1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử thi đăm săn và văn hóa Trường Sơn Tây Nguyên

91 41 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử Thi Đăm Săn Và Văn Hóa Trường Sơn Tây Nguyên
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 542,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu “Sử thi Đăm Săn, từ đặc trưng văn hóa vùng Trường Sơn – Tây Nguyên” sẽ giúp ta hiểu sử thi Đăm Săn trong mối quan hệ với văn hóa vùng Trường Sơn – Tây Nguyên, từ đó có cách tiếp cận với các tác phẩm văn học dân gian một cách khoa học và trân trọng những giá trị văn hóa, văn học do nhân dân dày công xây dựng, vun đắp.

Trang 1

SỬ THI ĐĂM SĂN

VÀ VĂN HOÁ VÙNG TRƯỜNG SƠN – TÂY NGUYÊN

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 SƠ LƯỢC VỀ VÙNG VĂN HÓA TRƯỜNG SƠN – TÂY NGUYÊN VÀ SỬ THI ĐĂM SAN 1

1.1 Văn hóa và vùng văn hóa Trường Sơn – Tây Nguyên 1

1.1.1 Văn hóa và vùng văn hóa 1

1.1.2 Vùng văn hóa Trường Sơn – Tây Nguyên 2

1.1.2.1 Cơ sở hình thành vùng văn hóa Trường Sơn – Tây Nguyên 2

1.1.2.2 Đặc trưng văn hóa Trường Sơn – Tây Nguyên 4

1.2 Sử thi Đăm Săn 7

1.2.1 Nguồn gốc, xuất xứ 7

1.2.2 Nội dung 8

1.2.3 Giá trị của tác phẩm 8

1.2.3.1 Nội dung 8

1.2.3.2 Nghệ thuật 9

CHƯƠNG 2 SỬ THI ĐĂM SĂN TỪ ĐẶC TRƯNG VĂN HOÁ VÙNG TRƯỜNG SƠN – TÂY NGUYÊN 10

2.1 Sử thi Đăm Săn – bài ca về cuộc đời và sự nghiệp của người tù trưởng anh hùng 10

2.1.1 Đăm Săn - cuộc đời riêng gắn với phong tục hôn nhân và khát vọng của cộng đồng 10

2.1.1.1 Cuộc hôn nhân theo phong tục, khát vọng hạnh phúc, phồn vinh 10 2.1.1.2 Khát khao trở thành tù trưởng hùng mạnh và vươn tới cuộc sống phóng khoáng 15

2.1.2 Sự nghiệp lừng lẫy của Đăm Săn – bức tranh đời sống lịch sử, văn hóa của cộng đồng Tây Nguyên 18

2.1.2.1 Chiến công lừng lẫy của Đăm Săn trong lao động sản xuất 18

2.1.2.2 Chiến thắng các tù trưởng hùng mạnh 23

2.2 Sử thi Đăm Săn – sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của đồng bào Tây Nguyên gắn với văn hóa kể khan 26

2.2.1 Nghệ thuật ngôn từ độc đáo 26 2.2.2 Dung lượng đồ sộ, kết cấu trùng điệp, các hình thức tu từ đa dạng 29

Trang 3

2.2.2.1 Dung lượng đồ sộ 29

2.2.2.2 Kết cấu trùng điệp 30

2.2.2.3 Hình thức tu từ đa dạng 33

CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ CỦA SỬ THI ĐĂM SĂN TRONG VĂN HOÁ VÙNG TRƯỜNG SƠN – TÂY NGUYÊN 36

3.1 Phản ánh khát khao tình yêu, hôn nhân tự do của đồng bào Tây Nguyên 36

3.2 Biểu dương người anh hùng, mong ước xây dựng cộng đồng giàu mạnh 41

3.2.1 Về ngoại hình 41

3.2.2 Về phẩm chất 42

3.2.3 Tài thao lược 44

3.2.4 Khát vọng to lớn, kì vĩ 45

3.2.5 Mong ước xây dựng cộng đồng giàu mạnh 45

3.3 Khát khao chinh phục tự nhiên và cảnh báo nguy cơ xâm phạm, hủy hoại thiên nhiên 46

3.3.1 Khát khao chinh phục tự nhiên 46

3.3.2 Cảnh báo nguy cơ xâm phạm, hủy hoại thiên nhiên 49

KẾT LUẬN 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

Trang 4

MỞ ĐẦU

Tây Nguyên, nơi đại ngàn núi non hùng vĩ là nơi sinh sống tụ họp của hơn haimươi tộc người thiểu số như: Ê đê, Gia rai, Ba Na, Xơ Đăng…Trong văn hóa phong phúcủa đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, bên cạnh những giá trị lịch sử, văn hóa tinh thần

vô giá như cồng chiêng, rượu cần, đàn Tơrưng…, thì không thể không nhắc đến giá trịcủa sử thi

Sử thi là thể loại in dấu ấn riêng biệt của đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó cóđồng bào vùng Trường Sơn – Tây Nguyên Sử thi là tấm gương phản ánh một cách toàndiện đời sống văn hóa của đồng bào Tây Nguyên một thời kỳ đã qua, đồng thời nói lênkhát vọng của cộng đồng tộc người về một cuộc sống hạnh phúc, thịnh vượng; ngợi catình yêu, lòng cao thượng, trí dũng con người trước thử thách của thiên nhiên và trongđấu tranh với cái ác… Trong các tác phẩm sử thi Tây Nguyên không thể không nhắc đến

sử thi Đăm Săn Đây là bộ sử thi đồ sộ của đồng bào Ê đê Qua sử thi Đăm Săn, nhữngđặc trưng văn hóa vùng Trường Sơn – Tây Nguyên hiện lên sinh động, đa dạng mangđậm dấu ấn lịch sử Do đó để hiểu về sử thi Đăm Săn và những giá trị của bộ sử thi đặcsắc này phải đặt tác phẩm trong văn hóa vùng Trường Sơn – Tây Nguyên Đây là xuhướng nghiên cứu mang tính khoa học trong tìm hiểu các tác phẩm văn học dân gian,trong đó có sử thi Tìm hiểu văn hóa vùng giúp ta hiểu sử thi, đồng thời qua sử thi thấy

rõ giá trị phản ánh đặc trưng văn hóa vùng Không chỉ vậy, sử thi còn cho thấy những nỗlực của đồng bào Tây Nguyên trong quá trình xây dựng, phát triển văn hóa vùng gópphần tạo nên diện mạo văn hóa dân tộc Việt Nam đa dạng đa sắc

Nghiên cứu “Sử thi Đăm Săn, từ đặc trưng văn hóa vùng Trường Sơn – Tây Nguyên” sẽ giúp ta hiểu sử thi Đăm Săn trong mối quan hệ với văn hóa vùng Trường

Sơn

– Tây Nguyên, từ đó có cách tiếp cận với các tác phẩm văn học dân gian một cách khoahọc và trân trọng những giá trị văn hóa, văn học do nhân dân dày công xây dựng, vunđắp

CHƯƠNG 1 SƠ LƯỢC VỀ VÙNG VĂN HÓA TRƯỜNG SƠN – TÂY NGUYÊN

VÀ SỬ THI ĐĂM SAN

1.1 Văn hóa và vùng văn hóa Trường Sơn – Tây Nguyên

1.1.1 Văn hóa và vùng văn hóa

Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sángtạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con ngườivới môi trường tự nhiên và xã hội

Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên,dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có nhữngtương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnhhưởng văn hóa qua lại nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện

Trang 5

2trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt vớivùng văn hóa khác.

Trang 6

1.1.2 Vùng văn hóa Trường Sơn – Tây Nguyên

1.1.2.1 Cơ sở hình thành vùng văn hóa Trường Sơn – Tây Nguyên

Đặc điểm tự nhiên

Tây Nguyên với các sắc thái văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng, được biểuhiện qua kho tàng văn học truyền miệng, qua nghệ thuật cồng chiêng, qua các lễ hội củacác dân tộc Tây Nguyên Tây Nguyên là một vùng văn hoá hình thành và phát triển chủyếu trên cơ cở của nền “văn minh nương rẫy”, khác cơ bản so với “văn minh lúa nước”

ở vùng đồng bằng

Vị trí địa lí

Vùng Tây Nguyên Việt Nam bao gồm 5 tỉnh, xếp theo thứ tự vị trí địa lý từ Bắcxuống Nam gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng Tây Nguyên códiện tích tự nhiên 54,477 km2 (chiếm 16,8% diện tích cả nước) Toàn vùng hiện có 60đơn vị hành chính cấp huyện, trong đó có 3 thành phố, 6 thị xã và 51 huyện; có 75phường, 48 thị trấn và 592 xã, 7.186 thôn buôn (có 2.525 buôn, làng đồng bào dân tộcthiểu số)

Tây Nguyên là vùng cao nguyên, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đông giápcác tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, phíaNam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, phía Tây giáp với các tỉnh Attapeu (Lào),Ratankỉri và Mondulkiri (Campuchia) Trong khi Kon Tum có biên giới phía Tây giápvới cả Lào và Campuchia thì Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông chỉ có chung đường biêngiới với Campuchia Còn Lâm Đồng không có đường biên giới quốc tế Nếu xét diệntích Tây Nguyên bằng tổng diện tích của 5 tỉnh ở đây, thì vùng Tây Nguyên rộng khoảng54.7 nghìn km²

Thực chất, Tây Nguyên không phải là cao nguyên duy nhất mà là một loạt caonguyên liền kề Đó là các cao nguyên Kon Tum cao khoảng 500 mét, Kon Plông, Kon

Hà Nừng, Pleiku cao khoảng 800 m, M'Drăk cao khoảng 500 m, Buôn Ma Thuột caokhoảng 500m, Mơ Nông cao khoảng 800–1000m, Lâm Viên cao khoảng 1500m, BảoLộc và Di Linh cao khoảng 900–1000m Tất cả các cao nguyên này đều được bao bọc vềphía Đông bởi những dãy núi và khối núi cao chính là Trường Sơn Nam

Tây Nguyên lại có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình đồng thời là ba tiểu vùngkhí hậu, gồm Bắc Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Kon Tum và Gia Lai), Trung TâyNguyên (tương ứng với các tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông), Nam Tây Nguyên (tương ứngvới tỉnh Lâm Đồng) Trung Tây Nguyên có độ cao thấp hơn và nền nhiệt độ cao hơn haitiểu vùng phía Bắc và Nam

Với đặc điểm thổ nhưỡng đất đỏ Bazan ở độ cao khoảng 500 m đến 600 m so vớimặt biển, Tây Nguyên rất phù hợp với những cây công nghiệp như Cà phê, Ca cao, Hồtiêu, Dâu tằm Cây điều và cây Cao su cũng đang được phát triển tại đây Cà phê là câycông nghiệp quan trọng số một ở Tây Nguyên Tây Nguyên cũng là vùng trồng cao su

Trang 7

lớn thứ hai sau Đông Nam Bộ và đang tiến hành khai thác mỏ quặng Bô xít Tây Nguyêncũng

Trang 8

là khu vực ở Việt Nam còn nhiều diện tích rừng với thảm sinh vật đa dạng, trữ lượngkhoáng sản phong phú hầu như chưa khai thác và tiềm năng du lịch lớn, nơi đây có thểcoi là mái nhà của Miền Trung, có chức năng phòng hộ rất lớn Tuy nhiên, nạn phá rừng,hủy diệt tài nguyên thiên nhiên và khai thác lâm sản bừa bãi chưa ngăn chặn được tạiđây dẫn đến nguy cơ làm cạn kiệt rừng và thay đổi môi trường, sinh thái.

Khí hậu

Nằm trong vùng Nhiệt đới Xavan, khí hậu ở Tây Nguyên được chia làm hai mùa:mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, trong đótháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng và khô nhất Do ảnh hưởng của độ cao nên trongkhi ở các cao nguyên cao 400–500 m khí hậu tương đối mát và mưa nhiều, riêng caonguyên cao trên 1000m thì khí hậu lại mát mẻ quanh năm, đặc điểm của khí hậu núi cao

"Thượng" có nghĩa là ở trên, "người Thượng" là người ở miền cao hay miền núi, mộtcách gọi đặc trưng để chỉ những sắc dân sinh sống trên cao nguyên miền Trung Danh từnày mới phổ biến từ đó thay cho từ ngữ miệt thị cũ là "mọi"

Tính đến năm 1976, dân số Tây Nguyên là 1.225.000 người, gồm 18 dân tộc,trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là 853.820 người (chiếm 69,7% dân số) Năm 1993,dân số Tây Nguyên là 2.376.854 người, gồm 35 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộcthiểu số là

1.050.569 người (chiếm 44,2% dân số) Năm 2004, dân số Tây Nguyên là 4.668.142người, gồm 46 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là 1.181.337 người (chiếm25,3% dân số) Riêng tỉnh Đắk Lắk, từ 350.000 người (1995) tăng lên 1.776.331 người(1999), trong 4 năm tăng 485% Kết quả này, một phần do gia tăng dân số tự nhiên vàphần lớn do gia tăng cơ học: di dân đến Tây nguyên theo 2 luồng di dân kế hoạch và didân tự do Người dân tộc đang trở thành thiểu số trên chính quê hương của họ Sự giatăng gấp 4 lần dân số và nạn nghèo đói, kém phát triển và hủy diệt tài nguyên thiênnhiên (gần đây, mỗi năm vẫn có tới gần một nghìn héc-ta rừng tiếp tục bị phá và đang lànhững vấn nạn tại Tây Nguyên và thường xuyên dẫn đến xung đột Theo kết quả điều tradân số 01 tháng 4 năm 2009 dân số Tây Nguyên (gồm 05 tỉnh) là 5.107.437 người, nhưthế so với năm 1976 đã tăng 3,17 lần, chủ yếu là tăng cơ học Đến năm 2021, tổng dân

số của 5 tỉnh Tây Nguyên là 6.002.995 người

Trang 9

Đặc điểm xã hội

Trang 10

Cơ cấu xã hội: Cơ cấu công xã láng giềng kiểu buôn, bon, play (làng) Gồm nhiềugia tộc phụ hệ hay mẫu hệ, tàn dư gia đình lớn, còn rõ nét ở nhiều tộc người Điều hành

xã hội theo luật tục

1.1.2.2 Đặc trưng văn hóa Trường Sơn – Tây Nguyên

Đứng ngoài ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ và văn hóa Trung Quốc Nằm giữavùng tranh chấp ảnh hưởng của quốc gia Chămpa và các vương triều Campuchia Vănhóa bao gồm: Văn hóa vật chất, Văn hóa tinh thần

Văn hóa vật chất

Giá trị văn hóa hữu hình ở Tây Nguyên đến nay vẫn giữ nguyên giá trị của nó Đó

là nhà ở nhà sàn, Nhà Rông Tây Nguyên là di sản văn hóa gắn liền với lịch sử cư trú lâuđời của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên Nhà Rông là ngôi nhà nằm ở khu vực trungtâm của một làng, đây là ngôi nhà chung và là ngôi nhà lớn nhất Dùng làm không giansinh hoạt, gắn kết các thành viên trong cộng đồng Những ngôi nhà rông, nhà sàn củangười Bana, Gialai, Êđê, Mnông hướng về phía bắc nam để lấy ánh sáng mặt trời tớisườn Đông Tây như hoa hướng dương Đó là cầu thang nhà rông, nhà sàn mang dángbầu vú mẹ tiêu biểu cho mẫu hệ Tây Nguyên, là những thiết chế nhà dài (kopan) đượcđẽo nguyên từ thân cây lớn, là ché rượu cần bên bếp lửa hồng, là những công cụ sản xuấtthô sơ bằng đá, bằng đồng, là những vòng bạc, vòng đồng đeo ở cổ tay, chân trongnhững gảy hỏi chồng (Trôk kô - ông), lễ thỏa thuận (Bí Kuộd) và lễ cuoi (Kbih Ungmo)

Ẩm thực: Từ những món ăn nhẹ nhàng của Đà Lạt như: Bánh căn, bánh xèo, canhatiso hầm giò heo; thịt nướng đến những món ăn dân dã của đồng bào dân tộc như:Gỏi trứng kiến, heo trớp lá mắc mật, cá lăng om lá khổ qua, canh trứng kiến là giang(Đắk Lắk, Gia Lai) Ngày thường, đồng bảo Tây Nguyên ăn cơm gạo tẻ với thức ăn nấu

từ các loại rau rừng, mộc nhĩ, các loại củ, măng le… Thỉnh thoảng mới kiểm được con

cá dưới sông, con thú từ trong rừng để cải thiện thêm bữa ăn Còn các loại gia súc, giacầm nhà nào cũng có, họ nuôi bằng cách thả mang vào ta nhờ ông bỏ muối và cha làmthịt đã dùng vào việc cúng tế thần linh hay để thiết đãi khách quý đến thăm làng Vàocác ngày lễ Tết, cơm nếp được thay cơm gạo tẻ và được nấu theo cách thức của tổ tiên:Cơm Lam Họ vào rừng chặt những ống lồ ô còn non, giữ lại mẫu ở một đầu ống rồi chogạo nếp và nước vào, xong nút lại đem đốt bằng lửa và than cho thật khéo Những ốngcơm lam, ngoài vỏ tuy đen đúa, lem nhem nhưng khi chế bỏ lớp vỏ ấy đi thì lộ ra lớpcơm nếp thơm ngon, hấp dẫn lạ thường Hương vị nếp quyện với hương thơm của trẻtươi qua lửa làm cho cơm lam có một hương vị đặc biệt, hơn hẳn cơm nếp nấu trongchõ, trong nổi

Trang phục: Hoa văn trang phục Tây Nguyên gắn bó với dáng vóc, thân thể củacon người Tây Nguyên, với cuộc sống hàng ngày, với thiên nhiên của núi rừng TâyNguyên, mang lại giá trị thẩm mỹ tuy giản dị nhưng lại đậm đà tinh tế Hoa văn TâyNguyên chủ yếu là hoa văn hình họa Tuy vậy, trang phục, cách ăn mặc của các dân tộccũng có những nét khác nhau ở mỗi tộc người Trang phục của người Xơ Đăng chủ đạo

Trang 11

là màu đen chàm, trang trí bằng các hoa văn màu trắng, đỏ Trang phục của đồng bảo

Ba Na là màu chảm

Trang 12

xanh, trang trí nhiều văn hoa đẹp Trang phục của người Giẻ Triêng là màu đen, xanhtrang trí bằng các chỉ màu vàng, trắng, đỏ Trang phục của đồng bao Gia Rai chủ đạo làmàu trắng hoặc màu chàm Trang phục của người Rơ Măm, hầu như không nhuộmmàu…

Giá trị vật thể trong văn hóa nghệ thuật Tây Nguyên bao gồm nhạc khí, kiến trúc,hội họa trên các trang phục Nhạc khi các dân tộc Tây Nguyên không thể không nói đếnnhạc cụ dây(cordiophon)gồm các loại kèn ví như đàn Kony, loại bùng như đàn Goong,loại gầy như đàn Brô hay nhạc cụ hơi(Airophone) có loại hơi lùa như Đinh Duk,Klongut loại lưỡi gà rung tự do như Alat To Điệp Đinh khau, loại hơi lỗ vòm nhưĐinhtuk hoặc nhạc cụ tự thân vang Idiophone như đàn trung, chiêng Kial, Khinh Khung,Klong Khai cũng như nhạc cụ mảng rung(Membranophone) gồm trống Sagor(trống nhỏđeo trước ngực)và trống Pơ Nông(trống lớn treo lên hoặc khênh đi để đánh

Văn hóa tinh thần

Giá trị văn hóa tinh thần của Tây Nguyên hội tụ đậm nét ở lễ hội Lễ hội là mộthình thái sinh hoạt tinh thần mang đậm đã bản sắc dân tộc Tây Nguyên, thưởng được tổchức sau những ngày lao động mệt nhọc Giá trị văn hóa tinh thần trong lễ hội của ngườiTây Nguyên được thể hiện trong các lễ hội nông nghiệp, lễ hội phong tục, lễ hội tôngiáo, lễ hội lịch sử như hội mùa, lễ tỉa hạt, lễ cùng màng nước, cũng nổi, lễ đâm trâu, lễhội Do thi, Lễ hội Cổng chiêng Lễ hội của đồng bào Tây Nguyên là bài ca về lòng yêunước nồng nàn của các dân tộc

Tây Nguyên có truyền thống coi trọng quá khứ, uống nước phải nhớ lấy nguồn, ănquả nhớ người trồng cây, là bài ca về tình yêu thương cộng đồng qua biểu tượng "Đầutrâu máng nước", là tinh thần bao dung hòa đồng trong quan niệm hoang "sơ thiên, địa,nhân", là tinh thần thượng võ trong đấu tranh với thiên nhiên, với kẻ thù qua các lễ đâmtrâu, lễ hội Công Chiêng, múa khiên, múa trống, là sự thủy chung trọn vẹn trong tìnhyêu qua "bố củi hứa hôn" và "chiếc vòng cầu hôn"

Giá trị văn hóa tinh thần ở Tây Nguyên còn được thể hiện ở những kinh nghiệmthuần dưỡng voi, ở những bài thuốc gia truyền chữa bệnh, ở kỹ thuật đúc đồng để chếtạo ra đàn đá và nhạc khi Công Chiêng, là các nghệ nhân điêu khắc qua các tượng nhà

mổ của các dân tộc Gia Rai, Bana, Ê đê, Mnông, là kỹ thuật trang trí dệt nên những hoavăn của các trang phục các dân tộc, là tinh thần anh dũng, mưu trí tuyệt vời qua truyềnthuyết Đam San, Xing Nhã, Địa Đơn, cũng như các anh hùng thời nay như anh hùngNúp, anh hùng Nơ Trang Long Được hội tụ lại trong làng Kông Hoa, Bản Đôn, trongchiến thắng An Khê Play Me Buôn Mê Thuật, Sa Thầy, Đắk Tô, Đắk Nông, Đắk Min.Giá trị tinh thần còn đọng lại 200 tục lệ của người Êđê, 100 tục lệ của người Mnông vàhàng nghìn tục lệ của người Gia Rai, Bana Giẻ Triêng, Rơ Ngao, Xe Đăng qua các ứng

xử trong cộng đồng, qua việc ăn, ở, mặc, giải trị, trong việc cưới, tang, lễ nghi tínngưỡng và tôn giáo

Trang 13

Giá trị tinh thần trong văn hóa nghệ thuật Tây Nguyên bao gồm nhạc khí, kiếntrúc Kiến trúc Tây Nguyên trước hết phải nói đến kiến trúc nhà mồ Tuy nó là kiến trúcdân gian thuộc loại không lớn nhưng có thể nó không có một dạng kiến trúc nào củaTây

Trang 14

Nguyên lại có thể so sánh với nó về giá trị nghệ thuật kiến trúc và giá trị nghệ thuật tạohình Nhà mồ là sản phẩm kết tinh của nhiều loại hình nghệ thuật, là tác phẩm nghệthuật tổng hợp, nó là kiến trúc, là điêu khắc, là hội họa, là trang trí.

Tiếng cồng chiêng trầm hùng, sâu lắng suốt ngày đêm của lễ hội có tác dụng nhưđẩy lùi cả bầu trời ra xa, đem xuống cả bức tranh nhà mồ càng uy nghĩ, hoành tráng hơnbởi hàng trăm đống lửa rực sáng bùng lên giữa cõi âm u tĩnh mịch của núi rừng tạo nênnhư một thiên cung huyền ảo

Theo quan niệm của người Tây Nguyên chết không phải là hết mà là sự tiếp tụccủa cuộc sống ở dạng khác để rồi sẽ trở lại làm người cho lên nhà mồ Tây Nguyên với lễhội bò mà hợp thành biểu tượng, hợp thành bài ca đề cao sự sống bất diệt của con ngườichứ không phải đến đài, miếu mạo để thờ tự người chết hay lăng tẩm đề vĩnh viễn hóacái chết của một người, vật nào đó như các dân tộc khác

Giá trị văn hóa nghệ thuật Tây Nguyên thể hiện trong nghệ thuật trang trí hoa văn

cổ truyền Tây Nguyên không phải ra đời trong phút chốc dưới ngòi bút của cá nhân họa

sĩ nào đó mà dần dần được hiện hình qua cuộc sống lâu dài của từng tộc người Nhìn hoavăn các dân tộc Tây Nguyên người xem rung động trước hình khối, màu sắc không chỉhiện hình trên mặt vải mà còn có hoa văn trên đổ đan lát (gửi, bộ), hoa văn vẽ, khắc,thậm chí đục thủng trên các bộ phận kiến trúc và hiện vật nghi lễ (ở nhà chung của làngtrên cột đâm trâu, cột lễ nhà mồ) Trường Sơn – Tây Nguyên là vùng có điều kiện tựnhiên không thật sự thuận lợi, nơi đây là địa bàn cư trú của nhiều tộc người thuộc nhiều

hệ ngôn ngữ khác nhau, nằm trong vùng tranh chấp ảnh hưởng của Chămpa và cácvương triều Campuchia, ảnh hưởng văn hóa Lào, nằm ngoài sự ảnh hưởng của 2 nền vănhóa lớn Trung Quốc và Ấn Độ, còn bảo lưu khá nguyên vẹn văn hóa truyền thống, ítnhiều cho ta thấy được văn hóa bản địa Đông Nam Á cổ đại trước khi tiếp xúc với 2 nềnvăn minh lớn Tất cả những yếu tố trên đã góp phần hình thành nên 1 vùng văn hóaTrường Sơn – Tây Nguyên độc đáo và đặc sắc

Hình 1 Văn hóa cồng chiêng

Trang 15

Hình 2 Lễ hội đâm trâu

Nội dung của sử thi có tính rộng lớn, kể về sự kiện trọng đại của quá khứ, biểuhiện toàn bộ đời sống văn hóa, lịch sử của cộng đồng, thể hiện quá trình vận động của

Trang 16

tộc người đó qua các giai đoạn khác nhau Nghệ thuật: sử thi là những câu chuyện kểvăn xuôi xen

Trang 17

lẫn văn vần, có sử dụng các yếu thành ngữ, tục ngữ, những từ ngữ cổ, hình thức nghệthuật ngôn từ dân gian.

Nguồn gốc, xuất xứ của sử thi Đăm Săn Là sử thi anh hùng nổi tiếng của dân tộc

Ê đê được lưu truyền rộng rãi ở Tây Nguyên Người Ê đê gọi tên sáng tác này là "khan".Những người Ê đê có năng khiếu, các nghề nhân dân gian, các già làng thường kể khanĐăm San cho dân làng nghe bên bếp lửa nhà rộng, trong những đêm trăng mà sao nhạt,văng vắng tiếng suối chảy róc rách Khan Đăm Săn kể về chàng Đăm Săn; người tùtrưởng anh hùng có sức mạnh phi thường, có vẻ đẹp tuyệt mĩ và nhiều phẩm chất caoquý, đã lập nhiều chiến công lẫy lừng

1.2.2 Nội dung

Bài ca Đăm Săn (bản do Đào Tử Chí dịch) gồm có 7 khúc ca (còn gọi là chương)

có cấu trúc chặt chẽ, xâu chuỗi một loạt tình tiết, mà mỗi tình tiết có thể được xem nhưmột tích kể tương đối độc lập, xoay quanh số phận nhân vật anh hùng là Đăm Săn

Theo tục nối dây trong chế độ mẫu hệ, Đăm Săn phải lấy hai chị em Hơ Nhị và HơBhị làm vợ Đăm Săn cưỡng lại Trời “đã chống gậy hèo đến thu xếp việc cưới hỏi” Đăm Săn phải khuất phục trước sức mạnh của tập tục Nhưng khi về đến nhà vợ, chàngvẫn tiếp tục chống lại cuộc hôn nhân đó Chàng trễ nải công việc nhà vợ, không chăm sóc vợ và bỏ về nhà chị ruột Hành động tiêu biểu nhất là Đăm Săn chặt cây smuk, mộtthứ cây thần, cây “linh hồn”, cây “tổ tiên”, cây “sinh ra Hơ Nhị và Hơ Bhị“ Do những hành động trên của Đăm Săn, Hơ Nhị và Hơ Bhị đã 2 lần chết Song khi vợ chết, chàngkhóc thương “người vợ mà thần linh ban cho chàng”, để chàng “có người nấu cơm, sắmthức ăn, dệt khố áo” Chàng đã xin thần linh ban phép cho vợ chàng sống lại

Là một tù trưởng anh hùng, Đăm Săn đã lập nên những kì tích trong lao động nhưthuần phục voi dữ, làm rẫy, bắt cá,… Kì tích lẫy lừng hơn cả của Đăm Săn là chiến thắng hai tù trưởng thù địch là Mtao Grư và Mtao Mxây (hai tù trưởng đã cướp vợ ĐămSăn) Đăm Săn chiến thắng, tôi tớ và dân làng của tù trưởng thù địch tự nguyện mang của cải đi theo Cứ mỗi lần như vậy, Đăm Săn lại thêm giàu mạnh, uy tín càng cao.Với khát vọng trở thành tù trưởng hùng mạnh, vươn tới cuộc sống phóng khoáng, Đăm Săn đi cầu hôn Nữ thần Mặt Trời nhưng thất bại và bị chết trong rừng sáp đen Saukhi chết, chàng biến thành con ruồi và bay vào miệng chị gái mình Chị gái Đăm Săn sinh ra Đăm Săn cháu, người cháu này tiếp tục đi trên con đường của cậu mình

1.2.3 Giá trị của tác phẩm

1.2.3.1 Nội dung

Bài ca cuộc sống tràn đầy khát vọng hào hùng

Bài ca Đăm Săn có giá trị tư tưởng - thẩm mĩ trong hình thức cổ điển, phản ánhtrực tiếp những khát vọng hào hùng của lịch sử buổi đầu hình thành các bộ tộc TâyNguyên Bởi lẽ từ cảm hứng cội nguồn đến đề tài và tư tưởng tình cảm thẩm mĩ cũngnhư toàn bộ cái hiện thực thẩm mĩ được phản ánh của nó đều nằm trong hệ thống sử thi

Trang 18

anh hùng Tây Nguyên Ở đó hiện ra trọn vẹn chân dung tâm hồn của người Êđê thời cổđại, khi học đã

Trang 19

bắt đầu nảy ra những ý tưởng muốn vươn tới những đỉnh cao nhận thức mới về cái thếgiới mà họ đang khát khao khám phá Đương nhiên, chiều sâu và đỉnh cao của ý tưởng

ấy trong Bài ca Đăm Săn mới chỉ được giới hạn trong khuôn khổ của thời đại sử thi anhhùng Khi phân tích hàng loạt sự kiện, biến cố xoay quanh các hoạt động mở đườngchinh phục thiên nhiên và các cuộc chiến tranh giành lại vợ (thực chất là bảo vệ thị tộc),giữ đất đai và mở rộng lãnh thổ của người anh hùng Đăm Săn đã được tái hiện một cáchthẩm mỹ, người nghe sẽ thấy cái nội dung chỉ đạo này Đỉnh cao của nó chính là sự kiệnĐăm Săn đi bắt Nữ thần Mặt Trời, một sự kiện bi tráng, tính cao cả và hào hùng cũngđược biểu hiện ở mức độ tuyệt đối Tuy nhiên, nét đặc sắc riêng của Bài ca Đăm Săn còn

là ở sự phản ánh sinh động vấn đề phong tục, tập quán, cảnh vật, con người Tây Nguyêntrong sinh hoạt đời thường của thời kì mẫu hệ Có điều, vấn đề này chỉ có ý nghĩa như làmột cái nền

Hình tượng người anh hùng Đăm Săn

Đăm Săn vừa là anh hùng văn hoá, vừa là anh hùng trận mạc Đăm Săn phithường quả cảm và chiến thắng ở cõi người với những lí do hiển nhiên Đăm Săn tài giỏi

và nhạy cảm trước số phận cả bộ tộc trong lao động rừng núi Đăm Săn vừa chấp nhậncuộc hôn nhân và bảo vệ Hơ Nhí, Hơ Bhí như là hành động củng cố cộng đồng, vừakhông bằng lòng với thực tại cuộc sống như là ý thức mãnh liệt đòi giải phóng Nếu chorằng Đăm Săn liên tục chống lại phong tục nổi dậy hoặc hoàn toàn phục tùng đều cóphần không thoả đáng Trên thực tế, hành động phi thường và ý muốn lớn của Đăm Săn

có thể giãn nở tự nhiên nhưng tất cả đều thống nhất theo một mục đích vì lợi ích của bộtộc chúng ta Đăm Săn là sự kết tinh toàn vẹn tính cách anh hùng sử thi Êđê

Hình tượng người phụ nữ

Bài ca Đăm Săn có sáu nhân vật phụ nữ thì có hai cặp đôi Hơ Nhí, Hơ Bhí và Hơ

Li, Hơ Âng Họ hiện ra trong vẻ đẹp nữ tính toàn vẹn, và đều là những người tha thiếtvới nghĩa vụ cao cả bảo vệ phong tục cộng đồng Trong quan hệ với người anh hùngĐăm Săn, họ giữ chức năng vừa kìm hãm vừa thúc đẩy trong một trật tự không dời đổi.Hai người còn lại là Hơ Bia và Nữ thần Mặt Trời, mỗi người một vẻ và đều là hiện thânkhát vọng tình yêu và lí tưởng cuồng nhiệt của Đăm Săn Từ những nhân vật này toả racái chất thơ của một đời thường không phải chỉ có chiến tranh và chém giết

1.2.3.2 Nghệ thuật

Bài ca Đăm Săn có kết cấu đầu cuối tương ứng nhưng thật ra không phải là chặtchẽ Bởi vì dường như mỗi chiến công của người anh hùng đều được kể lại như một tíchtruyện tương đối tự do Trên thực tế, sự mở rộng cấu trúc tác phẩm theo chiều hướng giatăng phẩm chất anh hùng trận mạc của Đăm Săn là hoàn toàn phù hợp kết cấu sử thi anhhùng

Vấn đề xây dựng tính cách Đăm Săn và ý nghĩa nghệ thuật toả ra từ các nhân vậtphụ nữ khiến cho tác phẩm vừa có nét loại hình chung của sử thi thế giới, vừa chứa đựngbản sắc riêng của sử thi Việt Nam

Trang 20

Tương tự như thế, nếu thủ pháp sử dụng ngôn ngữ trùng điệp đầy ấn tượng trongBài ca Đăm Săn là nét loại hình chung thì hệ thống từ ngữ giàu hình ảnh nhuần thấmmàu sắc Tây Nguyên cũng là một giá trị đặc thù.

Ba phần tư thế kỉ trôi qua từ khi Bài ca Đăm Săn được sưu tập lần đầu tiên, tácphẩm đã có giá trị như một phát hiện nghệ thuật kì thú Người ta đã hết sức ngạc nhiêntrước vẻ đẹp của nó và coi tác phẩm này là một sử thi sánh ngang với sử thi Iliat trong disản văn hoá nhân loại

CHƯƠNG 2 SỬ THI ĐĂM SĂN TỪ ĐẶC TRƯNG VĂN HOÁ VÙNG

TRƯỜNG SƠN – TÂY NGUYÊN

2.1 Sử thi Đăm Săn – bài ca về cuộc đời và sự nghiệp của người tù

trưởng anh hùng 2.1.1 Đăm Săn - cuộc đời riêng gắn với phong tục hôn nhân và khát vọng của cộng đồng

2.1.1.1 Cuộc hôn nhân theo phong tục, khát vọng hạnh phúc, phồn vinh

Tục nối dây của người Ê đê Tục Juê nuê là một kiểu tập quán hôn nhân truyềnthống và được cộng đồng dân tộc Ê đê thực hiện một cách tự nguyện Luật tục này được

duy trì bền vững qua thời gian, được quy định rõ: “rầm sàn gẫy thì phải thay, giát sàn nát thì phải thế, chết người này phải nối bằng người khác.

