trách nhiệm về khoản thuế này và không thể chuyển gánh nặng thuế cho người khác.
Thuế gián thu là loại thuế đánh vào giá trị hàng hóa khi lưu chuyển trên thị trường, trong đó người nộp thuế không phải là người chịu thuế Loại thuế này được cấu thành trong giá cả hàng hóa dịch vụ, và người tiêu dùng chính là người chịu thuế thực sự Người nộp thuế gián thu thực chất chỉ là người nộp hộ cho người tiêu dùng.
Ví Dụ Ví dụ như: thuế thu nhập cá nhân, thuế nhà đất … Ví dụ như: V.A.T, thuế tiêu thụ đặc biệt…
Căn cứ theo cơ sở tính thuế.
Thuế Thu Nhập Thuế Tiêu Dùng Thuế Tài Sản
Là thuế đánh vào thu nhập của cá nhân
(gọi là thuế thu nhập cá nhân) và pháp nhân (gọi là thuế doanh nghiệp, thuế thu nhập doanh
Thuế tiêu dùng là loại thuế áp dụng cho hoạt động tiêu dùng, và chính phủ có thể thu thuế này thông qua hai hình thức: trực tiếp đánh thuế lên người tiêu dùng hoặc đánh thuế trực tiếp lên hàng hóa.
Các sắc thuế đánh vào quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản được gọi là thuế, bao gồm thuế tài sản và thuế lợi nhuận Những loại thuế này được thu hàng năm và áp dụng cho hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng mua.
( khi đó các doanh nghiệp cung ứng hàng hóa là người nộp tiền thuế cho chính phủ.)
-Ví dụ thuế giá trị gia tăng , thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt , thuế chi tiêu lần
- Ví dụ thuế tài sản nhà đất, thuế bất động sản,thuế ô tô tàu thuyền
CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN VÀ VAI TRÒ
Các nguyên tắc cơ bản khi đánh thuế
a Nguyên tắc lợi ích và nguyên tắc khả năng thanh toán
Thuế nên được tính toán dựa trên lợi ích mà người nộp thuế nhận được từ các dịch vụ công Cụ thể, những ai sử dụng nhiều dịch vụ công và hưởng lợi lớn hơn sẽ phải đóng thuế nhiều hơn.
Theo nguyên tắc đánh thuế theo lợi ích, cá nhân cần phải trả thuế tương ứng với mức độ sử dụng hàng hóa công cộng như đường sá và công viên Chẳng hạn, việc đánh thuế xăng dầu để tài trợ cho xây dựng và bảo trì đường sá là một ví dụ điển hình, vì mức độ tiêu thụ xăng dầu của người sử dụng xe hơi có mối quan hệ trực tiếp với lợi ích mà họ nhận được từ việc sử dụng đường Do đó, những người sử dụng xe hơi nên chịu thuế để hỗ trợ cho các con đường công cộng.
Nguyên tắc lợi ích mang lại lợi thế lớn nhất khi nó gắn kết chi phí của mỗi đơn vị hàng hóa và dịch vụ do Chính phủ cung cấp với lợi ích biên mà người tiêu dùng nhận được Nếu thuế cho mỗi đơn vị hàng hóa công cộng phản ánh đúng lợi ích biên mà người đóng thuế nhận, cá nhân sẽ có xu hướng lựa chọn và tiêu dùng hàng hóa công cộng một cách hiệu quả Tuy nhiên, một thách thức lớn trong việc áp dụng nguyên tắc này là hầu hết hàng hóa và dịch vụ do Chính phủ cung cấp tạo ra lợi ích sử dụng chung, khiến việc xác định mức lợi ích riêng biệt cho từng cá nhân trở nên khó khăn.
Nguyên tắc khả năng thanh toán
Thuế mà người dân phải nộp dựa vào khả năng chi trả, điều này phụ thuộc vào thu nhập và tài sản tích lũy của họ Những cá nhân có khả năng đóng thuế cao hơn sẽ có nghĩa vụ nộp thuế nhiều hơn so với những người có khả năng chi trả thấp.
