Văn học là một tấm gương phản ánh cuộc sống qua mọi thời đại. Tác phẩm văn học chính là đứa con tinh thần của mỗi nhà văn. Mỗi tác phẩm hay và có giá trị, nó phải mang giá trị nhân bản sâu sắc và mang hơi thở của cuộc sống. Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người đọc về khả năng nắm bắt và tái hiện cuộc sống hiện thực, tiểu thuyết Việt Nam những năm gần đây có những bước chuyển mình rất đáng ghi nhận. Dưới góc nhìn phân tâm học, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh đã dẫn dắt người đọc khám khá tâm thức, chạm đến ngõ ngách sâu thẳm trong thế giới tinh thần của con người. Với tư cách là người sáng lập ra phân tâm học, Sigmund Freud đã cho chúng ta thấy sự thống trị của thế giới vô thức. Trong cõi vô thức ấy, con người sống thật với ẩn ức, mơ mộng, ám ảnh, khát vọng… của chính mình. Dẫu có thể bị chối bỏ đi chăng nữa thì thế giới vô thức cũng không thể mất đi được, ngược lại nó tồn tại như là một tất yếu trong mỗi linh hồn. Phân tâm học được thể hiện qua văn học như một lăng kính soi rọi những góc sâu kín trong thế giới nội tâm của con người. Phân tâm học và văn học như hai vòng tròn đồng tâm cùng hướng về con người. Bằng con đường văn học, phân tâm học đi đến trái tim của con người một cách uyển chuyển. Và ngược lại, trong phân tâm học, văn học đã tìm thấy con đường đi lý tưởng để bộc lộ chính mình. Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh đã để lại trong lòng độc giả những ấn tượng sâu đậm bởi tác phẩm chứa đựng trong đó những nghịch lý, những cái nhìn đa chiều về chiến tranh, về con người. Tác phẩm thể hiện một cách cảm thụ, cắt nghĩa và lý giải mới về đề tài chiến tranh, đồng thời nó cũng chứa đựng những cách tân về kỹ thuật viết tiểu thuyết. Điều hấp dẫn, lôi cuốn chúng tôi lựa chọn đề tài này là qua Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh để chỉ ra một phương diện nổi trội của thi pháp biểu hiện để đi sâu vào đời sống tâm linh một thế giới còn nhiều bí ẩn và khuất lấp đối với chính con người.
Trang 1PHÊ BÌNH PHÂN TÂM HỌC Ở VIỆT NAM
VÀ TRƯỜNG HỢP TIỂU THUYẾT “NỖI
BUỒN CHIẾN TRANH”
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÊ BÌNH PHÂN TÂM HỌC Ở VIỆT NAM VÀ KHÁI QUÁT VỀ TIỂU THUYẾT NỖI BUỒN CHIẾN TRANH
3 1.1 Khái quát vể phê bình phân tâm học ở Việt Nam 3
1.1.1 Khái niệm phân tâm học 3
1.1.2 Những phạm trù cơ bản của phân tâm học 6
1.1.3 Tiếp nhận phân tâm và phê bình phân tâm học ở Việt Nam 9
1.2 Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh 15
1.2.1 Tác giả Bảo Ninh – hành trình sáng tác và quan niệm nghệ thuật 15
1.2.2 Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh 17
CHƯƠNG 2 THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT NỖI BUỒN CHIẾN TRANH NHÌN TỪ PHÂN TÂM HỌC
23 2.1 Nhân vật Kiên 23
2.1.1 Thế giới vô thức của nhân vật Kiên với những giấc mơ 23
2.1.2 Những chấn thương trong tâm lí của nhân vật Kiên 27
2.2 Nhân vật Phương 33
2.3 Những người đồng đội 35
2.3.1 Những người đồng đội với thế giới vô thức 35
2.3.2 Những người đồng đội với ám ảnh từ những sang chấn 38
CHƯƠNG 3: CÁC THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT NỖI BUỒN CHIẾN TRANH NHÌN TỪ PHÂN TÂM HỌC
39 3.1 Không gian và thời gian nghệ thuật biểu hiện các phức cảm 39
3.1.1 Không gian – thời gian quá khứ 39
3.1.2 Không gian – thời gian tâm trạng 40
3.2 Ngôn ngữ và giọng điệu biểu hiện phức cảm 40
3.2.1 Ngôn ngữ biểu hiện phức cảm 40
3.2.2 Giọng điệu 43
KẾT LUẬN 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Trang 3MỞ ĐẦU
Văn học là một tấm gương phản ánh cuộc sống qua mọi thời đại Tác phẩm vănhọc chính là đứa con tinh thần của mỗi nhà văn Mỗi tác phẩm hay và có giá trị, nóphải mang giá trị nhân bản sâu sắc và mang hơi thở của cuộc sống Nhằm đáp ứngnhu cầu ngày càng cao của người đọc về khả năng nắm bắt và tái hiện cuộc sống hiệnthực, tiểu thuyết Việt Nam những năm gần đây có những bước chuyển mình rất đáng
ghi nhận Dưới góc nhìn phân tâm học, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh đã dẫn dắt
người đọc khám khá tâm thức, chạm đến ngõ ngách sâu thẳm trong thế giới tinh thầncủa con người Với tư cách là người sáng lập ra phân tâm học, Sigmund Freud đã chochúng ta thấy sự thống trị của thế giới vô thức Trong cõi vô thức ấy, con người sốngthật với ẩn ức, mơ mộng, ám ảnh, khát vọng… của chính mình Dẫu có thể bị chối bỏ
đi chăng nữa thì thế giới vô thức cũng không thể mất đi được, ngược lại nó tồn tạinhư là một tất yếu trong mỗi linh hồn Phân tâm học được thể hiện qua văn học nhưmột lăng kính soi rọi những góc sâu kín trong thế giới nội tâm của con người Phântâm học và văn học như hai vòng tròn đồng tâm cùng hướng về con người Bằng conđường văn học, phân tâm học đi đến trái tim của con người một cách uyển chuyển
Và ngược lại, trong phân tâm học, văn học đã tìm thấy con đường đi lý tưởng để bộc
lộ chính mình Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh đã để lại trong lòng độc giả những
ấn tượng sâu đậm bởi tác phẩm chứa đựng trong đó những nghịch lý, những cái nhìn
đa chiều về chiến tranh, về con người Tác phẩm thể hiện một cách cảm thụ, cắt nghĩa
và lý giải mới về đề tài chiến tranh, đồng thời nó cũng chứa đựng những cách tân về
kỹ thuật viết tiểu thuyết Điều hấp dẫn, lôi cuốn chúng tôi lựa chọn đề tài này là qua
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh để chỉ ra một phương diện nổi trội của thi pháp
biểu hiện để đi sâu vào đời sống tâm linh- một thế giới còn nhiều bí ẩn và khuất lấpđối với chính con người
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÊ BÌNH PHÂN TÂM HỌC Ở VIỆT NAM
VÀ KHÁI QUÁT VỀ TIỂU THUYẾT NỖI BUỒN CHIẾN TRANH
1.1 Khái quát vể phê bình phân tâm học ở Việt Nam
1.1.1 Khái niệm phân tâm học
Phân tâm học được sáng lập từ khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 bởi nhàthần kinh học người Áo – Sigmund Freud, đã được đánh giá mở rộng và phát triểntheo nhiều hướng khác nhau, phần lớn nhờ công của một số nhà nghiên cứu kế thừacủa Freud như Alfred (với tâm lí học cá nhân), Carl Gustav Jung (với tâm lí học phântích) và sau nữa là những đóng góp từ các nhà nghiên cứu phân tâm học mới nhuErich Fromm, Karen Horney, Harry Starck Sullivan, Jacques Lacan Phân tâm học
là tập hợp những lý thuyết và phương pháp tâm lý học có mục đích tìm hiểu nhữngmối quan hệ vô thức của con người qua tiến trình liên tưởng Cùng với chủ nghĩaMarx, thuyết tương đối của Enstein, Phân tâm học là một trong ba sự đảo lộn lớntrong đời sống tinh thần nhân loại lúc bấy giờ
Sagmund Freud (1856 – 1939) – bác sĩ về thần kinh người Áo gốc Do Thái – làngười đặt nền móng cho sự hình thành lí thuyết phân tâm học, một trong những líthuyết có ảnh hưởng to lớn đến tâm lí học hiện đại, và hơn thế, nó còn ảnh hưởng đến
Trang 4nhiều lĩnh vực khác Freud được đưa tới Viên- thủ đô nước Áo từ năm bốn tuổi vàsống gần
Trang 5cả cuộc đời ở đây Viên là trung tâm văn hoá lớn của Châu Âu vào cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX Đây thực sự đã sảy ra rất nhiều mâu thuẫn về kinh tế, xã hội, tư tưởng và trí tuệ Và bầu không khí này còn nặng nề hơn bởi những thành kiến bảo
