Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, yêu cầu đặt ra trong từng giai đoạn cụ thể, hệ thống thuế của Việt Nam ngày càng đi tới sự ổn định và hoàn thiện. Mỗi loại thuế có đặc điểm, chức năng riêng, có ý nghĩa qua trọng đối với các nhà lập có liên quan đến hoạt động về thuế. Sự phát triển của thuế gắn với mỗi giai đoạn, lợi ích mà nhà nước sử dụng nó làm công cụ điều tiết nguồn thu của nền kinh tế xã hội ấy. Do đó, bài tiểu luận lựa chọn đề tài số 12 : “Phân tích những đặc trưng của thuế tiêu thụ đặc biệt (trong đó có so sánh với thuế giá trị gia tăng ). Cho biết về sự thay đổi của danh mục hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt từ Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1990 cho đến nay” để đi sâu tìm hiểu.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I/ Phân tích những đặc trưng của thuế tiêu thụ đặc biệt ( trong đó có so sánh với thuế giá trị gia tăng ) 1
II/ Sự thay đổi của danh mục hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt từ Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1990 cho đến nay 6
III/ Hoàn thiện danh mục hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt 11
KẾT LUẬN 13
PHỤ LỤC 14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 2MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, yêu cầu đặt ra trong từng giai đoạn cụ thể, hệ thống thuế của Việt Nam ngày càng đi tới sự ổn định và hoàn thiện Mỗi loại thuế có đặc điểm, chức năng riêng, có ý nghĩa qua trọng đối với các nhà lập có liên quan đến hoạt động về thuế Sự phát triển của thuế gắn với mỗi giai đoạn, lợi ích mà nhà nước sử dụng nó làm công cụ điều tiết nguồn thu của nền kinh
tế xã hội ấy Do đó, bài tiểu luận lựa chọn đề tài số 12 : “Phân tích những đặc trưng của thuế tiêu thụ đặc biệt (trong đó có so sánh với thuế giá trị gia tăng ) Cho biết về
sự thay đổi của danh mục hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt từ Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1990 cho đến nay” để đi sâu tìm hiểu
NỘI DUNG I/ Phân tích những đặc trưng của thuế tiêu thụ đặc biệt ( trong đó có so sánh với thuế giá trị gia tăng )
Thuế tiêu thụ đặc biệt về bản chất là một loại thuế gián thu ; đánh vào những hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước không khuyến khích sản xuất, tiêu dùng ; do người tiêu dùng gánh chịu Vì vậy, thuế tiêu thụ đặc biệt có nhiều điểm tương đồng với các loại thuế gián thu khác Tuy nhiên, có thể nhận diện thuế tiêu thụ đặc biệt thông qua một số đặc điểm như sau :
1 Thuế tiêu thụ đặc biệt có diện đánh thuế hẹp
Thuế tiêu thụ đặc biệt được định nghĩa là loại thuế đánh vào một số loại hành hóa, dịch vụ đặc biệt, cần điều tiết mạnh nhằm hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng đồng thời tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước Do đó, tùy theo quan điểm của mỗi quốc gia ở từng giai đoạn khác nhau mà danh mục hàng hóa, dịch vụ chịu
Trang 3thuế tiêu thụ đặc biệt có thể rất khác nhau Điều này xuất phát từ sự khác nhau trong chủ trương, chính sách củ nhà nước trong việc hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng cũng như trong việc điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư ở từng giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội, đồng thời còn tùy thuộc vào phong tục tập quán của của từng quốc gia
Tại Việt Nam, thuế tiêu thụ đặc biệt tập trung điều tiết một số mặt hàng và dịch vụ nhất định, không được Nhà nước khuyến khích tiêu dùng vì ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng đến môi trường, có khả năng kéo theo bất ổn vè an ninh, trật tự an toàn xã hội hoặc các loại hàng hóa dịch vụ xa xỉ chỉ dành cho đối tượng có thu nhập cao Những đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt tại nước ta có thể được phân loại như sau:
Những hành hóa dịch vụ không có lợi:
Rượu, bia, thuốc lá, xì gà
Bài lá, hàng mã
Kinh doanh xổ số, đặt cược
Những hàng hóa dịch vụ chưa phù hợp với thu nhập ở Việt Nam:
Xe ô tô dưới 24 chỗ, tàu bay, du thuyền
Kinh doanh gôn
Dịch vụ karaoke, mát xa, vũ trường
Những hàng hóa cần tiết kiệm:
Xăng E5
Xăng E10
Trang 4Ngoài ra, một số đối tượng không thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là:
Hàng hóa xuất khẩu: Nếu có cở sở xuất khẩu không xuất khẩu được thì phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt thay cho nhà sản xuất khi ở thị trường trong nước
Hàng hóa là viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại
Hàng hóa là quà tặng cho một số tổ chức
Hàng hóa là tiêu chuẩn mang theo người hoặc miễn trừ ngoại giao
Sự khác biệt rõ ràng nhất giữa thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng
đã được thể hiện thông qua đặc điểm về đối tượng chịu thuế Khác với thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng là thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Vì vậy, loại thuế này có đối tượng chịu thuế rất rộng, áp dụng đối với hầu hết các hàng hóa dịch vụ trên thị trường, trừ một số trường hợp quy định tại Điều 5, Luật thuế giá trị gia tăng
2 Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt có thể là thuế suất cố định hoặc thuế suất tỉ
lệ và thường cao hơn thuế suất của các loại thuế gián thu khác
Tùy theo quan điểm lập pháp của mỗi quốc gia, thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt có thể là thuế suất cố định hoặc thuế suất tỉ lệ Đối với các nước áp dụng biểu thuế suất cố định, mức thu được ấn định bằng một lượng tuyệt đối trên đơn vị hàng hóa chịu thuế Ví dụ: Hoa Kỳ áp dụng mức thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá là
39 xen/bao, đối với các loại rượu dao động từ 1,07 đến 3,04 đô-la / ga-lông; tại Nhật Bản mức thuế tiêu thụ đặc biệt đối với 1.000 điếu thuốc lá là 3.126 yên, với 1
KL xăng dầu là 53.8000 yên Biểu thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt cũng có thể bao gồm hệ thống thuế suất tỉ lệ, mức thu quy định bằng một tỉ lệ phần trăm tính trên giá tính thuế hàng hóa, dịch vụ Việt Nam là một trong những quốc gia áp dụng thuế suất tỉ lệ cho thuế tiêu thụ đặc biệt: Bài lá (40%), kinh doanh vũ trường
Trang 5(40%), kinh doanh xổ số (15%),…Bên cạnh đó, cũng có quốc gia sử dụng cả thuế suất cố định và thuế suất tỉ lệ để hướng dẫn tiêu dùng đối với một sô mặt hàng đặc biệt Theo pháp luật Thái Lan: Rượu, các đồ uống không cồn, thuốc lá, xăng là những mặt hành chịu thuế tiêu thụ đặc biệt theo thuế suất cố định, trong khi đó, bài
lá, diêm và xi-măng lại chịu thuế theo mức thuế suất tỉ lệ (theo Baker & McKenzie, Bangkok Office, Guide to Taxes in Thailand, CCH Asia Limited the Information Professionals)
Đối với thuế suất tỉ lệ, việc điều chỉnh mức thu thường được đặt ra khi Nhà nước chủ trương thay đổi chính sách hướng dẫn phát triển sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng xã hội hoặc khi cần thay đổi tỉ lệ động viên vào ngân sách nhà nước Đối với thuế suất cố địng , ngoài việc chịu ảnh hưởng của những yếu tố dẫn đến việc sửa đổi mức thu như trường hợp thuế suất tỉ lệ, mức độ lạm phát cũng là một tác nhân quan trọng khiến các nhà làm luật phải thưởng xuyên chinh sửa mức thu theo kịp sự biến động của giá trị đồng tiền Dù áp dụng thuế suất tỉ lệ hay thuế suất cố định, thông thường, các quốc gia đều quy định mức thuế suất cao, thậm chí rất cao
so với thuế suất của các loại thuế gián thu khác nhằm hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, điều tiết thu nhập của những đối tượng có sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ đặc biệt,
từ đó tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Khác với thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế suất của thuế giá trị gia tăng thường quy định hệ thống thuế suất tỉ lệ làm căn cứ tính thuế như thuế doanh thu, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Khi ban hành Luật thuế giá trị gia tăng, các nước thường lựa chọn thực hiện chế độ nhiều mức thuế suất hoặc chế độ một thuế suất Tại Việt Nam, thuế suất thuế giá trị gia tăng gồm ba mức: 0%, 5% và 10% được quy định tại Luật thuế giá trị gia tăng 2016 và các văn bản sửa đổi bổ sung khác
Trang 63 Thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ được thu một lần ở khâu sản xuất hoặc nhập khẩu
Các loại hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt không phải chịu thuế giá trị gia tăng đối với số lượng hàng hóa, dịch vụ đã kê khai nộp thuế tiêu thụ đặc biệt Chẳng hạn, cở sở trực tiếp sản xuất khi bán ra những mặt hàng thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt thì cơ sở này chỉ kê khai nộp thuế tiêu thụ đặc biệt mà không phải kê khai nộp thuế giá trị gia tăng đối với số hàng hóa đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt Trường hợp cơ sở sản xuất có tổ chức chi nhánh, cửa hàng tiêu thụ sản xuất trực thuộc cơ sở sản xuất phải kê khai và nộp thuế tiêu thụ đặc biệt tại nơi sản xuất Các chi nhánh, cửa hàng tiêu thụ sản phẩm phải kê khai nộp thuế giá trị gia tăng theo thuế suất đối với hoạt động kinh doanh thương nghiệp Các hàng hóa dịch vụ đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt khi lưu thông trên thị trường, tức là được chuyển qua khâu thương nghiệp thì thì các cơ sở kinh doanh các mặt hàng này không phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng phải nộp thuế giá trị gia tăng theo biểu thuế ngành kinh doanh thương nghiệp Cơ sở nhập khẩu các mặt hàng thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt cùng với thuế nhập khẩu theo từng lần nhập khẩu, khi bán hàng hóa này thì cơ sở phải nộp thuế giá trị gia tăng