Theo nguyên tắc phân chia nghĩa vụ thuế, mức lợi ích biên mà cá nhân nhận được từ dịch vụ chính phủ không ảnh hưởng đến nghĩa vụ thuế của họ Để xây dựng một hệ thống thuế công bằng, cần có sự đồng thuận về cách phân chia gánh nặng thuế Chính phủ thường xem xét khả năng thanh toán của cá nhân dựa trên thu nhập, từ đó áp dụng nguyên tắc công bằng ngang và công bằng dọc trong việc xác định nghĩa vụ thuế.
Nguyên tắc công bằng ngang
Theo nguyên tắc này, các cá nhân có cùng tính chất, điều kiện và hoàn cảnh kinh tế sẽ được đối xử công bằng trong nghĩa vụ thuế phải nộp.
Nếu hệ thống thuế được xây dựng dựa trên nguyên tắc lợi ích, hai người sử dụng các dịch vụ như nhau sẽ phải đóng thuế tương đương Ngược lại, nếu hệ thống thuế theo nguyên tắc khả năng thanh toán, những người có thu nhập tương đương cũng cần phải đóng thuế như nhau để đảm bảo sự công bằng.
Theo Điều 3 của Luật Thuế GTGT, đối tượng chịu thuế bao gồm hàng hóa và dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tại Việt Nam, ngoại trừ những trường hợp được quy định tại Điều 5 Điều này cho thấy rằng tất cả các cá nhân có khả năng chi trả cho hàng hóa, dịch vụ đều phải chịu mức thuế giá trị gia tăng giống nhau.
Nguyên tắc công bằng dọc
Các cá nhân có tính chất, điều kiện, hoàn cảnh kinh tế khác nhau thì nghĩa vụ thuế phải nộp cũng khác nhau.
Trả thuế khác nhau như thế nào là công bằng lại là một vấn đề rất mơ hồ.
Ngoài ra, còn một số nguyên tắc khác như:
Nguyên tắc xuất xứ hàng hóa quy định rằng khi hàng hóa được nhập khẩu vào Việt Nam, thuế sẽ được áp dụng dựa trên mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và quốc gia xuất xứ của hàng hóa đó.
Nguyên tắc điểm đến quy định rằng hàng hóa tiêu dùng sẽ chịu thuế tại quốc gia nơi chúng được tiêu thụ Điều này có nghĩa là mỗi quốc gia có quyền đánh thuế đối với hàng hóa tiêu dùng mà người dân trong nước đó sử dụng.
Căn cứ vào nguồn phát sinh thu nhập: Hàng hóa tiêu dùng ở nước nào thì nước đó có quyền đánh thuế.
Căn cứ vào nơi cư trú: Đối tượng phát sinh thu nhập cư trú ở nước nào thì nước đó có quyền đánh thuế.
2 Vai trò của thuế a Tạo nguồn thu lớn cho NSNN
Thuế là công cụ chính để huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước, đặc biệt quan trọng đối với các nước có nền kinh tế phát triển Vai trò của thuế trong việc tập trung nguồn lực tài chính nhằm đáp ứng các chỉ tiêu của Nhà nước là không thể thiếu Nó được xem là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, và nguồn thu này chỉ có thể gia tăng khi nền kinh tế phát triển và đạt năng suất hiệu quả cao.
Một nền tài chính quốc gia vững mạnh cần dựa vào nguồn thu nội bộ từ nền kinh tế, trong đó thuế là nguồn thu chủ yếu, đảm bảo tính ổn định và tăng trưởng theo sự phát triển của nền kinh tế Các nguồn thu khác như vay mượn, viện trợ nước ngoài hay bán tài nguyên quốc gia thường gặp nhiều hạn chế và điều kiện ràng buộc Do đó, việc điều tiết kinh tế vĩ mô cần phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế để tối ưu hóa nguồn thu và chi tiêu của Nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước có thể điều chỉnh vĩ mô thông qua chính sách thuế, cho phép tăng hoặc giảm thuế đối với thu nhập của người dân và doanh nghiệp Điều này nhằm kích thích hoặc hạn chế sự phát triển của các lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế, từ đó mang lại lợi ích xã hội.