Cộng đồng dân tộc Ê đê trước đây sống biệt lập ở những vùng núi cao, cuộc sốngphụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên và luôn phải đối phó với thiên tai, dịch bệnh, nêntục này cho phép duy trì nòi giống, sức lao động để bảo vệ buôn làng, đảm bảo cuộc

sống cộng đồng Đồng bào Ê đê sợ rằng: “gia đình sẽ tan tác ngoài nương rẫy, dòng họ

sẽ kiệt quệ, giống nòi sẽ khô kiệt như những dòng suối cạn nước, kẻo tuyệt nòi không còn con cháu nữa Người Ê đê theo chế độ Mẫu hệ, người phụ nữ có quyền lực và quyết

định nhiều vấn đề quan trọng Vì thế, trong trường hợp chồng chết, người phụ nữ cóquyền đòi hỏi nhà chồng phải thế một người em trai chồng để làm chồng mình Ngượclại, nếu người vợ chết, thì chồng người phụ nữ ấy buộc phải lấy em gái vợ (em ruột hoặc

em họ của vợ) để nối giống nòi Những người này được gọi là “nuê”

Tục Juê nuê không những tìm mẹ (hoặc cha) làm chỗ dựa tinh thần cho những

đứa trẻ mất cha, mẹ, tìm bạn đời cho người còn lại, mà người này có nhiệm vụ thayngười xấu số chăm sóc con cái, quản lý tài sản, đất đai và duy trì gia đình như nó vốn có.Đồng thời, tiếp tục giữ mối quan hệ thân tình, bền vững mà hai gia đình đã tạo dựng

Có lẽ bởi vậy, tục juê nuê được xem như là một luật tục bình thường, hiển nhiên

được cộng đồng thực hiện một cách tự nguyện Trong trường hợp người “nuê” quáchênh lệch về tuổi tác, chỉ là vợ chồng trên danh nghĩa cũng đã được luật tục điều chỉnh

và quy định rõ ràng: “Nếu người goá đã đứng tuổi mà người thay thế còn nhỏ, chưa đápứng được nhu cầu làm vợ (chồng), thì người goá phải có trách nhiệm nuôi nấng, dạy bảo

“nuê” như một đứa trẻ bình thường khác” Luật cũng quy định người góa phải: “Biết

Trang 21

che chở, chờ đợi nuê, đến một lúc nào đó nuê sẽ làm được nhiệm vụ nối tiếp giống nòi”.Tục cũng có

Trang 22

những quy định về trường hợp vợ nuê, chồng nuê quá nhỏ, hoặc người còn lại đã quá giàyếu thì phải tìm một người tương xứng với nuê để thay thế mình làm chồng (hoặc vợ)nuê Nếu ai vi phạm những điều đã quy định trên thì coi như đã vi phạm luật tục.

Trong Sử thi Đăm Săn, tục nối dây được thể hiện rất rõ nét Khi bà của H’Nhị chết

thì H’Nhị phải là người “nối dây” lấy ông của mình làm chồng “Tôi thì tôi còn biết ưng

ai, thương ai khác nữa? Chồng tôi, bà chúng ta đã tìm giùm, ông chúng ta đã kiếm giúp Khi bà H’Bia Klu chúng ta qua đời, tôi là người được họ hàng đem chắp nối với ông Mtao Kla của chúng ta, làm nuê dành sẵn cho ông Khi giết trâu làm lễ cầu phúc, ông

bế tôi trên đùi, còn Dam San thì cõng trên lưng, ông bảo tôi rằng “Nay ông đã đầu bạc mắt mờ, như điếu thuốc đã tàn, không mong gì rồi đây ông còn lấy cháu ông được nữa Khi nương đã cằn, rẫy đã cỗi, cây đã đổ, gỗ đã mục, ông đã già mà hai cháu đã lớn khôn, thì hai cháu phải lấy nhau Nếu Dam San lấy vợ làng đông, xóm tây, Dam San sẽ trở thành đứa giữ ngựa, tháo ching, xiềng voi cho H’Nhĭ Chỉ lấy H’Nhĭ Dam San mới trở thành một tù trưởng giàu có, ching lắm, char nhiều Còn với tôi thì ông đã dặn “Nếu tôi lấy chồng làng đông xóm tây, tôi sẽ trở thành con nô lệ nuôi lợn, nhốt gà cho Dam San Chỉ lấy Dam San tôi mới trở nên một tù trưởng giàu có ching lắm, char nhiều Vì

bà tôi đã dạy phải, ông tôi đã bảo đúng, các anh hãy đi hỏi Dam San xem phải chăng chàng còn thuận lấy tôi hay đã bỏ?

Hoặc sau khi Đăm Săn chết và đầu thai vào người chị H’ Âng sinh ra Đăm Săn

cháu thì H’ Nhị và H’ Bhị phải tiếp tục “nối dây” với Đăm Săn cháu Đoạn kết của thiên

sử thi với hiện tượng “Đăm Săn cháu” giống hệt “Đăm Săn cậu” và với cảnh anh em họhàng H’Nhị đến nhà “Đăm Săn cháu” hỏi chồng cho H’Nhị, lặp lại gần giống như cảnh

mở đầu của thiên sử thi

Tín ngưỡng của người Ê đê vô cùng phong phú Điều đó được nghệ nhân dân gianthể hiện trong Sử thi Đăm Săn

Trong sử thi Đăm Săn, con người tín Thần sống thuận theo ý Trời Xuyên suốt bộ

sử thi, chúng ta có thể nhận thấy tất cả những tù trưởng của người dân tộc Tây Nguyênđều là những người đàn ông, thậm chí họ còn được phép cưới nhiều vợ H’Nhị và H’Bhị

là con gái của một tù trưởng hùng mạnh, cho nên hai cô được sống trong cảnh giàu sang

Về hôn nhân, các cô cũng như chàng trai Đăm San, đều ở thế bị động Cuộc hôn nhâncủa họ được sắp đặt từ thế hệ trước và người chủ hôn chính là Ông Trời

Trong các sử thi trải rộng trên khắp thế giới, con người và thần linh đều có thểgiao tiếp với nhau Các cuộc giao tiếp cũng rất sống động, và sử thi Đăm San của chúng

ta cũng tồn tại hiện tượng đó Hồn Đăm Săn có thể bay lên nói chuyện với Ông Trời:

“Đăm San trèo lên cây đa khoèo hoa Đăm San khoèo cành dưới, hoa vọt lên cành trên Chàng khoèo cành trên, hoa vọt lên ngọn cây Chàng mệt nhoài ngồi ngủ gật ngay trên cành cây Hồn chàng tức thì bay lên gặp ông Trời.

Ông Trời: “Ơ cháu, có việc gì mà nửa đêm gà gáy, khi mọi người đang ngủ, cháu phải lên đây vậy?”

Trang 23

Đăm Săn: “Vâng, cháu đã lên đến đây, ông ạ Cháu đi bắt voi Voi đưa cháu đến một gốc đa, gốc sung và dừng lại đó Cháu thúc nó đi về phía tây, nó không đi Cháu thúc nó đi về phía đông, nó cũng không đi Ngước nhìn lên cháu thấy một chùm hoa đa hai đóa, một chùm hoa sung ba đóa Cháu liền lên khoèo Khoèo cành dưới hoa vọt lên cành trên Khoèo cành trên hoa lại vọt lên ngọn cây Cháu khoèo mãi không được, nên lên tìm ông đây, ông ạ.”

Ông Trời: “Ô hay, làm sao cháu khoèo được? Hoa đâu phải của cháu Hoa của

Hơ Nhị và Hơ Bhị chứ! Cháu chịu lấy họ ông mới cho.”

Đăm San: “Có chết cháu cũng không lấy Hơ Nhị và Hơ Bhị.”

Ông Trời: “Sao cháu không lấy Hơ Nhị và Hơ Bhị? Thế mà cháu lại muốn chân không phải xuống đất mà nô lệ vẫn có, chân không phải chạy mà voi vẫn có ư?”

Vì Đăm Săn vẫn không chịu, Ông Trời đã lấy ống điếu cốc cho Đăm Săn một cốcvào đầu, chết giấc ngay tức khắc Ông Trời làm phép cho Đăm Săn sống lại Đăm Săntỉnh dậy vẫn không chịu lấy Ông Trời lại cốc đi cốc lại vào đầu Đăm Săn làm chàngchết đi sống lại bảy lần Hết lần thứ bảy, lúc này Đăm Săn mới chịu.”

Đến đây Đăm Săn bừng tỉnh, thấy mình vẫn ngồi vắt vẻo trên cành cây Và chàngthực sự đã hái được bông hoa mình muốn; đồng thời chàng đã thuận ý Ông Trời cưới haichị em Hơ Nhị và Hơ Bhị

Một chi tiết khác, chiếc áo đẹp nhất mà Đăm Săn mặc cũng là áo Ông Trời thảxuống cho Chàng chỉ mặc nó vào những dịp đặc biệt trang trọng nhất Chiếc váy chị emH’Nhị và H’Bhị mặc cũng là váy Ông Trời ban cho

Khi Đăm Săn chuẩn bị đi giải cứu H’ Nhị khỏi tay tên tù trưởng hách dịch ác bá

Mtao Mxây, chàng ra lệnh “giết con trâu mà thần đã cho từ trước từ xưa, để làm lễ tế thần”; “các ban hãy nổi lên tiếng trống thần Dam Bhu có chũm chọe và xích sắt kêu rền vang Chiếc trống mà từ trên cao Ông Trời đã ban cho, từ trên cao Ông Trời đã ầm ầm thả xuống Chiếc trống mà vừa vọng đến vùng Bih, người Bih phải lùa trâu lên Vọng đến vùng Lào, người Lào phải đánh voi xuống Vọng đến người blô, người ÊPan, người Blô, người ÊPan cũng khiêng lợn, khiêng rượu lên.”

Những thứ tốt đẹp nhất chàng trai Đăm Săn có đều là Ông Trời ban cho, vẻ đẹphình thể, sức mạnh và sự giàu có của chàng và cả cuộc hôn nhân với hai người vợ xinhđẹp, nhân hậu, giàu có nhất Ê-đê cũng là Ông Trời đã định

Sinh ý niệm xấu với thần bị chết trong vũng lầy Về sau này, khi Đăm Săn đã tiêu

diệt được hết những gã tù trưởng chuyên đi cướp vợ và “chuyên đi giày xéo đất đai của các tù trưởng nhà giàu” phá hoại đời sống của người dân và trở thành vị tù trưởng giàu

có nhất, quyền lực nhất; lúc này chàng lại phạm phải một tội tày đình Đăm Săn nghĩchàng đã là người tù trưởng hùng mạnh nhất; xứng đáng làm vợ chàng lúc này phải là nữThần Mặt Trời nổi tiếng xinh đẹp, diễm lệ Bởi vậy, Đăm Săn bất chấp mọi lời khuyên

Trang 24

can, chàng băng qua những cánh rừng nguy hiển nhất, giết chết những con thú hunghăng nhất, tiến về phía cung điện Mặt Trời.

Tất nhiên, với con người, chàng là kẻ mạnh; nhưng hành vi hỏi cưới con gái củathần Trời là tội ngạo mạn không thể dung thứ Kết cục chẳng những không lấy được nữthần, Đăm Săn đã chết trong vũng bùn lầy trong khi quay trở lại nhân gian

Có thể thấy, tôn kính Thần Phật vẫn là nét trong văn hóa truyền thống xưa nay,người xưa tin vào định số và sự sắp đặt của Thần Vậy nên hai nàng H’Nhị và H’Bhịtrong sử thi Đăm Săn sang nhà hỏi cưới con trai vị tù trưởng giàu có vốn là thuận theo

sự sắp đặt của ông cha và cũng là sự an bài của Thần

Văn hóa giao tiếp ứng xử của người Ê đê thể hiện rõ qua phong tục, tập quán, tínngưỡng của người Ê-đê xưa

Tục tiếp khách và văn hóa rượu cần của người Ê đê Khi có người đến thăm nhà,

người hầu sẽ chạy ra đón tiếp “kẻ giữ ngựa tháo yên, người đưa lời thăm hỏi,…”, trải

chiếu, giết gà, mang rượu ra để đãi khách, chủ nhà sẽ ăn mặc chỉnh tề, chỉn chu để tiếpkhách Có thể nói, nổi bật nhất về văn hóa ứng xử trong sử thi Ê-đê nói chung và sử

thi Đăm Săn nói riêng là tục tiếp khách Đây là một phong tục đẹp, thể hiện cuộc sống

sinh hoạt vui tươi lành mạnh, đầy lòng hiếu khách của đồng bào Ê-đê Trong cuộc sốngsinh hoạt cộng đồng của người Ê-đê, khi có khách đến chơi, chủ nhà sẽ mặc những bộquần áo đẹp nhất ra chào đón, trò chuyện, sau đó mời khách ở lại ăn cơm, uống rượu Cókhi họ sai tôi tớ đánh cồng chiêng báo tin cho dân làng và mời dân làng đến giúp việc

làm cơm, giết trâu, thui bò, bắt gà, khiêng rượu, múa hát mừng khách quý “Khách khứa, dân làng đến nhà Đăm Săn uống rượu đông như đàn ong đi lấy mật, như ong vò

vẽ hút nhị hoa, tiếng người ầm ĩ đầy nhà, trai gái đông như con chuồn chuồn nước” Đăm Săn sửa soạn khố áo mới để ra tiếp khách: “Đăm Săn thay khố cũ, quấn khố mới.

Áo này chưa vừa lòng, chàng lấy áo khác Chàng quấn một khố sọc rằn gập bỏ múi, mặc một áo gài nút”

Rượu cần đối với người Tây Nguyên vừa là sản vật vừa là lễ vật Rượu cần có mặtmọi lúc mọi nơi trong đời sống sinh hoạt xã hội, đời sống tình cảm, tâm linh của mỗi giađình hay của cộng đồng Đặc biệt, trong các nghi lễ của người Ê-đê, rượu cần đóng vaitrò là lễ vật hàng đầu dâng lên Yang, các vị thần linh, ông bà tổ tiên Trong sử thi, chúng

ta liên tục bắt gặp sự xuất hiện của ché rượu cần trong mọi sinh hoạt của người Ê-đê.Khi tiếp đãi khách, rượu cần biểu hiện cho lòng hiếu khách của chủ nhà Rượu cần cũng

là lễ vật cúng thần linh trước khi đi hỏi chồng: “Thế là người ta lấy rượu một ché tuk, gà trống một con để làm lễ cáo thần, cáo tổ tiên, cáo linh hồn các vị tù trưởng xưa cũ”; và trong lễ cưới: “Ché tuk, ch é ba đã ủ đầy cơm rượu, trâu bò đã nhốt trong chuồng Hai bên đã hẹn ngày lành tháng tốt để rước rể” Người Ê đê rất hiếu khách và khi khách đến

Trang 25

Dam San: Lấy hũ Kđa mới ủ được năm đêm ấy.

H’Lĭ trở lại nhà khách, đốt một con gà mái ấp, giết một gà mái đẻ, giã gạo trắng như hoa êpang, sáng như ánh mặt trời, bắc nồi lên nấu cơm Vừa ráo một bãi nước miếng, vừa dập một bà trầu cơm đã chín tới Nàng nhắc cơm xuống đặt trên sàn, rồi đem ra nào mâm chân thau chạm trổ vành, toàn những thứ chỉ dùng để dọn cơm cho khách quý là tù trưởng nhà giàu.

H’Lĭ: Thưa anh em, mời anh em lại xơi

cơm Y Đhing, Y Ling ngồi vào mâm cơm.

H’ Âng: Mời anh em ăn cho! Cơm chúng tôi hôi mùi mốc, nước chúng tôi tanh

mùi bùn, gà chúng tôi gà diều tha, người dọn cơm mời anh em là những mụ đàn bà què quặt, ăn mặc xộc xệch, trông như những con két diều tha, như những con vẹt diều mổ Mời anh em ăn cho.

Y Đhing, Y Ling ăn qua loa một miếng, một lát đã ngồi nghỉ.

H’ Âng: Ơ anh em! Sao cơm chúng tôi anh em chỉ ăn một nhúm, thức ăn chúng

tôi anh em chỉ ăn vừa một nhón ngón tay Thật không bõ công chúng tôi bưng dọn, anh

em ạ.

Tục gái hỏi chồng của người Ê-đê là xã hội mẫu hệ Chính vì vậy, chế độ mẫu hệchi phối đời sống hôn nhân, gia đình, dòng họ và cả cộng đồng người Ê-đê Theo đó,người con gái chủ động đi hỏi và cưới chồng, sau khi kết hôn sẽ cư trú bên nhà vợ Đây

là nét văn hóa thể hiện rõ vai trò của người phụ nữ Ê-đê trong hôn nhân truyền thống.Người Ê-đê thường có tục lệ, khi yêu nhau, người con gái thường ngỏ lời trước, nếuđược chàng trai nhận lời thì tự tay cô gái cởi chuỗi cườm và chiếc còng trao cho chàngtrai để làm của tin, rồi vài ngày sau cô gái mới nhờ người đến hỏi và tổ chức lễ cướichồng Đó là điểm táo bạo, nét tính cách riêng biệt độc đáo của người phụ nữ Ê-đê khithể hiện tình yêu, khi hỏi chồng và xây dựng hạnh phúc gia đình, là cái đẹp hồn nhiên,chân thật của người phụ nữ Ê-đê truyền thống

Trong các bản trường ca, ngoài hình thức trao vòng, gửi chuỗi cườm cho nhau,còn có thể thấy sự mô tả của các nghệ nhân dân gian về lễ hỏi chồng đầy tình tứ và sôiđộng như lễ hỏi chồng của hai nàng H’Ñĭ và H’Bhĭ Hai nàng nhờ người nhà đến hỏicưới Đăm Săn nhiều lần không được nên tự cưỡi voi đến hỏi Với những lời ngọt ngàocủa trái tim, những lời có cánh của tấm lòng yêu thương chân thật, và sắc đẹp không aisánh bằng, hai nàng đã thuyết phục được chàng Đăm Săn làm chồng Trước vẻ đẹp củahai người con gái, Đăm Săn có sự so sánh thú vị: “Trong lúc đó, Đăm Săn đứng ngắm

Hơ Nhị và Hơ Âng, thấy Hơ Nhị đẹp hơn Hơ Âng ba ngón tay; ngắm Hơ Âng và HơBhị, thấy Hơ Âng đẹp hơn Hơ Bhị ba ngón tay; ngắm Hơ Bhị và Hơ Lị, thấy Hơ Bhịđẹp hơn Hơ Lị ba ngón tay; lại ngắm Hơ Lị và Hbia Điêt Kluich thì thấy Hơ Lị cũng đẹphơn Hbia Điêt Kluich ba ngón tay” (So với các cô gái khác, H’Ñhĭ vẫn là người con gáiđẹp nhất trong mắt

Trang 26

chàng Đăm Săn: “Nhưng so với H’Nhĩ, Hbia Ling Pang kém chín ngón tay” H’Ñhĭ nóivới chồng sắp cưới của mình: “Chúng ta thật bằng vai phải lứa như ống tên và mũi tên”

Tập quán xem bói của người Ê đê Người Ê-Đê quan niệm “vạn vật hữu linh” và

có niềm tin mãnh liệt vào các lực lượng siêu nhiên, nên khi làm việc trọng đại, họ đềucúng thần linh “Cúng rồi, đoàn người ra đi tức khắc, người đông nườm nượp như bầycà-tong”, cầu xin thần linh dẫn đường, chỉ lối để họ hoàn thành công việc của mình Bêncạnh đó, họ còn có tục bói chân gà những khi chuẩn bị làm các việc quan trọng như: hỏichồng, mua bán lớn, tìm đất dựng làng… Trước khi đi hỏi chồng cho H’Ñĭ và H’Bhĭ, YĐhing đã nói: “chúng ta hãy làm lễ cáo tổ tiên, cáo thần, cúng linh hồn các tù trưởng xưa

cũ rượu một ché tuk, gà trống một con”

Ngoài ra, người Ê-đê còn có lối bói lá để xin âm dương trong tục làm phép cầucho người chết được sống lại Đăm Săn đã dùng lối bói này để xin âm dương khi cầu

cho H’Ñĭ, H’Bhĭ và Y Suh, Y Sah sống lại: “Tôi xin lấy lá tôi chập lại và tôi gieo, xin được một sấp một ngửa Xin các ông ban ơn tái tạo cho người của tôi chết cả trăm cả nghìn nay được sống lại, cho người của tôi chết hàng loạt nay được hồi lại”

Những cách ứng xử ấy thể hiện niềm tin tâm linh của người Ê-đê với các đấngthần linh, họ quan niệm rằng thần linh có thể mang lại cuộc sống tốt đẹp cho con người.Ngoài ra họ còn có một số kiêng kị như, khi đang thu hoạch lúa rẫy, họ cấm người làngkhác đi tắt qua rẫy của họ; hoặc khi đi rừng, trong thời gian ở rừng những người khaithác nguồn lợi thiên nhiên không được nói tục, ném đất đá xuống nước, còn nhữngngười vợ ở nhà nếu có khách đến chơi không được tiếp rượu, ca hát, nhảy múa Họ tinrằng nếu vi phạm những điều kiêng kị trên thì người đi rừng sẽ bị thần linh trách phạt

H’Lĭ: Chị ơi, ta ra gian khách đi! (nói với tôi tớ): Ơ các con, ai mang chiếu thì

mang chiếu ra, ai mang chăn thì mang chăn ra, ai mang gối thì mang gối ra, ai mang trầu thì mang trầu ra! Hãy để thuốc xắt trong khay hoa Hãy để trầu têm trong âu đồng chạm!

Chị em H’ Âng ra đến gian khách

H’Lĭ: Ơ anh em! có chuyện gì mà ching treo dàn bếp, bậc quyền quý giàu sang

lại đến nhà con chó này? Bỗng dưng anh em hạ cố đến nhà chúng tôi vậy?

Y Đhing: Ấy, xin người chị em đừng vội rấp rừng, ngăn lối Từ nay trở đi hai nhà

chúng ta đi lại làm thân, cùng nhau mau mua bán bán Bên làng này làng ta Bên kia cũng làng ta Hai bãi thả trâu bò sẽ liền làm một.

Một chiếu trắng trải dưới Một chiếu hoa trải trên làm chỗ ngồi cho khách tù trưởng nhà giàu.

2.1.1.2 Khát khao trở thành tù trưởng hùng mạnh và vươn tới cuộc sống phóng khoáng

Trang 27

Nhân vật anh hùng sử thi là người có lý tưởng cao cả, khát vọng lớn lao Lý tưởng

ấy cũng chính là đại diện cho lý tưởng cộng đồng dân tộc Người anh hùng trong sử

Trang 28

thi Đăm Săn tham gia các cuộc chiến không phải chỉ riêng mục đích là giành lại vợ của

mình mà sâu xa hơn là đại diện cho ý chí tập thể, là mở rộng đất đai, thu thập thêm nhânlực, của cải, hình thành liên minh bộ lạc, là mầm mống cho sự ra đời hình thức tổ chức

xã hội cao hơn và khao khát phát triển cộng đồng Đó là khát vọng trở thành tù trưởnghùng mạnh, vươn tới cuộc sống phóng khoáng Sử thi đã ghi lại những khao khát củangười Ê đê tại vùng Tây Nguyên Họ mong muốn có một vị tù trưởng giàu mạnh để lãnhđạo, để đưa bộ tộc mình phát triển, giúp họ có cuộc sống tự do, giàu có Tác giả dân gianxây dựng chi tiết Đăm Săn cưới hai chị em Hơ Nhị và Hơ Bhị vì tục nối dây của người Ê

đê và đồng thời cũng thể hiện sự mong muốn của cộng đồng về một vị tù trưởng giàu

mạnh, uy danh “Nếu Dam San lấy vợ làng đông, xóm tây, Dam San sẽ trở thành đứa giữ ngựa, tháo ching, xiềng voi cho H’Nhĭ Chỉ lấy H’Nhĭ Dam San mới trở thành một tù trưởng giàu có, ching lắm, char nhiều Còn với tôi thì ông đã dặn: Nếu tôi lấy chồng làng đông xóm tây, tôi sẽ trở thành con nô lệ nuôi lợn, nhốt gà cho Dam San Chỉ lấy Dam San tôi mới trở nên một tù trưởng giàu có ching lắm, char nhiều.” Sức mạnh, tài

năng của vị tù trưởng anh hừng còn được thể hiện qua những cuộc phiêu lưu, giao chiếnvới kẻ thuộc Chi tiết Đăm Săn múa khiên khi giao chiến với Mtao -Mxây dù tác giả dângian đã phóng đại nhưng qua đó họ mong muốn có vị tù trưởng tài năng, mạnh mẽ

"Dam San rung khiên múa Một lần xốc tới chàng vượt một đồi tranh Một lần xốc tới nữa, chàng vượt một đồi lồ ô Chàng chạy vun vút qua phía đông, vun vút qua phía tây." hay "Chàng múa trên cao, gió như bão Chàng múa dưới thấp, gió như lốc Chòi lẫm đổ lăn lóc Cây cối chết rụi Khi chàng múa dưới thấp, vang lên tiếng khiên đồng Khi chàng múa trên cao, vang lên tiếng khiên kênh Khi chàng vừa múa vừa chạy, ba quả núi toác ra, ba đồi tranh bật rễ tung bay"

Không dừng lại ở đó, Người Ê đê mong muốn có một vị tù trưởng giàu mạnh vàhướng đến một cuộc sống tự do, phóng khoáng còn thể hiện qua việc họ đồng thuận đitheo người anh hùng của mình Sử thi Đăm Săn đã phản ánh sự ủng hộ và đồng thuận

đó Sau khi chiến thắng Mtao-Mxây, Đăm Săn đã kêu gọi phần lớn nô lệ đều có xuhướng đi theo Đăm Săn Họ tỏ thái độ đồng tình và rất ngưỡng mộ trước chiến thắng của

Đăm Săn, sẵn sàng nghe theo lời vị tù trưởng mới “Không đi sao được? làng chúng tôi phía bắc đã mọc cỏ gấu, phía nam đã mọc cà hoang Người nhà giàu cầm đầu chúng tôi nay đã không còn nữa.” Thái độ và hành động của nhữg người này cho thấy đối với họ

điều quan trọng là một vị tù trưởng tài giỏi, có sức mạnh, có lòng dũng cảm Mong

muốn lớn nhất của họ là sự đủ đầy, giàu có và trở thành tập thể có sức mạnh “Đoàn người đông như bày catong, đặc như bày thiêu thân, ùn ùn như kiến như mối Thế là Dam San nay càng thêm giàu có, ching lắm, char nhiều Tôi tớ mang của cải về nhiều như ong đi chuyển nước, như vò vẽ đi"

Qua lời kêu gọi và sự ủng hộ của dân làng, ta thấy người tinh thần cộng đồng củangười Ê đê vùng Trường Sơn – Tây Nguyên Khi giành chiến thắng, Đăm Săn được dânlàng vui mừng chào đón Họ tất bật sửa soạn, hân hoan chào đón những người dân mới

Trang 29

về với làng Họ không giấu nổi niềm vui khi buôn làng đang trên đà lớn mạnh hơn, giàucó

Trang 30

hơn “Các chàng trai đi lại ngực đụng ngực Các cô gái đi lại vú đụng vú Cảnh làng một tù trưởng nhà giàu trông sao mà vui thế!” Thái độ và hành động của họ cho thấy

họ là những người dễ hòa nhập, không hề kỳ thị, ghen ghét hay đố kị

Người Ê đê đã có những nhận thức về tự nhiên và muốn chinh phục tự nhiên Sửthi Đăm Săn thể hiện nhận thức của người Ê đê trong công cuộc chinh phục tự nhiện.Việc chình phục tự nhiên là một quá trình khó khăn, vất vả, nguy hiểm Trên hành trình

ấy, con người đã dũng cảm, kiên trì và thậm chí là hi sinh mạng sống Tuy nhiên quátrình chinh phục tự nhiên vẫn sẽ không dừng lại vì tự nhiên và con người có mối quan hệtương hỗ Việc chinh phục thế giới tự nhiên của người Ê đê đã trở thành nếp sống, nên

nó được kế thừa từ đời này sang đời khác Chinh phục trên tinh thần yêu thiên nhiên,ứng xử tốt với thiên nhiên Và sử thi đã ghi nhận lại nhận thức chinh phục tự nhiên củangười Ê đê Ngoài khát vọng làm chủ thiên nhiên xung quanh, con người còn muốnchinh phục các vị thần - tượng trưng cho quyền lực tuyệt đối Trong hệ thống văn họcViệt Nam, sử thi là thể loại văn học lâu đời nhất Sử thi nảy sinh và tồn tại trong đờisống của các dân tộc ít người, không chỉ với tư cách một tác phẩm nghệ thuật mà còn làtượng đài lịch sử Sử thi “Đăm Săn” là sử thi dài nhất của người Ê đê, thể hiện nhữngmong ước, nguyện vọng của nhân dân lúc bấy giờ Cụ thể là trong sử thi Đăm Săn khiĐăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời Hình ảnh chàng Đăm Săn vượt mọi khó khăn, băngrừng lội suối để tìm đến và cầu hôn Nữ thần Mặt Trời đã thể hiện nhận thức và khát làmchủ thiên nhiên của người Ê đê từ xa xưa Sử thi Đăm Săn đã ghi lại văn hóa ứng xử vớithế giới tự nhiên của người Ê đê

Đăm Săn, nhân vật chính, sẽ chinh phục Nữ Thần Mặt Trời Đăm Săn vẫn làmột thủ lĩnh mạnh mẽ và tự tin Mặc dù biết con đường chinh phục nữ thần sẽ đầy rẫynguy hiểm nhưng Đăm Săn không bao giờ sợ hãi mà bỏ cuộc Chàng là người mà cả dântộc Ê Đê gửi gắm nguyện vọng, khát khao và mơ ước Vì vậy, quá trình vượt qua chặngđường dài gian khổ là hình ảnh con người chinh phục thiên nhiên Chàng sẵn sàng đốimặt với thử thách và tìm cách vượt qua chúng để đến được nhà của nàng Chàng dùng

sức mạnh của bản thân để phá tan các trở ngại của thiên nhiên "đi hết rừng rậm đến núi xanh, có tranh xé tay, gai mây dâm chân, không màng ăn uống" Đó còn là hình ảnh chàng cô độc đi trong núi rừng quạnh hiu nhưng không từ bỏ quyết tâm "Chàng đi, đi mãi, rừng núi quạnh hiu, vắng như không, không như vắng Nhưng rồi chàng cũng đến được bãi thả trâu bò, rồi bãi thả diều làng ông Đu, ông Điê" Qua nhân vật Đăm Săn

trong sử thi, tác giả dân gian cho ta thấy sự quyết tâm, nhận thức của người Ê đê khichinh phục tự nhiên

Khi chinh phục tự nhiên, người Ê đê luôn thể hiện tình yêu thiên nhiên, phong tụctập quán của người bản địa qua từng câu nói Người dân tộc dựng những ngôi nhà dàikhép kín, tiếng cồng chiêng để bên hiên mang theo hơi ấm khi khách đến nhà Đây lànhững nét đẹp của người dân tộc mà không nơi nào có được Tuy muốn chinh phục thiênnhiên nhưng thực chất người Ê đê rất yêu thiên nhiên, biểu hiện của điều này thể hiện ởnhững chi tiết miêu tả thần mặt trời "Tóc cô ấy vén ra sau tai thật đẹp Cô bước ra khỏi

Trang 31

phòng, cửa phòng sáng đèn Nàng đi như cánh diều, không như nước nổi Lỡ bước mộtbước, cô khựng lại Đầu cô ấy cúi xuống, hoặc cô ấy ngồi với đầu hơi ngẩng lên Giọng

Trang 32

anh trong trẻo, người chưa tới mà tiếng nay đã vang Không chỉ vậy, hình tượng ngườianh hùng còn được tác giả miêu tả chẳng khác gì một vị thần thực sự, dáng người caolớn và mạnh mẽ được khắc họa chi tiết ở mỗi bước đi Dù Đăm Săn không thể cưới được

Nữ thần Mặt trời và cuối cùng rơi vào vũng lầy nhưng cũng không thể khuất phục đượcdục vọng của người Ê Đê xưa Họ luôn muốn chinh phục thiên nhiên, họ muốn có đượcsức mạnh sánh ngang với các vị thần

Đăm Săn đã một mình đi suốt nhiều ngày liền, băng rừng vượt núi Sau một quátrình dài nhưng khó khăn, càng đã đến được nơi ở của nữ thần Tuy nhiên khi ngỏ lời,chàng đã bị từ chối vì nàng thân là “con của Thần” nên Nữ thần Mặt Trời Sau đó, nàngcảnh báo Đăm Săn rằng chàng sẽ chết vào lúc mặt trời mọc, như sự trừng phạt của Thầntối cao dành cho con người Chàng là một người cao ngạo, vẫn bình thản cho ngựa quay

về Sau đó, ứng với lời cảnh báo, khi mặt trời mọc, cả người và ngựa của Đăm Săn đều

bị kéo chìm xuống bùn và biến mất Điều ấy thể hiện ý chí không lùi bước trong quátrình chinh phục thế giới tự nhiên

Dù cái kết của Đăm Săn không được tốt đẹp như chàng muốn nhưng nó như mộthồi chuông cảnh tỉnh cho con người trong quá trình chinh phục phải thuận theo tự nhiên.Tuy nhiên, không thể phủ nhận sức mạnh và sự tự tin trong lời cảnh báo tử thần Đốimặt trước nỗi sợ hãi lớn nhất của con người, Đăm Săn vẫn không chịu khuất phục mà cứthong thả bước đi Đó vừa là sự tự cao, vừa là ước mơ chinh phục thần linh của người Ê

đê xưa Cái chết của Đăm Săn thấm đẫm sự bị tráng, tràn đầy lý tưởng anh hùng cao cảthể hiện ý thức khẳng định mình vô cùng mãnh liệt Người anh hùng đã hy sinh nhưng lýtưởng thì vẫn được tiếp nối mãi với sự xuất hiện của Đăm Săn cháu sau này Và khôngchỉ có Đăm Săn cháu, mà còn rất nhiều những người dân Ê đê khác sẽ tiếp tục đi tiếpcon đường của chàng Đăm Săn, tiếp tục hoàn thiện lý tưởng, khát khao khẳng địnhmình, chinh phục thiên nhiên, những miền đất lạ để mở rộng sự giàu có, trù phú củabuôn làng mà người anh hùng này đã mở ra trước đó

Sử thi Đăm Săn có giá trị tư tưởng và thẩm mỹ với hình thức cổ điển, phản ánhtrực tiếp khát vọng hào hùng của buổi đầu lịch sử hình thành các bộ tộc Tây Nguyên.Tác phẩm bộc lộ toàn cảnh bức tranh tâm hồn của người Ê Đê thời xa xưa, khi tìm hiểu,

họ bắt đầu nảy ra những ý tưởng vươn tới những tầm cao nhận thức mới về thế giới mà

họ khao khát khám phá

2.1.2 Sự nghiệp lừng lẫy của Đăm Săn – bức tranh đời sống lịch sử, văn hóa của cộng đồng Tây Nguyên

2.1.2.1 Chiến công lừng lẫy của Đăm Săn trong lao động sản xuất

Sử thi Đăm Săn là một trong những tác phẩm quan trọng trong kho tàng văn học

dân tộc Người anh hùng Đăm Săn là nhân vật trung tâm của thời đại sử thi Qua nhữngchiến công lừng lẫy trong lao động sản xuất của Đăm Săn, chúng ta hiểu rõ hơn về bảnsắc văn hóa và con người Ê đê vùng đất Tây Nguyên

Trang 33

Có thể thấy, ngôi nhà là điểm nổi bật trong giá trị văn hóa vật chất của người Ê đê.Người anh hùng Đăm Săn đã có những chiến công hiển hách trong việc xây dựng buôn

làng, cụ thể hơn là trong việc làm nhà Trong sử thi Đăm Săn, ngôi nhà của người anh hùng Đăm Săn được miêu tả rất kỹ: “nhà chàng Đăm Săn dài đến nỗi tiếng chiêng đánh đằng trước nhà, người đứng sau nhà không nghe thấy Mái hiên nhà chàng con chim bay mỏi cánh mới hết” Nhà của Đăm Săn có những “chiếc khiên chói lọi như đèn đuốc”, “vải sợi nặng trĩu làm cong các sào phơi Thịt bò thịt trâu treo đầy xung quanh”, “bát đĩa bằng đồng để khắp sàn nhà” Người Ê đê thường cất nhiều đồ dùng ở

trong nhà, đặc biệt ở gian khách, ví dụ như ché rượu cần, cồng chiêng, nồi đồng, thịt trâubò vì đây là những tài sản giá trị, thể hiện sự giàu có Ngôi nhà ấy không chỉ là khônggian sống mà còn là nơi gắn kết bao thế hệ dòng tộc người Ê đê, nơi đánh dấu sự phồnthịnh, hùng cường của bộ tộc, bộ lạc Chế độ mẫu hệ của người Ê đê in đậm trong kiếntrúc và trang trí chiếc đầu cầu thang vào nhà Chúng được trang trí đôi bầu sữa và hìnhvầng trăng khuyết - những biểu tượng sống động của tính nữ

Hành động thuần dưỡng voi hung dữ của Đăm Săn bằng lời nói đã thể hiện bảnlĩnh của người tù trưởng tài giỏi và đã khẳng định được vị trí xứng đáng của chàng tronglòng cộng đồng Đồng thời, những chi tiết này còn giúp chúng ta cũng thấy một hoạtđộng văn hóa nổi bật của người Ê đê là thuần dưỡng voi rừng thành voi nhà đầy khókhăn, vất vả đòi hỏi sự thông minh, dũng cảm, kiên cường Núi rừng Tây Nguyên kỳ vĩ,nhiều bí ấn đã chung đúc nên những con người mạnh mẽ, dũng cảm, có ý thức đấu tranhbảo vệ cộng đồng Từ bao đời nay, người Ê đê luôn cùng nhau quây quần bên bếp lửa,nghe hát kể sử thi về cội nguồn, quá trình hình thành tộc người Trong đó, bài ca vềngười anh hùng Đăm Săn với những chiến công hiển hách trong xây dựng, phát triển vàbảo vệ buôn làng khỏi những kẻ thù hung hãn không bao giờ vắng bóng ở các buổi diễnxướng Đăm Săn là hình ảnh của một vị tù trưởng mạnh mẽ, dũng cảm, có ý thức đấutranh bảo vệ cộng đồng Những phẩm chất tốt đẹp của Đăm Săn cũng là phẩm chấtchung của người Ê đê Sự mạnh mẽ, dũng cảm của chàng Đăm Săn trước hết được thểhiện ở việc chàng thuần dưỡng voi rừng Xưa kia, mảnh đất Tây Nguyên là nơi sống lý

tưởng của loài voi châu Á, được mệnh danh là “thung lũng voi” Những chú voi rừng

thường rất hung hãn, to lớn Để thuần dưỡng được chúng, con người cần có sức khỏe,bản lĩnh Khi Đăm Săn giận H’Nhí và H’Bhí rồi tự ý bỏ về nhà chị gái H’Ơng thì hai cô

vợ đã đến nhà Đăm Săn đi cõng nước như tôi tớ trong nhà chàng Thấy vậy, Đăm Săn đã

lệnh cho tôi tớ đi cõng nước cho H’Nhí và H’Bhí, đồng thời chỉ đạo “đi bắt voi để chúng ta đi về nhà” Tôi tớ đi gọi voi để bắt nhưng “con voi không về, mà lại nổi khùng.

Nó rống lên thật to và đuổi theo các nài voi Họ trốn sau gốc tre, voi giẫm nát gốc tre.

Họ trốn vào gốc cây, voi lao vào gốc cây Voi thì không bắt được, mà các nài voi, người bắt voi bị gẫy tay, người bị gẫy chân” Ngay cả Frong Mưng người được ông trời ba lần

làm phép khỏe mạnh, to gan cũng không bắt nổi con voi ấy Thế nhưng chàng Đăm Săn

chỉ sử dụng tiếng quát mà “con voi sợ quá, quỳ xuống” nghe lời chàng Sử thi Đăm Săn

đã ghi lại bức tranh ngôi nhà với voi, ngựa đông đúc ở miền đất Tây Nguyên Phương

Trang 34

tiện đi lại phổ biến nhất của người Ê đê xưa là voi, là ngựa: “Mặt đất in dấu chân ngựa nhiều như chân rết Mặt đất in đầy dấu chân voi

Trang 35

như đáy cối giã gạo” Đăm Săn đã cưỡi voi dẫn dân làng đi lao động bắt cua, tôm, cá;

cưỡi voi đi chiến đấu với M’tao Grứ và M’tao M’xây để bảo vệ thị tộc, bảo vệ vợ của

mình Đó là những “con voi đực đuôi dài chấm đất, có bộ ngà rộng, mặt nó như bông hoa đẹp, khiến cho người người trông thấy nó đều phải vui mừng” Không chỉ có voi mà ngựa cũng là một người bạn đồng hành cùng Đăm Săn đi bắt nữ thần Mặt Trời “chàng ngồi trên lưng con ngựa đực”, “con ngựa chạy nhanh như gió thổi, vượt lên đỉnh núi, nhảy qua bao dòng thác, bao con suối” đã cùng Đăn Săn băng qua mọi khó khăn ở rừng

sáp đen của bà Sun Y Rít và cùng Đăm Săn hy sinh trên con đường chinh phục tự nhiên

Người anh hùng Đăm Săn điển hình cho hình tượng người anh hùng Tây Nguyênchăm chỉ lao động, luôn khát khao chinh phục tự nhiên và khẳng định bản thân mình Họkhông chỉ là những người mạnh mẽ trong các trận chiến bảo vệ cộng đồng mà họ còn lànhững người anh hùng trong lao động Họ làm lụng để buôn làng giàu sang, lớn mạnh.Trong sử thi, Đăm Săn đã thực hiện nhiệm vụ làm lụng gắn với các hoạt động chăn nuôi,

săn bắt, trồng trọt Chàng cùng cộng đồng chặt cây, đốt rừng, làm rẫy: “Bây giờ lũ làng hãy theo ta đi chọn đất tốt làm nương, rẫy”, “mau mau đi phát cây làm nương rẫy, để rồi giờ đây chúng ta khỏi đói khát, để rồi đây chúng ta mãi giàu sang” Hơn nữa, Đăm

Săn trực tiếp lên Trời xin giống lúa về cho dân làng trồng trọt với mong muốn giúp chohoạt động lao động, sản xuất của buôn làng mình phát triển hơn Sau khi xin được giống

lúa, Đăm Săn “làm chòi giữ rẫy, làm nhà chứa lúa, để cho người ở đó ngày đêm canh giữ cho thú rừng khỏi phá hoại hoa màu”, “Chòi làm xong Đăm Săn ở lại giữ rẫy, để đuổi lợn rừng, hươu nai, công gà đến phá rẫy” Khi có thời gian rảnh rỗi, chàng thường cùng dân làng “sáng đi câu cá, chiều đi bắt tôm” Ta thấy, nhân vật người anh hùng

Đăm Săn là hiện thân của một cộng đồng người Ê đê chăm chỉ làm lụng quanh năm,nhiệt tình trong công việc đồng áng Ngay buổi đầu sơ khai hình thành cộng đồng, người

Ê đê ngoài chăn nuôi, săn bắt, hái lượm, đánh cá, đan lát, dệt vải họ đã gắn bó với hoạtđộng làm nương rẫy Họ đã làm nên văn minh nương rẫy Đăm Săn chính là biểu tượngcủa của nền văn minh đó Đặc biệt, chàng luôn vươn lên khẳng định bản thân

Trong tác phẩm, tổ chức cơ cấu bộ máy buôn làng được thể hiện rõ rệt Tất cả cácchi tiết trong Sử thi Đăm Săn, người dân Ê đê không nhắc đến buôn làng Từ lời ăn,tiếng nói, từ ý nghĩ, hành động, tất cả đều mang hơi thở cộng đồng, hơi thở gắn kếtngười với người Trong các quan hệ xã hội của các tộc người Tây Nguyên được phảnánh một cách rõ nét trong sử thi, đó chính là văn hóa xây dựng cộng đồng và duy trì xãhội mẫu hệ Cộng đồng là cộng đồng buôn làng, đây là đặc trưng rõ rệt ta có thể nhìnnhận ra Tính chất cộng đồng buôn làng được đề cao một cách mạnh mẽ nhất Mỗi ngườitrong buôn như được gắn kết với nhau bằng tình cảm keo sơn gắn bó Điều đặc biệt, đờisống của đồng bào mang đậm dấu ấn của chế độ thị tộc mẫu hệ, tự quản

Ta có thể dễ dàng nhận ra được vị trí và danh phận của người phụ nữ Êđê được xãhội rất mực tôn kính, tiếng nói của người phụ nữ được đề cao rất mực Ngay từ lúc đầu

tác phẩm mở ra là thế giới mẫu hệ của những người phụ nữ: “H’Nhĭ: Ơ Y Đhing ơi! Ơ Y Ling ơi! Ơ Y Đhang ơi! Ơ Y Lang ơi! Ở ngoài cổng làng có xử chém kẻ lạ nào đâu! Ơ Y

Trang 36

Suh ơi! Y Sah ơi! vào đây nào!” Ngay trong lời nhân vật H’Nhĭ, ta đã hình dung được

quyền lực và vị trí thống lĩnh của họ Khi nghe tin H’Nhĭ muốn được tiếp tục tục nối dâytheo lời dặn của ông bà để lại, bọn tôi tớ anh em họ hàng đều nghĩ cách ra sức giúp nàngtoại nguyện Họ dốc hết lòng hết sức mà phụng sự cho nàng như phụ sự cho đấng siêunhiên Đọc Sử thi để ta có thể cảm nhận hết được tính chất mẫu hệ được khắc họa rất sâuđậm:

“H’Nhĭ: Ơ các con! hãy đi lấy rượu cột

lên! Tôi tớ: Lấy rượu nào thưa bà?

H’Nhĭ: Lấy rượu ché găn trong hầm, lấy rượu ché ghê trên lẫm, những ché rượu ông bà để lại từ xưa.

Tôi tớ: Đánh ching nào thưa bà?

H’Nhĭ: Hãy đánh những ching có tiếng âm vang Những ching có tiếng đồng tiếng bạc, đánh nhè nhẹ cũng vang vọng khắp núi non Hễ đánh lên là ở dưới rung lên các cây xà măng, là ở trên rung lên các cây xà ngang Là khỉ vượn quên đu cây, ma quỷ quên làm hại ngưòi, sóc chuột quên đào hang, rắn hổ, rắn mai đều chui lên nằm dài trên mặt đất, là hoẵng đứng ngẩn, thỏ ngồi ngơ, hươu nai đứng sững sờ Tất cả đều mải vui với tiếng ching của H’Nhĭ, Hơ H’Bhí, chẳng còn màng nhoài đầu ra ăn cỏ.”

Ngay cả khi người nhà của H’Nhĭ và Hơ H’Bhí đến nhà Đăm Săn để ngỏ ý kếtthân, người đón tiếp và sắp đặt hết mọi thứ trong gia đình chàng không ai khác là haingười chị và em của Đăm Săn – H’Âng , H’Lí Họ cáng đáng hết mọi thứ, từ việc tiếpkhách cho đến có việc thúc giục Đăm Săn ra ngoài, mọi chuyện đều một tay họ lo liệu

Họ khéo léo trong việc ứng xử, khoản đãi khách rất hậu Mục tiêu chính nhất của cuộc

gặp gỡ ấy chính là hỏi cưới được Đăm Săn “muốn hỏi chồng cho H’Nhĭ, hỏi chồng cho

Hơ H’Bhí.” Đây là một tập tục tiếp tục khẳng định vị thế chiếm lĩnh của hệ mẫu quyền,

đi ngược lại với quan niệm người Việt đã từng thấy (người nam hỏi cưới người nữ) Sự

uy lực của H’Nhĭ và Hơ H’Bhí mạnh mẽ đến mức khi nghe tin Đăm Săn không muốn ratiếp khách, cũng không muốn gắn kết vợ chồng với H’Nhĭ và Hơ H’Bhí, Y Đhing đã

cương quyết không chịu về, thể hiện rõ quan điểm của mình: “Không biết rọ ching cũng được Không biết xiềng voi, không biết gìn giữ ching ché cũng chẳng sao Miễn là chúng tôi có người ở bên gùi quý, có người ngồi trên chiếu kể lại các vụ việc để lại từ ông bà xưa Bạn Đăm Săn quyết không chịu lấy em gái chúng tôi ư? Chúng tôi cũng quyết không chịu ra về tay không, miếng trầu, miếng vỏ không có Chỉ cưới được bạn ấy chúng tôi mới chịu Bạn ấy muốn ching ư? Chúng tôi sẽ về lấy ching Bạn ấy muốn char ư? Chúng tôi sẽ về lấy char Chỉ cưới được bạn ấy chúng tôi mới thôi.” Tư tưởng mẫu

hệ đã thống trị trong tâm thức của đồng bào dân tộc Êđê Việc nếu không thành sẽ là cótội với chị em H’Nhĭ và Hơ H’Bhí, và lớn hơn nữa cũng sẽ đắc tội với cả buôn làng vìđây là luật tục đã được lưu truyền từ xưa nay Phá vỡ nó là phá vỡ đi lời căn dặn của ôngcha Tiếp nữa, cách mà người em gái Đăm Săn thúc giục chàng phải đứng ra tiếp khách

Trang 37

quả thật là điều thú vị và đặc biệt: “H’Lí em của Đăm Săn tức thì đứng lên, xắn váy đến đầu gối , xắn tay áo đến

Trang 38

cùi chỏ, cài lại mái tóc cho chắc kiểu người Bih, người Mnông, rồi đi thẳng vào chỗ Đăm Săn nằm, véo tai trái Đăm Săn cho đến đỏ tía lên, véo tai phải Đăm Săn cho đến đỏ tía lên, đét cho Đăm Săn một đét vào lưng làm chàng phát khóc.” Hiếm có một tác

phẩm của người Việt nào thể hiện được “bậc trên” rõ rệt như tác phẩm của đồng bào dântộc ít người và một trong số đó là dân tộc Ê đê, cụ thể là Sử thi Đăm Săn Hình ảnh haichị em đi cùng bọn tôi tớ sang nhà Đăm Săn cũng khắc họa đậm đặc tính chất mẫu hệ

“Voi áp vào sàn sân Đứng xếp hàng ở đầu cầu thang H’Nhĭ nhảy xuống, Hơ H’Bhí nhảy xuống Một trăm người đi trước, một nghìn người cất bước theo sau Một mình hai chị em H’Nhĭ, Hơ H’Bhí đi giữa Bọn tôi tớ len vào đứng ở xó chứa củi.” Khung cảnh

tráng lệ, nhộn nhịp và đông đúc như mở ra trước mắt mà trung tâm giờ đây đang đặtngay theo hướng của hai chị em H’Nhĭ và Hơ H’Bhí Ngay cả khi người thương củaĐăm Săn, cô Hơ Bia Điết Kluich đi đến nhà chàng, cô cũng được miêu tả có chi tiết hệt

như hai chị em H’Nhĭ và Hơ H’Bhí: “Đóng bộ xong, nàng ra đi Một trăm người đi trước, một nghìn người cất bước theo sau, một mình nàng đi giữa.” Hầu như tất cả

những người phụ nữ ở đây đều có tiếng nói và vị trí độc tôn trong cộng đồng Họ đượcmọi người trân quý và xem trọng, dù là người cùng buôn, người thân quen họ hàng hayngười từ buôn khác đến Lời nói của họ nói ra được mọi người phục tùng và răm rắptuân theo Ngay cả khi dặn em mình sang nhà vợ, người chị H’Âng cũng hết mực dặn dò

em thật kĩ lưỡng: “Ơ em, ơ em Em hãy lo cho vợ em được sung sướng, lo cho con cái

em được nên người Em chớ có lêu lổng nay đông mai tây Sáng em phải lên rẫy, trưa ở bẫy Sương mai vừa ráo đã phải đi đó đi đơm Em hãy ở với vợ con cho đến răng long đầu bạc Đã cầm cần mời rượu thì phải cầm cho đến khi rượu đã nhạt, ché đã phai Đã đánh ching thì phải đánh cho đến khi tay dùi bị chặn lại mới thôi em nhé.” Cẩn thận và

thận trọng như cách mà chị Đăm Săn đã gửi em mình, ta sẽ liên tưởng đến việc người

mẹ dặn dò con của mình trước khi đi qua nhà chồng (trong quan niệm cưới hỏi củangười Việt)

Trong các chi tiết, sự kiện vừa nêu, tính cộng đồng được thể hiện rất rõ nét Takhông thể bắt gặp được trong giây phút nào đó, tác giả dân gian dành thời gian cho nhânvật độc thoại nội tâm hoặc bộc lộ tâm sự đời tư Hoặc có bất cứ lời nói hay suy nghĩ lẻloi tác biệt cộng đồng Tất cả những hành động, suy nghĩ của nhân vật đều gắn liền với

cả cộng đồng, gắn liền với buôn làng Hình ảnh mẫu hệ hiện lên nhưng cũng là sự hiệnlên trong sự kết nối với cả buôn làng, người dân nơi đó Ngay trong ý nghĩ của ĐămSăn, chàng cũng sợ rằng nếu không ra tiếp khách và kết duyên với hai chị em H’Nhĭ và

Hơ H’Bhí thì cộng đồng của chàng sẽ chịu ảnh hưởng rất nghiêm trọng và vô cùng nặng

nề Chàng chống lại tục nối dây nhưng chàng không thể chống lại sự kết nối với cộngđồng buôn làng của mình Đây thực sự trở thành lí do khiến chàng có sự thay đổi (tuygượng ép) ngay trong suy nghĩ nối dây cùng H’Nhĭ và Hơ H’Bhí

Thông qua tính chất cộng đồng thể hiện trong tác phẩm, ta thấy được nếp sống vàsinh hoạt của đồng bào dân tộc Ê đê Mối quan hệ cộng đồng đóng vai trò như rường cộttrong đời sống của tộc người, mỗi thành viên coi mối quan hệ cá nhân với cộng đồng là

Trang 39

mối quan hệ thiêng liêng Dù là việc xảy ra trong một gia đình, một dòng họ như sinh,tử,

Trang 40

kết hôn, ốm đau… mọi người đều ghé vai gánh vác xem như đó là việc chung của cộngđồng, cho đến những việc như, sửa sang bến nước, tế lễ thần linh hoặc hệ trọng hơn nhưbảo vệ an ninh cho buôn làng, các chủ hộ đều được chủ làng (chủ bến nước) mời tới bànbạc và đóng góp Các thành viên trong buôn làng sống hòa thuận, giúp đỡ, tương trợnhau khi có khó khăn, hoạn nạn; cùng nhau bảo vệ buôn làng; tham gia các hoạt động,nghi lễ chung của cộng đồng Người đứng đầu phải biết chăm sóc, giúp đỡ cho các thànhviên trong cộng đồng, mỗi khi có bất cứ khó khăn nào mà họ gặp phải trong cuộc sống;phải thật công tâm, bình đẳng không phân biệt đối xử trong mối quan hệ với tất cả mọingười.

hợp và linh hoạt trong việc tận dụng môi trường xã hội Đối với Sử thi Đăm Săn, các chi

tiết thể hiện việc tận dụng môi trường xã hội không nhiều và không thực sự rõ ràng Tuynhiên từ tác động qua lại của văn hóa và văn học, người đọc có thể soi chiếu thấy đượcĐăm Săn đã có ý thức rất rõ về việc tận dụng môi trường xã hội để làm giàu có thêm bảnlàng của mình Trong những trận đánh đối với những tù trưởng gian hùng như Mtao Grư

và Mtao Mxây, Đăm Săn đã biết tập hợp sức mạnh của tôi tớ, dồn hết mọi nguồn lựchùng mạnh nhằm mục đích đánh đổ và tiêu diệt kẻ đã cướp đi vợ mình Chàng hiểu rằngviệc một mình đi chinh chiến giành lại quyền lợi là không khả thi Sức mạnh của tập thểluôn lớn mạnh và đạt kết quả cao hơn so với việc đơn phương độc mã lên đường Đó là

ý thức tận dụng môi trường xã hội, tận dụng những tôi tớ để phục vụ cho công cuộcchiến đấu

Không dừng lại ở đó, văn hóa tận dụng môi trường xã hội còn thể hiện ở chi tiếtsau khi thắng trận, Đăm Săn đã thể hiện thái độ bao dung, hiếu hòa trong việc không giếtchết những tôi tớ của kẻ địch Ngược lại, viên tù trưởng tài ba ấy đã cho họ đi theo mình

để phục vụ và tổ chức tiệc rất tưng bừng Hành động thu nạp những tôi tớ của kẻ bại trậnkhông chỉ thể hiện sự bao dung, rộng lượng của chiến binh thắng trận, điều đó còn giúpcho bản làng của Đăm Săn càng ngày càng giàu mạnh hơn, giúp tạo ra nhiều của cải vậtchất hơn nữa Đây là một quyết định vô cùng khôn ngoan của một vị tướng lĩnh tài giỏi

Tóm lại, chi tiết thể hiện văn hóa tận dụng môi trường xã hội trong Sử thi Đăm Săn không nhiều nhưng cũng đã góp phần vào việc thể hiện bản sắc văn hóa của người Ê

đê trong việc ứng xử với xã hội xung quanh, khiến người đọc hình dung được bối cảnhcủa sự việc Cũng đồng thời qua đó thấy được văn hóa có vai trò vô cùng quan trọng khigiúp lí giải cho người đọc về hành động và quyết định của các nhân vật, từ đó hiểu vàtrân trọng công lao to lớn của người anh hùng Đăm Săn đối với cộng đồng dân tộc

Ngày đăng: 23/10/2023, 18:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Tử Chí dịch (2013). Bài ca chàng Dam San, NXB Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài ca chàng Dam San
Tác giả: Đào Tử Chí dịch
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2013
2. Lại Nguyên Ân (2023), 150 thuật ngữ văn học, NXB Kim Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Kim Đồng
Năm: 2023
3. Ngô Đức Thịnh (2009), Bản sắc văn hóa vùng ở Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa vùng ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
4. Trần Ngọc Thêm (2000), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
6. Tô Tuấn (26/9/2017). Tục ‘juê nuê” trong hôn nhân của người Ê đê. VOV5 Đài Tiếng nói Việt Nam. Truy xuất từ: https://vovworld.vn/vi-VN/sac-mau-cac-dan-toc-viet-nam/tuc-jue-nue-trong-hon-nhan-cua-nguoi-ede-579452.vov Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ‘juê nuê” trong hôn nhân của người Ê đê. VOV5 ĐàiTiếng nói Việt Nam
7. Thơ Trịnh (30/12/2016). Tục nối dây của người Ê đê. Công an Thành phố Đà Nẵng. Truy xuất từ: https://cadn.com.vn/tuc-noi-day-cua-nguoi-e-de-post159918.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục nối dây của người Ê đê. Công an Thành phố ĐàNẵng
5. Mai Nnam Thắng (30/12/2021), Khát vọng Đăm Săn là khát vọng hùng cường, https://cand.com.vn/ly-luan/khat-vong-dam-san-la-khat-vong-hung-cuong-i639878/ , truy xuất ngày 20/9/2023 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w