Đặc điểm này cho thấy thuế tiêu thụ đặc biệt khác với thuế giá trị gia tăng ở chỗ thuế này đánh trên giá trị tăng thêm của hàng hóa ở mỗi khâu trong lưu thông Việc đánh thuế chỉ trên phần giá trị tăng thêm mà không phải đối với toàn bộ giá trị hàng hóa dịch vụ làm cho số thuế giá trị gia tăng áp dụng trong mỗi khâu của quá trình lưu thông không gây ra những đột biến về giá cả cho người tiêu dùng
Trang 7II/ Sự thay đổi của danh mục hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt từ Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1990 cho đến nay
1 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1990
Ở nước ta, pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt được ra đời lần đầu tiên với sự xuất hiện của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1990 Đạo luật đầu tiên về thuế tiêu thụ đặc biệt này đánh vào sáu mặt hàng sản xuất trong nước là: thuốc hút, rượu, bia, pháo, bài lá và vàng mã Luật sửa đổi, bổ sung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm
1993 đã thu hẹp diện các mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt xuống còn 4 loại hàng hóa chịu thuế, loại bỏ bài lá và vàng mã Bên cạnh đó, lần sửa đổi này cũng làm cụ thể hóa các loại mặt hàng, phân loại rõ hơn thuế suất của thuốc lá điếu có đầu lọc sản xuất trong nước và ngoài nước hay rượu thuốc và các loại rượu khác
2 Luật sửa đổi, bổ sung thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1995
Luật sửa đổi, bổ sung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1995 đánh dấu bước phát triển trong quá trình hoàn thiện pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt, mở rộng diện các mặt hàng chịu thuế và đánh vào không chỉ những hàng hóa sản xuất trong nước
mà còn đánh vào cả hàng hóa nhập khẩu như xăng, thuốc là điếu, xì gà nhập khẩu;
ô tô nhập khẩu từ 24 chỗ ngồi trở xuống Việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt vào ô tô nhập khẩu nói trên phần nào phản ánh chính sách bảo hộ ngành sản xuất ô tô trong nước của Chính phủ Việt Nam trong giai đoạn này
3 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998
Ngày 20/5/1998, Quốc hội đã thông qua Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm
1998, thay thế Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1990 và Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1993 và 1995 Luật này ra đời nhằm thưc hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa
Trang 8VIII về việc mở rộng diện đánh thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc tăng mức thuế đối với những mặt hàng cần hạn chế tiêu dùng, đồng thời để phối hợp đồng bộ với Luật thuế giá trị gia tăng Hai yếu tố tác động lớn tới những thay đổi chủ yếu của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998 là:
Thứ nhất, bắt đầu từ ngày 01/01/1999, thuế giá trị gian tăng có hiệu lực thay
thế thuế doanh thu dẫn đến chi phí nguyên vật liệu để sản xuất mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt tăng lên Vì vậy, cần phải giảm bớt thuế tiêu thụ đặc biệt để không ảnh hưởng lớn tới giá cả của mặt hàng chịu thuế Thực tế, thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt của các mặt hàng như rượu, bia đã giảm mạnh so với Luật năm 1995
Thứ hai, trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam phải cắt giảm thuế
nhập khẩu đối với một số mặt hàng, từ đó làm giảm số thu ngân sách nhà nước từ thuế nhập khẩu Để đảm bảo tổng thu ngân sách nhà nước không bị ảnh hưởng, cần phải lấy lại số thu đáng lẽ có thể huy động được từ thuế nhập khẩu nếu không sửa đổi Luật thuế xuất, nhập khẩu Mở rộng diện hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giải pháp khả thi và các nhà làm luật đã chọn phương án này Do đó, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998 được xây dựng theo huống mở rộng đối tượng chịu thuế, không chỉ hàng hóa mà cả dịch vụ được coi là không thiết yếu đều phải chịu thuế, bao gồm: kinh doanh vũ trường, mát-xa, karaoke; kinh doanh casino, trò chơi bằng máy giắc-pót; kinh doanh vé đặt cược đua ngựa, đua xe và kinh doanh gôn So với Luật cũ, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998 đã bỏ mặt hàng pháo nhưng đưa thêm ba nhóm hàng hóa khác đó là điều hòa nhiệt độ công suất từ 90.000BTU trở xuống; bài lá; vàng mã và hàng mã Hơn nữa, Luật này khi quy định về hàng hóa chịu thuế, không có sự phân biệt về nguồn gốc hàng hóa, bất