Việc điều chỉnh chính sách thuế đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành cơ cấu ngành hợp lý, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế ở từng giai đoạn Nhà nước có khả năng thúc đẩy sự phát triển của các ngành then chốt, đồng thời cân bằng tốc độ tăng trưởng giữa các lĩnh vực thông qua các chính sách thuế hiệu quả Bên cạnh đó, điều tiết thu nhập cũng giúp đảm bảo sự công bằng trong phân phối tài nguyên và lợi ích trong xã hội.
Chính sách thuế của nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết các loại nguyên, nhiên, vật liệu và hàng hóa, với các mức thuế suất và chế độ ưu đãi khác nhau Điều này đã tạo ra ảnh hưởng sâu sắc đến cung cầu, giúp điều chỉnh quá trình phân phối các yếu tố đầu vào và tái sản xuất của doanh nghiệp.
HỆ THỐNG THUẾ VÀ CÁC TÍNH CHẤT CỦA HỆ THỐNG THUẾ .9 1 Hệ Thống Thuế
Các Tính Chất Của Hệ Thống Thuế
a Tính hiệu quả kinh tế
Thuật ngữ hiệu quả của hệ thống thuế được sử dụng theo 2 cách sau:
Thuế không can thiệp hoặc gây ảnh hưởng đến hành vi kinh tế của người nộp thuế
Các tổ chức hay cá nhân phản ứng đối với thuế bằng cách thay đổi hành vi của họ b Tính đơn giản
Hệ thống thuể phải đơn giản về hành chính để dễ dàng quản lý và tiết kiệm chi phí cho nhà nước. c Tính công bằng
Tiêu chuẩn hàng đầu về thuế không chỉ là công cụ phân phối thu nhập mà còn đảm bảo công bằng xã hội, đồng thời thể hiện tính linh hoạt trong việc điều chỉnh các chính sách tài chính.
Tính linh hoạt của hệ thống thuế thể hiện qua sự dễ hiểu, dễ thực hiện và dễ quản lý, điều này không chỉ tăng cường khả năng thu nộp thuế vào ngân sách nhà nước mà còn giúp hệ thống thuế thích ứng với những thay đổi của nền kinh tế Đồng thời, tính trách nhiệm trong việc quản lý và sử dụng nguồn thuế cũng là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong chính sách thuế.
Hệ thống luôn làm việc trách nhiệm, để bảo đảm quyền lơi và nghĩa vụ cho người dân và nhà nước.
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ
Tác động của thuế đơn vị
Hình 1.1: Phạm vi ảnh hưởng của thuế đơn vị đánh vào người tiêu dùng
Trước khi áp dụng thuế, thị trường đạt cân bằng tại điểm E với giá P0 và lượng Q0 Đường cầu D thể hiện mức tối đa mà người tiêu dùng sẵn sàng chi trả Khi thuế được áp dụng, mức sẵn sàng trả của người tiêu dùng cho người bán giảm đi một khoản T, dẫn đến việc toàn bộ đường cầu D dịch chuyển xuống dưới thành D’ một khoảng T Kết quả, điểm cân bằng thị trường chuyển từ E xuống F, với lượng hàng hóa bán ra giảm còn Q1 Giá tại điểm F là giá người mua sẵn sàng trả cho người bán sau thuế, ký hiệu là Pb Tuy nhiên, người mua còn phải trả thuế T cho chính phủ, do đó mức giá thực tế mà người mua phải trả là Pm Khoảng cách giữa D và D’ chính là T, nên nếu Pb tương ứng với điểm F, thì Pm sẽ tương ứng với điểm H trong hình.
Thuế tạo ra sự chênh lệch giữa giá mà người mua phải trả và giá mà người bán nhận được, với chênh lệch này được gọi là thuế Chính phủ thu (T = Pm – Pb) Người mua phải trả giá cao hơn, trong khi người bán nhận được giá thấp hơn, cho thấy gánh nặng thuế thực chất được chia sẻ giữa cả hai bên Tổng doanh thu thuế mà Chính phủ thu được là T nhân với số lượng sản phẩm bán ra (Q1), tương ứng với diện tích hình chữ nhật PbPmHF, được chia thành hai phần.
P0PmHG là gánh nặng thuế mà người tiêu dùng phải trả, còn diện tích PbP0GF là gánh nặng thuế mà người sản xuất phải trả.
Khi Chính phủ áp dụng thuế T trên mỗi hàng hóa ngay từ khi xuất xưởng, người bán sẽ phải thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định Cân bằng thị trường trước thuế vẫn ở điểm E, với đường cung S thể hiện mức giá tối thiểu mà người sản xuất chấp nhận Sau khi thuế được áp dụng, người sản xuất nhận ra rằng họ không thể giữ lại toàn bộ số tiền từ người tiêu dùng, mà phải trích một phần T đồng/hàng hóa để nộp thuế Do đó, tại mọi điểm trên đường cung, giá mà người sản xuất sẵn sàng bán cho người tiêu dùng sẽ cao hơn mức giá trước thuế một khoản bằng T.
Hình 1.2: Phạm vi ảnh hưởng của thuế đơn vị đánh vào người sản xuất
Khi thuế được áp dụng, đường cung sẽ dịch chuyển song song lên trên bằng mức thuế, dẫn đến cân bằng mới của thị trường tại điểm H Tại điểm này, mức giá Pm mà người mua phải trả để mua hàng hóa cao hơn, trong khi mức giá thực tế mà người sản xuất nhận được là Pb, tương đương với Pm – T.
F So sánh hình 1.2 và hình 1.1 có thể thấy, cho dù thuế đánh vào người sản xuất hay người tiêu dùng thì phạm vi ảnh hưởng kinh tế của thuế cũng hoàn toàn tương tự như nhau.
Tác động của thuế theo giá trị
Thuế theo giá trị có tác động tương tự như thuế đơn vị, nhưng khác biệt ở chỗ nó phụ thuộc vào giá bán Khi đường cầu hoặc cung dịch chuyển, sự dịch chuyển này không diễn ra song song như thuế đơn vị; thay vào đó, các điểm trên đường cầu hoặc cung sẽ dịch chuyển theo tỷ lệ với mức giá tương ứng Điều này có nghĩa là, những điểm trên đường cầu hoặc cung ứng với mức giá thấp sẽ có mức dịch chuyển tuyệt đối ít hơn, cho đến khi đường cầu hoặc cung cắt trục hoành tại mức giá 0, lúc này đường cầu hoặc cung sẽ trùng với đường cũ Sự phân chia gánh nặng thuế vẫn tương tự như trong trường hợp thuế đơn vị.
Hình 1.3 (a) và (b) lần lượt mô tả phạm vi ảnh hưởng của thuế theo giá trị khi nó đánh vào người tiêu dùng và người sản xuất.
Việc phân chia gánh nặng thuế không phụ thuộc vào loại thuế, cho dù đó là thuế đơn vị hay thuế theo giá trị, mà nó liên quan đến việc thuế được đánh vào người sản xuất hay người tiêu dùng.
Độ co giãn của cung và cầu quyết định sự phân chia gánh nặng thuế
Nếu cầu co giãn nhiều, mức tăng giá sẽ dẫn đến sự giảm mạnh trong lượng cầu Ngược lại, khi cung ít co giãn, mức giảm của lượng cung sẽ làm giá mà người sản xuất nhận được giảm nhiều hơn, gây thiệt hại cho họ Do đó, khi cầu co giãn cao và cung ít co giãn, gánh nặng thuế chủ yếu sẽ dồn lên người sản xuất Trái lại, khi cầu ít co giãn và cung co giãn nhiều, gánh nặng thuế sẽ chủ yếu rơi vào người tiêu dùng.
Tính quy luật này được thể hiện trong hình 1.4 (a) và (b) Cả hai trường hợp này đều lấy thuế đơn vị đánh vào người tiêu dùng làm ví dụ.
Phạm vi ảnh hưởng của thuế trong thị trường cạnh tranh không hoàn hảo
a Phạm vi ảnh hưởng của thuế trong độc quyền
Hãng độc quyền luôn tối đa hóa lợi nhuận bằng cách chọn sản xuất ở mức sản lượng mà tại đó, chi phí biên (MC) = Doanh thu biên (MR).
Trong thị trường độc quyền, điểm cân bằng được xác định tại điểm E, nơi hãng độc quyền thiết lập giá P1 và sản xuất lượng hàng hóa Q1 Ngược lại, trong một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, điểm cân bằng sẽ xảy ra tại điểm F, với giá cân bằng là P0 và sản lượng cung cấp là Q0.
Nếu Chính phủ áp dụng thuế T lên từng đơn vị hàng hóa của hãng độc quyền, chi phí biên sẽ tăng lên thành MC + T Trong thị trường cạnh tranh, điểm cân bằng mới sẽ là F’, dẫn đến sản lượng giảm xuống Q0’ và giá tăng lên P0’ Ngược lại, trong thị trường độc quyền, điểm cân bằng mới sẽ là E’, với mức giá P1’ và sản lượng Q1’.
Trong thị trường độc quyền, thuế tác động đến giá cả và sản lượng theo cách khác so với thị trường cạnh tranh Cụ thể, giá tăng ít hơn và sản lượng giảm ít hơn trong thị trường độc quyền, dẫn đến việc người tiêu dùng phải chịu gánh nặng thuế thấp hơn so với trong môi trường cạnh tranh.
Trong môi trường độc quyền, sự chuyển thuế thuận chiều ít hơn so với trong môi trường cạnh tranh Tuy nhiên, điều này không nhất thiết mang lại lợi ích cho người tiêu dùng, vì họ đã phải trả mức giá cao hơn nhiều so với giá trong thị trường cạnh tranh ngay cả khi chưa có thuế Ở thị trường cạnh tranh, ảnh hưởng của thuế phụ thuộc vào độ co giãn của đường cung và cầu, trong khi ở thị trường độc quyền, nó còn phụ thuộc vào độ dốc của đường chi phí biên và đường cầu.
Khi các yếu tố khác không đổi, đường chi phí biên dốc hơn dẫn đến khả năng chuyển thuế thuận chiều của hãng độc quyền giảm Điều này được minh họa rõ ràng qua so sánh tác động của thuế đơn vị lên hai đường chi phí biên khác nhau, MC1 và MC2 Cả hai hãng độc quyền này đều đối mặt với cùng một đường cầu thị trường và tối đa hóa lợi nhuận tại mức giá và lượng ban đầu giống nhau trước khi áp dụng thuế.
Hình 1.6: Phạm vi ảnh hưởng của thuế phụ thuộc vào độ dốc của MC
Chính phủ hiện đang áp dụng thuế T đối với cả hai hãng độc quyền, dẫn đến sự dịch chuyển đồng đều của đường chi phí biên (MC) của cả hai hãng Nếu trước thuế, hai đường MC đều đi qua điểm A, thì sau thuế, chúng sẽ đi qua điểm B Hình 5.7 cho thấy rằng với đường MC1 dốc hơn, mức tăng giá thị trường sẽ ít hơn, cho thấy hãng độc quyền thứ nhất có khả năng chuyển thuế thấp hơn so với hãng thứ hai Khi đường chi phí biên thẳng đứng, không có sự thay đổi về giá và sản lượng do thuế, và hãng độc quyền sẽ gánh toàn bộ thuế Ngược lại, với đường chi phí biên nằm ngang, khả năng tăng giá sau thuế của hãng độc quyền sẽ cao hơn Tuy nhiên, điều này đặt ra câu hỏi liệu người tiêu dùng có phải chịu phần lớn gánh nặng thuế hay không, điều này phụ thuộc vào hình dạng của đường cầu.
Hình 1.7 minh họa hai khả năng Với đường cầu tuyến tính như trong hình
Khi giá tăng bằng một nửa mức thuế, người tiêu dùng và hãng độc quyền sẽ chia sẻ gánh nặng thuế Tuy nhiên, trong trường hợp đường cầu co giãn đều, giá sẽ tăng nhiều hơn mức thuế, dẫn đến người tiêu dùng gánh chịu hơn 100% thuế Điều này cho thấy tác động mạnh mẽ của thuế trong môi trường độc quyền.
Thị trường độc quyền nhóm nằm giữa hai thái cực, với chỉ một số ít người bán Hiện tại, chưa có mô hình hoàn chỉnh nào nghiên cứu ảnh hưởng của thuế trong cấu trúc thị trường này Sự phân chia gánh nặng thuế chủ yếu phụ thuộc vào mức độ thay đổi giá trên thị trường, điều này lại phụ thuộc vào hành vi cạnh tranh hoặc cấu kết của các người bán.
Tuy nhiên, ta vẫn có thể rút ra kết luận nhất định khi xem xét các khả năng ứng xử của các hãng trong thị trường độc quyền nhóm.
Các hãng sản xuất lý tưởng nên cấu kết để tối đa hóa lợi nhuận cho toàn ngành thông qua việc cắt giảm sản lượng, một giải pháp gọi là cấu kết kiểu Các-ten Tuy nhiên, thực tế cho thấy giải pháp này dễ bị phá vỡ do động cơ gian lận của các hãng muốn bán nhiều hơn mức đã thỏa thuận Để tối đa hóa lợi nhuận, cần có cơ chế buộc các hãng giảm sản lượng gần với mức của cấu kết kiểu Các-ten Việc đánh thuế lên sản xuất ngành có thể buộc các hãng phải cắt giảm sản lượng, điều này không nhất thiết xấu cho các hãng độc quyền nhóm Mặc dù đánh thuế có thể làm giảm lợi nhuận trước thuế, nhưng cắt giảm sản lượng có thể đưa họ gần hơn với giải pháp kiểu Các-ten, từ đó có thể làm tăng lợi nhuận trước thuế Nếu lợi nhuận sau thuế vẫn cao hơn so với trước thuế, thì thực chất, thuế đã mang lại lợi ích cho các hãng Tuy nhiên, để xác định chính xác lợi ích này, cần thêm thông tin chi tiết về thị trường độc quyền nhóm.
Phạm vi ảnh hưởng của thuế trong thị trường yếu tố sản xuất 22 a Thị trường lao động
Tác động của thuế đến thị trường lao động phụ thuộc vào giao điểm cung cầu lao động trước và sau thuế Nếu đường cầu về lao động cắt đường cung trước khi đường cung quay vòng, thuế sẽ ảnh hưởng tương tự như trong các thị trường hàng hóa thông thường.
Hình 1.8: Tác động của thuế trong thị trường lao động phụ thuộc vào giao điểm của cung cầu lao động
Thuế thường được chia sẻ giữa người lao động và người sử dụng lao động Tuy nhiên, nếu đường cung quay vòng và dẫn đến việc giảm giờ công mạnh hơn mức thuế (w0 – w1 > t), thì gánh nặng thuế sẽ hoàn toàn do người lao động gánh chịu.
Nếu nền kinh tế không có quan hệ thương mại với nước ngoài, nguồn cung vốn sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào tiết kiệm nội địa Trong tình huống này, ảnh hưởng của thuế đối với vốn sẽ tương tự như đối với các hàng hóa khác.
Khi nền kinh tế toàn cầu mở cửa và vốn lưu động tự do giữa các quốc gia, thị trường vốn trở thành một thực thể thống nhất, gọi là thị trường vốn thế giới Sự chênh lệch lãi suất giữa trong nước và quốc tế sẽ dẫn đến dòng vốn vào hoặc ra, nhằm điều chỉnh lãi suất nội địa Đường cung vốn của mỗi quốc gia là đường nằm ngang, cho phép doanh nghiệp trong nước vay vốn với lãi suất quốc tế Do đó, người vay vốn trong nước sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm về thuế vốn.
Khi đường cung nằm ngang, thuế không làm thay đổi giá cả thị trường nên người tiêu dùng phải chịu toàn bộ gánh nặng thuế.
Chính phủ không nên xem nhẹ tác động của thương mại quốc tế, vì điều này có thể dẫn đến việc phóng đại khả năng đánh thuế vốn Trong một nền kinh tế mở, thuế vốn có thể trở thành gánh nặng cho các nhà sản xuất trong nước, những người đang cần vay vốn để phát triển sản xuất Thị trường đất đai cũng là một yếu tố quan trọng cần xem xét trong bối cảnh này.