thủ của Thanh giáo, làm này sinh thói đạo đức giả cũng như nạn cũng khổ vì ức chếtình dục mà con người là đối tượng trực tiếp tiếp nhận Thực tại đau đớn của xã hội,hoàn cảnh gia đình có vai trò quan trọng trong việc kiến tạo tư duy của Freud Nhưvậy, đây chính là yếu tố tác động đầu tiên của việc hình thành học thuyết phân tâmhọc Hai thái cực đối lập cùng tồn tại, một bên là những nếp cũ thuộc về truyền thống,một bên là những tư tưởng mới lạ phù hợp trong việc giải phóng bản ngã con người.Con người buộc phải lựa chọn một trong hai ngã đường Chính vì vậy đã dẫn đếnnhững cuộc va chạm nội tâm gay gắt gây nên nỗi ức chế trong ngôi nhà tinh thần củamỗi cá nhân Cáng ngày, hướng theo vòng xoáy của chiến tranh, con người càng khổ
sở trước không khí ngột ngạt của sự nghèo đói, chết chóc, đau khổ và đó chính làđiều kiện để các căn bệnh tâm lý phát triển ngập tràn Thực trạng này là nguyên nhâncác bác sĩ thuộc lĩnh vực khoa học tâm thần dấn thân vào nghiên cứu để tìm ra thêmnhững lối thoát phù hợp cho mọi người Trước tình huống liệu pháp thôi miên đểchữa bệnh đã không còn hiệu quả, Freud đã mở ra hướng đi mới tập trung nhằm vàonguồn gốc của mỗi con người, đi về quá khứ, chạm vào những điểm xuất phát tuổithơ với những điều trải để tỏa cho những hiện tại, bệnh nhân được liên tưởng tự do,nêu lên các ý nghĩ của mình và giải mã những ẩn ức thuở nhỏ các giấc mơ và bộc lộnguyên nhân gây bệnh Học thuyết này trở thành môn khoa học nghiên cứu về tâm lýnhân cách con người mà đóng vai trò cốt yếu vô thức và tính dục
Theo người viết tiểu sử của Freud khẳng định: Freud có sự thừa hưởng từ người
cha, một nhà buôn len “tính hoài nghi sâu sắc về những tai biến bất thường của cuộc đời, thói quen dùng giai thoại Do Thái để châm biếm các quan điểm đạo đức” Mẹ Freud bản tính năng động và nhanh nhẹn Sigmud Freud là đứa con cưng đầu lòng của bà Sau này Freud đã viết “một người đã từng là con yêu đặc biệt của một bà mẹ thì suốt đời người ấy có cái cảm giác là đi chinh phục, và chính cái lòng tin chiến thắng ấy luôn đem lại sự thành công thực sự.” Nhận hưởng cả hai
điều này từ cha và mẹ, đã nuôi dưỡng nên thiên tài của Freud
Là một bác sỹ trẻ tâm huyết với nghề, S.Freud nghiên cứu môn thần kinh học và giải phẫu thần kinh Sau một thời gian, tên tuổi của ông đã nổi tiếng, ông theo một người bạn sang Pháp Đến Paris, ông được tiếp xúc và làm quen với Jean Charcot – là một nhà bệnh lí học và thần kinh học nổi tiếng của Pháp Ông rất thoả mãn khi thấy
Charcot chứng minh được “bệnh loạn thần kinh giả và bệnh loạn thần kinh thật”
do dùng thôi miên tạo ra Khi trở về Viên, ông vấp phải rất nhiều cản trở Người ta còn trừng phạt ông bằng cách đuổi ông ra khỏi phòng thí nghiệm giải phẫu thần kinh.Sau đó, ông vẫn tiếp tục chữa bệnh thần kinh bằng phương pháp thôi miên trong vài năm, nhưng phương pháp này của Freud bị lên án, đặc biệt là các thầy thuốc tâm thầnhọc, học cho đó là tà thuật S.Freud lại một lần nữa bị tẩy chay Không khuất phục, ông vẫn tin tưởng vào phương pháp mới của mình và cố gắng làm sáng tỏ vấn đề.Ông đã học hỏi kinh nghiệm, trên cơ sở đó, ông xây dựng lý thuyết chữa trị bằng giáodục mà không cần đến thuốc, không cần đến thôi miên Đây là phương pháp thông qua giao tiếp, trò chuyện thân tình với người bệnh để phân tích trạng thái tinh thần của người bệnh Việc chữa bệnh theo phương pháp này được gọi là phân tâm học
Trang 6Phân tâm học có thể được định nghĩa như một phương pháp dùng để trị những bệnhrối loạn tâm lý và thần kinh.
Với thời đại của Freud, con người đã được tận hưởng một cách mạng làm đổinhững tư tưởng cũ của con người Đó cuộc cách mạng khoa từ nhà khoa học NicolasCopernic, Freud đã phác họa những nét đầu tiên trong con đường khoa học khai sinh
ra đứa con phân tâm Ở tác phẩm Nguồn gốc loài của Charles Darwin (1800 1882),con người nhận ra mỗi sinh vật đều không phải tồn tại bất biến mà luôn có sự thayđổi Cụ thể, sinh vật phải qua những bước cơ bản: biến dị, di truyền, thích nghi với xãhội và chấp nhận với sự chọn lọc tự nhiên
Với Freud, học thuyết của Darwin đã tạo một đường đúng mực cho hướng kếtiếp của ông Bởi lẽ nếu tiến hóa theo thế giới tự nhiên, con người cũng còn giữ lạinhững bản năng có tính động vật Bên cạnh đó, theo “quyết định luật”, mọi hoạt độngcủa con người đều có những quy định nhất định Từ đó, những hoạt động thuộc vềtinh thần con người đều có những quy luật chứa bên trong
Phân tâm học của Freud còn hưởng từ H.L.M Helmhollz Đây là nhà khoa học
đã mở ra lí thuyết về thuyết năng lượng Nhờ đó, Freud đã nhanh chóng tiếp cấn vàgắn vào tiến trình nghiên cứu tâm lí của bản thân Freud xác định điện năng, toàn cơgiới năng cũng như năng lượng hóa học là những nguồn biểu hiện cho sinh lí thể xác.Năng lượng tâm lí có tác dụng trong qúa trình tâm lí và các loại năng lượng này luônchuyển động, có thể chuyển hóa lẫn nhau Freud phát hiện nguồn năng lượng tâm lí
có mối liên hệ mật thiết với bản năng và gọi tên nguồn năng lượng này là Libido.Theo Freud, ngôi nhà tâm lí trong cơ thể con người thường được giữ ở mức cân bằng.Tuy nhiên khi có một ngoại lực tác động, ngôi nhà tâm lí sẽ nhanh chóng xiêu quẹotạo nên sự mất quân bình Hiện tượng này sẽ gây đau đớn cho con người Để giảmbớt ổi đau, thông thường cơ chế bảo vệ sẽ tự chuyển hóa bớt nhưng công kích sangcác vùng lân cận, cách hoạt động này tương đồng với quan điểm năng lượng tươngđương cùng với sự chuyển vị điện tích
Chịu ảnh hưởng không nhỏ từ lí thuyết đơn tử của G.H.Lebniz khi cho rằng mỗiđơn tử là một thực thể tinh thần và toàn bộ vũ trụ này đều được tạo nên từ nhựng đơn
tử đó Ở mỗi người, đơn tử đều có trạng thái, đó có thể là trạng thái ý thức hay trạngthái vô thức Từ đó, con người khi có nhận thức được hoặc có lúc không rõ rệt nhữngnhận thức của mình Nhận thức được gọi là có ý thức và không nhận thức được gọi là
vô thức Freud đã tiếp nhận khái niệm vô thức từ lí thuyết này
Thuyết giới hạn ý thức của J.F.Herbart cũng đã đệm thêm niềm tin cho sự cómặt của vô thức trong thế gới nội tâm con người Ở lí thuyết giới hạn ý thức, Herbartcho rằng các ý tưởng là những thứ mà cảm giác ấn tượng để lại Do đó, mọi ý tưởngđều cố gắng sống và biểu hiện trong cõi vô thức Các ý tưởng tồn tại bất biến mà dựavào vô thức hoặc ý thức để diễn đạt ra ngoài Nhờ vào các tác động xung quanh, các
ý tưởng đậm hoặc nhat Khi các ý tưởng được biểu lộ bằng ý thức sẽ sống động, rõnét; ngược lại, khi biểu lộ bằng vô thức sẽ tối tăm, mờ mịt
Freud cũng chịu ảnh hưởng từ Gustave Theodor Fechner, nguyên lí tảng băng từFechner đã khiến vô thức được hiện lên ngày càng rõ nét Nhà khoa học này cho rằngtinh thần giống như một tảng băng, ý thức là phần chóp nổi lên trên còn vô thức làphần ẩn tàng bên dưới mặt biển
Trang 7Không dùng lạn ở đó, chủ nghĩa duy ý chí của A Shopenhauer cũng tác độngkhông nhỏ đến học thuyết phân tâm Chính Freud cho rằng bản thân đã đến với líthuyết phân tâm sau Shopenhauer bởi Shopenhauer đã tiến trước một bước chạm đếnkhái niệm thăng hoa Lý thuyết của Shopenhauer trình bày quan điểm về việc conngười phải chịu sự ảnh hưởng bởi những mong đợi bất hợp lí hơn là bởi lí trí Bảnnăng của mỗi người tạo nên hành vi, con người mong muốn được thỏa mãn bản năngbằng việc thực hiện các hành vi Khi không đáp ứng được hành vi mang lại cảm giácthỏa mãn thì cách để làm dịu chúng là đặt để những cảm giác đó vào các tác phẩmnghệ thuật.