kể được sản xuất trong nước hay nhập khẩu, nếu thuộc danh mục chịu thuế đều phải phát sinh nghĩa vụ nộp thuế của cơ sở sản xuất hoặc nhập khẩu mặt hàng đó
Trang 94.Luật sửa đổi, bổ sung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2003
Tại kì họp thứ ba, Quốc hội khóa XI, ngày 17/6/2003, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998 đã được sửa đổi, bổ sung Luật sửa đổi, bổ sung năm 2003 tập trung
về đối tượng chịu thuế, vẫn theo hướng mở rọng diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt như sau:
Thứ nhất, Luật năm 2003 đã bổ sung dịch vụ kinh doanh xổ số vào danh
mục chịu thuế Dịch vụ này trước đây chịu thuế giá trị gia tăng là 20% và đã giảm xuống 10% theo Luật sửa đối, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng
Do đó, kinh doanh xổ số đã được thêm vào danh mục chịu thuế tiêu thụ đặc biệt để đảm bảo số thu ngân sách nhà nước không bị giảm sút
Thứ hai, thuế tiêu thụ đặc biệt không chỉ đánh vào hoạt động “kinh doanh
vé đặt cược đua ngựa, đua xe” mà còn đánh vào tất cả các loại hình “kinh doanh giải trí có đặt cược” Đây là điểm nổi bật của Luật sửa đổi, bổ sung năm 2003, thể
hiện sự mở rộng diện chịu thuế đối với các loại hình kinh doanh giải trí đặt cược
5 Luật sửa đổi, bổ sung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2005
Luật sửa đổi, bổ sung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2005 được ban hành tại kì họp thứ tám, Quốc hội khóa XI, ngày 29/11/2005 Nhằm đảm bảo các quy định trong pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt thống nhất với các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng đã sửa đổi giá tính thuế và thuế suất đối với một số mặt hàng thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt Hơn nữa, lần sửa đổi này cũng hướng tới loại bỏ sự phân biệt đối xử giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu Ví dụ: Không phân loại Thuốc lá điếu có đầu lọc sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu nhập khẩu và nguyên liệu trong nước nữa
Trang 106 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008
Trước sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta; trước yêu cầu ổn định kinh
tế vĩ mô, giảm nhập siêu, kiềm chế lạm phát, tránh gây đột biến trong sản xuất, tiêu dùng, bảo đảm nguồn thu ngân sách Nhà nước; thực hiện các cam kết của Chính phủ Việt nam khi gia nhập WTO cũng như đảm bảo tính phù hợp với thông lệ quốc
tế, ngày 14/11/2008, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008, thay thế toàn bộ Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998 và các Luật sửa đổi, bổ sung năm 2003, 2005 Luật năm 2008 đã quy định Biểu thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt theo hướng hạ thấp mức thuế suất hơn so với Luật cũ: Bia giảm từ 70% xuống 45%, Điều hoà nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống giảm từ 15% xuống 10%, Các loại dịch vụ giảm 5 đến 10%,…
Mặt khác, vấn đề mở rộng diện các hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiếp tục được phát huy Một số mặ hàng được bổ sung như xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng; xe ô tô chạy bằng xăng kết hợp năng lượng điện, năng lượng sinh học; xe ô
tô chạy bằng điện; tàu bay; du thuyền,… Bên cạnh đó, thuế không chỉ đánh vào
dịch vụ “kinh doanh casino, trò chơi bằng máy giắc-pót” mà còn đánh vào tất cả các hoạt động “kinh doanh casino, trò chơi điện tử có thưởng” Những thay đổi
này đã góp phần định hướng sản xuất và tiêu dùng xã hội, điều tiết thu nhập và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước; góp phần thực hiện các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO
7 Luật sửa đổi, bổ sung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2014
Sau sáu năm thực thi, Luật năm 2008 đã xuất hiện một số hạn chế và Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2014, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2016 Theo đó, lần sửa đổi này đã có những điểm tiến
bộ như sau: