1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phê bình xã hội học và chí phèo của nam cao

31 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phê Bình Xã Hội Học Và Chí Phèo Của Nam Cao
Tác giả Nam Cao
Trường học Trường Đại Học
Thể loại Bài Tiểu Luận
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 78,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao đã đi qua chặng đường đủ dài với những điều kiện thẩm định khe khắt nhất, để biến chuyển từ một hiện trượng thành một giá trị. Do đó, tiếp cận tác phẩm này của nhà văn dưới góc nhìn phê bình xã hội học sẽ giúp cho người đọc khám phá tầng sâu ý nghĩa hiện thực đời sống qua lăng kính thẩm mỹ của văn chương nghệ thuật. Từ đó, khẳng định những sáng tác của Nam Cao có sức sống mạnh mẽ trong lòng độc giả và đem đến cái nhìn toàn diện về hệ giá trị chân – thiện – mĩ.

Trang 1

CHÍ PHÈO CỦA NAM CAO

TỪ GÓC NHÌN XÃ HỘI HỌC

Trang 2

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 4

LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 5

1 Phê bình xã hội học văn học: giới thuyết và các tiêu điểm nghiên cứu 1.1 Giới thuyết 5

1.2 Tiêu điểm nghiên cứu 7

2 Yếu tố xã hội tác động đến hành trình sáng tác Chí Phèo của nhà văn Nam Cao 2.1 Tư thế nhà văn và hành trình xã hội 7

2.2 Hành trình văn học 9

3 Từ cấu trúc tác phẩm Chí Phèo đến tư tưởng của nhà văn Nam Cao 3.1 Cấu trúc thủ pháp nghệ thuật 10

3.1.1 Kết cấu 10

3.1.2 Điểm nhìn trần thuật 12

3.1.3 Ngôn ngữ và giọng điệu 13

3.2 Hệ thống nhân vật 15

3.2.1 Nhân vật Chí Phèo 15

3.2.2 Nhân vật Bá Kiến 18

3.2.3 Nhân vật Thị Nở 18

3.2.4 Nhân vật Bà cô Thị Nở 19

3.2.5 Những nhân vật khác 20

3.3 Chí Phèo - cấu trúc đa tầng nghĩa 21

4 Hiệu ứng của tác phẩm Chí Phèo với công chúng 4.1 Khái niệm “chân trời đón đợi” 23

4.2 Những luồng ý kiến phản đối khi tiếp nhận tác phẩm “Chí Phèo” 24

4.3 Những luồng ý kiến khen ngợi khi tiếp nhận tác phẩm “Chí Phèo” 25

5 Chí Phèo dưới góc nhìn xã hội học – thành tựu và hạn chế 5.1 Thành tựu về việc xác lập và lý giải tương quan giữa xã hội và tác phẩm Chí Phèo 27 5.2 Hạn chế về việc chỉ dùng hướng tiếp cận xã hội học với tác phẩm Chí Phèo 28 TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Văn chương là một lĩnh vực nghệ thuật quan trọng của đời sống Nó nhưmột tấm gương phản chiếu hiện thực qua nhiều góc độ khác nhau dưới cái nhìnthẩm mỹ của nhà văn Do đó, văn chương không bao giờ nằm ngoài môi trường

xã hội Hiện thực đời sống ít nhiều ảnh hưởng trực tiếp đến phong cách sáng táccủa từng nhà văn Đó là ảnh hưởng từ bầu sinh quyển xã hội hay hoàn cảnh lịch

sử nhất định Chính vì vậy mỗi tác phẩm văn chương đều mang một dấu ấn thờiđại Tuy nhiên, một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc đòi hỏi phải có một tầm nhìnbao quát, vượt ra khuôn khổ của thời đại mà nó sinh ra để gởi gắm những giá trị

có tính nhân văn cao đẹp

Nhà văn Nam Cao đã từng cho rằng một tác phẩm “Nghệ thuật không

phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối Nghệ thuật chỉ có thể

là tiếng kêu đau thương kia phát ra từ những kiếp lầm than” Thông qua tác

phẩm, các nhà văn chuyển đi một thông điệp chủ quan nhưng tàng chứa nhữngvấn nạn chung của cộng đồng mình sống, của nhân loại Chính vì vậy, mỗi tác

phẩm mà ông viết ra như “một cuộc thăm dò tâm hồn thời đại” Truyện ngắn

Chí Phèo của Nam Cao đã đi qua chặng đường đủ dài với những điều kiện thẩmđịnh khe khắt nhất, để biến chuyển từ một hiện trượng thành một giá trị Do đó,tiếp cận tác phẩm này của nhà văn dưới góc nhìn phê bình xã hội học sẽ giúp chongười đọc khám phá tầng sâu ý nghĩa hiện thực đời sống qua lăng kính thẩm mỹcủa văn chương nghệ thuật Từ đó, khẳng định những sáng tác của Nam Cao cósức sống mạnh mẽ trong lòng độc giả và đem đến cái nhìn toàn diện về hệ giá trịchân – thiện – mĩ

LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Tác phẩm Chí Phèo, nguyên có tên là Cái lò gạch cũ; khi in thành sách lần đầu năm 1941, Nhà Xuất bản Đời mới – Hà Nội tự ý đổi tên là Đôi lứa xứng

đôi Đến khi in lại trong tập Luống cày (do Hội Văn hóa cứu quốc xuất bản, Hà

Nội, 1946), Nam Cao đặt lại tên là Chí Phèo Nam Cao bắt đầu sáng tác từ năm

1936, nhưng đến tác phẩm Chí Phèo, nhà văn mới khẳng định được tài năng của mình Chí Phèo là một kiệt tác trong văn xuôi Việt Nam hiện đại, một truyện

ngắn có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, mới mẻ, chứng tỏ trình độ nghệthuật bậc thầy của một nhà văn lớn

Từ những năm 60 trở lại đây, hiện tượng Nam Cao và những sáng tác của

ông được các nhà nghiên cứu quan tâm một cách đặc biệt Các vấn đề “con

người tha hóa” được các tác giả ít nhiều thể hiện qua bài viết của mình Nam Cao - Tác phẩm và lời bình của nhà xuất bản văn học, 2011, bên cạnh những

truyện ngắn đặc sắc của Nam Cao thì đây là cuốn

Trang 4

sách tổng hợp những bài bình luận rất cụ thể, xác thực về những vấn đề xoay quanh tác

phẩm của nhà văn Trong đó có bài viết Qua truyện ngắn Chí Phèo bàn thêm cái nhìn về

hiện thực của Nam Cao của tác giả Trần Tuấn Lộ, người viết đã trình bày khá rõ về Chí

Phèo- người được coi là tên quỷ dữ của làng Vũ Đại (về nhân hình, nhân dạng và cả nhântinh) Tuy nhiên, điều người đọc quan tâm nhiều nhất về nhân vật này có lẽ là ở nhữngnguyên nhân dẫn đều thảm cảnh trong cuộc đời của Chí Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến

bị kịch trong cuộc đời nhân vật Chí Phèo có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhânchủ quan, nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp, nguyên nhân trước mắt và nguyên nhân sâu xa

Và trong quá trình triển khai nội dung đề tài, chúng tôi sẽ chú ý khai thác, tìm hiểu và đưa

ra những nhận định của bản thân về vấn đề này

Nguyễn Đăng Mạnh là người có rất nhiều công trình nghiên cứu về Nam Cao cũng

như các nhà văn khác, Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn là cuốn sách phê

bình văn học, cung cấp cho người đọc những tri thức bổ ích, thú vị, ý nghĩa về một số nhàvăn tiêu biểu như: Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân Trong đó, có

ba bài viết xuất sắc về Nam Cao đó là: Nhớ Nam Cao và những bài học của ông, Cái đói và

miếng ăn trong truyện ngắn Nam Cao và Đọc lại truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao Trong

cuộc sống, chuyện miếng ăn là chuyện nhỏ nhặt, vặt vãnh, tầm thường, là vấn đề tế nhị,nhạy cảm Nhưng không hề ngần ngại, Nam Cao đã đưa những chuyện đời thường nhiềukhi vụn vặt như thế vào trong tác phẩm của mình một cách tự nhiên, phóng túng, sinh động

và sâu sắc Trước 1945, ngoài việc phải đấu tranh chống lại giặc ngoại xâm, nhân dân tacòn phải đối diện với giặc đói, giặc dốt Trong đó, nạn đói được xem là một vấn nạn, mộtrào cản lớn nhất vừa đè nén nhân dân ta, vừa cản trở sự phát triển của đất nước, vừa làmnảy sinh những tệ nạn xã hội Đã có không ít nhà văn đề cập đến cái đói và miệng ăn trongtác phẩm của minh như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Hồng.Nhưng phải nói rằng Nam Cao vẫn là cây bút viết về vấn đề này nhiều hơn cả và viết mộtcách sâu sắc, cay đắng và day dứt hơn cả

Thành công lớn nhất của một người nghệ sĩ là tạo ra những điều mới lạ, độc đáo Vẫnviết về đề tài ấy nhưng mỗi người sẽ có một cách tiếp cận, một cách nhìn nhận và thể hiệnkhác nhau Nam Cao nói về chuyện miếng cơm, chuyện sinh tồn, chuyện cái đói nhưngkhông chỉ đơn thuần là để làm cho con người hết đói, hết chật vật với miếng ăn mà qua đónhà văn gửi gắm nhiều ý nghĩa sâu xa có giá trị nhân văn, nhân bản sâu sắc Nếu như ở tácphẩm của Ngô Tất Tố cũng như nhiều nhà văn cùng thời khác là tiếng kêu cứu đói thì ở tácphẩm của Nam Cao là tiếng kêu cứu lấy nhân cách, nhân phẩm, nhân tính cho con người,

những con người đang bị cái đói và miếng ăn làm cho “tiêu mòn đi, thiêu chột đi, hủy diệt

đi” Có thể nói Nam Cao là một trong những nhà văn lớn của thế kỉ XX được nhiều người

nghiên cứu nhất Nam Cao xuất hiện trên văn đàn khi các trào lưu văn học đã định hình vàphát triển, những cây bút tên tuổi đã được khẳng định và có chỗ đứng vững vàng Còn NamCao bắt đầu sự nghiệp sáng tác văn chương từ năm 1936, trong đó từ 1940 đến 1945 là thờigian ông viết nhiều nhất Tuy nhiên, sự nghiệp sáng tác của Nam Cao được chú ý từ năm

1941 với lời tựa của Lê Văn Trương cho tập Đôi lứa xứng đôi do nhà xuất bản Đời mới ấn

Trang 5

hành năm 1941 “Ông Nam Cao đã không hạ mình xuống bắt chước ai, không nói những

cái

Trang 6

người ta đã nói, không tả theo cái lối người ta đã tả Ông đã dám bước chân vào làng văn với những cạnh sắc riêng của mình” Ý kiến này cho thấy Nam Cao xuất hiện với một

phong cách sáng tác mới, táo bạo và có sắc thái riêng Năm 1952, tác phẩm của Nam Cao

đã trở thành đối tượng của khoa văn học với bài Nam Cao của Nguyễn Đinh Thị in trong

Mấy vấn đề văn học - (NXB Văn nghệ - HN 1956) Và từ đó đến nay đã có hàng trăm công

trình nghiên cứu về Nam Cao Tô Hoài đã có những bài viết rất sớm về Nam Cao như

Chúng ta mất Nam Cao (1954), Người và tác phẩm Nam Cao (1956) hay Những kỉ niệm Nam Cao (1991) và khẳng định “Nam Cao không che giấu, không màu mè gì hết, nói toạc cái cuộc sống cùng đường tận lối và nhơ nhớp của những người như anh” Ông khẳng định

tác phẩm của Nam Cao luôn thể hiện những trải nghiệm từ cuộc sống của tác giả Bên cạnh

đó còn có các bài viết như: Nam Cao - con người và xã hội cũ (1964) của Lê Đình Kị, hay Nguyễn Văn Trung có bài Con người bị từ chối quyền làm người trong truyện ngắn Chí

Phèo của Nam Cao (1965) Qua đó thể hiện tư tưởng tiến bộ của nhà văn là luôn đứng về

phía những người nghèo khổ, đồng thời phản ánh hiện thực xã hội và biểu hiện những suynghĩ, trăn trở trong tư tưởng Nam Cao Tư tưởng nhân văn của Nam Cao được thể hiện qua

tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nhân vật Chí Phèo, “Người ta từ chối cho

những Năm Ty, Binh Chức, Chí Phèo quyền làm người, quyền sống lương thiện như mọi người” Tác phẩm của Nam Cao không chỉ đặc sắc về giá trị nội dung tư tưởng mà còn ấn

tượng cả về phương diện nghệ thuật Nếu như nội dung là linh hồn thì nghệ thuật chính làthể xác chứa đựng, bao bọc, làm nên sự bền vững và sức sống lâu bền cho tác phẩm Vềphương diện này, Nam Cao đã đạt được những thành công nhất định

Một tác phẩm văn học hay và có ý nghĩa, ngoài việc cung cấp cho người đọc nhữngtri thức văn chương, những bước đi của lịch sử thì còn phải thấm đượm giá trị nhân đạo.Đây là nội dung không thể thiếu của một tác phẩm văn học, đặc biệt là những tác phẩmtrong trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945 Tác phẩm của Nam Cao có sức tácđộng rất mạnh mẽ đến suy nghĩ và tình cảm của người đọc một phần nhờ tiếng nói đồngcảm, xót thương của nhà văn đối với số phận của người nông dân trong xã hội lúc bấy giờ

Nam Cao “dẫn” nhân vật mình vào con đường tha hóa, lưu manh hóa, ngoài việc cho thấy,

vẽ nên bức tranh hiện thực lúc bấy giờ, ông còn nêu cao giá trị nhân đạo cao đẹp Tuy nhiên,

để hiểu một cách đầy đủ hơn về Nam Cao nhằm xác định các đóng góp của ông cho nềnvăn học Việt Nam hiện đại, chúng ta cần có một cái nhìn toàn diện, đa chiều hơn

1 Phê bình xã hội học văn học: giới thuyết và các tiêu điểm nghiên cứu

1.1 Giới thuyết

Phê bình xã hội học là một hướng tiếp cận văn học mang tính liên ngành, có sự kết

hợp giữa các khái niệm “văn học” với nền tảng khoa học xã hội Xu hướng này cho phép

làm nổi bật mối tương quan giữa văn học và xã hội Từ đó, đem đến những góc nhìn toàn

diện cho một tác phẩm văn học Đồng thời, nó cho phép “nghiên cứu quá trình phát ra diễn

ngôn, tiếp nhận diễn ngôn, vai trò trung gian, cũng như tất cả những gì liên quan tới các quá trình đó trong một dòng chảy lịch sử của quá trình giao tiếp có tính biểu tượng”.

Từ khi xuất hiện, phê bình xã hội học đã gây nhiều tranh cãi đối với giới chuyên môn.Tuy nhiên, ta không thể phủ nhận một điều là lý thuyết này thực sự nở rộ vào những năm

Trang 7

80, 90 của thế kỉ XX tại phương Tây Nĩ được xem là một hướng tiếp cận cịn khá mới lạ.Một số cơng trình nghiên cứu về phê bình xã hội học văn học:

- Cuốn sách quan trọng nhất chính thức đặt vấn đề về xu hướng phê bình xã hội học chính

là tác phẩm Về văn học trong quan hệ với các định chế xã hội của Germaine de Stặl Theo

đĩ, bà đề cập đến mối quan hệ ảnh hưởng giữa “định chế xã hội” đối với văn học và ngược

lại Stặl đã soi chiếu văn chương vào một khơng gian, bao gồm cả khía cạnh tơn giáo,phong tục, luật lệ, diễn cảnh xã hội và diễn cảnh chính trị của mỗi quốc gia

- Đến Hippolyte Taine, cơng trình Lịch sử văn chương Anh của ơng đã xác định văn chương

phụ thuộc rất lớn vào 3 yếu tố: giống nịi, mơi trường và thời điểm

- Vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, G Lanson nổi lên với cơng trình Văn học sử và

xã hội học Ơng cho rằng nhiệm vụ của lịch sử văn học là phải làm rõ được mối liên quan

của các phạm trù: mơi trường xã hội, tác giả, tác phẩm lẫn ảnh hưởng của tác phẩm tới độcgiả Tuy nhiên do nhiều vấn đề, hướng nghiên cứu này của ơng đã khơng thể tiếp tục pháttriển

- Sau sự dừng lại của “Chương trình G Lanson”, diễn trình phát triển của phê bình xã hội

học đã rẽ sang một hướng mới: trường phái Marxisme với các đại diện tiêu biểu là GeorgLukács và Lucien Goldmann Phương pháp tiếp cận của L Goldmann dựa trên chủ nghĩa

cấu trúc phát sinh “Ơng tìm cách chỉ ra những tương hợp giữa các cấu trúc của một tác

phẩm văn học hay triết học với những cấu trúc xã hội và kinh tế của một nhĩm xã hội hay một giai cấp mà nhà văn (hay nhà triết học với tư cách là một tác giả) phụ thuộc vào”.

- Đến với Robert Escarpit, xã hội học văn học của ơng lại quan tâm đến quá trình sản xuất,phát hành và tiêu thụ văn bản viết

- Theo Claude Duchet, phương pháp nghiên cứu này quan tâm đến bản chất xã hội trongvăn bản văn học, nhưng hơn hết là quan tâm đến mối quan hệ giữa con người với mơitrường trong quá trình tiếp cận tác phẩm văn học

- Đặc biệt, Pierre Bourdieu và những thành quả nghiên cứu của ơng về “lý thuyết trường”

đã đặt nền tảng cho một hướng nghiên cứu xã hội học văn học hồn tồn mới từ nửa sau thế

kỷ XX

Ở Việt Nam, sự du nhập của hướng tiếp cận này cũng mang lại một làn giĩ mới chophê bình văn học Từ đĩ làm phong phú hơn diễn đàn văn học nghệ thuật nước nhà Phươngpháp xã hội học cũng đã được các nhà nghiên cứu văn học áp dụng từ lâu Tuy nhiên nĩthường được kết hợp với các phương pháp khác để giúp nhà nghiên cứu đánh giá tồn diệnmột đối tượng Nhìn chung các nhà nghiên cứu của Việt Nam thường kết hợp nghiên cứuhồn cảnh xã hội với nghiên cứu thân thế tiểu sử, con người, sự nghiệp của nhà văn để tìmhiểu tác phẩm Cĩ thể nĩi xuất phát điểm của cách làm này là hợp lý Chỉ cĩ điều nếu quá lệthuộc vào các yếu tố thân thế nhà văn và hồn cảnh xã hội thì đơi khi sẽ dẫn đến những kếtluận khiên cưỡng

Tĩm lại, phương pháp xã hội học cĩ nhiệm vụ tìm hiểu các mối quan hệ giữa văn họcvới xã hội Tuy nhiên cần lưu ý rằng đây chỉ là một phương pháp bổ sung để giúp ta hiểuđược những khía cạnh ngoại văn học cĩ liên quan mật thiết đến bản chất của hiện tượng văn

Trang 8

học, từ đó hiểu rõ bản chất của đối tượng nghiên cứu.

1.2 Tiêu điểm nghiên cứu

Phê bình xã hội học văn học tập trung nghiên cứu 3 lĩnh vực: xã hội học sáng tác, xãhội học văn bản và xã hội học tiếp nhận

Trong bài viết này, khi nghiên cứu Chí Phèo của Nam Cao dưới góc nhìn phê bình xã hội

học, nhóm chủ yếu đề cập đến những nội dung sau:

- Yếu tố xã hội tác động đến hành trình sáng tác của Nam Cao (Khảo sát môi trường xã hội

và văn nghiệp của nhà văn để nghiên cứu được những đặc tính xã hội, hoàn cảnh kinh tế

-xã hội, hoàn cảnh thực tế của hoạt động sáng tác văn chương mà tác giả chịu ảnh hưởng.)

- Từ cấu trúc tác phẩm Chí Phèo đến tư tưởng của nhà văn Nam Cao

(Khảo sát những quan điểm nghệ thuật và cuộc sống của tác giả thể hiện trong tác phẩmthông qua hệ thống nhân vật và tình huống truyện đặc sắc để làm nổi bật giá trị tư tưởng.)

- Hiệu ứng của tác phẩm Chí Phèo đến với công chúng

(Khảo sát về các định chế và hệ thống liên kết của nhà văn để làm rõ mức độ tác phẩm đượcthừa nhận trong hoàn cảnh cụ thể.)

- Thành tựu và những hạn chế

(Thông qua hướng tiếp cận xã hội học, nêu nhận xét về những điểm đặc sắc của tác phẩm

và tài năng của nhà văn Đồng thời chỉ ra những hạn chế của hướng nghiên cứu này đối vớitác phẩm.)

Với những tiêu điểm nghiên cứu nêu trên, bài viết mong muốn đem lại một góc nhìnmới, khách quan và toàn diện cho một tác phẩm văn học đặc sắc của nhà văn tài năng NamCao

2 Yếu tố xã hội tác động đến hành trình sáng tác Chí Phèo của nhà văn Nam Cao

2.1 Tư thế nhà văn và hành trình xã hội

Theo nhà xã hội học người Pháp P.Buordieu, “tư thế nhà văn” từ dùng theo Viala, Maingueneau, Meizoz) là một “cách thức định vị” để nhà văn thể hiện chính mình trước

công chúng thông qua hai yếu tố: ngoại hình và các phương tiện diễn ngôn Tiến trình nắmgiữ hoặc thể hiện tư thế của một nhà văn không trường cửu, nó có thể thay đổi theo thờigian Tương ứng với những hoàn cảnh sống khác nhau, dưới những áp lực tác động khácnhau của xã hội, nhà văn có thể có một hoặc nhiều tư thế Mỗi tư thế đều đem đến một cáchthức định vị đối với người đọc Từ khái niệm này, ứng dụng vào phê bình xã hội học, chúngtôi có thể khảo sát diện mạo của nhà văn thông qua nhiều tư thế mà họ từng nắm giữ, hoặc

đi tìm các “dấu ấn” đặc thù trong sự liên tục của cùng một tư thế để làm sáng tỏ các “chiến

thuật văn chương”, sự hiện tại hóa khả năng của nhà văn trên bình diện xã hội để đạt đến sự

thừa nhận và tự chủ

Trường hợp tác giả Nam Cao, việc nghiên cứu “hành trình xã hội” của ông khi sáng tác tác phẩm Chí Phèo cũng chính là nghiên cứu về tư thế nhà văn Bởi lẽ, theo P Bourdieu, hành trình xã hội “được định nghĩa như một chuỗi các vị trí liên tục được nắm giữ bởi một

tác nhân hay một nhóm tác nhân trong những không gian liên tiếp” Sống giữa thời đại

nhiều xáo trộn Nam Cao hiện lên với rất nhiều vị thế mang các đặc tính xã hội khác nhau.Tuy nhiên ở đây, người viết sẽ chỉ quan sát một số tư thế có quan hệ trực tiếp với sự ra đời

Trang 9

của tác phẩm Chí Phèo.

Nam Cao sinh và và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo có xuất thân từ mộtgia đình Công giáo ở nông thôn Cha ông là ông Trần Hữu Huệ, làm và kinh doanh nghềmộc, có thời gian làm nghề thầy lang trong làng Mẹ ông là bà Trần Thị Minh, vừa là nộitrợ, làm vườn, làm ruộng và dệt vải Nam Cao tên khai sinh là Trần Hữu Tri (có nguồn ghi

là Trần Hữu Trí, sinh ngày 29 tháng 10 năm 1915 nhưng giấy khai sinh ghi là 1917 Quêông tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân (nay là xã Hòa Hậu,huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) Ông đã ghép hai chữ đầu tiên của tên tổng và huyện làm bútdanh: Nam Cao

Thuở nhỏ, Nam Cao học sơ học ở trường làng Đến cấp tiểu học và bậc trung học, giađình gửi ông xuống Nam Định học ở trường Cửa Bắc rồi trường Thành Chung (nay làtrường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong, Nam Định) 1934 học xong bậc trunghọc, nhưng bị ngã và đau ốm nên chưa thi lấy bằng Thành chung Đâu năm 1935 cưới vợ,Trần Thị Sen (tên thánh Maria Sen), người cùng làng Tháng 11/1935 Nam Cao vào SàiGòn, ở lại đây 30 tháng, sống bằng nghề làm thư ký hiệu may Ba Lễ, đồng thời bắt đầu viết

văn, gửi cho các báo Năm 1936 được đăng các truyện ngắn "Cảnh cuối cùng" và "Hai cái xác"

dưới bút danh Thúy Rư trên tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy (Hà Nội) Năm 1937 được đăng

các truyện ngắn "Một bà hào hiệp", "Nghèo", "Đui mù" dưới bút danh Thúy Rư trên Tiểu thuyết thứ bảy, Truyện "Những cánh hoa tàn" trên báo Ích Hữu (Hà Nội) Tháng 5/1938, vì lí do sức

khoẻ, Nam Cao trở ra Bắc, về quê

Trở ra Bắc, sau khi tự học lại để thi lấy bằng Thành chung, Nam Cao lên Hà Nội dạyhọc ở Trường tư thục Công Thanh, trên đường Thụy Khuê, Hà Nội Ông đưa in truyện ngắn

“Cái chết của con Mực” trên báo Hà Nội tân văn (1940) và in thơ cũng trên báo này với

các bút danh Xuân Du, Nguyệt Năm 1941, tập truyện đầu tay Đôi lứa xứng đôi, tên trong bản thảo là Cái lò gạch cũ, với bút danh Nam Cao do Nhà xuất bản Đời mới Hà Nội ấn

hành được đón nhận như là một hiện tượng văn học thời đó Sau này khi in lại (1945), Nam

Cao đã đổi tên là Chí Phèo Phát xít Nhật xâm chiếm Đông Dương, trường sở bị trưng dụng,

ông rời Hà Nội, về dạy học ở Trường tư thục Kỳ Giang, tỉnh Thái Bình, rồi về lại làng quêĐại Hoàng Thời kỳ này, Nam Cao cho ra đời nhiều tác phẩm Ông in truyện dài nhiều kỳ

Truyện người hàng xóm trên tờ Trung Bắc Chủ nhật, viết xong tiểu thuyết Chết mòn, sau

đổi là Sống mòn

Khi mới xuất hiện trên văn đàn, tác phẩm của ông chưa thực sự được đánh giá cao

Tuy nhiên, khi tác phẩm Chí Phèo- tập truyện đầu tay có tên Đôi lứa xứng đôi, tên trong bản thảo là Cái lò gạch cũ, với bút danh Nam Cao do Nhà xuất bản Đời mới Hà Nội ấn

hành được đón nhận như là một hiện tượng văn học thời đó Sau này khi in lại (1945), Nam

Cao đã đổi tên là Chí Phèo, nó không chỉ đánh dấu mốc quan trong trong sự nghiệp của ông

mà còn gây được tiếng vang lớn ở trong và ngoài nước Và hình ảnh Làng Vũ Đại hay còngọi là làng Đại Hoàng, nay là làng Nhân Hậu xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Namđồng thời là quê hương của nhà văn Nam Cao xuất hiện trong tác phẩm cho thấy cuộc sống

bì bách, tù túng, ngột ngạt của con người khi phải chịu áp bức của thực dân và bọn phongkiến tay sai Vì thế, đời sống nông thôn và những người lao động đã để lại nhiều dấu ấn

Trang 10

đậm nét trong các sáng tác của ông.

Như vậy, giai đoạn 1930-1945 trở đi, văn học nghệ thuật nói chung và sự nghiệp văn

chương của Nam Cao đã có những chuyển biến Đây là thời kì “khai mở”, “cởi trói” cho

giới văn nghệ sĩ trong việc tìm tòi sáng tạo và đổi mới Văn học hiện thực phê phán ở ViệtNam phát triển qua ba chặng Nếu như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố

là những đại diện tiêu biểu cho hai chặng đường phát triển trước thì Nam Cao là đại biểu ưu

tú nhất cho trào lưu văn học hiện thực phê phán ở chặng đường cuối cùng Qua những sángtác viết về người nông dân Nam Cao đã dựng nên bức tranh chân thực về nông thôn ViệtNam những năm 1940 – 1945 Với việc khai thác những chuyện đời tư vặt vãnh hàng ngày,Nam Cao đã viết sâu sắc về hình ảnh người nông dân và người trí thức, đặc biệt là sự thahóa của con người trước những tác động của hoàn cảnh Để có được những sáng tác độcđáo và có giá trị, ngoài yếu tố cá nhân, Nam Cao còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của hiện thựcđời sống xã hội lúc bấy giờ

2.2 Hành trình văn học

Khi nói đến hành trình văn học là đề cập đến “quãng đường văn nghiệp” của một ai

đó Một nhà văn được gọi là chuyên nghiệp khi anh ta có cho riêng mình một “hành trình

văn học” nhất định Ngược lại, những người hoạt động nhất thời, không có sự nghiệp được

xem là các tác giả nghiệp dư hay tác giả nhất thời Hành trình văn học của Nam Cao khálớn Ông được xem là đại biểu ưu tú cho trào lưu văn học hiện thực phê phán ở chặngđường cuối cùng Ông để lại sức ảnh hưởng và dấu ấn lâu dài trên văn đàn với viết nhiềuthể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận văn chương, kịch nhưng đặc sắc nhất là truyệnngắn

Văn nghiệp của Nam Cao có thể chia làm hai gia đoạn là trước và sau Cách mạngTháng Tám năm 1945 Có thể nói, trong suốt giai đoạn tuổi trẻ của mình, Nam Cao đã đinhiều nơi, làm nhiều nghề, từng nếm trải những đắng cay, vất vả của cuộc sống, tham giahoạt động cách mạng và chứng kiến cuộc sống bị bứt đến đường cùng, bị tha hóa của ngườinông dân trong xã hội quanh mình, trong có có cả chính bản thân tác giả Trong tác phẩm,Nam Cao vận dụng vốn kiến thức của mình để có một cái nhìn toàn diện, đa chiều về cácvấn đề phức tạp của cuộc sống

Bên cạnh đó, quê hương – gia đình cũng để lại nhiều dấu ấn trong các sáng tác củaNam Cao Ông từng chia sẻ rằng, cuộc sống ở nông thôn và những người nông dân ảnhhưởng rất nhiều trong các sáng tác Ông xa gia đình đi học từ nhỏ, vất vả nhiều nghề, cóngười con bị chết trong nạn đói năm 1945, những ký ức ngày thơ bé ấy đã hằn sâu trong trínhớ của nhà văn Sau này, chúng trở thành những chất liệu hiện thực đắt giá để ông sángtạo nên các tác phẩm nghệ thuật của mình Khi tiếp xúc với các bài nghiên cứu về Nam Caohay tác phẩm của ông, chúng ta dễ dàng thấy rằng, ông là một người khá chân chất Ôngbảo rằng, sự chân chất đó ảnh hưởng từ người mẹ nông dân và đời sống nông thôn ở quênhà thuở nhỏ Chính điều này về sau đã giúp cho nhà văn có được vốn kiến thức phong phú

về nông thôn, về các vùng miền

Trong khoảng thời gian làm nghề Nam Cao hiểu rõ về cuộc sống của anh em nhàgiáo, nhà báo và nhà văn Những trải nghiệm đó giúp ông am hiểu được góc khuất của đời

Trang 11

sống văn nghệ sĩ, xây dựng nên những nhân vật trí thức ám ảnh chúng ta bởi những bi kịchcủa cuộc đồi mà cái chung cho những bi kịch ấy là không có lối thoát Suốt một đời cầm bút,Nam Cao luôn trăn trở về ý nghĩa công việc viết văn mà mình theo đuổi để rồi ông đã tìmđược câu trả lời cho mình Ông nhận ra rằng dường dù thể hiện theo những cách như thếnào thì điều quan trọng rất cần phải hướng đến và gắn bó với đời sống của quần chúng nhândân.

Nam Cao không đồng tình với thứ văn chương xa rời, lãnh đạm với đời sống đen tối,bất công mà con người chịu đựng Với những cách viết như thế, nhà văn cho rằng dù có đẹp,

có hay nhưng đó chỉ là cái đẹp, cái hay của “ánh trăng lừa dối” Trong “Trăng sáng”

(1942), nhà văn đã phát biểu đanh thép cách nhìn nhận đó của mình bằng một tuyên ngôn:

“Chao ôi! Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật phải là tiếng đau khổ kia thoát ra từ kiếp lầm than” Với tuyên ngôn đó, ta có thể

nhận thấy quan điểm nghệ thuật của Nam Cao là đứng về phía đối lập với quan điểm nghệthuật vị nghệ thuật để tỏ rõ mong muốn rằng nghệ thuật rất cần đồng hành cùng với nhữngđau đớn, lầm than của con người.Thế nên, trong tác phẩm của mình, Nam Cao luôn nhìn

thẳng vào sự thật dù cho nó có “tàn nhẫn” thông qua cách phản ánh bộ mặt của đời sống xã

hội Ông không ngại vạch trần bộ mặt tàn ác, xấu xa của bọn thống trị như Bá Kiến đãkhiến cho cuộc sống con người trở nên bi thảm, đau thương Sẵn sàng cậy vào quyền thếcủa mình, Bá Biến chính là kẻ mà dồn đẩy một con người vốn có xuất phát điểm là lươngthiện, chất phác như Chí Phèo đến chỗ cùng đường để rồi trở thành một tên côn đồ bấtlương, một con quỷ gieo rắc biết bao nhiêu tai vạ cho dân làng Vũ Đại Đó cũng chính làChí Phèo, một con người sống trong sự vô thừa nhận của xã hội vì mang tiếng rạch mặt, ăn

vạ và đến cuối cùng khi mong muốn được hoàn lương thì cũng không được đón nhận để rồicũng tìm đến cái chết như một sự giải thoát cho cuộc đời Nam Cao khi xác định mục đíchcủa nghệ thuật là gắn liền với đời sống của con người, ông đã thẳng thắn lên tiếng tố cáo cáixấu, cái ác và vì những người sống khốn khổ, cùng quẫn, ông sẵn sàng lên tiếng và bộc lộtiếng nói yêu thương

Như vậy, hành trình xã hội và hành trình văn học đã phác thảo ra một bức tranh tổngthể, trong đó bao hàm nguồn gốc gia đình, xã hội, trình độ học vấn, các thể loại, quan niệmthẩm mỹ mà nhà văn hướng đến Các thông tin này, bước đầu tạo điều kiện để khu biệtNam Cao với các nhà văn khác cùng thời đại Đồng thời, nó cũng góp phần lý giải một sốảnh hưởng, các điều kiện cần và đủ, những động lực thúc đẩy đến sự ra đời của tác phẩmChí Phèo

3 Từ cấu trúc tác phẩm Chí Phèo đến tư tưởng của nhà văn Nam Cao

Để khảo sát và tìm hiểu tư tưởng nghệ thuật của nhà văn chúng ta căn cứ vào “hình

tượng nghệ thuật” bởi khi đã nói tư tưởng nghệ thuật thì chỉ có một cách biểu hiện duy nhất

là hình tượng nghệ thuật Theo Nguyễn Đăng Mạnh thì “Hình tượng nghệ thuật là căn cứ

duy nhất để nhà nghiên cứu có thể tóm bắt được tư tưởng nghệ thuật của ông ta” Và tư

tưởng nghệ thuật không thể có sự tách rời giữa nội dung và hình thức văn học, giữa tưtưởng và tài năng nghệ sĩ Vì thế mà để hiểu được tư tưởng của nhà văn Nam Cao thể hiện

trong tác phẩm Chí Phèo chúng ta cần khai thác từ nội hàm tác phẩm Mà đầu tiên ta cần

Trang 12

nắm bắt được cấu trúc thủ pháp và hệ thống nhân vật trong tác phẩm.

3.1 Cấu trúc thủ pháp nghệ thuật

3.1.1 Kết cấu

“Kết cấu là toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm” (Trần Đình Sử,

Văn học tập 1, Nhà xuất bản Hà Nội, 1993) Có thể hiểu, kết cấu góp phần triển khai, trìnhbày hấp dẫn cốt truyện, cấu trúc hợp lí hệ thống nhân vật, tổ chức điểm nhìn trần thuật, tạo

ra tính toàn vẹn của tác phẩm Như vậy, kết cấu của tác phẩm văn học vô cùng quan trọng

Nó không chỉ bộc lộ chủ đề, tư tưởng mà còn góp phần quyết định đến sức hấp dẫn của tácphẩm Với Chí Phèo, kể từ khi xuất hiện, tác phẩm này đã gây ấn tượng, không chỉ nộidung câu chuyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật mà còn tạo ấn tượng bởi kết cấu độc, lạ

Theo đó, kết cấu của truyện ngắn Chí Phèo bao gồm:

-Kết cấu mở: kết thúc tác phẩm, Thị Nở sinh ra một đứa con trong cái lò gạch cũ Hoàncảnh ra đời của đứa bé giống như Chí Phèo thuở trước, cũng bị bỏ rơi ở cái lò gạch cũ Và

khi Chí giết Bá Kiến và tự sát thì Thị nhìn về xa xa, nghĩ về một “Chí Phèo” con sẽ xuất

hiện với hình ảnh thấp thoáng cái lò gạch cũ không người qua lại

-Kết cấu vòng tròn: sự việc Chí Phèo ra đời, lớn lên, trưởng thành, đau khổ cho đến kết thúc

là con Chí Phèo ra đời lại sẽ tiếp tục cái vòng luẩn quẩn ấy

-Kết cấu đầu – cuối tương ứng: mở đầu là sự ra đời của Chí Phèo trong cái lò gạch cũ bỏhoang Kết thúc tác phẩm là sự ra đời của con Chí Phèo cũng trong cái lò gạch cũ

Về nhận thức có phần bị hạn chế nhưng lại rất thành công về mặt nghệ thuật Quahình tượng nhân vật Chí Phèo, tác giả Nam Cao không những phản ánh được cuộc sống đentối bế tắc của người dân dưới chế độ thực dân phong kiến mà còn được thể hiện một cáchsâu sắc Cái bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của họ Chí Phèo dẫu là đứa con khôngthừa nhận nhưng được nuôi dưỡng cẩn thận Trong anh tồn chứa những phẩm chất tốt đẹpcủa người nông dân bình dị, hiền lành và tốt bụng Thế nhưng, người nông dân lương thiện

ấy nhanh chóng bị đẩy vào con đường lưu manh dần dần bị tha hoá Thế lực gây nên bi kịch

ấy không ai khác chính là bọn cường hào, ác bá trong làng Đùng một cái, người ta thấy línhdẫn giải Chí Phèo đi Hắn đi tù Không ai hiểu hắn bị đi tù vì lí do gì Nhà tù thực dân đã

tiếp tay cho cường hào thâm độc để giết chết phần “người” trong con người Chí Phèo, biến

Chí thành Phèo, biến người nông dân lương thiện thành quỷ dữ Chí Phèo là đại diện chonỗi thống khổ ghê gớm của con người dưới chế độ thực dân nửa phong kiến Nỗi thống khổ

đó không phải là không nhà, không cửa, không cha không mẹ, không họ hàng thân thích;

mà chính là Chí Phèo bị xã hội vằm nát cả một mặt người, cướp đi linh hồn người, phảisống kiếp sống tối tăm của con vật lạ

Đó chính là nỗi thống khổ của cá thể sinh ra là người nhưng lại không được làmngười và bị xã hội từ chối, xua đuổi Chí Phèo cũng là đại diện tiêu biểu cho bản chất lươngthiện của những con người khốn khổ vốn thấp cổ bé họng trong xã hội Bị cưỡng bức tàn tệnhưng không thể nào kêu than, mà cũng chẳng biết kêu với ai Luôn tha thiết mong đượcthương yêu, được cảm thông và được sống hòa nhập với mọi người nhưng lại bị chính xãhội rũ bỏ Bởi thế, Chí Phèo nhận thấy hắn không thể trở lại làm người lương thiện được.Thị Nở là cứu cánh cuối cùng nhưng cũng đã buông tay khiến cho Chí Phèo hoàn toàn rơi

Trang 13

vào tuyệt vọng Chí Phèo chết nhưng mầm sống của hắn đã kịp gieo vào Thị Nở Câuchuyện kết thúc nhưng những xung đột chưa hẳn đã chấm dứt Hình ảnh cái lò gạch cũ lại

hiện ra đầy sức ám ảnh Với truyện ngắn “Chí Phèo”, nhà văn Nam Cao đã khái quát một

hiện tượng xã hội ở nông thôn Việt Nam trước năm 1945, một bộ phận nông dân lao độnglương thiện bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa Nhà văn đã kết án đanh thép cái

xã hội tàn bạo tàn phá cả thể xác và tâm hồn người nông dân lao động, đồng thời khẳngđịnh bản chất lương thiện của họ, ngay trong khi họ bị vùi dập mất cả nhân hình, nhân tính

“Chí Phèo” là một tác phẩm có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc, mới mẻ Việc

lặp lại hai lần chi tiết cái lò gạch cũ và lấy chi tiết ấy đặt tên cho tác phẩm, Nam Cao đã nóilên một điều rằng: chừng nào còn có xã hội bất công, tàn bạo, có cơ chế sản sinh ra tội ác,chừng ấy còn có hiện tượng Chí Phèo Qua kết cấu này, chúng ta thấy, Nam Cao đã nhậnthức được cái tận cùng của xung đột giai cấp ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng thángTám

Tác phẩm không chỉ có giá trị nghệ thuật sâu sắc mà còn có giá trị nhân đạo cao.Chính vì thế mà hơn nửa thế kỉ đã trôi qua, tác phẩm Chí Phèo ngày càng được khẳng định,được khám phá từ những góc độ mới mẻ và chắc chắn sẽ tồn tại vĩnh viễn trong lịch sử vănhọc Việt Nam như một viên ngọc sáng ngời

3.1.2 Điểm nhìn trần thuật

Sự độc đáo trong điểm nhìn trần thuật của Chí Phèo trước hết được tạo nên bởi cách

dẫn chuyện linh hoạt và vô cùng hấp dẫn Đoạn mở đầu rất độc đáo gây ấn tượng mạnh bởi

lối trần thuật nửa trực tiếp, có sự đan xen giữa lời người kể chuyện “Hắn vừa đi vừa

chửi ” với độc thoại của nhân vật “Ờ! Thế này thì tức thật! ” Tác giả đã phá vỡ trật tự

thông thường, dùng lối tự sự theo dòng nội tâm nhân vật để thuật lại diễn biến sự việc Vìthế, trong lời trần thuật, hiện tại và hồi ức cứ lồng ghép vào nhau (đoạn mở đầu, đoạn tả Chí

Phèo “bâng khuâng tỉnh dậy sau một cơn say rất dài” ở cuối truyện, ), lời người kể và lời

nhân vật có khi nhập vào nhau khiến cho điểm nhìn trần thuật cũng thay đổi một cách linhđộng (lúc thì câu chuyện được thuật lại bằng một cái nhìn khách quan từ bên ngoài, lúc lạichuyển hoá thành điểm nhìn chủ quan của nhân vật từ bên trong)

So với dung lượng của một truyện ngắn thì tác phẩm Chí Phèo tương đối dài, nhưng nó

không hề nhàm chán bởi cách dẫn chuyện luôn biến ảo cùng những độc thoại nội tâm sinhđộng (chẳng hạn độc thoại nội tâm của nhân vật Chí Phèo sau cơn tỉnh rượu) Lời kể, ngôi

kể và điểm nhìn trong truyện ngắn Chí Phèo có đặc điểm:

- Sự luân phiên của các điểm nhìn: Điểm nhìn của người kể được luân phiên với điểm nhìncủa nhân vật =>Tạo cảm giác thú vị, thu hút người đọc

- Điểm nhìn trần thuật trong đoạn mở đầu: Được dịch chuyển linh hoạt giữa người kểchuyện với lời kể của nhân vật Mở đầu truyện ngắn là cái nhìn trần thuật của người kểchuyện Sau đó, với hình thức lời nửa trực tiếp, điểm nhìn của chủ thể trần thuật lại hóathân vào điểm nhìn của Chí Phèo Hình thức này cho phép chủ thể trần thuật di chuyểnđiểm nhìn rất linh hoạt, đồng thời với kiểu độc thoại nội tâm, chủ thể trần thuật có điều kiệnsoi chiếu vào những mảng tâm trạng sâu kín nhất của nhân vật, giúp người đọc hiểu rõ hơn

về từng nhân vật trong tác phẩm

Trang 14

- Điểm nhìn trong phân đoạn miêu tả cảnh Chí Phèo gây sự với người nhà bá Kiến: Người

kể không hoàn toàn miêu tả cảnh Chí Phèo gây sự với người nhà bá Kiến chỉ từ điểm nhìncủa mình bởi trong lời kể của tác giả có đan xen lời bàn tán, xì xèo, suy luận của người dânxung quanh đứng hóng chuyện

- Điểm nhìn trong phân đoạn Chí Phèo lúc đón nhận bát cháo hành của Thị Nở: Người kểchuyện đặt điểm nhìn của mình với vai trò là người chứng kiến toàn bộ sự việc, hiểu rõ tínhcách cũng như tâm lý của những người trong cuộc, từ đó đưa ra cách miêu tả chân thực nhất

về diễn biến tâm lý của từng nhân vật Thái độ người kể chuyện đối với Chí Phèo và Thị Nởqua hệ thống điểm nhìn và lời kể: Người kể chuyện đã đặt mình và vị trí của nhân vật, nóilên tâm tư, nguyện vọng của họ Chí Phèo thì muốn quay lại làm người lương thiện, muốn

có cuộc sống bình yên, hạnh phúc Thị Nở thì khát khao hạnh phúc dù xấu xí và đã quá tuổilấy chồng Tất cả đều thể hiện sự tôn trọng đối với mỗi nhân vật Giọng điệu trần thuật gầngũi, dễ hiểu, thể hiện rõ sự thay đổi trong tâm sinh lý của Chí Phèo từ con quỷ làng Vũ Đạimuốn trở lại làm người bình thường, kiếm tìm hạnh phúc

- Điểm nhìn trong đoạn kết thúc tác phẩm: Từ vai trò là một người kể chuyện, chứng kiếntoàn bộ câu chuyện diễn ra, hiểu rõ diễn biến, tâm lý của mỗi nhân vật, tác giả chuyển mìnhthành giọng điệu của người dân làng Vũ Đại, bàn tán xôn xao về vụ việc vừa qua với nhữngsắc thái, cung bậc cảm xúc khác nhau Người kể chuyện không đưa ra lời bình luận trực tiếpnào cho sự việc xảy ra ở làng Vũ Đại mà tác giả thể hiện sự đánh giá của mình qua lời nóicủa người dân làng Vũ Đại => Qua đó, người kể chuyện thể hiện góc nhìn đa chiều củamình

Nhận xét chung về lời kể và điểm nhìn: Lời kể và điểm nhìn của người kể chuyện thểhiện thái độ công bằng, bình đẳng, đánh giá một cách trung thực, khách quan nhất về nhânvật Chí Phèo Với ông, con người đều có quyền bình đẳng, phê phán xã hội vô nhân đạođày đọa con người Vì vậy, dưới góc nhìn khách quan của mình, Nam Cao đã đòi lại công

bằng cho một người được coi là “đáy xã hội”, bị mọi người hắt hủi.

3.1.3 Ngôn ngữ và giọng điệu

Trong tác phẩm của Nam Cao ngôn ngữ không chỉ là công cụ, là phương tiện miêu tả

mà còn là đối tượng miêu tả Ngôn ngữ trong sáng tác của Nam Cao là ngôn ngữ đa âm,

phức điệu, hiện đại Ông không chỉ sử dụng đắc địa đại từ nhân xưng: nó, hắn, y, thị, gã mà

còn có khả năng hóa thân, nhập vai vào tất cả các nhân vật, suy nghĩ và nói năng bằng tiếngnói của nhân vật Trong sáng tác của Nam Cao có sự hòa trộn giữa ngôn ngữ người kểchuyện và ngôn ngữ nhân vật, có sự chuyển hóa, trao đổi từ ngôn ngữ người kể chuyện

sang ngôn ngữ nhân vật Trong “Chí Phèo” diễn ra mạch ngầm đối thoại giữa người kể

chuyện với Chí Phèo, giữa nhân vật Chí Phèo với làng Vũ Đại Nam Cao để một đoạn cụ

Bá kể chuyện bà Tư nhưng thực chất là bày tỏ tâm trạng của mình Đó là ngôn ngữ đốithoại nội tại, một đặc trưng của ngôn ngữ trong sáng tác Nam Cao Sự thành thạo trong sửdụng ngôn ngữ của Nam Cao còn thể hiện ở ngôn ngữ đối thoại mang đầy chất văn xuôi đờithường, ngoài việc thực hiện chức năng tự sự còn là để khắc họa tính cách nội tâm nhân vật(Chí Phèo, Sống mòn, Lão Hạc…)

Bên cạnh đó Nam Cao có nhiều đóng góp trong việc miêu tả lời thoại nội tâm, tạo

Trang 15

điều kiện đi sâu vào phân tích tâm lý nhân vật, khiến nhân vật đối diện với chính mình tựphơi bày, tạo ra những cuộc tranh luận ngầm, bộc lộ ý kiến cá nhân của nhân vật về vấn đềnhân cách con người, sáng tạo nghệ thuật (Lão Hạc, Đời thừa, Giăng sáng, Sống mòn).Đoạn văn sử dụng hàng loạt những câu văn ngắn, rất ngắn tạo nôn nhịp điệu nhanh, dồn dập

và tạo nên kịch tính cho truyện Nỗi đau cứ lần lượt bị trần trụi ra, nỗi đau cứ ngày một bị

nhấn thêm một bậc nữa "Tức mình", rồi "tức thật! Thế này thì tức thật Tức chết đi mất", "mẹ

kiếp", "nghiến răng mà chửi" Nhưng câu văn ngắn đã cho ta cảm nhận được trực tiếp nỗi đau

của Chí Chí tìm mọi cách bật ra nỗi cô lập của bản thân nhưng đều không được và hiện lêntrong đoạn văn là hình ảnh Chí Phèo đang vật vã, đang quằn quại trong nỗi đau khổ, trong bikịch bị cự tuyệt quyền làm người của mình Ngữ điệu của những câu văn thay đổi rất linhhoạt và các cung bậc của bài chửi – các cung bậc của nỗi đau cùng được bộc lộ từ đó

Những từ ngữ cảm thán mang sắc thái bình luận sử dụng với mật độ dày đặc: "Có hề gì?", "Tức

thật", "Ờ thế này thì tức thật!"…, "Mẹ kiếp", "Thế có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không?"

"A ha!", "có trời mà biết!" một mặt đã làm sinh động thêm cho câu văn, một mặt bộc lộ được sắc

thái tình cảm của nhân vật, bộc lộ thái độ bình luận của người kể chuyện Trong đoạn văn,

tác giả sử dụng rất nhiều hình thức phủ định: "chẳng sao", "chẳng là ai", "trừ", "không ai lên

tiếng","không chửi nhau với hắn", "không ai ra điều", "có phí rượu không", "có khổ hắn không?",

"không biết đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn…", "có trời mà biết", "hắn không biết", "cả làng Vũ Đại không ai biết" Dù là trực tiếp phủ định hay dùng hình thức hỏi để phủ định nhưng nó

đều nhằm một mục đích phủ định có một Chí Phèo trên cuộc đời này, khẳng định cái sự hư

vô, cô đơn, trống trụi của Chí Phèo Dù là có cố gắng giao tiếp với loài người nhưng Chí vẫn

là con số không, không bè bạn, không có những cử chỉ bình thường đôi với hắn như một conngười; duy chỉ có trong hắn một cái mang hình hài hài rõ rệt, đó là khôi cô đơn ngày càngkết tụ sâu sắc, gay gắt, xót xa

Về phương thức sử dụng ngôn từ thì đoạn văn không phải là một sáng tạo độc đáo,mới mẻ của riêng Nam Cao nhưng cái độc đáo là ở sự chân xác trong cách chọn ngôn từphù hợp với tình huông của nhân vật Chí Phèo giao tiếp với cuộc đời nhưng lại phải giaotiếp ở điều kiện không bình thường là trong cơn say, trong lúc đầy uất ức, hận đời, có đôitượng cụ thể mà chưa có cách nào hướng trực tiếp vào nó Ngôn ngữ của Nam Cao chínhxác bởi nhà văn đã có sự nhập thân vào nhân vật, hiểu hết tâm lí của nhân vật Phải hiểu vàthông cảm thì Nam Cao mới viết được những câu văn tràn đầy tâm trạng, nỗi lòng trăn trởnhư vậy Cách kể của Nam Cao cứ tăng dần nhịp điệu phù hợp với sự vận động của tâmtrạng, hành động của nhân vật; chỉ bằng một đoạn văn ngắn mà đã định hình được một conngười với nhiều sắc thái tình cảm, tâm trạng Ngôn ngữ đã tái họa nhân vật sông động mà

có người từng phải thốt lên: Chí Phèo đã ngật ngưỡng bước ra ngoài đời với tiếng chửi côđơn ấy

Cách xưng hô của Nam Cao rất lạ: "hắn" Nếu chỉ xét bề ngoài của ngôn ngữ thì dường như nhà văn "khinh miệt" Chí Phèo, lạnh lùng, tàn nhẫn với nhân vật nhưng phải thật tinh tế

ta mới nhận ra được những điều ẩn chứa đằng sau câu chữ Nhà văn xưng hô như yây là đểđảm bảo được sự khách quan, người đọc từ đó mà cảm nhận cũng thật khách quan điều màtác giả miêu tả có lẽ khi nhà văn viết những dòng này thì ông cũng phải đau đớn

Ngày đăng: 27/09/2023, 14:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[4] Nguyễn Đăng Mạnh, Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn
Nhà XB: NXB giáo dục
[8] Nguyễn Văn Dân - Xã hội học văn học và nghiên cứu văn học theo hướng xã hội học – Tạp chí Tao Đàn (https://taodan.com.vn/xa-hoi-hoc-van-hoc-va-nghien-cuu-van- hoc.html ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học văn học và nghiên cứu văn học theo hướng xã hội học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Tạp chí Tao Đàn
[7] Báo Tiền Phong, https://tienphong.vn/tac-pham-chi-pheo-duoc-doi-xu-ra-sao-trong-cac-truong-dh-tren-the-gioi-post995489.tpo Link
[1] Trịnh Bá Đĩnh, Lịch sử lí luận phê bình Văn học Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, 2013 Khác
[2] Nguyễn Văn Hạnh, Một số vấn đề về văn hóa và văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2022 Khác
[3] Phạm Ngọc Hiền, Thi pháp học, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2019 Khác
[5] Phạm Văn Quang, Xã hội học Văn học Một số vấn đề cơ bản, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2019 Khác
[6] Hoàng Phong Tuấn, Tạp chí khoa học ĐHSP TPHCM, Số 17, năm 2019 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w