Với những nền tảng vững chắc từ những nhà nghiên cứu đại tài, phân tâm họcđược Freud thai nghén và sinh ra đời Từ khi chạm ngõ thế giới khoa học với tư cách
là một lý thuyết mới, phân tâm học nhanh chóng phát triển với hàng loạt bài nghiêncứu Các sự tiếp nối này góp phần mở ra cho phân tâm học những diện mạo mới, mỗidiện mạo đều đóng góp cho nền học thuật thế giới những sáng kiến lí giải các - vấn
đề tâm lí liên quan đến con người Vẫn còn nhiều nhà nghiên cứu bước đi dựa theo líthuyết phân tâm, nhờ đó dẫu lí thuyết phân tâm có những khi không nhận được sựđồng tinh vẫn có thể tồn tại và ngày càng phát triển, đi sâu vào các giá trị lớn về conngười
1.1.2 Những phạm trù cơ bản của phân tâm học
Trong ba tầng của hoạt động tâm lí con người, Freud đặc biệt quan tâm đến vôthức Đây được xem là phát hiện quan trọng nhất của phân tâm học Theo Tự điểntâm lí học, vô thức là khái niệm dùng để chỉ tập hợp các cấu tạo, quá trình và cơ chếtâm lí mà sự vận hành và ảnh hưởng của chúng chủ thể không ý thức được Vô thức
là yếu tố tồn tại trong mỗi chúng ta, nhưng dường như chúng ta không hề hay biếtđến sự tồn tại đó và vô thức trở thành vùng tâm lí không thuộc quyền kiểm soát củacon người Chính vì vậy mà con người trở nên bất lực trước những suy nghĩ, hànhđộng mà bản thân không thể lí giải Vô thức có một sức mạnh vô hình khiến cho lí trí
và ý thức của con người không thể lấn át được Freud cho rằng vô thức không chỉ làcái mang tính sinh lí tự nhiên, mang bản năng di truyền bẩm sinh mà còn có sự tácđộng bên ngoài của hoàn cảnh xã hội Chính sự tác động bên ngoài này đã quyết định
sự hình thành của vô thức và nội dung của vô thức là những gì mà chúng ta gặp phảitrong đời sống của mình, bao gồm tất cả những biến cố, những kỉ niệm mà con người
đã trải qua trong quá trình sống từ trước đây, những tình cảm có được sau những biến
cố, những kỉ niệm đó và cuối cũng là tất cả những ước muốn chưa được thực hiện donhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân xã hội giữ vai trò lớn và thườnggiữ vai trò quyết định Như vậy, vô thức nằm ở vùng sâu nhất trong tâm lí người lànơi chứa đựng những xung động bản năng của con người Vô thức có tính sinh lí tựnhiên và cũng mang tính bản năng di truyền bẩm sinh từ đời này sang đời khác vàcòn bị tác động từ bên ngoài xã hội Cấu trúc nhân cách của Freud có đề cập đến cácphạm trù xó tên gọi là tự ngã, bản ngã và siêu ngã Vô thức được xem như nền tản cốtlõi trong lí thuyết phân tâm Freud đã đặt vô thức vào công cuộc giải phóng cho conngười, đó là những bệnh nhân mắc chứng cuồng loạn và đi sâu hơn nữa vào các trạngthái bệnh tâm thần
Giấc mơ là một hoạt động mang tính vô thức, thưởng tồn tại độc lập với suynghĩ của con người Theo Freud, một khi những ham muốn của con người bị kim nên,
Trang 8bị cấm đoán bởi những chuẩn mực đạo đức, giáo dục, văn hóa, tôn giáo, thì sẽ đượcgiải tỏa bằng giấc mơ Chúng ta cũng biết rằng những điều ham muốn trong nhữnggiấc mơ thường là những sự ham muốn bị cấm đoán, bị kiểm duyệt đến ép, chính
là nguyên
Trang 9nhân của sự biến dạng, lí do cho sự can thiệp của kiểm duyệt Trong quá trình nghiêncứu, Freud cho rằng giấc mơ gồm nhiều yếu tố hợp thành, trong đó có thể kể đến sựcấu thành của những gì còn sót lại trong ngày và những ham muốn vô thức bắt nguồn
từ những kỉ niệm xa xôi trong thời thơ ấu Chỉ khi đi vào trong giấc mơ, những cảmxúc, kĩ niệm mới có cơ hội được thể hiện Giấc mơ còn là sự bày tỏ gián tiếp nhữngxung năng tính dục đã bị dồn nén ở trẻ em, và nếu được phô bày trần trụi sẽ khuấyđộng người mơ đến mức khiến người đó thức giấc.Việc nghiên cứu, khám phá giấc
mơ ở những phương diện khác nhau của Freud đã được đánh giá cao Freud đề caovai trò của tính dục trong việc hình thành giấc mơ, là một hiện tượng tự nhiên, tự phát
và nó nám ngoài phạm vi sức mạnh của ý chí hay ý định của ý thức Giấc mơ dù có rõràng hay không thì ý nghĩa của nó vẫn khó hiểu, nhưng không ai trong chúng ta cóthể ngăn căn giấc mơ diễn ra, vì nó là một sản phẩm của vô thức, mà vô thức lại đóngvai trò một phần trong bệnh tâm thần Việc nghiên cứu, khám phá giấc mơ rất giúpích rất nhiều trong các ngành khoa học khác như phân tích tâm lí tội phạm, nhữngyếu tố ảnh hưởng đến tâm trạng, triệu chứng mất ngủ
Freud cho thấy những ham muốn bị kim nén, những lo âu, sợ hãi trong một thờigian dài dẫn đến mặc cảm Học thuyết của Freud đề cập đến mặc cảm Oedipe, mặccảm bị thiến và mặc cảm phạm tội Mặc cảm Oedipe thể hiện tính ích kỉ của trẻ khichỉ muốn chiếm đoạt, sở hữu cho riêng minh những điều làm chúng sung sướng Khiđứa trẻ lớn lên biết suy nghĩ, chúng ý thức được tình cảm đó là tội lỗi và luôn lo sợphạm tội Mặc cảm bị thiến (mặc cảm hoạn) diễn tả tình trạng sợ sệt, sấu não và trởnên bạc nhược của trẻ khi chúng sợ hãi trước thái độ ngăn cấm quyết liệt và nhữnghình phạt thô bạo của người lớn Freud cho rằng: “Mặc cảm này có ảnh hưởng sâurộng đối với nó (trẻ em), đối với tính tinh nó khi khỏe mạnh, đối với tinh thần khi nó
ốm yếu, đối với sự phản kháng của nó khi được điều trị bằng phân tâm học” Sau này,quan niệm mặc cảm bị thiến của phân tâm học đã được mở rộng để chỉ sự mất mátnói chung của cơ thể và đời sống tinh thần Mặc cảm phạm tội hình thành khi trẻ bắtđầu ý thức được những hình phạt mà người lớn dành cho trẻ khi chúng phạm tội Sự
sợ hãi khi bị trang phạt lâu ngày dẫn đến tâm trạng luôn lo âu, sợ minh phạm tội.Tính dục có một vị trí vô cùng quan trọng trong phân tâm học Cái vô thức cóliên quan chặt chẽ với nội dung tính dục mà vẫn đề tính dục lại liên quan đến việc tìmhiểu các chứng bệnh thần kinh Trong Ba tiểu luận về lí thuyết tính dục, Freud đãnhắc đến khái niệm libido: “Để giải thích các nhu cầu tính dục của con người và củacon vật, trung sinh học người ta giả thuyết tồn tại một “xung năng tinh dục”, điều đógiống như để giải thích con đói, người ta giả định có xung năng dinh dưỡng Tuynhiên, để nói về nhu cầu tính dục, ngôn ngữ dân gian không có thuật ngữ tương ứngvới từ con đói; còn ngôn ngữ khoa học dùng thuật ngữ libido" Libido sau đó đượcFreud giải thích ngắn gọn là năng lượng thúc đẩy tính dục hay năng lượng tính dục.Người gây ra sự quyến rũ tính dục sẽ được gọi là đối tượng tình dục và hành vi màxung tăng thúc đẩy sắc được gi là mục đích tình dục Trong truyền thuyết có cách giảithích đầy thú vị về xung năng tính dục: Nhân loại bị chia làm hai nửa, đàn ông và đàn
bà, từ đó họ luôn có ng hướng tìm thấy nhau và hợp nhất bởi tính yêu Điều đó lí giảitại sao người ta đã rất ngạc nhiên khi biết một số đàn ông, đàn bà có đối tượng tìnhdục là những người cùng giới tính với họ Người ta gọi những người thuộc loại đó là
Trang 10đồng tính luyến ái, phần tâm học gọi là nghịch đảo giới tính và gọi hiện tượng đó làhiện tượng nghịch đảo giới
Trang 11tính Dựa vào biểu hiện của những người nghịch đảo giới tính, người ta phân biệt cácloại sau Những người nghịch giới tuyệt đối, tức là những người chí quan hệ tình dụcvới người cùng giới và tỏ ra ghê tởm với tính dục khác giới Những người nghịch giớilưỡng giới, tức là những người có thể quan hệ tình dục đồng giới Vẫn khác giới.Những người nghịch giới cơ hội, tức là những trường hợp đồng tính luyến ái trongmột số hoàn cảnh đặc biệt do ảnh hưởng của môi trường, đặc biệt là khí không có đốitượng tình dục bình thường Freud còn phân loại đồng tính dựa theo những giai đoạn
mà biểu hiện tính dục đó xuất hiện Theo Freud, lúc đầu người ta coi hiện tượngnghịch đảo giới tính là một dấu hiệu của thoái hóa thần kinh bẩm sinh Dựa vào cácnghiên cứu của mình, Freud cho rằng những ngườ đồng tính luyến ái có lẽ không bịthoái hóa mà chủ yếu là ở yếu tố bẩm sinh Nhưng theo cách phân biệt nghịch đảogiới tính ở trên thì còn có hai dạng nghịch đảo giớ tính khác là nghịch giới lưỡng giới
và nghịch giới cơ hội Vậy chúng ta phải chất nhận trong một số trường hợp, sựnghịch đảo giới tính có tính chất bẩm sinh, trong một số trường hợp khác người ta coihiện tượng nghịch đảo giới là một đặc tính tập nhiễm của xung năng tính dục Vớinhững khám phá ngoài sức tưởng tượng của nhân loại thế kỉ XX về tính dục ấu thời,Freud đã phải đương đầu với không ít sự chống đổi, bóp méo, thậm chí là sự chửi rủa,nhục mạ Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể phủ nhận những lí luận mang tính khoahọc của Ba tiểu luận về lí thuyết tinh dục nói chung và tính dục ấu thời nói riêng.Ngày nay, chúng ta vẫn thấy rất có ích khi nghiên cứu những thuật ngữ do Freud đề
ra trong tác phẩm này Trong quá trình khảo sát tiểu thuyết viết về đề tài đồng tínhcủa Bùi Anh Tấn chúng tôi nhận thấy nhà văn chủ yếu vận dụng lí thuyết vô thức,mặc cảm, tính dục để khắc họa đặc điểm nhân vật Còn phạm trù giấc mơ thì nhà vănchưa khai thác triệt để, nên sự thể hiện trong tiểu thuyết có phần tương đối mờ nhạt.Chính vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi xem lí thuyết về vô thức, mặccảm, tính dục là điểm tựa chủ yếu để soi chiếu thế giới nhân vật đồng tính trong tiểuthuyết của Bùi Anh Tấn từ góc nhìn phân tâm học
Sự dồn nén xảy ra khi ngôi nhà tâm lí chất chứa cảm giác căng thẳng, mất quânbinh Cảm giác này là một trong những cảm giác được dùng để đối phó với sự lo âu
Sự dồn nén được liệt kê trong tài liệu Những điều trọng yếu trong tâm lý học củaRobert
S Feldman, tài liệu này cho rằng: sự dồn nén (repression), sự chối bỏ (denial), sự mơmộng (fantasy), sự hợp lí (reaction formation), sự hủy hoại (undoing), sự hồi quy(regression), sự giải thoát nội tâm (projection) là tâm cơ chế phòng thủ của ngôi nhàtâm lí con người Khi cảm giác lo âu xuất hiện, cơ chế phòng thủ sẽ bật tính năng củamình để tạo thành hàng rào chắc chắn hạn chế những tổn thương cho tâm lí đến mứctối đa Đối phó với nó, dồn nên sử dụng phương pháp dễ nhất là cố ý đưa tác đốitượng vào quên lãng Vì vậy sự dồn nén có thể hiểu như câu chuyện về một nhu cầubản năng không được thỏa mãn, bị chèn ép và đẩy vào vô thức Thái độ tự vệ này sẽgiúp con người hạn chế được những tổn thương và điều hòa với các mối quan hệ xãhội Tuy nhiên thái độ này không mang đến hướng giải thoát tâm lí một cách triệt để
mà tích tụ vào những hố sáu nơi tâm trí Vì vậy khi hố sâu đã ứ đầy sẽ tạo nên những
hệ quả mãnh liệt gây nguy hại cho con người
Dồn nén có thể xuất phát bởi các tác nhân khác nhau Tuy nhiên nó được hiểu là sựthúc đẩy từ bên trong nhưng bị tỏa thành ý thức ngăn chặn và vô hiệu hóa Nó được
Trang 12miêu tả như một gương mặt ngây thơ với những suy nghĩ hiểm sâu nơi vô thức.Chúng trá hình, lừa gạt ý thức và chỉ cần có cơ hội, những suy nghĩ hiểm sâu này sẽlen lõi và
Trang 13vượt khỏi tưởng thành ý thức để thể hiện bản ngã của mình Vì vậy đối với dồn nén,tìm hiểu những dạng thức xuất hiện của chúng cũng là một vấn đề hết sức phức tạpbao lâu nay Dồn nén có thể được áp chế tạm thời bằng sự quên lãng nhưng khôngđồng nghĩa với sự loại trừ hay tiêu biến Do đó, dồn nén không đại diện cho một liệupháp giải phóng nguồn năng lượng tiêu cực bên trong của mỗi người mà ngược lại,còn mang ý tích tụ vào nơi sâu hơn ở ngôi nhà tâm thức Để bảo vệ chính minh, tâm
lí đối khi lựa chọn giải pháp quên lãng để kim hãm những bất mãn, bất lực, bất như ý.Theo lí thuyết phân tâm học, đây được xem là sự dịch chuyển những trạng thái tâm lí(cảm xúc hoặc những ham muốn) từ cấp độ ý thức đến cấp độ vô thức Có nghĩa nhờvào dồn nén mà con người có thể tạm thời quên đi những điều không thỏa mãn,không hạnh phúc và xem những điều đó như chưa từng xuất hiện Khi được xác định
“tạm thời quên” có nghĩa dồn nén không thể xóa bỏ triệt để những kí ức Kí ức sẽ chờđợi thời cơ thích hợp để trỗi dậy và ảnh hưởng đến con người Bên cạnh đó có thểnhận thấy sự dồn nén cũng có một giới hạn nhất định, khi dồn nén đến đạt đếnngưỡng không thể chứa đựng, con người sẽ dễ dàng rơi vào trạng thái điên rổ và tạo
ra những hành vi nguy hại mang tính kích động Dồn nén thường sẽ tác động đếnhành vi con người trong qáu trình phát triển Đối với những tâm lý tiêu cực được giấu
đi trong ngôi nhà tâm thức, con người âm thầm nhận lấy sự tác động như một lẽ tựnhiên mà có khi chính con người không có ý thức nhận ra sự tác động ấy Có thể hiểunhư trường hợp đứa trẻ chứng kiến cuộc sống hôn nhân đầy bạo lực, không hạnhphúc của cha mẹ, chúng thường sẽ xa lánh hôn nhân bởi niềm tin về điều hạnh phcu1trong hôn nhân của chúng không tồn tại
1.1.3 Tiếp nhận phân tâm và phê bình phân tâm học ở Việt Nam
Phân tâm học du nhập vào Việt Nam từ những năm 30 của thế kỉ XX Tuy nhiên, sự phát triển của nó có nhiều đứt nối quanh co và do đó có những giai đoạn vàđặc điểm tiếp nhận khác nhau Sau Hiệp định Genève năm 1954, đất nước chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị thì sự tiếp nhận Phân tâm học cũng có những khác biệt Chúng tôi chia làm hai giai đoạn trước và sau năm 1975 (trong đó trước năm 1975 tách sự tiếp nhận Phân tâm học và Phê bình phân tâm học ở hai miền Nam– Bắc)
Trước năm 1975, Phân tâm học được giới thiệu vào Việt Nam chưa thành một
hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh Một mặt, do văn hóa Việt Nam còn nặng tư tưởng Nhogiáo nên vấn đề tính dục chưa được bàn luận thoải mái (mà lúc ấy ở Việt Nam, Phân tâm học dường như chỉ biết đến với phạm trù tính dục) Mặt khác, trên thế giới lúc bấy giờ Phân tâm học cũng gây nhiều tranh cãi nên những nhà nghiên cứu của ta mới chỉ tiếp xúc ở thái độ dè dặt Thời điểm đó, Phân tâm học chủ yếu được tầng lớp trí thức đi du học ở nước ngoài dịch ra tiếng Việt Chính vì chưa được giới thiệu thành
hệ thống hoàn chỉnh nên mỗi ngành khoa học tiếp cận Phân tâm học ở một góc độ khác nhau Đối với văn học nghệ thuật, Phân tâm học chủ yếu được giới thiệu và khaithác ở khía cạnh bản năng tính dục, đặc biệt là trong lĩnh vực sáng tác
Đất nước bị chia cắt đã ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội Với hai chế độ chính trị khác nhau, Phân tâm học được tiếp nhận, nghiên cứu ở hai miền Nam, Bắc cũng có những khu biệt Ở giai đoạn này có thể chia làm hai giai đoạn, đó là trước vàsau năm 1954
Trang 14Giai đoạn trước năm 1954, ở góc độ lý thuyết chỉ xuất hiện cuốn chuyên
khảo Học thuyết Freud của Tô Kiều Phương Tuy nhiên cuốn chuyên khảo này cũng
giới thiệu khá đầy đủ và cơ bản về Phân tâm học của Freud Trong lĩnh vực sáng tác, các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng đã lần đầu tiên khắc họa những ham muốn bản năng của nhân vật và khẳng định sức ảnh hưởng của học thuyết Freud trong sáng tác của ông Ở lĩnh vực nghiên cứu văn học, năm 1936, Trương Tửu và Nguyễn Văn Hanh áp dụng lý thuyết của Freud để giải thích, lý giải hiện tượng thơ Hồ Xuân
Hương trong các bài viết như Cái ám ảnh của Hồ Xuân Hương của Trương Tửu đăng trên tờ Tiến Hóa; Hồ Xuân Hương: Tác phẩm, thân thế và văn tài của Nguyễn Văn
Hanh Trương Tửu và Nguyễn Văn Hanh đã dựa vào những dữ kiện trong tiểu sử Hồ Xuân Hương để phê bình thơ của bà dựa trên những hiểu biết cơ bản nhất về lí thuyếtcủa Freud Sau đó, Trương Tửu cũng dựa trên những lý thuyết này để phân tích mảng
ca dao dâm tục và thơ Hồ Xuân Hương trong tác phẩm Kinh thi Việt Nam; Nguyễn
Du và Truyện Kiều để xét đoán tâm lý Nguyễn Du và giải đoán tâm lý nhân vật Thúy
Kiều Tuy nhiên, những giả định này của Trương Tửu không nhận được nhiều sự ủng
hộ của giới phê bình Những hiểu biết có phần sơ lược về Phân tâm học đã đưa các nhà nghiên cứu tới một số nhận định sai lầm Hồ Xuân Hương là một tác giả chưa được khẳng định về mặt thân thế nên rất khó dùng những dữ kiện trong tiểu sử làm căn cứ nghiên cứu Nhìn chung, ở thời điểm này, các nhà nghiên cứu mới hiểu về Phân tâm học một cách giản đơn nhất và chủ yếu sử dụng phương pháp Phê bình phân tâm học tiểu sử để giải mã tác phẩm
Giai đoạn sau năm 1954, xã hội Việt Nam phân chia thành hai miền Nam – Bắc Sự tiếp nhận các luồng tư tưởng mới nói chung và Phân tâm học nói riêng giữahai miền cũng có sự khác biệt
Ở miền Bắc diễn ra cuộc chiến tranh chống thực dân, đế quốc và nhiệm vụ chính mà Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra lúc đó là xây dựng xã hội chủ nghĩa, đấu tranh thống nhất đất nước Vì vậy, trên mặt trận tư tưởng, miền Bắc chủ yếu chịu ảnhhưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, các học thuyết tư tưởng khác không có điều kiện được giới thiệu rộng rãi Phân tâm học cũng chỉ xuất hiện trong một số bài viết khái quát ở các giáo trình tâm lý học Một số nhà nghiên cứu như Vũ Hoàng Địch, Bùi Đăng Duy, Phạm Minh Lăng, Hoàng Trinh, Nguyễn Khắc Viện… thuộc Trung tâm Khoa học xã hội Quốc gia (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) có giới thiệu Phân tâm học trong một số bài viết của mình Sau năm 1954, tình hình ứng dụng Phân tâm học vào nghiên cứu văn học có vẻ tiến triển hơn Lúc này xuất hiện
các bài nghiên cứu như: Xuân Diệu với Hồ Xuân Hương – bà chúa thơ Nôm (1958); Văn Tân viết về thơ Hồ Xuân Hương trong Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (Văn
Sử Địa, 1959); Nguyễn Đức Bính với Người Cổ Nguyệt, Chuyện Xuân
Hương (1962) Tuy nhiên, cách ứng dụng của các nhà phê bình lúc đó rơi vào kiểu
phê bình xã hội học phiến diện, không chỉ dựa vào tiểu sử tác giả mà còn dựa vào những điều kiện kinh tế chính trị xã hội
Ở miền Nam, do hoàn cảnh xã hội lịch sử chịu ảnh hưởng của phương Tây nên
về mặt tư tưởng có vẻ thoáng hơn, dễ tiếp nhận những học thuyết mới Phân tâm học được giới thiệu rộng rãi và thậm chí còn được giảng dạy trong nhà trường Từ năm
1963, khi chế độ chính trị Ngô Đình Diệm sụp đổ, có thể nói, hai trào lưu chiếm giữ
vị trí thượng phong trên các diễn đàn học thuật lúc bấy giờ là Chủ nghĩa hiện sinh và
Trang 15Phân tâm học Chính vì vậy xuất hiện nhiều giáo trình, nhiều sách dịch về Phân tâm
học ở miền Nam như: Phân tâm học nhập môn của Freud (Nguyễn Xuân Hiến dịch,
1969) Đây là cuốn sách lý thuyết có tính chất định hướng của ngành nghiên cứu Phân tâm học Với bản dịch hơn 500 trang được chia làm ba chương, cuốn sách đã vẽ
ra một bản đồ tâm lý học với những cơ sở vững chắc Tiếp đó là cuốn Nghiên cứu
phân tâm học của Freud (Vũ Đình Lưu tuyển dịch, Nxb An Tiêm, 1969) Một số
công trình biên khảo, dịch thuật, những bài viết giới thiệu về Phân tâm học như:
Phân tâm học của J.P.Charrier (Lê Thanh Hoàng Dân dịch, Nxb Sài Gòn Trẻ, 1972); Hành trình vào phân tâm học của Vũ Đình Lưu (Nxb Hoàng Đông Phương, 1968); Tâm lý học ứng dụng của Phạm Xuân Độ (Trung tâm Học liệu Bộ Giáo dục xuất bản,
1970); Phân tâm học & tôn giáo của E.Fromm (Trí Hải dịch, Đại học Vạn Hạnh, 1968); Tâm thức luyến ái của E.Fromm (Tuệ Sỹ dịch, Ca Dao xuất bản, 1969); Thế
giới tình dục của Henry Miller (Hoài Lãng Tử dịch, Ca Dao xuất bản, 1969); Thiền
và phân tâm học của SuZuKi, Fromm, Martino (Như Hạnh dịch, Kinh Thi xuất bản,
1973); Dục tính văn minh của Herbert Marcuse, (Hoàng Thiên Nguyễn dịch, Kinh
Thi xuất bản, 1973)…
Trong lĩnh vực phê bình ở khu vực miền Nam giai đoạn này, các nhà nghiên cứu đã
áp dụng nhiều yếu tố trong nội hàm thuật ngữ Phân tâm học để giải mã tác phẩm
như: Lược khảo văn học 3 (1968) của Nguyễn Văn Trung; Nhà văn hôm nay, tập 1 (1969) của Nguyễn Đình Tuyến; Dư vang nghệ thuật (1971) của Trần Nhựt Tân;
Đi tìm tác phẩm văn chương của Huỳnh Phan Anh (1972); Vũ trụ thơ (1972) của
Đặng Tiến; Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay (1972) của Tạ Tỵ; Các nhà văn nữ
Việt Nam 1900-1970 (1973) của Uyên Thao; Nguồn thơ tượng trưng của Lý
Thượng
Ẩn (1963) của Lam Giang; Tìm hiểu Hồ Xuân Hương hay một vài nhận định về tâm lý học, phân tâm học và văn học (1964) của Nguyễn Mạnh Côn và Hoàng
Vũ; Nguyên Sa và ngôn ngữ tình yêu trong thơ ca (1969) của Tạ Tỵ; Đọc thơ
Điên của Tam Ích (1970); Đọc thơ hay của Tam Ích (1971); Chế Lan Viên và
khuynh hướng siêu thực (1974) của Thanh Huy; Tâm lý văn nghệ trong Truyện Kiều
của Nguyễn Đăng Thục; Ý niệm bạc mệnh của Truyện Kiều của Đàm Quang Thiện;
Bản lược đồ văn học Việt Nam (1967), Đoạn Trường Tân Thanh hay là cuộc đời kỳ quái của Nguyễn Du được chiếu hắt bóng lên tác phẩm của ông của Thanh Lãng
(1971); Cuộc đời và tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng (1971)…
Nhìn một cách tổng thể, tình hình tiếp nhận Phân tâm học ở miền Nam giai đoạn này có sự khác biệt so với miền Bắc Các học thuyết triết học được du nhập vàomiền Nam dường như đã hòa trộn với nhau, đặc biệt là Phân tâm học và Chủ nghĩa hiện sinh, tạo nên một bộ mặt tư tưởng rất đặc sắc Tuy Phân tâm học được giới thiệusớm và phong phú ở miền Nam nhưng nhìn trên tổng thể vẫn chưa tạo được một khung lý thuyết hoàn chỉnh Đôi khi, các nhà phê bình còn nhìn nhận một cách giản đơn khiến việc áp dụng vào phê bình đối tượng còn trở nên khiên cưỡng Mặt khác, các nhà phê bình lại nhìn thấy ở khía cạnh “tính dục” quá nhiều thứ để vận dụng mà lại không nhìn thấy ở khía cạnh “vô thức” những mảng cần khám phá nên nhìn chung, cái nhìn về Phân tâm học lúc này vẫn còn nhiều hạn chế
Trang 16Dẫu vậy, cũng phải khẳng định rằng, giai đoạn trước 1975 ở cả hai miền Nam – Bắc,việc tiếp nhận Phân tâm học và ứng dụng vào trong phê bình văn học đã được các nhà nghiên cứu chú ý Ở những ngày đầu, các nhà phê bình thường chỉ sử dụng
Trang 17những thuật ngữ đơn giản nhất của Phân tâm học và chủ yếu áp dụng phương pháp Phê bình phân tâm học tiểu sử để lí giải quá trình sáng tạo, dùng những chi tiết đặc biệt trong tiểu sử tác giả để kiến giải tác phẩm Càng về sau, phương pháp Phê bình phân tâm học văn bản được áp dụng càng nhiều hơn và đưa lại những kết quả nghiêncứu khả quan.
Sau năm 1975, đất nước thống nhất, việc giới thiệu và ứng dụng các lý thuyết phương Tây đã phát triển hơn Phân tâm học đã được giới thiệu rộng rãi ở cả hai miềnNam – Bắc và được nhiều ngành khoa học (triết học, xã hội học, tâm lý học, tôn giáo,văn hóa tâm linh, dân tộc học…) khai thác với biên độ và chiều sâu toàn diện hơn.Nhiều công trình nghiên cứu lớn liên quan đến Phân tâm học được hoàn thành Trêncác lĩnh vực văn học nghệ thuật, giai đoạn này Phân tâm học có ảnh hưởng sâu sắc trên các phương diện của đời sống văn học cả về phê bình lẫn sáng tác Về mặt dịchthuật, có thể nói gần như đầy đủ các công trình của Sigmund Freud đã được dịch vàgiới thiệu ở Việt Nam
Về dịch thuật:
Năm 1998, Lê Văn Luyện và Huyền Giang dịch cuốn Freud đã thực sự nói gì của
David Stafford-Clark với gần 300 trang Cuốn sách của Clark có thể nói là “một cuốnnhập môn về tư tưởng của Freud được viết rất sáng rõ với nhiều trích dẫn, đã từng được bạn đọc nước ngoài rất hoan nghênh”[1] Cuốn sách đã hệ thống lại quá trình bổ
sung lý thuyết phân tâm và nhiều sửa đổi của Freud với nhiều vấn đề, qua đó làm rõ hơn “bản lược đồ” về lý thuyết phân tâm dành cho những người mới làm quen với học thuyết này Có thể nói đây là cuốn sách tạo nên sự hứng thú tìm hiểu Phân tâm học đối với nhiều nhà nghiên cứu cũng như bạn đọc Việt Nam
Năm 1999, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản cuốn Vật tổ và cấm kỵ
(Nguồn gốc của văn hóa và tôn giáo) của S.Freud do Lương Văn Kế dịch từ nguyên
bản tiếng Đức Tác phẩm này được chia làm 4 chương, chủ yếu trình bày những quanđiểm cơ bản của Freud về văn hóa và tôn giáo (totem and taboo – “vật tổ và cấm kị”)
và các lý giải xung quanh khái niệm mặc cảm Oedipe về tính dục Như vậy là tiếp nối Freud đã thực sự nói gì, cuốn sách này giới thiệu đến bạn đọc Việt Nam một cái
nhìn độc đáo về văn hóa và tôn giáo
Năm 2002, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin phối hợp cùng Trung tâm Văn hóa Ngôn
ngữ Đông Tây xuất bản tác phẩm Jung đã thực sự nói gì? của Edward Amstrong
Bennet do Bùi Lưu Phi Khanh dịch Với hơn 200 trang sách được chia làm 7 chương
đã đưa ra “những chỉ dẫn sâu sắc về tư tưởng chính của Jung bằng một ngôn ngữ mà bất kì ai đều có thể hiểu được” Cùng năm này, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin tiếp
tục ấn hành cuốn Bệnh lý học tinh thần về sinh hoạt đời thường do Trần Khang dịch
Cuốn sách với 12 chương chủ yếu nghiên cứu về những triệu chứng bệnh Hystéria vànhững nguyên nhân tạo ra chứng bệnh đó Năm 2005, Nhà xuất bản Thuận Hóa phối
hợp cùng Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản cuốn Ximôn-Phrơt của
Diệp Mạnh Lý Tác phẩm đã khái quát gần như toàn bộ học thuyết và quá trình
nghiên cứu Phân tâm học của Sigmund Freud Cũng năm đó, Nhà xuất bản Thế giới
ra mắt Các bài viết về giấc mơ và giải thích giấc mơ do Ngụy Hữu Tâm dịch Cuốn
sách đã bổ sung thêm những ý kiến chuyên sâu hơn về “giấc mơ” mà Sigmund Freud
đã đề cập trong cuốn Giấc mơ năm 1900.
Trang 18Ngoài ra còn phải kể đến các bài viết, công trình khác giới thiệu về Phân tâm học của
các tác giả như Ngô Hương Giang với Tiếp nhận Phân tâm học ở Việt Nam từ 1975
đến nay nhìn từ lý thuyết và ứng dụng; Nguyễn Tiến Dũng với Tâm lý học miền sâu
và sự biểu hiện của nó (1998), Bùi Đăng Duy – Nguyễn Tiến Dũng với Lược khảo triết học phương Tây hiện đại (1999); Nguyễn Hào Hải với Người đàn ông có nhiều ảnh hưởng đến văn chương (1999); Phạm Minh Lăng với S.Freud và Tâm phân
học (2000)…
Về phê bình:
Đầu những năm 90 của thế kỉ XX, việc ứng dụng Phân tâm học vào nghiên cứu văn học đã được nhiều nhà phê bình quan tâm, tiêu biểu là Đỗ Lai Thúy Chuyên luận
Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực (Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, năm 1999)
có thể xem là công trình vận dụng Phân tâm học bằng con đường vô thức tập thể (hay còn gọi tâm lý học phân tích, tâm lý học chiều sâu của C.G.Jung) trong nghiên cứu văn học thành công nhất ở thời điểm đó Đỗ Lai Thúy chọn cách tiếp cận thơ của
Hồ Xuân Hương từ góc độ văn hóa học để đưa cái dâm, cái tục trong thơ bà về với ngọn nguồn của nó là tín ngưỡng phồn thực thuở “tục là thiêng, thiêng là tục” Đỗ Lai Thúy cho rằng, trong thơ của Hồ Xuân Hương thanh – tục là yếu tố hợp nhất tạo nên sự đặc sắc riêng biệt: trong tục có thanh, trong thanh có tục, từ đó đưa ra kết luận: tác phẩm Hồ Xuân Hương đề cao cái tự nhiên và tranh đấu cho nhân quyền củacon người Cũng từ điểm xuất phát này, Đỗ Lai Thúy đã mở ra những cách lí giải
khác cho phong cách nghệ thuật (phong cách sử dụng ngôn ngữ lệch chuẩn), thể thơ Đường luật mới, hay tiếng cười thể hiện niềm vui sống (chứ không phải đả kích)…
trong thơ Hồ Xuân Hương
Năm 2000, Đỗ Lai Thúy xuất bản chuyên đề Phân tâm học và văn hóa nghệ
thuật Cuốn sách với hơn 400 trang, chia làm 7 phần, được Đỗ Lai Thúy biên soạn và
chú giải khá tỉ mỉ Ông khẳng định mối quan hệ giữa vô thức và sáng tạo, đặc biệt
xem giấc mơ như là ngọn nguồn của sáng tạo nghệ thuật Năm 2002, Đỗ Lai Thúy xuất bản cuốn sách Phân tâm học và văn hóa tâm linh với hơn 500 trang sách đã
cung cấp một cái nhìn khá toàn diện về lý thuyết nghiên cứu văn hóa trên nhiều bình diện, trong đó con người là trung tâm của chủ thể văn hóa Năm 2003, Đỗ Lai Thúy
tiếp tục xuất bản cuốn Phân tâm học và tình yêu với trên 500 trang Cuốn sách đã giới thiệu đến độc giả Ba tiểu luận về lý thuyết tính dục của S.Freud, Phân tâm học tình
yêu của E.Fromm, Siêu hình học tình yêu của A.Schopenhauer, Siêu lý tình yêu của
V.Soloviev Đặc biệt, phần cuối cùng của cuốn sách là những trang áp dụng Phân tâmhọc vào lý giải hình ảnh trong thơ Hoàng Cầm Đó là một trong những trang sách đầytài hoa của Đỗ Lai Thúy Nếu như với đối tượng thơ Hồ Xuân Hương, Đỗ Lai Thúy nhờ đến phân tâm học của C.G.Jung thì với công trình này, ông lại nhờ đến Phân tâm
học của S.Freud với sự vận dụng nội dung của khái niệm mặc cảm Oedipe để giải
phẫu những ẩn ức tình cảm trong mối quan hệ chị – em xuất hiện trong thơ Hoàng Cầm Từ đó, Đỗ Lai Thúy lí giải nhiều đặc điểm riêng biệt khác trong thơ Hoàng
Cầm, tạo nên cái nhìn nghệ thuật rất đặc sắc và thú vị Còn cuốn Phân tâm học và
tính cách dân tộc thì lần đầu tiên giới thiệu các công trình về Phân tâm học tộc người,
một ngành nghiên cứu mới xuất hiện và còn nhiều triển vọng
Năm 2009, với tập tiểu luận Bút pháp của ham muốn, Đỗ Lai Thúy tiếp tục đánh dấu
sự quay trở lại của phương pháp Phê bình phân tâm học với văn học Việt Nam Công
Trang 19trình gồm hai phần, phần giới thiệu về Phân tâm học nghệ thuật và phần nghiên cứu bút pháp nghệ thuật Tiểu luận đã dùng Phân tâm học để khám phá bút pháp và thế giới nghệ thuật của các nhà thơ từ cổ chí kim như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Gia Thiều, Bà Huyện Thanh Quan, Xuân Diệu, Hoàng Cầm, Chế Lan Viên Có thể nói, những công trình nghiên cứu của Đỗ Lai Thúy đến nay vẫn là những công trình thànhcông nhất ở góc độ vận dụng Phân tâm học vào phê bình văn học.
Ngoài Đỗ Lai Thúy, xuất hiện một số công trình khác như Phân tâm học và
phê bình văn học của Liễu Trương (2011) Đây là cuốn sách giới thiệu về Phân tâm
học một cách “dễ đọc”, với cách viết mộc mạc dễ hiểu, có thể làm tham khảo cho những độc giả không chuyên Cùng năm này, Nhà xuất bản Thời Đại xuất bản
cuốn Thiền và Phân tâm học do Nguyễn Kim Dân dịch Cuốn sách này có nguồn gốc
từ một hội thảo về thiền và Phân tâm học được tổ chức tại Mexico Cuốn sách chủ yếu bàn về mối quan hệ giữa Phân tâm học và Phật giáo phương Đông, tạo ra một sựliên hệ gần gũi đối với độc giả Việt Nam
Ở khu vực miền Nam giai đoạn này, Phân tâm học tiếp tục ảnh hưởng mạnh
mẽ và đã được nghiên cứu ở một số luận văn thạc sĩ Ngay từ năm 1986, xuất hiện
công trình nghiên cứu của Phạm Văn Sỹ (Về tư tưởng và văn học phương Tây hiện
đại), Trần Thị Mai Nhi (Văn học hiện đại – văn học Việt Nam: Giao lưu và gặp gỡ)
… Phân tâm học trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình, bài viết, luận
văn, luận án khoa học của các ngành tâm lý học, triết học, văn học, tôn giáo học, dân
tộc học… Các công trình như: Lý luận nhân cách và ảnh hưởng của nó đến phương
pháp xây dựng đời sống tâm lý nhân vật trong đô thị miền Nam dưới thời Mỹ
– Ngụy (1954 – 1975) của Phùng Đình Mẫn; Từ lý thuyết phân tâm học tiếp cận một số tác phẩm văn học đương đại của Lê Nam Hải; Chủ nghĩa Freud và biểu hiện của nó trong văn học tính dục miền Nam Việt Nam trước năm 1975 của Hoàng
Đức Diễn; Chủ nghĩa Freud – Lịch sử và sự hiện diện ở Việt Nam của Nguyễn Thị Bích Hằng; Quan điểm của phân tâm học về tôn giáo của Nguyễn Văn Quế; Khảo
học triết học trong Phân tâm học như: Lịch sử triết học phương Tây (tập 3,
2014), Triết học hiện sinh (2014), Nhân học triết học Freud và ảnh hưởng của nó
đến nhân học triết học phương Tây hiện đại của Đỗ Minh Hợp, Triết học Áo và ý nghĩa hiện thời của nó do Phạm Văn Đức chủ biên Trong lĩnh vực nghiên cứu văn
hóa cũng xuất hiện các công trình nghiên cứu như: Dòng chảy văn hóa Việt Nam của N.I.Niculin, Văn hóa Việt Nam – tìm tòi và suy ngẫm, Một nét bản sắc của văn hóa
Việt Nam: khả năng ứng biến, Nguyên lý mẹ của nền văn hóa Việt Nam của Trần
Quốc Vượng, Cơ sở văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm, Tìm hiểu văn hóa và
tộc người của Từ Chi…
Mặc dù ứng dụng Phân tâm học trong nghiên cứu văn học xuất hiện tương đốisớm ở Việt Nam từ những năm đầu thế kỉ XX, nhưng chúng tôi cho rằng, tại Việt
Trang 20Nam mới chỉ xuất hiện hai khuynh hướng Phê bình phân tâm học, đó là Phê bình phân tâm học tiểu sử và Phê bình phân tâm học văn bản Phê bình phân tâm học xuất
Trang 21hiện ở Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX, ngay từ đầu đã là Phê bình phân tâm họctiểu sử, mà đại diện tiêu biểu chính là Trương Tửu Càng về sau, Trương Tửu càng ít
sử dụng Phân tâm học trong quá trình phê bình, nhưng những công trình của ông đã
mở ra một chân trời mới cho Phê bình phân tâm học tại Việt Nam với sự xuất hiện của các nhà phê bình như Đàm Quang Thiện, Lê Tuyên, Đỗ Long Vân, Đỗ Lai
Thúy… Có thể nói, Phân tâm học được giới thiệu ở Việt Nam từ rất sớm Tuy nhiên, thời điểm đó mới chỉ được nhìn nhận ở mức độ sơ khai, đặc biệt trong lĩnh vực văn học nghệ thuật cũng chỉ chủ yếu khai thác yếu tố tính dục với cái nhìn còn mơ hồ Ở miền Nam, Phân tâm học được giới thiệu rộng rãi hơn nhưng cũng chưa tạo ra được một cái nhìn tổng thể, toàn diện Từ sau 1975 đến cuối thế kỉ XX, nhiều nhà phê bìnhnghiên cứu và các nhà văn đã chú trọng khai thác nhiều khía cạnh khác nhau, tạo nênmột cái nhìn đa chiều hơn về Phân tâm học Đầu thế kỉ XXI, nhiều công trình nghiêncứu cấp nhà nước, nhiều ngành khoa học xã hội, đặc biệt là văn học nghệ thuật đã tham gia dịch, giới thiệu học thuyết này và tạo nên cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn.Ứng dụng Phân tâm học trong sáng tác, nghiên cứu phê bình cũng linh hoạt và tạohiệu quả khả quan hơn
Tóm lại, nhìn sự phát triển xuyên suốt của Phê bình phân tâm học ở Việt Nam
từ khi xuất hiện cho đến nay đã trải qua nhiều giai đoạn Mỗi một giai đoạn lại có những đặc điểm với những đại diện tiêu biểu khác nhau Nhưng có thể thấy, càng về sau, những ứng dụng Phê bình phân tâm học trong nghiên cứu văn học càng trở nên mềm dẻo và nhuần nhuyễn hơn Kể từ 1936, khi học thuyết Freud đến Việt Nam và
để lại dấu ấn ở phê bình văn học đến nay là cả một hành trình với cả thất bại và thànhcông Cho đến nay những nghiên cứu và ứng dụng Phê bình phân tâm học ở Việt Nam đã tạo nên một cái nhìn đa chiều và có hệ thống về Phê bình phân tâm học
1.2 Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh
1.2.1 Tác giả Bảo Ninh – hành trình sáng tác và quan niệm nghệ thuật
Nhà văn Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương, sinh ngày 18 tháng 1 năm 1952 tạihuyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Quê gốc của ông ở xã Bảo Ninh, huyện QuảngNinh, tỉnh Quảng Bình
Ông sống ở Hà Nội từ năm 1959, vào bộ đội năm 1969, từng chiến đấu ở mặt trận B3Tây Nguyên cho đến ngày hoà bình lập lại thì giải ngũ Từ năm 1976 đến 1981, ônghọc đại học taị Hà Nội, ra trường làm việc tại Viện Khoa học Việt Nam, sau đó họckhoá 3 (1986-1988) Trường Viết văn Nguyễn Du Hiện nay Bảo Ninh công tác tạibáo Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam và Văn nghệ trẻ
Bảo Ninh được độc giả biết đến sau truyện ngắn Trại bảy chú lùn in năm 1987, đạt
giải thưởngcủa Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991 với tác phẩm nổi tiếng Nỗi buồn chiến tranh.
Trong con mắt của đồng nghiệp và bạn bè, Bảo Ninh là người giàu cảm xúc,kiệm lời, thích quan sát, lắng nghe Đó là những phẩm chất đáng quý của một nhàvăn Phẩm chất đó đã giúp Bảo Ninh tích luỹ được nhiều vốn sống, góp phần tạo nêntính chân thực, hấp dẫn người đọc từ các sáng tác của mình Bảo Ninh xuất thân trongmột gia đình có truyền thống khoa bảng, văn hoá và văn học Cụ cố của Bảo Ninh làdanh sĩ nổi tiếng Huỳnh Côn ở Quảng Bình, làm quan qua ba đời vua nhà Nguyễn.Các con cháu cụ Huỳnh Côn đều là những ngưòi có học vấn uyên thâm, thành đạt
Trang 22công danh và đóng góp nhiều cho đất nước, như: Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân, Nhànghiên cứu, dịch
Trang 23giả văn học Hoàng Thiếu Sơn và Giáo sư Hoàng Tuệ - nguyên Viện trưởng ViệnNgôn ngữ học, Tổng biên tập Tạp chí Ngôn ngữ, chuyên gia đầu ngành về ngôn ngữhọc và ngôn ngữ văn chương - thân sinh của Bảo Ninh Cốt cách cao quý, mẫn tiệpcủa gia đình, đặc biệt là tình yêu văn chương cùng với năng lực ngôn ngữ dồi dào củangười cha đã ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành phong cách nghệ thuật của BảoNinh Chính người cha là người đã gửi gắm Bảo Ninh cho bạn thân của ông là Tiến sĩHoàng Ngọc Hiến - người lúc đó là Hiệu trưởng Trường Viết văn Nguyễn Du - nhằmhướng Bảo Ninh theo nghiệp văn chương Tài năng nghệ thuật của Bảo Ninh cònđược vun đắp bởỉ ngưòi mẹ, cũng là trí thức và tha thiết với nghiệp văn chương củacon Ngay từ những ngày đầu, khi con chưa thực sự tự tin trong nghiệp cầm bút, bà
đã lặng lẽ đưa những tập bản thảo đầu tiên của Bảo Ninh trao cho Tiến sĩ HoàngNgọc Hiến, và để rồi từ đó trên văn đàn xuất hiện thêm một cây bút mang tên BảoNinh
Trong những năm tháng đối mặt với bom đạn và chết chóc, Hà Nội là biểutượng đẹp đẽ nhất nuôi dưỡng tâm hồn Bảo Ninh trước sự tàn phá của chiến tranh.Cũng chính Hà Nội là viễn cảnh tươi đẹp đã thôi thúc ông và các đồng đội của ôngchiến đấu, xả thân vì nó Bởi vậy, trên những trang viết của mình, hình ảnh Hà Nộixưa được Bảo Ninh viết bằng những từ ngữ đẹp nhất và cảm xúc trân trọng yêuthương nhất Nhưng rồi Hà Nội cũng thay đổi theo thời gian Đó là một Hà Nội củanền kinh tế thị trường và quá trình đô thị hoá để trở thành hiện thực ngột ngạt, bức bí
Đó là một Hà Nội mà mọi bậc thang giá trị bị đảo lộn, phơi bày tất cả sự ồn ã, phứctạp, bon chen, phàm tục của cuộc sống sau chiến tranh Chính những yếu tố đó đã làmnên cái nhìn u buồn của Bảo Ninh về hiện thực thời hậu chiến ngổn ngang những phi
lý, bất cập mà Hà Nội là hình ảnh thu nhỏ, sắc nét
Sinh ra và lớn lên giữa những ngày đất nước bị cày xới bởi bom đạn của kẻ thù, như bao thanh niên khác của Hà Nội lúc đó, Bảo Ninh cũng xếp bút nghiên lên đườngthực hiện nghĩa vụ của trai thời loạn Lí tưởng xả thân, giấc mộng sa trường đã thôi thúc ông và bao người bạn khác cùng trang lứa bước vào cuộc chiến Nói đến chiến tranh là nói đến những gì phi lý nhất, tàn bạo nhất, hãi hùng nhất đối với sự sống của con người Sáu năm ở chiến trường đủ để Bảo Ninh thấm thía hết điều đó Bởi thế, đối với Bảo Ninh, chiến tranh luôn là nỗi ám ảnh không thể xoá nhoà Từng là một người lính, hơn ai hết, Bảo Ninh cũng mang nỗi ám ảnh về chiến tranh như thế Sống sót trở về, được sống trong hoà bình, có cơ hội nhìn lại cuộc chiến mà thời đại và cá nhân mình vừa đi qua, Bảo Ninh thấy rõ hơn bản chất của chiến tranh Kết thúc cuộc chiến không chỉ là ca khúc khải hoàn, mà đằng sau nó còn là dằng dặc đau thương khắc đậm vào thực tại.Cũng như bao cựu binh khác, ra khỏi chiến tranh, Bảo Ninh cũng mang trong mình những chấn thương về thể xác và tinh thần Chấn thương chiến tranh đeo bám dai dẳng buộc Bảo Ninh phải vắt kiệt kí ức để viết về nó như để trả một món nợ Đúng vậy, văn Bảo Ninh là câu chuyện của chính cuộc đời ông, ở
đó, kí ức cá nhân trở thành chất liệu Nó khiến trang viết của ông nhuốm màu quá vãng và đượm buồn: nỗi buồn mang tên chiến tranh và nỗi buồn không mang tên chiến tranh - nỗi buồn thời hậu chiến
Rời quân ngũ, năm 1976 Bảo Ninh học Đại học Tổng hợp ngành Sinh học, ratrường công tác tại một Viện khoa học Năm 1986, ông tiếp tục học ở Trường Viếtvăn Nguyễn Du và bắt đầu dấn thân vào nghiệp viết Bảo Ninh chọn nghề viết văn và
Trang 24khá nghiêm túc với nghề nghiệp Bảo Ninh cũng là người có quan niệm nghệ thuật rõràng,
Trang 25ông có những quan niệm đúng đắn và tích cực mà không phải người cầm bút đươngđại nào cũng có Hơn một thế kỷ nay ở Việt Nam, viết văn đã trở thành một nghề,không những thế nó còn là một nghề cao quí Với ông, viết văn không phải thú chơi,viết văn phải chuyên nghiệp bởi vì nó là hình thức lao động bậc cao, lao động trí óc,lao động sáng tạo, một hình thức lao động nhọc nhằn Chính vì thế, Bảo Ninh rấtchuyên tâm với nghề viết Hiểu rõ những khó khăn, thử thách và những hệ luỵ củanghiệp văn nên Bảo Ninh luôn cócái nhìn lạc quan về nghề và sống với nghề bằng cả
tấm lòng, đó là điều đáng quí Là người cầm bút, Bảo Ninh luôn coi trọng “tự do sáng tạo” Quan niệm đó thể hiện một thái độ tích cực, khách quan trước những vấn
đề nhạy cảm của nghệ thuật hiện nay Chính nó đã giúp Bảo Ninh không rơi vào cựcđoan trong quá trình sáng tạo nghệ thuật Trong sáng tác, Bảo Ninh luôn đề cao sự
trung thực, không chấpnhận kiểu “viết ẩu” và thực dụng Ông tâm sự:“Thật khó chấp nhận những người thực dụng cả trong văn học vì những gì họ viết chẳng còn đáng tin”.
