BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG Khoa quản lý Bài tiểu luận về tính trọng yếu trong kiểm toán Giảng viên Đào Diệu Hằng Chuyên ngành Kế toán Môn Kiểm toán Hà Nội, ngày 27 tháng 3 năm 20[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
Khoa quản lý
Bài tiểu luận về tính trọng yếu trong
kiểm toán
Giảng viên : Đào Diệu Hằng Chuyên ngành : Kế toán
Môn : Kiểm toán
Hà Nội, ngày 27 tháng 3 năm 2014
Trang 2Mục lục
1 Lịch sử phát triển về tính trọng yếu trong kiểm toán 1
1.1 Giai đoạn hình thành 1
1.2 Giai đoạn phát triển 1
1.3 Giai đoạn hiện tại 2
2 Sơ lược về chuẩn mực 320 2
2.1 Quy định chung 2
2.2 Thuật ngữ “trọng yếu” 2
2.3 Thuật ngữ “Mức trọng yếu” 3
2.3.1 Mức trọng yếu khi kiểm toán BCTC 3
2.3.2 Tầm quan trọng của việc xác định mức trọng yếu trong kiểm toán BCTC 5 2.4 Thuật ngữ “Mức trọng yếu thực hiện” 5
2.4.1 Mức trọng yếu thực hiện khi kiểm toán BCTC 6
2.4.2 Giả định về người sử dụng BCTC(VSA 320, 04) 6
3 Mối quan hệ giữa mức trọng yếu và rủi ro trong kiểm toán 7
3.1 Rủi ro kiểm toán và các nhân tố ảnh hưởng 7
3.2 Mức độ ảnh hưởng của việc đánh giá rủi ro kiểm toán đến phạm vi công việc kiểm toán 8
3.3 Rủi ro kiểm toán và mức trọng yếu 9
3.4 Trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong đánh giá bằng chứng kiểm toán 11
Trang 3Mở đầu
Cho đến nay kiểm toán Việt Nam đã đi được chặng đường hơn 10 năm Tuy đây không phải là một thời gian dài nhưng hoạt động kiểm toán Việt Nam đã và đang có những đóng góp quan trọng trong việc lành mạnh hóa nền tài chính Việt Nam, tạo đà cho sự phát triển nền kinh tế Do sự đòi hởi của thực tiễn, Việt Nam đang dần hoàn thiện
hệ thống chuẩn mực kiểm toán dựa trên những kinh nghiệm của quốc tế và hoàn cảnh
cụ thể của Việt Nam Sự ra đời của hệ thống chuẩn mực kiểm toán đã đóng góp vai trò quan trọng cho sự phát triển của hoạt động kiểm toán của Việt Nam.Các chuẩn mực kiểm toán là nền tảng lý luận có chức năng hướng dẫn cho hoạt động kiểm toán Là một trong 39 chuẩn mực được Bộ tài chính quy định thì chuẩn mực 320: “Tính trọng yếu trong kiểm toán” cũng là một chỉ tiêu đánh giá vô cùng quan trọng để giúp cho các công
ty kiểm toán xây dựng một kế hoạch kiểm toán hợp lý góp phần nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả của cuộc kiểm toán Bài tiểu luận hôm nay chúng tôi sẽ đề cập và đi sâu vào tìm hiểu nội dung cũng như tâm quan trọng, mối quan hệ của tính trọng yếu với các chuẩn mực khác
Bài luận gồm 3 phần:
1 Lịch sử phát triển về tính trọng yếu trong kiểm toán
2 Sơ lược về chuẩn mực 320
3 Mối quan hệ giữa mức trọng yếu và rủi ro trong kiểm toán
Trang 4
1 Lịch sử phát triển về tính trọng yếu trong kiểm toán
Lịch sử phát triển tính trọng yếu trong kiểm toán xuất phát từ nguyên tắc trọng yếu trong kế toán Sự ra đời, phát triển thuật ngữ trọng yếu trong kiểm toán có thể chia thành
ba giai đoạn chính như sau:
1.1 Giai đoạn hình thành
Kiểm toán là một hoạt động đã có từ lâu đời Ở thời trung cổ, chức năng chính của kiểm toán là kiểm tra về tính chính xác của các báo cáo tài chính Trong giai đoạn này, hoạt động kiểm toán chủ yếu là kiểm toán tuân thủ do các kiểm toán viên của Nhà nước
và kiểm toán viên nội bộ thực hiện
Cho đến khi có sự ra đời của thị trường chứng khoán và công ty cổ phần cũng như
do sự mở rộng quy mô của các doanh nghiệp, dần dần đã diễn ra sự tách rời giữa quyền
