Liên văn bản là phát hiện quan trọng trong tư duy văn học thế kỷ XX. Trường phái phê bình Liên văn bản đã mang đến nhiều phát hiện mới trong cấu trúc nội tại tác phẩm rằng thực chất không có tác phẩm nào là tồn tại độc lập, đơn lẻ mà nó luôn có sự liên đới với nhau. Trước đây hễ nói tới văn chương người ta nói đến tính độc đáo, độc nhất vô nhị của sáng tác của tác giả. Nhưng với lí thuyết liên văn bản thì mọi sáng tác đều có sự lặp lại, lấy lại, mượn lại ý tưởng, ngôn từ, kết cấu, cốt truyện… của các nhà văn có trước rồi biến đổi đi, cấu tạo lại để làm ra cái mới. Như thế muốn hiểu nghĩa của tác phẩm còn cần phải so sánh đối chiếu, phân tích nhiều mối quan hệ với vô vàn văn bản khác mới có thể xác định, chứ chỉ riêng cấu trúc của nó thì cũng chưa đủ. Tính độc đáo không tuyệt đối như người ta tưởng. Hướng tiếp cận liên văn bản trong trường hợp kịch bản Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ hứa hẹn sẽ mang lại nhiều phát hiện mới mẻ cho hoạt động nghiên cứu và diễn giải văn hóa của chúng ta ngày nay.
Trang 1PHÊ BÌNH LIÊN VĂN BẢN Ở VIỆT NAM
VÀ TRƯỜNG HỢP KỊCH BẢN
HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT
1
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LIÊN VĂN BẢN
5
1.1 Lý thuyết Liên văn bản của chủ nghĩa cấu trúc
5
1.1.1 Gerard Genette - tính xuyên văn bản
5
1.1.2. Michael Riffaterre - ảo tưởng quy chiếu
6
1.2 Lí thuyết liên văn bản từ Batkhtin đến Chủ nghĩa giải cấu trúc
6
1.2.1 Mikhail Bakhtin - tính đối thoại
6
1.2.2 JuliaKritteva - tính liên văn bản
7
1.2.3 Roland Barthes - tính đa bội
8
CHƯƠNG 2: PHÊ BÌNH LIÊN VĂN BẢN Ở VIỆT NAM 11
2.1 Tình hình tiếp nhận lý thuyết liên bản ở Việt Nam
3.1 Cội nguồn của liên văn bản trong kịch bản Hồn Trương Ba, da hàng thịt
Trang 33.2.2 Sự biến đổi (alteration)
17
3.2.2.1 Sự biến đổi về đề tài
3.2.7.1 Diễn ngôn đối thoại
TÀI LIỆU THAM KHẢO
36
Trang 4MỞ ĐẦU
Liên văn bản là phát hiện quan trọng trong tư duy văn học thế kỷ XX.Trường phái phê bình Liên văn bản đã mang đến nhiều phát hiện mới trong cấutrúc nội tại tác phẩm rằng thực chất không có tác phẩm nào là tồn tại độc lập, đơn
lẻ mà nó luôn có sự liên đới với nhau Trước đây hễ nói tới văn chương người tanói đến tính độc đáo, độc nhất vô nhị của sáng tác của tác giả Nhưng với lí thuyếtliên văn bản thì mọi sáng tác đều có sự lặp lại, lấy lại, mượn lại ý tưởng, ngôn từ,kết cấu, cốt truyện… của các nhà văn có trước rồi biến đổi đi, cấu tạo lại để làm racái mới Như thế muốn hiểu nghĩa của tác phẩm còn cần phải so sánh đối chiếu,phân tích nhiều mối quan hệ với vô vàn văn bản khác mới có thể xác định, chứ chỉriêng cấu trúc của nó thì cũng chưa đủ Tính độc đáo không tuyệt đối như người ta
tưởng Hướng tiếp cận liên văn bản trong trường hợp kịch bản Hồn Trương Ba, da
hàng thịt của Lưu Quang Vũ hứa hẹn sẽ mang lại nhiều phát hiện mới mẻ cho hoạt
động nghiên cứu và diễn giải văn hóa của chúng ta ngày nay
Từ những năm 80 của thế kỷ XX, văn học Việt Nam từng bước đi vào quỹđạo của văn học thế giới Nhiều thể loại mới dần xuất hiện và có những thành côngđáng kể, đóng góp cho lịch sử văn học những tác giả và tác phẩm tiêu biểu, trongnhiều thể loại đó không thể không kể đến kịch Nhờ những ưu thế riêng về thể loại:tính xác thực, tính thời sự, tính xã hội các vở kịch đã nhanh chóng đến với côngchúng, tạo nên một văn đàn đa dạng, nhiều màu sắc và phát huy được hiệu quảnghệ thuật tích cực trong đời sống Trong xã hội hiện đại, kịch đã khẳng định được
vị thế của mình, là một trong những thể loại quan trọng của nền văn học nước tatrong những thập niên cuối thế kỷ XX Lưu Quang Vũ được đánh giá là cây bútsáng tác xuất sắc cho mảng kịch sân khấu trong giai đoạn này Sự xuất hiện hàngloạt kịch bản gắn với các tích truyện dân gian của Lưu Quang Vũ đã thực sự tạođược sự quan tâm của công chúng khiến cái tên Lưu Quang Vũ vốn quen thuộc ởmảng thơ nay được quan tâm hơn ở mảng kịch Trong số các kịch bản nổi tiếng của
người nghệ sĩ tài hoa, chắc chắn không thể không nhắc đến kịch bản Hồn Trương
Ba, da hàng thịt, một tác phẩm có thể nhận xét là có cái cốt đơn giản nhưng nội
dung truyền đạt lại hết sức đủ đầy và mang tính triết lí "Đó là cuộc chiến của
những con người hiền lành, trong sáng ở môi trường sống khắc nghiệt, nhiều cám dỗ, vẫn mong muốn giữ được phần tốt đẹp của mình Trong xã hội hiện đại, khi vật chất trở thành thước đo cho nhiều giá trị, chúng ta càng dễ bị cuốn theo guồng quay tham vọng, đánh mất phẩm giá" – Nhà phê bình văn học Phạm Xuân
Nguyên Sau 37 năm ra mắt, kịch bản “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu
Quang Vũ vẫn đậm tính
Trang 5thời sự về thói giả trá, tệ quan liêu và bi kịch nhân sinh và lẽ hiển nhiên, tác phẩmnày cũng đã được nghiên cứu theo nhiều hướng khác nhau Ở bài tiểu luận nhómnày, ngoài việc tìm hiểu về các kiến thức lý luận liên quan đến phê bình Liên văn
bản, nhóm chúng em cũng phân tích và lí giải kịch bản Hồn Trương Ba, da hàng
thịt dưới góc độ liên văn bản như một ví dụ minh chứng cho tính liên giữa các văn
bản văn học trong nhiều mối liên hệ tương thuộc
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LIÊN VĂN BẢN 1.1 Lý thuyết Liên văn bản của chủ nghĩa cấu trúc
Chủ nghĩa cấu trúc được hình thành từ đầu thế kỉ XX đến những năm 1940
Sự hình thành của chủ nghĩa cấu trúc bắt nguồn từ ngôn ngữ học cấu trúc của F.Saussure, chủ nghĩa hình thức Nga rồi vươn sang lĩnh vực khác Với các nhà cấutrúc, nhà văn không chịu trách nhiệm với ý đồ tư tưởng, anh ta bị điều khiển bớicấu trúc, quy phạm, nguyên tắc tổ hợp văn học Nhân vật không đóngvai trò duynhất mang lại ý nghĩa cho văn bản, ý nghĩa văn bản được tạo bởi sự tương tác cáccặp đối lập trong cấu trúc như sống/chết, tồn tại/ diệt vong, niềm tin/ chân lí…Mốiquan hệ như vậy nối cấu trúc văn bản với cấu trúc văn hóa và tinh thần xã hội
Nửa sau những năm 60 chủ nghĩa cấu trúc bị đả phá, họ phủ nhận sự biểunghĩa ổn định của cấu trúc, họ cho rằng không có cái gì tồn tại đơn lập, khép kín,
biệt lập của văn bản Văn bảnmang tính “đa bội”, văn bản là sản phẩm của vô số
những mã, những diễn ngôn của văn bản trước Kritteva đềxuất tính liên văn bảnthay thế tính ổn định, khép kín, biệt lập của văn bản Chủ nghĩa cấu trúc tiếp nhậncái mới của giải cấu trúc Genette và Riffaterrecoi đó là những đóng góp vào việc
phát triển lí thuyết liên văn bản.
Genette trong công trình viết năm 1997 đã đề xuất khái niệm xuyên văn bản.
Xuyên văn bản có năm hình thức quan hệ: liên văn bản, cận văn bản, siêu văn bản, kiến trúc văn bản, ngoa dụ văn bản Ông quan niệm liên văn bản là “Mối quan hệ cùng hiển diện giữa hai văn bản hoặc một vài văn bản trong một văn bản cụ thể”[tr.24].
Liên văn bản có ba hình thức biểu hiện là: trích dẫn, đạo văn, và ám
chỉ.Trong đó trích dẫn, đạo văn là phân biệt cùng một hình thức đó là sựvay mượn
câu chữ của một văn bản có sẵn để kiến tạo một sản phẩm mới mang ý đồ hoàntoàn mới Tuy trung thành với chủ nghĩa cấu trúc nhưng ông đã có cách nhìn mới
Theo Daniel Chandler thì xuyên văn bản của Genette có mấy đặc điểm đáng
chú ý: Một là tính tự giác hoặc tính tự ý thức, ông chỉ chú ý đến loại văn bản có tính liên văn bản một cách có ý thức của nhà văn Hai là sự biến đổi từ một nguồn gốc, sự biến đổi này tăng cường thêm tính tựý thức Ba là tính minh bạch trong trích dẫn Bốn là sự hiểu của người đọc nhận ra sự liên kết của một văn bản đang hiện hữu Năm là quy mô chuyển thể, sự kết hợp của văn bản khác trong văn bản
hiện hành
Trang 7Sáu là tính không thể xác định giữa ranh giới cấu trúc thể loại, chuỗi, tiếp nối.
Genette có cái nhìn mới về mới về mối quan hệ liên văn bản, theo ông liên văn bản
là quan hệ xác thực, có ý thức, có kiểm chứng, có chủ ý của tác giả Liên văn bảntrong quan niệm của Genette gần gũi với phương pháp đọc tiểu thuyết có khả năngứng dụng cao trong nghiên cứu
Michael Riffaterre (1924- 2006) là nhà lí luận có quan niệm liên văn bản
dưới lăng kính cấu trúc- kí hiệu học Những phân tích của ông thể hiện một cáchđọc mới, khám phá những bí ẩn của sản sinh văn bản thú vị Ông chống lại tínhquy chiếu thực tại của văn bản, theo ông văn bản và kí hiệu không quy chiếu thế
giới thực tại mà quy chiếu các văn bản khác, các kí hiệu khác Cái gọi là “quy
chiếu thực tại” chỉ là ảo tưởng Riffaterre cho rằng liên văn bản là sự nhận thức của
người đọc về các mối quan hệ giữa tác phẩm với tác phẩm khác xuất hiện trướchoặc sau nó Mặc dù còn có những hạn chế nhưng quan niệm của ông có vai tròquan trọng trong việc phát triển lí thuyết liên văn bản
Những quan niệm của Genette và Riffaterre đã hình thành một lối đi riêngđược các nhà nghiên cứu gọi đó là quan niệm về tính liên văn bản của các nhà thihọc cấu trúc
1.2 Lí thuyết liên văn bản từ Batkhtin đến Chủ nghĩa giải cấu trúc
Bakhtin (1895 - 1975) là nhà triết học, mỹ học và nghiên cứu văn học lớncủa Liên Xô và thế giới thế kỉ XX Trong công trình nghiên cứu đầu tiên vào năm
1924 về vấn đề nội dung, chất liệu, và hình thức trong sáng tạo nghệ thuật ngôn từ
ông khẳng định “mỗi lời phát biểu cụ thể bao giờ cũng hiển diện trong một ngữ
cảnh văn hóa đầy ý nghĩa”[tr.31] và “chỉ trong ngữ cảnh lời phát biểu mới sống và mới được nhận biết đúng hay sai, đẹp hay xấu, chân thành hay xảo trá, cởi mở trơ trẽn hay đầy quyền uy,những lời trung tính không có và không thể có”[tr.31].
Trong tiểu luận Ngôn ngữ tiểu thuyết Bakhtin viết “Bất cứ lời nói nào cũng
nhằm để đáp lại và không thể tránh khỏi ảnh hưởng sâu xa của lời đáp dự kiến sẽ có”[tr.32] Mỗi phát ngôn không thể trung tính, nó sẽ bị vây bọc bởi quan điểm, lập
trường, giọng điệu khác và buộc phải gia nhập các mối quan hệ tương tác, tán
đồng, li khai “Lời nói trên đường đến với đối tượng của mình tất yếu rơi vào môi
trường
Trang 8đối thoại luôn cuộn sóng và căng thẳng”[tr.33] và ông khẳng định thuộc tính của
lời nói là tính đối thoại
Bakhtin đặt ngôn ngữ trong quan hệ với tình huống xã hội cụ thể, ý nghĩacủa các từ và các phát ngôn tùy thuộc vào chủ thể Theo Bakhtin khi không có ýthức chủ động, người nói không nhận ra mình bị bao bọc bởi muôn ngàn tiếng nói
khác nhau và do đó “chủ động định hướng giữa những tiếng nói khác biệt, xác
định lập trường, lựa chọn ngôn ngữ” [tr.34] Quan điểm này trở thành nhân tố
quan trọng nó quy định chủ thể trong vòng biến động, trong cuộc đụng độ ý thức.Nguyên tắc đối thoại của Bakhtin trở thành tiêu chuẩn sự tiến hóa xã hội Hedquistxác định rằng, với Bakhtin tồn tại là đối thoại, ngôn ngữ là đối thoại, và tính tiểu
thuyết là đối thoại, bởi theo Bakhtin “Ý thức bắt đầu ở đâu thì ở đó có đối thoại”
[tr.36]
Từ nguyên lí đối thoại Bakhtin tiếp cận thể loại tiểu thuyết, ông xem lí luận
về thể loại tiểu thuyết là tính đối thoại “Sự phát triển của tiểu thuyết là khơi sâu
tính đối thoạị, mở rộng nó và làm cho nó ngày càng trở nên tinh tế”[tr.38] Tiểu
thuyết mang tính đa thanh, phức điệu, tính nhiều giọng nói Lời nói của tiểu thuyếttồn tại như một sự lặp lại, có tính giễu nhại, nó đối thoại với lực lượng quanphương, nghiêm trang, những chân lí bất biến giáo điều đầy sức ỳ bằng một ý thức
hệ bình đẳng, dân chủ khỏe khoắn lành mạnh, mang tính chất tái sinh giàu sức
sống Theo Bakhtin, biểu hiện của tính đối thoại là “tính dị ngôn”, tức là ngôn ngữ
luôn thẩm thấu những vết tích khác, những cách dùng khác, những ý thức khác.Lời nói vừa có quan hệ nội bản, vừa có quan hệ liên văn bản Bản chất lời nói luôn
có mối quan hệ với lời nói… do đó tự nhiên đã thực hiện sự kết nối liên văn bản,liên ý thức, liên chủ thể đối thoại Với quan niệm ngôn ngữ tiểu thuyết mang tínhđối thoại, Bakhtin được xem là nhà khai sáng lí thuyết liên văn bản
1.2.2 JuliaKritteva - tính liên văn bản
Kritteva (1941) nhà triết học, tâm lí học, nữ quyền luận và là nhà tiểu thuyết
Pháp gốc Bulgari Trong bài viết Từ, Đối thoại và tiểu thuyết của Kritteva có mục
tiêu chính là giới thiệu Bakhtin đến phương Tây Trong khi làm công việc này, bà
đã sáng tạo ra thuật ngữ liên văn bản nhằm phát triển và thay thế quan niệm tính
đối thoại của Bakhtin theo tinh thần giải cấu trúc Trong bài viết này, bà đề xuất ba
chiều kích hay ba sự phối hợp có tính đối thoại; đó là chủ thể viết, chủ thể nhận và
ngữ cảnh “bất kì văn bản nào cũng được cấu trúclà bức khảm các trích dẫn Bất kì
văn bản nào cũng là sự hấp thụ và biến đổi các văn bản khác, còn ngữ cảnh bao gồm vô
Trang 9số văn bản tiềm ẩn hoặc hiển lộ ảnh hưởng tác động đến văn bản, bởi vậy ý nghĩa văn bản nảy sinh bên trong ngữ cảnh” [tr.41]
Để tránh việc gắn thuật ngữ liên văn bản với từ ngữ của truyền thống như
“ảnh hưởng”, “nguồn gốc”, Kritteva đề nghị dùng thuật ngữ “sự chuyển vị” thay thế tính liên văn bản với ý nghĩa xem tính liên văn bản như “một hành trình từ hệ
thống kí hiệu này sang hệ thống kí hiệu khác nhằm giải cấu trúc vị trí cũ và thể hiện một địa vị mới sâu sắc hơn” [tr.42] tức là tính liên văn bản được hiểu là “một
sự chuyển vị của nhiều văn bản, một liên văn bản trong không gian văn bản”
[tr.42] Liên văn bản không chỉ được đề cập đến những văn bản được hòa trộn vàovăn bản khác mà cần được hiểu như sự chuyển vị của một hay nhiều hệ thống kíhiệu này vào hệ thống kí hiệu khác Kritteva đã lượcbỏ tính xã hội của các quan hệdiễn ngôn/văn bản Đây chính là sự khác biệt với tính đối thoại trong quan niệmcủa Bakhtin Đối với Kritteva, liên văn bản là sự xếp chồng các văn bản như là mộttấm vải với những kiểu dệt khác nhau cùng tồn tại trong một không gian văn bản.Chỉ có văn bản, không có chủ thể, Kritteva muốn giải trừ chủ thể Đối với họ, thếgiới hiện lên như một văn bản khổng lồ và chẳng có gì ngoài văn bản.Tính liên vănbản của Kritteva gắn liền với tinh thần giải cấu trúc và cảm quan hậu hiện đại Nhưvậy quan niệm về tính liên văn bản của Bakhtin và Kritteva có điểm khác biệt.Liên văn bản trong tư tưởng của Bakhtin gắn với bản chất ngôn ngữ mang tính đốithoại và chứa đựng ý nghĩa xã hội sâu xa, trên cơ sở đối thoại, chủ thể khôngngừng tìm kiếm các ý thức khác thông qua lời nói, và như thế đối thoại khôngngừng mở rộng…Còn đối với Kritteva không có gì khác ngoài văn bản khổng lồtồn tại nhiều văn bản trước đó Tuy nhiên chúng ta có thể hiểu liên văn bản khôngthể là sự đánh tráo văn bản của người bằng văn bản của mình Sự tán loãng trongnhau của các văn bản không xóa mất sự hiển diện của văn bản trước đó Mỗi vănbản là một liên văn bản và thể hiện được đặc điểm tư tưởng thẩm mĩ độc đáo, mới
mẻ và mang tính xã hội rõ rệt
Barthes (1915- 1980) là nhà phê bình, kí hiệu học, triết học người Pháp.Quan niệm liên văn bản của ông là chống lại vai trò của tác giả Đối với Barthes,việc gắn văn bản với tên tác giả là “áp đặt” cho văn bản ấy một giới hạn, là trang bịcho văn bản ấy ý nghĩa sau cùng, là khép lại sự viết” [tr.47] Trong các văn bảnhiện đại tác giả “vắng mặt”, tác giả chẳng qua chỉ là chủ thể của của hành độngviết Ông thay thế tác giả là người “viết hiện đại” Theo ông, một khi tác giả đã
Trang 10chết thì văn bản là một không gian đa chiều kích, trong đó“nhiều lối viết khácnhau cùng hòa trộn,
Trang 11không lối viết nào hoàn toàn mới mẻ” [tr.47], “văn bản làm nên từ nhiều lối viết,xuất phát từ nhiều nền tảng văn hóa khác nhau, được đối thoại với nhau, phảnkháng nhau”[tr.48] Văn bản giống như một tấm vải dệt từ vô số sợi chỉ “trích dẫn”
mà không rõ nguồn gốc Đó chính là liên văn bản của mọi văn bản
Tác giả đã chết và văn bản là liên văn bản, kéo theo sự lên ngôi của ngườiđọc trước hết là giới phê bình, nhưng giới phê bình cũng cần được lật đổ, văn bản
là đa bội và không thể tính đếm, sự viết là đa nguyên, sự hiểu là mênh mông, phiêulưu ý nghĩa, không chấp nhận quan niệm “cố địnhý nghĩa” Theo Barthes “đây làhành động thực sự cách mạng” Ông đặt vai trò của người đọc thành không gian
“hội tụ những lối viết” tuyệt đối vai trò của người đọc Đây chính là quan niệm cótính chất phương pháp luận
Trong Lý thuyết về văn bản và Từ tác phẩm đến văn bản Barthes cũng phânbiệt văn bản và tác phẩm Văn bản là cái biểu đạt, tác phẩm là cái được biểu đạt.Văn bản là lĩnh vực có tính chất phương pháp luận, còn tác phẩm có thể tìm thấytrên giá sách Văn bản tồn tại biến động trong các diễn ngôn, tác phẩm nhìn thấyphô bày Văn bản tất yếu mang tính đa bội Văn bản không kết thúc ở văn chươnghữu hạn mà là ở văn hóa vô hạn, ông đã sáng tạo nên người đọc liên văn bản.Barthes cho rằng “thế giới là văn bản khổng lồ”, ông nhấn mạnh văn bản mang tính
đa bội Tính đa bội được hiểu không phải là tính có nhiều ý nghĩa mà là vô số ýnghĩa Tính đa bội này nêu cao vai trò của độc giả, kiến tạo ý nghĩa của người đọc
và giải chủ thể tác giả
Như vậy, có thể tóm tắt ngắn gọn, tính liên văn bản trong quan niệm củaGenette là xuyên văn bản; trong quan niệm của Rifaterre là ảo tưởng quy chiếu; ởBakhtin là tính đối thoại; trong quan niệm của Kritteva là sự chuyển vị; trong quanniệm của Barthes là tính đa bội Mỗi quan niệm các nhà nghiên cứu đều có ít nhiều
sự khác biệt nhưng vẫn tìm thấy sự thống nhất trong cách hiểu về khái niệm liênvăn bản Tính liên văn bản vừa là khái niệm vừa nhằm chỉ tất cả các thủ pháp kiếntạo nên những mối quan hệ giữa các văn bản văn học, vừa nhằm miêu tả thuộc tínhbản thể của mọi văn bản Đối với một số nhà lập thuyết quan niệm liên văn bản là
thuộc tính tự chủ của văn bản, nhờ đó chúng năng sản và biểu nghĩa.
Sự tương liên mà bất cứ văn bản văn học nào cũng có với văn bản trước đó
khiến văn bản chỉ có thể hình dung như “bức khảm các trích dẫn” một không gian
hồi thanh thú vị, một mạng lưới đầy vết tích các văn bản khác Lí thuyết này nảysinh trong bối cảnh tất cả những gì biệt lập, cô lập độc đoán đều bắt đầu bị tan rã; ýthức về tính liên hệ, quan hệ, mạng lưới hình thành Liên mạng, liên ý thức, liên cá
Trang 12nhân là khái niệm gần gũi của tính liên văn bản Với lí thuyết này, văn bản tồn tạitrong thế đa nguyên, năng sản, luôn là sản phẩm của đối thoại ý thức hệ, tư tưởngvăn học.
Trang 13CHƯƠNG 2: PHÊ BÌNH LIÊN VĂN BẢN Ở VIỆT NAM
2.1 Tình hình tiếp nhận lý thuyết liên bản ở Việt Nam
Sau hơn 45 năm, kể từ khi Kristeva đặt ra thuật ngữ tính liên bản thì nhìnchung lý thuyết liên văn bản ở Việt Nam vẫn chưa được đông đảo công chúng yêuvăn học và các nhà nghiên cứu đón nhận một cách nồng nhiệt Lý thuyết liên vănbản chưa được giới thiệu, nghiên cứu và khảo sát một cách chuyên sâu, chưa cónhiều bản dịch, chưa có sự đồng bộ cũng như thiếu đi tính hệ thống Tuy nhiên, bắtđầu từ nửa sau thế kỉ XX, những thành tựu của khoa văn học trên phương diện líthuyết đã đem đến nhiều thay đổi trong nhận thức của giới nghiên cứu văn học,trong đó có lí thuyết liên văn bản Lý thuyết liên văn bản đã được mở rộng cácphạm trù, khái niệm văn học vốn được định hình từ trước đó Đã có không ít côngtrình diễn giải, dịch thuật, giới thiệu lý thuyết liên văn bản cùng các đại diện ưu túcủa hướng nghiên cứu này tại Việt Nam (M.Bakhtin, J.Kristeva, R.Barthes,M.Foucault, U.Eco…) Điều đó mở ra những không gian đọc và nghiên cứu cũngnhư ứng dụng lý thuyết liên văn bản vào lĩnh vực văn hóa, văn học, ngôn ngữ…tạiViệt Nam
Theo TS Nguyễn Văn Thuấn, trong văn xuôi, một số cây bút tiêu biểucủa văn học Việt Nam từ thời kỳ Đổi mới đến nay như Nguyễn Huy Thiệp, PhạmThị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái…đã có ý thức sử dụngliên văn bản trong sáng tác Đây là một trong những nỗ lực nghệ thuật của nhà văn
Họ tiếp tục tinh thần phê phán và nhân bản, khơi sâu vào các vấn đề thế sự, đời tư,phát hiện những mặt trái của nhân sinh, xã hội, văn hóa; tự vấn, phản biện, đốithoại với tinh thần dân chủ, cởi mở Họ kiếm tìm và thử nghiệm những hình thứcnghệ thuật mới khá đa dạng: đối thoại với văn bản xã hội (social text) và diễn ngôntập thể (collective discourse); vay mượn và giễu nhại huyền thoại, cổ tích; quantâm đến việc trích dẫn, viết lại, viết tiếp những văn bản cũ; pha trộn thể loại, hưcấu lịch sử, giễu nhại văn chương và văn hóa truyền thống có tính chất khuôn sáo,giáo điều, bề trên
2.2 Tình hình nghiên cứu lý thuyết liên văn bản ở Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam, việc nghiên cứu lý thuyết liên văn bản được tiến hànhsong song với quá trình nghiên cứu chung của Lí luận Văn học , trong sự tươngquan với lý thuyết Hậu hiện đại
Đầu tiên, Liên văn bản được giới thiệu sớm nhất trong công trình nghiên cứucủa Giáo sư viện sĩ Hoàng Trinh “Từ kí hiệu học đến thi pháp học” (1993) Thông
Trang 14qua công trình nghiên cứu, Hoàng Trinh đã khẳng định “Một văn bản bao giờ cũng
kế thừa những văn bản có trước và bao giờ cũng mang nhiều tiếng nói hội nhậpvào nhau Đó là tính liên văn bản của mọi văn bản” [137, tr.476] Từ đó, mọi ngườiđược lần đầu tiên tiếp cận với khái niêm Liên văn bản Sau Hoàng Trinh, TrầnĐình Sử cũng có nhắc đến khái niệm này trong bài giới thiệu Bakhtin “Những vấn
đề thi pháp Đốt – xtoi – ép – xki” (1993) Theo ông, tính đối thoại là quan hệ vi
mô, tồn tại trong một văn bản, còn tính liên văn bản là vĩ mô, là quan hệ giữa vănbản này với văn bản khác Trần Đình Sử cho rằng: “lí luận về thi pháp học củaBakhtin (Liên Xô) đã chỉ rõ tính LVB trong tác phẩm của Ra-bơ-le (Rabelais) vàĐô-xtôi-ép-xki, tạo ra tính “đa âm” (polyponique) và “tính đối thoại” (dialogique)hết sức chân thực và sống động trong các tiểu thuyết” [137, tr.476]
Nhưng người có công làm rõ và vận dụng lý thuyết này nhuần nhuyễn là Đỗ
Đức Hiếu với tác phẩm Thi pháp hiện đại (2004) Sau đó, trong cuốn Mấy vấn đề
phê bình và lý thuyết văn học (2007), Nguyễn Hưng Quốc đã khái quát về lý thuyết
này từ lúc khởi thủy cho đến giai đoạn hậu hiện đại Nguyễn Nam Quốc, Lê HuyBắc, Phan Huy Dũng đã thực hành phân tích, vận dụng lý thuyết liên văn bản với
đa dạng các thể loại từ thơ, truyện cho đến phim ảnh Nguyễn Nam Quốc nổi bậtvới việc nghiên cứu liên văn bản thể hiện qua việc phim ảnh phóng tác tác phẩm
văn chương của Nguyễn Tuân Từ Chùa Đàn đến Mê thảo, liên văn bản trong văn
chương và điện ảnh (2006) Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu tiêu biểu
khác: Liên văn bản (intertext) trong Đàn ghi ta của Lorca (2012); Đàn ghi ta của
Lorca của Thanh Thảo dưới góc nhìn liên văn bản (2012); Người đọc am tường, liên tưởng mở rộng, điểm qua mấy hướng tiếp cận liên văn bản ở nước ngoài (2011)…Ngoài các công trình nghiên cứu của nước ta thì ta còn chủ động dịch
thuật nhiều công trình nghiên cứu ở nước ngoài: Giáo trình ngôn ngữ học đại
cương – Saussuré; Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Sáng tác F.Rabelais và nền văn hóa dân gian trung cổ và Phục Hưng – Bakhtin; Cái chết của tác giả, Từ tác phẩm đến văn bản, Vương quốc ký hiệu – Barthes…
Lý thuyết Liên văn bản đã trở thành tiền đề lý luận quan trọng trong việcnghiên cứu văn học đương đại Nhiều nhà nghiên cứu đã vận dụng thành công lýthuyết này và đạt được nhiều thành tưu, đóng góp lớn cho việc phê bình, lý luận
văn học ở Việt Nam như trong cuốn Văn học hậu hiện đại diễn giải và tiếp nhận
(Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia năm 2011) có các bài nghiên cứu: “Yếu tố liên
văn bản trong tiểuthuyết lịch sử Giàn thiêu của Võ Thị Hảo” (Nguyễn Văn Hùng),
“Liên văn bản trong tiểu thuyết chân dung cát của Inrasara” (Nguyễn Thị QuỳnhHương), “Liên
Trang 15văn bản trong nhan đề và đề từ tác phẩm Âm thanh và cuồng nộ và khi tôi hấp hốicủa William Faulkner” (Hoàng Thị Quỳnh Trang), “Liên văn bản: từ MikhaiBakhtin đến Julia Kristéva” (Nguyễn Văn Thuấn)…Từ đó ta thấy được sự sôi nổitrong nghiên cứu và ứng dụng lý thuyết này vào thực tiễn ở nước ta.
- Một số công trình Phê bình Liên văn bản ở nước ta:
+ Giáo trình Liên văn bản (Nguyễn Văn Thuấn)
+ Khoảng trống văn chương và tiếp cận liên văn bản (Nguyễn Nam)
+ Sự thực tuyệt đối trong tự sự: Tiếp nhận và cải biên Rashomon ở Việt Nam
(Nguyễn Nam)
+…
Từ những thông tin đã trình bày ở trên, ta nhận thấy được từ khi lý thuyết Liên vănbản du nhập vào nước ta đã được chú trọng nghiên cứu và cho đến nay đã ghi nhậnnhiều công trình nghiên cứu có giá trị cao, đóng góp rất nhiều vào việc phát triểnPhê bình, lý luận Văn học ở Việt Nam Tuy nhiên, lý thuyết này còn chưa thật sựnhận được sự quan tâm thích đáng, vẫn còn sự thiếu đồng bộ, hệ thống chưachuyên sâu trong việc giới thiệu và tiếp cận Để lý thuyết này phát huy được ưuđiểm vốn có của nó, ta cần xem việc nghiên cứu hệ thống Lý thuyết liên văn bản làviệc làm hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện nay
Trang 16CHƯƠNG 3: PHÊ BÌNH LIÊN VĂN BẢN VÀ TRƯỜNG HỢP KỊCH BẢN
HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT
3.1 Cội nguồn của liên văn bản trong kịch bản Hồn Trương Ba, da hàng thịt
Nhắc đến nền kịch đương đại Việt Nam, chúng ta không thể bỏ qua cây búttài hoa nhưng bạc mệnh như Lưu Quang Vũ Trời đã phú cho người nghệ sĩ ấynhiều tài năng ở nhiều lĩnh vực khác nhau như: hội họa, thi ca, âm nhạc Nhưng có
lẽ thành công hơn hết và khắc sâu vào trái tim độc giả có lẽ là những vỡ kịch bất tửvới thời gian của ông Cuộc đời hơn bốn mươi năm ngắn ngủi ấy, Lưu Quang Vũ
đã để lại cho dân chúng yêu nghệ thuật hơn năm mươi vở kịch Có một thời mà sânkhấu kịch đương đại nước nhà đã phát triển rực rỡ, công lao mà tác giả đã gópphần là không hề nhỏ Chính ông đã thổi một luồng sinh khí mới vào kịch, các vởdiễn ấy tuy là giả, nhưng câu chuyện mà Lưu Quang Vũ phản ánh cuộc đời là thật.Tới tận hôm nay, sự thật cuộc sống mà tác giả nói lên trong kịch vẫn còn nguyêngiá trị thời sự Có lẽ vì thế mà dù thời gian đã trôi qua nhiều năm, Lưu Quang Vũcũng đã vắng bóng trên cõi đời và ngừng viết Nhưng sự nghiệp của Lưu Quang
Vũ vẫn cứ sống một đời sôi nổi trên các trang văn của giới mộ điệu văn chương.Những công trình nghiên cứu về kịch của Lưu Quang Vũ là nhiều không kể xiết,nhưng điểm chung ở đó là khi thống kê về tác phẩm tiêu biểu trong khoảng năm
mươi vở kịch do ông viết, không bao giờ mọi người quên tác phẩm Hồn Trương
Ba, da hàng thịt.
Nhà thi pháp học người Pháp Gérard Genette cho rằng mọi văn bản đều làmột palimpsest, “tức là một văn bản bắt nguồn từ một văn bản trước đó” Líthuyết này đã khẳng định một điều, toàn bộ nền văn học của thế hệ trước chính làcội nguồn của những tác phẩm ra đời sau Ở đó tác giả đã học hỏi có ý thức hoặctrong vô thức những văn hóa, sự kiện, nhân vật, câu chuyện của người đời trước
Để từ đó sinh ra lý thuyết liên văn bản, và mỗi một tác phẩm đều có thể nhìn nhậntrong cái nhìn chồng chéo, nhiều chiều từ những tác phẩm khác nhau Đối với
“Hồn Trương Ba, da Hàng thịt”, Lưu Quang Vũ đã sử dụng chất liệu dân gian đểlàm tiền đề tạo nên vở kịch Theo GS Chu Xuân Diên, hiện tại đang tồn tại hai câu
chuyện Hồn Trương Ba, da hàng thịt với hai cái kết hoàn toàn khác nhau.
Trong Hồn Trương Ba, da hàng thịt đang phổ biến như một truyện cổ tích, được Nguyễn Đổng Chi ghi trong bộ Kho tàng truyện cổ tích VN thì, sau khi được
tiên Đế Thích làm cho sống lại, Trương Ba trong xác hàng thịt đi thẳng về nhàmình, vợ Trương Ba được Đế Thích báo trước nên vui vẻ đón “chồng” vào nhà,
Trang 17trong lúc vợ anh hàng thịt chạy theo đòi lại Vụ việc này được đưa lên quan xét xử.Quan hỏi
Trang 18vợ Trương Ba lúc sống chồng thường làm gì, bảo “chỉ thạo đánh cờ” Lại hỏi vợhàng thịt ngày thường chồng chị làm gì, bảo “chỉ quen mổ lợn” Quan sai đem lợn
ra, anh hàng thịt (xác) lóng ngóng không biết làm gì, nhưng đưa bàn cờ tới lại đánhrất giỏi Quan xử cho người hàng thịt về với vợ Trương Ba
Song trong một số tài liệu khác lại ghi đây như một “thần tích” Thần tích kểchuyện xảy ra ở làng Liên Hạ, tỉnh Hải Dương (còn có đền thờ) có Trương Ba làmột nho sĩ đời Lý, giỏi đánh cờ, sau cũng xảy ra chuyện hai nhà kiện nhau vì mộtngười mà ai cũng cho là người thân của mình Quan thử thách tương tự câu chuyệntrên nhưng kết truyện, vợ Trương Ba thấy vợ hàng thịt khóc lóc thảm quá, lại thấyhình thức chồng mình là chồng người ta nên bàn bạc để Trương Ba (hồn) cưới vợhàng thịt làm vợ hai luôn thể Đây là một cái kết vô cùng đẹp đẽ và vẹn toàn, điều
đó cũng phản ánh được suy nghĩ và văn hóa của người thời xưa Cuộc sống lúc bấygiờ chỉ gắn liền với nông nghiệp, người dân chỉ mong được cuộc sống bình yên vàthuận lợi Khi đời sống con người đơn giản, thì suy nghĩ và ước mong cũng nhưvậy Chính vì thế mà ở họ ta chỉ thấy mong mỏi được tái sinh đối với những ngườihiền lành tử tế, còn đằng sau cuộc sống tái sinh ấy ít được quan tâm Hơn hết, cáikết trọn vẹn khi Trương Ba cưới cùng lúc hai người vợ cũng thể hiện nét văn hóa
đa thê của người Việt xưa
Tuy nhiên motif này cũng từng xuất hiện ở Trung Quốc, trong “Liêu trai chídị” của Bồ Tùng Linh có câu chuyện mang tên “Xác công tử, hồn ông sư” Truyện
kể về một ông sư ở chùa Vạn Phúc tu hành đắc đạo, hơn 80 tuổi thì nhà sư ra đi vìgià yếu Hồn sư đi khắp nơi, vô tình gặp phải một công tử con nhà quan đi săncùng người hầu Thình lình công tử bị ngã ngựa và chết Hồn ông sư nhập vào xáccông tử, sau khi thấy chủ tỉnh thì bọn người hầu đưa chủ về phủ Nhưng về tới nhà,
vị công tử kia có biểu hiện rất lạ như: liên tục nói “Nam mô a di đà phật”, chỉ ănchay, thấy đàn bà vào phòng thì chạy, Ba hôm sau, sư ta đi bộ ra ngoài, hỏi dòđường về chùa Tìm đến, sư kể đầu đuôi sự việc cho các sư tiểu trong chùa nghe vàcuối cùng ở lại chùa tiếp tục tu hành Cũng giống như cái kết của truyện cổ tích
“Hồn Trương Ba, da Hàng thịt” ở trên, cái kết của “Xác công tử, hồn ông sư” cũngđầy viên mãn Qua đó ta còn ngầm thấy sự mâu thuẫn giai cấp từ xưa của ngườidân, những người thuộc tầng lớp quan lại, công tử, quý tộc thường ít được thiệncảm của người dân Ngược lại sư ông, thể hiện văn hóa tín ngưỡng và niềm tintuyệt đối của người dân với Phật pháp thường được trân trọng, kính nể Đó chính là
lí do mà một sư ông đã già nhưng vẫn được ân huệ tái sinh, còn một công tử trẻtuổi con quan lại chịu cảnh chết trẻ
Trang 19Một tác phẩm văn học không chỉ là sản phẩm từ khối óc hay con tim củangười nghệ sĩ Mà ở đó ta còn thấy kinh nghiệm sống, bối cảnh thời đại đã tácđộng không nhỏ đến ngòi bút của tác giả khi viết Chính vì thế mà để lí giải tại saoLưu Quang Vũ lại học hỏi và kế thừa nội dung từ những tích truyện trên, chúng taphải tìm về thời đại mà ông sinh sống Đó là một thời đại xen lẫn niềm vui vànhững câu chuyện buồn của cả một dân tộc Chúng ta hân hoan với hạnh phúc hòabình lặp lại, thoát khỏi ách kẻ thù Nhưng một đất nước còn non trẻ cũng đã cónhiều biến cố trong buổi đầu thành lập Chính vì thế mà sinh ra nạn quan liêu thờibao cấp, những chính sách có phần ràng buộc, Điều ấy đã sinh ra những kiếpngười sống đối lập giữa phần hồn và phần xác Họ loay hoay giữa nỗi đau nhânthế, hồn của mình nhưng thân thể phải sống theo người đời để sinh tồn Có lẽ vìvậy mà Lưu Quang Vũ đã sử dụng những tích truyện xưa cũ để viết nên tác phẩm.
Có thể nói, tích truyện “Hồn Trương Ba, da Hàng thịt” và “Xác công tử, hồn ôngsư” chính là cội nguồn liên văn bản của vở kịch “Hồn Trương Ba, da Hàng thịt”.Thế nhưng người ta cho rằng, điểm kết thúc của những câu chuyện cổ kia lại làđiểm khởi đầu cho vở kịch của Lưu Quang Vũ Bởi một thời đại mới đã đặt conngười vào những mối quan hệ, những suy nghĩ hoàn toàn mới, ở đó bắt buộc chúng
ta phải có cái nhìn đa diện và nhiều chiều về cuộc sống Tuy vậy, vở kịch dù cónhững nét riêng biệt, thì chúng ta vẫn không thể tách rời khỏi cội nguồn liên vănbản của tác phẩm với những câu chuyện cổ xa xưa trên
3.2 Biểu hiện của liên văn bản trong kịch bản Hồn Trương Ba, da hàng thịt 3.2.1 Sự mô phỏng (pastiche)
Sự mô phỏng có thể hiểu là sự bắt chước một hay một hệ thống thực thể theothời gian Trong văn học, mô phỏng được hiểu theo nghĩa là học hỏi lại sự sáng tạocủa tác phẩm đi trước Trong lí thuyết liên văn bản có đề cập đến sự mô phỏnggiữa các tác phẩm Bởi lẽ không một tác phẩm nào tồn tại một cách độc lập, không
có bất kì mối quan hệ nào với tác phẩm khác Chính vì thế mà vở kịch “HồnTrương Ba, da Hàng thịt” cũng có những sự mô phỏng từ các truyện dân gian
3.2.1.1 Người tốt và tài giỏi thường được kết giao với thần tiên
Trong vở kịch, nhân vật Trương Ba được xây dựng là một người có tài đánh
cờ khó ai sánh bằng Bên cạnh đó, nhân vật này còn là một nhân vật mẫu mực, yêuthương gia đình, lối sống tinh thần thanh tao Chính vì mến mộ tài năng củaTrương Ba, mà Đế Thích đã bỏ qua ranh giới giữa thần tiên và con người để kếtgiao với
Trang 20Trương Ba Không những thế, nhân vật này còn có được những đặc ân về sự giúp
đỡ của Đế Thích Vị thần tiên này đã cho Trương Ba ba nén hương, chỉ cần gặpkhó khắn hay trở ngại, Trương Ba chỉ cần đốt lên sẽ triệu hồi được Đế Thích
Đây cũng chính là motip quen thuộc xuất hiện trong văn học dân gian Trongtruyện cổ tích “Hồn Trương Ba, da Hàng thịt” ta cũng thấy xuất hiện chi tiết nhânvật Trương Ba chơi cờ, làm bạn với Đế Thích, nhận được đặc ân được hồi sinh từ
vị tiên này Hay trong truyện cổ tích Tấm Cám, nhân vật Tấm cũng giữ được mốiliên hệ với Bụt, nhận được sự quý mến và giúp đỡ của Bụt Chính Bụt đã luôn bêncạnh cô Tấm mỗi khi cô bị ức hiếp, từ an ủi đến giải vây cho Tấm trước những lần
bị dì ghẻ hành hạ, ban cho Tấm một người bạn là cá Bống, biến hóa ra vô vàn quần
áo đẹp đẽ cho cô dự hội và cưới được vua
3.2.2.2 Người chết luôn được tái sinh
Không chỉ là một người bạn cờ, mà chính vì sự mến mộ tài năng cũng nhưtâm hồn cao đẹp của Trương Ba Cho nên khi biết tin Trương Ba chết, Đế Thíchlàm làm mọi cách khác nhau để Trương Ba được hồi sinh Đó cũng là điểm giốngnhau, được mô phỏng lại từ tác phẩm truyện cổ tích “Hồn Trương Ba, da Hàngthịt” Hay như trong truyện “Xác công tử, hồn ông sư” của Trung Quốc, nhân vật
sư ông vì tu hành đắc đạo nên vẫn tiếp tục hồi sinh trong xác công tử để tiếp tụccuộc đời Các truyện cổ dân gian khác ta cũng bắt gặp motip quen thuộc này, côTấm sau nhiều lần bị giết hại bởi mẹ con Cám vẫn tái sinh dưới nhiều hình dạngkhác nhau
3.2.2 Sự biến đổi (alteration)
3.2.2.1 Sự biến đổi về đề tài
Đề tài là phạm vi hiện thực được tác giả chọn để phản ánh trong tác phẩm.Cốt truyện tương đối giống nhau, với những motip quen thuộc trong hai truyện cổdân gian “Hồn Trương Ba, da Hàng thịt”, “Hồn ông sư, xác công tử” với vở kịch
“Hồn Trương Ba, da Hàng thịt” của Lưu Quang Vũ Nếu như trong hai truyện cổxưa, tác giả muốn nói đến khát vọng ở hiền gặp lành, người tốt luôn được gặp quảngọt Thì đề tài trong vở kịch của Lưu Quang Vũ đã có những biến đổi
Từ đề tài ổn định trong văn học truyền thống, nhà văn đã đề cập đến sự xuốngcấp về đạo đức xã hội và phẩm giá của con người Đó là lối sống vụ lợi chạy theovật chất tầm thường của một bộ phận không nhỏ trong xã hội hôm nay Vòng xoáycủa nền kinh tế thị trường, của những cơ chế mới, sức hấp dẫn của tiền tài, địa vị,quyền lực đã cuốn con người ta vào cám dỗ vật chất làm nảy sinh nhiều vấn đề
Trang 21đáng quan ngại về mặt đạo đức Tình người bị xem nhẹ, đạo lí bị coi thường, phápluật bị