Lượng cung về đất thường cố định, với đường cung thể hiện dưới dạng thẳng đứng Khi có thuế, người bán phải chịu toàn bộ thuế này Giá thuê đất ban đầu là P0, nhưng sau khi áp dụng thuế, đường cầu dịch chuyển xuống, khiến giá thuê giảm xuống còn Pb Người chủ đất gánh chịu toàn bộ thuế, trong khi người thuê vẫn trả mức tiền không đổi so với trước khi có thuế đất (Pm = Pb).
Khi đường cung là một đường thẳng đứng, thuế áp dụng sẽ làm giảm giá trị thị trường xuống đúng bằng mức thuế, khiến người sản xuất phải gánh chịu toàn bộ khoản thuế này Điều này xảy ra vì thuế đất đã được tính vào giá trị của đất đai.
Khi mua hoặc thuê đất, người mua cần nhận thức rằng họ cũng "mua" trách nhiệm thuế hàng năm kèm theo, điều này có thể làm giảm giá trị mà họ sẵn sàng chi trả Chủ đất hiện tại gánh chịu toàn bộ gánh nặng thuế tại thời điểm thuế được ban hành, dẫn đến hiện tượng vốn hóa vào giá trị tài sản, tức là trách nhiệm thuế được phản ánh trong giá trị của tài sản Quá trình này làm phức tạp việc xác định tác động thực sự của thuế đất, vì vậy để hiểu rõ ai là người chịu thuế, cần biết cả chủ đất tại thời điểm ban hành thuế.
Khi nguồn cung đất không cố định và có thể mở rộng thông qua các phương pháp như san lấp hồ ao hoặc khai khoáng, đường cung đất sẽ có xu hướng dốc lên thay vì thẳng đứng Trong trường hợp này, thuế đất sẽ được chia sẻ giữa chủ đất và người thuê, với mức độ chịu thuế phụ thuộc vào độ co giãn của cung và cầu trong thị trường đất đai.
1 Các vấn đề cơ bản về thuế 1 a Khái niệm, đặc điểm thuế 1 b Lịch sử hình thành 1
2 Cơ sở thuế phân loại thuế 3 a Cơ sở thuế (Tax base) 4 b Phân loại thuế 5
II CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN VÀ VAI TRÒ 6
1 Các nguyên tắc cơ bản khi đánh thuế 6 a Nguyên tắc lợi ích và nguyên tắc khả năng thanh toán 6 b Nguyên tắc công bằng ngang và nguyên tắc công bằng dọc 72 Vai trò của thuế 8 a Tạo nguồn thu lớn cho NSNN 8 b Điều tiết kinh tế vĩ mô phù hợp với nền kinh tế từng thời kỳ 8 c Điều tiết thu nhập đảm bảo công bằng trong phân phối 8 d Kiểm tra kiểm soát các hoạt động kinh doanh 9
III HỆ THỐNG THUẾ VÀ CÁC TÍNH CHẤT CỦA HỆ THỐNG THUẾ .9 1 Hệ Thống Thuế 9 a Thuế gián thu 9 b Thuế trực thu 13
2 Các Tính Chất Của Hệ Thống Thuế 14 a Tính hiệu quả kinh tế 14 b Tính đơn giản 14 c Tính công bằng 14 d Tính linh hoạt 14 e Tính trách nhiệm 14
IV PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ 14
1 Tác động của thuế đơn vị 14
2 Tác động của thuế theo giá trị 17
3 Độ co giãn của cung và cầu quyết định sự phân chia gánh nặng thuế 17
4 Phạm vi ảnh hưởng của thuế trong thị trường cạnh tranh không hoàn hảo 18 a Phạm vi ảnh hưởng của thuế trong độc quyền 18 b Phạm vi ảnh hưởng của thuế trong độc quyền nhóm 21
5 Phạm vi ảnh hưởng của thuế trong thị trường yếu tố sản xuất 22 a Thị trường lao động 22 b Thị trường vốn 23 c Thị trường đất đai 24