sở hữu của các cổ đông và chức năng điều hành của những Nhà quản lý Từ đó đã xuất hiện nhu cầu kiểm tra của các chủ sở hữu để chống lại sự gian lận của các Nhà quản lý lẫn những người làm công Kiểm toán độc lập đã ra đời vào thế kỷ 18 để đáp ứng cho nhu cầu này Trách nhiệm chính của kiểm toán trong giai đoạn này là phát hiện các gian lận và sai lệch của người quán lý nhằm phục vụ cho người chủ sở hữu Nói cách khác, trong giai đoạn này, khái niệm về trọng yếu chưa được đề cập
Trách nhiệm của kiểm toán viên thay đổi không ngừng vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 Trong thời gian này, do có sự chuyển dịch vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác và hợp nhất các công ty lớn ở Anh đã dẫn đến sự thay đổi quan điểm về mục đích, bản chất và nguồn vốn đầu tư vào các công ty Từ đó, nhiệm vụ của kiểm toán viên chuyển sang phục vụ cho cổ đông trong cộng đồng hơn là lợi ích của các người chủ sở hữu vắng mặt Nhóm cổ đông trong cộng đồng chủ yếu là các nhà đầu tư địa phương,
mà thường là các ngân hàng lớn hay các nhà đầu tư lớn và nhóm này ngày càng gia tăng
Do vậy trách nhiệm chính của kiểm toán viên không còn là phát hiện gian lận trên báo cáo tài chính đã dần được thay thế bằng đảm bảo BCTC (Báo cáo tài chính) không còn sai lệch trọng yếu
1.2 Giai đoạn phát triển
Khái niệm trọng yếu đã được chấp nhận tại Hoa Kỳ trong suốt những năm của thế
kỷ 20 và từ đó đã trở thành một bộ phận nền tảng của việc trình bày BCTC cũng như mục tiêu kiểm toán BCTC tại nhiều quốc gia trên thế giới
Trong giai đoạn này, tính trọng yếu không chỉ liên quan đến trách nhiệm của KTV khi thực hiện kiểm toán BCTC, mà còn một trong những thủ tục kiểm toán cần thiết khi thực hiện kiểm toán Qua đó, tính trọng yếu trong kiểm toán đã được áp dụng rộng rãi trong toàn bộ quá trình kiểm toán của các công ty kiểm toán từ khi giai đoạn lập kế
Trang 5hoạch đến khi thực hiện và hoàn thành kiểm toán Nói cách khác, mục tiêu tính trọng yếu đã dần chuyển sang việc vận dụng trong các thủ tục kiểm toán
Trong giai đoạn lập kế họach, KTV phải xem xét tính trọng yếu để xác định nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ tục kiểm toán Trong giai đoạn thực hiện, nếu tình hình tài chính thực tế và kết quả hoạt động của doanh nghiệp có sự cách biệt đáng kể so với dự tính, thì việc đánh giá mức trọng yếu sẽ có thay đổi Và trong giai đoạn hoàn thành kiểm toán, KTV phải xem xét tính trọng yếu để đánh giá ảnh hưởng các sai lệch đến tính trung thực và hợp lý của BCTC
1.3 Giai đoạn hiện tại
Sau sự đổ vỡ một loạt các công ty hàng đầu trên thế giới diễn ra vào đầu năm 2000, trong đó có lỗi của công ty kiểm toán Nghề nghiệp kiểm toán đã hiệu đính lại chuẩn mực trọng yếu theo hướng là đưa ra nhiều hơn các hướng dẫn vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán Cụ thể, trong các chuẩn mực kiểm toán đã đưa ra các hướng dẫn về cơ
sở để xác định mức trọng yếu, hiểu về người sử dụng BCTC, yêu cầu cần vận dụng tính trọng yếu trong các giai đoạn của quy trình kiểm toán và về hồ sơ hóa vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC
Trong giai đoạn này cũng có một vài hướng đi mới trong việc xác định mức trọng yếu và vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC
Cụ thể, khi thực hiện kiểm toán KTV phải tìm hiểu về đặc điểm kinh doanh, qua đó đánh giá về chiến lược hoạt động của đơn vị được kiểm toán Ngoài ra, KTV cũng phải đánh giá ảnh hưởng môi trường bên trong và bên ngoài, cũng như điểm mạnh điểm yếu của đơn vị được kiểm toán nhằm vận dụng hiệu quả hơn tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC của đơn vị
2 Sơ lược về chuẩn mực 320
2.1 Quy định chung
- Phạm vi áp dụng:
Chuẩn mực kiểm toán này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của kiểm toán viên
và doanh nghiệp trong việc áp dụng khái niệm “mức trọng yếu” trong lập kế hoạch và thực hiện cuộc kiểm toán BCTC Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 450 hướng dẫn cách áp dụng mức trọng yếu trong việc đánh giá ảnh hưởng của các sai sót được phát hiện đối với cuộc kiểm toán và đánh giá mức ảnh hưởng của những sai sót chưa được điều chỉnh (nếu có) đối với BCTC
2.2 Thuật ngữ “trọng yếu”
Theo chuẩn mực kiểm toán VSA 320 “Tính trọng yếu trong kiểm toán” thì trọng yếu được hiểu như sau:
Trang 6“Là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin (một số liệu kế toán) trong báo cáo tài chính Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định kinh
tế của người sử dụng báo cáo tài chính”
Trọng yếu trong các quy định chung về lập và trình bày BCTC
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01-Chuẩn mực chung (đoạn 09), “Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể BCTC, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng BCTC Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính.”
Nhìn chung, mức trọng yếu trong các quy định chung về lập và trình bày BCTC cần được hiểu như sau:
- Những sai sót, bao gồm cả việc bỏ sót, được coi là trọng yếu nếu những sai sót này, tính đơn lẻ hoặc tổng hợp, được xem xét ở mức độ hợp lý, có thể gây ảnh hưởng nhất định tới quyết định kinh tế của người sử dụng BCTC
- Những xét đoán về mức trọng yếu được thực hiện trong từng trường hợp cụ thể và
bị ảnh hưởng bởi quy mô hay bản chất của sai sót, hoặc tổng hợp của cả hai yếu tố;
- Những xét đoán về các vấn đề trọng yếu đối với người sử dụng BCTC cần phải tính đến đa số những người có nhu cầu sử dụng thông tin trên BCTC, như các nhà đầu
tư, ngân hàng, chủ nợ, KTV không cần phải cân nhắc đến những ảnh hưởng có thể có của các sai sót đến một số ít người sử dụng thông tin trên BCTC mà nhu cầu của họ có thể khác biệt so với phần lớn những người sử dụng cùng BCTC
2.3 Thuật ngữ “Mức trọng yếu”
“Mức trọng yếu” là một mức giá trị do KTV xác định tùy thuộc vào tầm quan trọng
và tính chất của thông tin hay sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Mức trọng yếu là một ngưỡng, một điểm chia cắt chứ không phải là nội dung của thông tin cần phải
có Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét cả trên phương diện định lượng và định tính
2.3.1 Mức trọng yếu khi kiểm toán BCTC
Trọng yếu là một trong các khái niệm cơ bản và rất quan trọng trong kiểm toán Mục tiêu của một cuộc kiểm toán BCTC là đưa ra ý kiến về BCTC trên cơ sở các quy định chung về lập và trình bày BCTC, pháp luật và các quy định có liên quan Ý kiến của KTV sẽ phản ánh đánh giá độc lập của KTV về sự trình bày trung thực và hợp lý của tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị được kiểm toán trên cơ
sở các quy định chung về lập và trình bày BCTC
Trang 7Người sử dụng BCTC không giả định rằng ý kiến kiểm toán là sự đảm bảo về khả năng tiếp tục hoạt động của đơn vị cũng như tính hiệu quả trong hoạt động dưới sự điều hành của BGĐ đơn vị Do đó, khái niệm trọng yếu đề cập đến các vấn đề, hoặc tính đơn
lẻ hoặc tính tổng hợp, có ảnh hưởng quan trọng đến việc lập và trình bày trung thực, hợp
lý BCTC theo các quy định chung về lập và trình bày BCTC KTV cần phải cân nhắc mức trọng yếu trên góc độ tổng thể BCTC và từng loại giao dịch, số dư tài khoản và thuyết minh Từ đó, KTV cần phải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp
bị chi phối bởi tính trọng yếu của từng khoản mục cũng như tổng thể BCTC, trước khi đưa ra ý kiến kiểm toán về BCTC
Lý do tại sao KTV phải xác định mức trọng yếu là vì KTV chỉ cung cấp mức độ đảm bảo hợp lý ở mức độ cao, nhưng không phải là tuyệt đối đối với BCTC vì những hạn chế vốn có của cuộc kiểm toán, bao gồm:
▪ Hầu hết các bằng chứng kiểm toán mà KTV dựa vào để đưa ra kết luận và hình thành ý kiến kiểm toán đều mang tính xét đoán và thuyết phục nhiều hơn là tính khẳng định chắc chắn
▪ KTV có thể thực hiện kiểm tra 100% các khoản mục được ghi nhận trên sổ kế toán nhưng không thể loại trừ được rủi ro đối với các giao dịch bị bỏ sót, chưa được ghi nhận trên sổ kế toán Hơn nữa, điều này lại không khả thi do chi phí về nhân lực quá lớn, không hiệu quả
▪ Rủi ro chọn mẫu và rủi ro ngoài mẫu
▪ Những hạn chế tiềm tàng trong hệ thống KSNB của đơn vị
Tuy nhiên, trọng yếu lại là một thuật ngữ tương đối Vấn đề được coi là trọng yếu trong trường hợp này có thể lại không mang tính trọng yếu trong trường hợp khác
Ví dụ:
Sai sót về niên độ ghi nhận doanh thu là 50.000 USD có thể là trọng yếu đối đơn
vị có doanh thu 500.000 USD, nhưng lại không trọng yếu với đơn vị có doanh thu 2.000.000 USD Có rất nhiều vấn đề cần phải xem xét khi xác định mức trọng yếu trong kiểm toán Tuy nhiên, sẽ không có quy tắc cụ thể cần phải tuân theo và áp dụng nhất quán khi xác định mức trọng yếu trong tất cả các tình huống Việc xác định mức trọng yếu hoàn toàn là vấn đề thuộc về xét đoán chuyên môn và kinh nghiệm của KTV
Thông thường, khi xem xét đến mức trọng yếu, KTV cần xem xét cả về mặt định lượng và định tính bao gồm 3 yếu tố sau:
- Về mặt giá trị: Trọng yếu xác định bởi giá trị được tính toán theo giá trị của các sai sót hoặc bỏ sót mà KTV có thể chấp nhận cho BCTC Đây là một số tuyệt đối được KTV tính toán dựa trên các tiêu chí phù hợp và được sử dụng như một thước đo giá trị của mức trọng yếu
Ví dụ: Sai sót hoặc bỏ sót vượt quá 1% tổng doanh thu được coi là trọng yếu
Trang 8- Về mặt bản chất: bao gồm việc đánh giá các sai sót hoặc bỏ sót theo bản chất và nguyên nhân xảy ra của chúng, có liên quan đến những vấn đề cụ thể mà những người
sử dụng BCTC có sự quan tâm cao, đòi hỏi độ chính xác cao trên tổng thể hoặc một số khoản mục trên BCTC Các sai sót hoặc bỏ sót này có thể có giá trị nhỏ hơn mức trọng yếu mà KTV đã xác định theo tiêu thức giá trị nhưng vẫn được coi là trọng yếu
Ví dụ: các sai sót liên quan đến các luồng tiền, các khoản thanh toán bất thường, các tổn thất tài chính, các hành vi vi phạm pháp luật, gian lận, v.v
- Về mặt bối cảnh cụ thể: bao gồm việc đánh giá bối cảnh mà các sai sót hoặc bỏ sót xảy ra và ảnh hưởng của chúng đến các bộ phận quan trọng của BCTC
Ví dụ: thay đổi BCTC từ lãi sang lỗ và ngược lại, báo cáo lỗ ảo vượt quá giới hạn cho phép, thay đổi xu hướng của tổng thể BCTC so với xu hướng chung của toàn ngành
Tóm lại mức trọng yếu không phải là một khái niệm tuyệt đối Ranh giới giữa tiêu chuẩn thế nào có thể được coi là trọng yếu hoặc không trọng yếu luôn đòi hỏi xét đoán nghề nghiệp và kinh nghiệm của KTV
2.3.2 Tầm quan trọng của việc xác định mức trọng yếu trong kiểm toán BCTC
Cho phép KTV có định hướng và lập kế hoạch tốt hơn bằng cách tập trung vào các tài khoản và chu trình quan trọng Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là KTV bỏ qua các tài khoản hay chu trình khác, mà KTV sẽ tập trung thời gian ít hơn đối với các tài khoản và chu trình không quan trọng
Việc kiểm tra các tất cả các ghi chép kế toán và đảm bảo rằng chúng được ghi nhận, phản ánh và phân loại một cách phù hợp trên BCTC thông thường là không thể đạt được trong phạm vi giới hạn về thời gian và nguồn lực
Giảm bớt các công việc không cần thiết, tránh công việc tìm hiểu và kiểm tra các khoản mục mà dù cho nó có sai sót thì các sai sót đó cũng thấp hơn mức trọng yếu Việc này giúp cho KTV thực hiện cuộc kiểm toán một cách hiệu quả, các thủ tục kiểm toán được thiết kế và thực hiện phù hợp với chi phí cũng như thời gian dành cho cuộc kiểm toán
Có đủ cơ sở để trình bày ý kiến kiểm toán: trung thực không có nghĩa là hoàn toàn chính xác, và BCTC vẫn được coi là trung thực và hợp lý, ngay cả khi chứa đựng các sai sót, nếu tổng giá trị sai sót nhỏ hơn mức trọng yếu
2.4 Thuật ngữ “Mức trọng yếu thực hiện”
“Mức trọng yếu thực hiện” là một mức giá trị hoặc các mức giá trị do KTV xác định
ở mức thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC nhằm giảm khả năng sai sót tới một mức độ thấp hợp lý để tổng hợp ảnh hưởng của các sai sót không được điều chỉnh
và không được phát hiện không vượt quá mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC
Trang 9Trong một số trường hợp, “Mức trọng yếu thực hiện” có thể hiểu là mức giá trị hoặc các mức giá trị do KTV xác định thấp hơn mức hoặc các mức trọng yếu của một nhóm
các giao dịch, số dư tài khoản hoặc thông tin thuyết minh trên BCTC
2.4.1 Mức trọng yếu thực hiện khi kiểm toán BCTC
Việc lập kế hoạch kiểm toán chỉ để phát hiện những sai sót trọng yếu một cách đơn
lẻ dẫn tới việc bỏ qua một thực tế là ảnh hưởng tổng hợp của các sai sót không trọng yếu đơn lẻ có thể làm cho BCTC còn chứa đựng các sai sót trọng yếu Việc này cũng
chưa tính đến những sai sót có thể không được phát hiện
Bản chất các thủ tục kiểm toán là được thực hiện trên cơ sở chọn mẫu, dẫn đến rủi
ro có thể tồn tại các sai sót trọng yếu trong các phần tử không được chọn mẫu hoặc mẫu chọn không mang tính đại diện cho tổng thể dẫn đến kết luận về mẫu chọn không phù hợp với kết luận chung về đặc điểm của tổng thể hoặc các rủi ro không liên quan đến việc chọn mẫu như KTV lựa chọn sai thủ tục kiểm toán, hiểu sai bằng chứng kiểm toán, xét đoán sai, xác định sai tổng thể dẫn đến việc vẫn còn tồn tại các sai sót chưa được phát hiện
Do đó, việc xác định mức trọng yếu thực hiện là cần thiết với vai trò là một mức giá trị hoặc các mức giá trị do KTV xác định nhằm giảm khả năng sai sót tới một mức độ thấp hợp lý để tổng hợp ảnh hưởng của các sai sót không được điều chỉnh và không được phát hiện không vượt quá mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính Thực hiện điều này cũng phản ánh thái độ hoài nghi mang tính nghề nghiệp mà KTV cần phải
duy trì trong suốt quá trình lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán
2.4.2 Giả định về người sử dụng BCTC(VSA 320, 04)
Việc đánh giá liệu một sai sót có thể ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người
sử dụng hay không và có mang tính trọng yếu hay không, liên quan đến việc cân nhắc các đặc điểm của những người sử dụng thông tin bao gồm nhu cầu về thông tin và sự mong đợi về thông tin trên BCTC Trong trường hợp này, KTV có thể giả định rằng,
người sử dụng BCTC:
- Có sự hiểu biết nhất định về hoạt động kinh doanh, về kinh tế và tài chính, kế toán và quan tâm nghiên cứu thông tin trên BCTC với sự cẩn trọng một cách hợp lý
- Có hiểu biết về về khái niệm trọng yếu áp dụng trong việc lập, trình bày BCTC cũng như sử dụng trong quá trình kiểm toán BCTC
- Nhận thức được tính không chắc chắn tiềm tàng trong việc lập và trình bày BCTC bao gồm việc xác định giá trị do việc sử dụng các ước tính kế toán, các xét đoán
và yếu tố của các sự kiện xảy ra trong tương lai; và
- Đưa ra các quyết định kinh tế hợp lý trên cơ sở các thông tin trên BCTC
Trang 10Vì vậy, KTV và Công ty kiểm toán, khi xác định mức trọng yếu, cần phải cân nhắc những người sử dụng BCTC với các đặc điểm nêu trên có thể bị ảnh hưởng đáng kể trong việc ra các quyết định kinh tế
3 Mối quan hệ giữa mức trọng yếu và rủi ro trong kiểm toán
3.1 Rủi ro kiểm toán và các nhân tố ảnh hưởng
Khi thực hiện một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính, mục tiêu tổng thể của KTV và Công ty kiểm toán là:
- Đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng , xét trên giác độ tổng thể, báo cáo tài chính không còn chứa đựng sai sót trọng yếu do gian lận hay nhầm lẫn, từ đó cho phép kiểm toán viên đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính đã được lập, trên các phương diện trọng yếu, phù hợp với các quy định về lập và trình bày báo cáo tài chính hay không;
- Lập báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính và trao đổi thông tin theo quy định của chuẩn mực kiểm toán, phù hợp với các phát hiện của kiểm toán viên
KTV đạt được sự đảm bảo hợp lý bằng cách thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp để giảm rủi ro kiểm toán tới mức thấp có thể chấp nhận được theo quy định.Do đó, khi tiến hành một cuộc kiểm toán, KTV phải quan tâm đến tính trọng yếu của thông tin và mối quan hệ với rủi ro kiểm toán
Rủi ro kiểm toán (AR) là rủi ro mà KTV đưa ra ý kiến kiểm toán không đúng khi báo cáo tài chính còn chứa đựng sai sót trọng yếu mà KTV chưa phát hiện ra
Ví dụ:
KTV đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần các thông tin tài chính được kiểm toán trong khi vẫn còn có các sai sót trọng yếu như bỏ sót không ghi tăng giá trị tài sản cố định khoảng 5 tỷ, chiếm 5% tổng giá trị tài sản của đơn vị Hậu quả là người sử dụng thông tin đánh giá không đúng về tình hình tài chính của đơn vị, đặc biệt là khả năng thanh toán công nợ, nên có thể đưa ra các quyết định kinh tế không phù hợp như tiếp tục đầu tư, tiếp tục cho vay, v.v
Rủi ro kiểm toán bao gồm rủi ro có sai sót trọng yếu và rủi ro phát hiện (theo quy định tại đoạn 13 (c) Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 (ban hành năm 2010))
- Rủi ro có sai sót trọng yếu: Là rủi ro khi báo cáo tài chính chứa đựng những sai sót trọng yếu trước khi kiểm toán
- Rủi ro phát hiện (DR): Là rủi ro mà trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên và Công ty kiểm toánmặc dù đã thực hiện đầy đủ các thủ tục kiểm toán nhằm giảm thiểu rủi ro kiểm toán tới mức thấp có thể chấp nhận được nhưng không phát hiện hết được sai sót trọng yếu, tính riêng rẽ hay tính gộp