Không những đề cao tính trung thực, phản đối sự thực dụng trong văn chương,
Bảo Ninh còn đề cao chữ “Tâm” trong nghề Đó chính là lương tâm và trách nhiệm
của người cầm bút đối với cuộc sống, con người, quốc gia, dân tộc Xuất phát từ tìnhcảm này mà trong sự nghiệp sáng tác của mình, Bảo Ninh chưa bao giờ viết ra mộtbài, một chữ nhảm nhí Từng câu, từng chữ được ông cân nhắc kĩ càng Tác phẩmnghệ thuật của ông đều hướng đến con người, đấu tranh cho sự sống và hạnh phúc
của con người Văn Bảo Ninh hấp dẫn người đọc bởi sự chân thực, thậm chí “cực thực” Theo ông, nếu văn học chỉ dừng ở việc phản ánh hiện thực thì tác phẩm sẽ
không lớn được Với những suy nghĩ đó, Bảo Ninh luôn hướng ngòi bút của mìnhđến việc nghiền ngẫm và khái quát hiện thực Theo ông, hiện thực không chỉ là cái
đã, đang và sẽ diễn ra ngoài cuộc sống (đó chỉ là hiện thực khách quan bên ngoài).Hiện thực đó lâu nay đã được các nhà văn cày xới tơi nhuyễn rồi Hiện thực của BảoNinh hướng tới còn là hiện thực bên trong con người Nó không chỉ là cái đã biết màcòn là cái chưa biết, thậm chí không thể biết Đó là một hiện thực phức tạp cần khaiphá, dò tìm Chính quan niệm và cách khai thác đó đã làm nên dấu ấn riêng chonhững trang viết của Bảo Ninh Chủ tâm trong sáng tác của Bảo Ninh là cái nhìn uhoài vào kí ức chiến tranh Nó như những cật vấn không thôi vào quá khứ, buộc quákhứ phải sống lại để đau cho hết một lần và rồi bao dung hơn với thực tại Theo ông,
mỗi nhà văn đều có một sở trường riêng, có cái “tạng” riêng, chỉ khi nào phát huy
được sở trường của mình thì mới mang lại thành quả nghệ thuật Xuất phát từ suynghĩ này, Bảo Ninh luôn có ý trức trau dồi, sáng tạo ngôn ngữ nghệ thuật, tìm riêngcho mình một lối viết độc đáo Lối viết ấy gây được ấn tượng mạnh, tạo nên được sự
ám ảnh trong tâm trí người đọc, làm nên phong cách nghệ thuật riêng
1.2.2 Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh
Hoàn cảnh sáng tác
Năm 1975 sau khi giải phóng Miền Nam thắng lợi, đất nước thống nhất và bướcsang một thời kì mới, thời kì xây dựng hòa bình trong xu thế hội nhập, mảng văn xuôiviết về chiến tranh vẫn là nguồn cảm hứng bất tận của các nhà văn Nhưng do sự thayđổi về quan niệm và hiện thực nhà văn có điều kiện nhìn lại những giá trị của mình.Bối cảnh xã hội và lịch sử đất nước thay đổi, yêu cầu được đặt ra đối với mỗi nhà văn
Trang 26là khơi sâu vào những điều mới của hiện thực dưới những góc nhìn khác nhau Đócũng
Trang 27là lí do tạo tiền đề cho những tác phẩm có giá trị hiện thực được ra đời ví dụ như:Thời xa vắng của Lê Lựu, Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh
Văn xuôi với đề tài chiến tranh ba mươi năm luôn hướng tới những vấn đềchung của nhân dân, tổ quốc mang ý nghĩa lịch sử dân tộc Sức mạnh của dân tộc, sựđoàn kết của cộng đồng được đưa lên tiêu chí hàng đầu của một tác phẩm văn học.Người lính luôn là những hình ảnh đẹp rực rỡ, mang trong mình lí tưởng đấu tranhcao cả với âm hướng sử thi hào hùng, người lính hiện lên mang vẻ đẹp kì vĩ, tầm vóclớn lao Đại diện cho những thế hệ anh hùng bất khuất cho nên người lính trong tácphẩm chưa đủ sức thuyết phục những độc giả trong thời hậu chiến Sau đại hội VIvăn học thực sự được cởi trói, nhà văn cũng được cởi trói về tư tưởng, họ có quyềnnhìn thẳng vào hiện thực, phản ánh hiện thực bằng sự chiêm nghiệm, suy tư về cuộcsống và về cuộc chiến đã qua Những mất mát đau thương, khát vọng của người línhchiến giai đoạn này được khai thác triệt để Không chỉ với những nhà văn trưởngthành từ hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc mà ngay cả những nhà văn nontrẻ được sinh ra và lớn lên trong hòa bình, đặc biệt là những nhà văn mặc áo lính đãtrải qua những gian truân khổ đau trên chiến trường trận mạcđã thổi vào văn học mộtluồng gió mới, nhưng phải đến Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh mới thực sự đemlại cho tiểu thuyết thời kì đổi mới những thành tựu xuất sắc Bảo Ninh đã góp phầnthay đổi tiểu thuyết viết về chiến tranh khi cho ra đời tác phẩm “Nỗi buồn chiếntranh”
Khi trở về với cuộc sống đời thường trong “ba lô” của một người lính chiến, nhàvăn Bảo Ninh luôn cất giữ cho riêng mình những hoài niệm từ chiến trưởng gian khổ,
ác liệt, đẫm máu và nước mắt Chính vì vậy, khi quyết định cầm bút viết cũng nhưnhững nhà văn viết về chiến tranh sau cuộc chiến không chỉ là nỗi niềm hạnh phúc
mà còn là món nợ văn chương cần phải trả với những đồng đội đã hi sinh, với cảnhững người thân yêu và cả cuộc đời của nhà văn
Nhà văn Bảo Ninh vốn được thừa hưởng ngôn ngữ bậc thấy của người cha, cộngvới những năm tháng lăn lộn ngoài chiến trường lại có những ngày miệt mài đèn sáchtrên ghế giảng đường đại học và trường viết văn Nguyễn Du đó là những điều cầnthiết cho việc sáng tác Khi làm việc tại viện văn học Việt Nam, ông đã thai nghén vàcho ra đời cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranhcủa nhà văn Bảo Ninh được xem tác phẩm đánh dấu cột mốc sáng chói của nền vănhọc thời kì đổi mới Từ khi xuất hiện cho đến nay cuốn tiểu thuyết đã trải qua biếtbao cung bậc thăng trầm với những biến động không ngừng Cuốn sách được in lầnđầu tiên vào năm 1987 với nhan đề Thân phận của tình yêu do các biên tập viên nhàxuất bản Hội nhà văn lựa chọn Chỉ một năm sau đó, tác phẩm được tái bản với tiêu
đề do chính tác giả đặt tên từ trước Nỗi buồn chiến tranh Đến năm 1991, Nỗi buồnchiến tranh trở thành một trong ba tác phẩm được giải văn xuôi của Hội Nhà văn ViệtNam, được xem là giải thưởng danh giá nhất của làng văn nghệ nước ta trong suốtnhiều năm qua
Trải qua mỗi thời kì lịch sử của dân tộc con người có cái nhìn về cuộc sống vớinhững sự kiện lịch sử có sự khác biệt: Vì vậy, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ hàohùng của dân tộc ta cái nhìn về chiến tranh khác với cái nhìn về nó trong thời binhnhất là thời kì đổi mới và hội nhập Qua đó những niềm băn khoăn, trăn trở, sự suy tư
và số phận con người sau cuộc chiến được tái hiện lại chân thực và đầy màu sắc Nỗi
Trang 28buồn chiến tranh của nhà văn Bão Ninh so với những tiểu thuyết viết về chiến tranhcùng thời đã có nhiều cái nhìn mới về cuộc chiến chống Mỹ của dân tộc Việt Nam.
Trang 29Tác phẩm ra đời đã đánh dấu cột mốc về sáng tác văn chương trong thời kì đổimới Đế tải vốn đi quá quen thuộc nhưng cách khai thác lại vô cùng mới lạ, độc đáo
và hấp dẫn khi tác phẩm đã đi ngược lại toàn bộ cách viết, cách nhìn nhận và đánhgiá của các nhà văn viết về chiến tranh trước và cũng thời Ở Việt Nam, lịch sử pháttriển của văn học gắn liền với lịch sử đấu tranh cách mạng chống ngoại xâm Chính
vì vậy, văn học phản ánh chiến tranh theo trước năm 197 từng giai đoạn lịch sử vàtheo yêu cầu được đề ra Văn học trước năm 1975 là nền văn học phản ánh cuộcchiến tranh chống giặc, khích lệ, cổ vũ nhân dán chiến đấu bằng cám hứng ngợi ca,hào hùng Nhưng sau 1975 nhất là thời kì đối mới văn học thực sự được cởi trói, córất nhiều nhà văn xuất thân từ những người lính chiến như Bảo Ninh, họ trở về từ cõichết, nhận ra rằng chiến tranh đấu phái trò chơi Báo Ninh cấm bút viết về những điều
đã trải qua và đang trải qua bằng con mắt cá nhân và bằng cảm hứng thế sự Hiệnthực chiến tranh được bày ra trước mắt người đọc vô cùng sinh động nhưng cũng hếtsức tàn khốc
Bên cạnh Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh, Bến không chồng của Dương Hướng, Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh là tác phẩm xuất sắc khơi nguồn
mạch về một hiện thực tàn nhẫn, đau thương nhưng rất chán thực, thấm đẫm tínhthẩm nhân văn, nhân bán Nỗi buồn chiến tranh đã mở ra hướng đi mới cả về nộidung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật cho nền văn học đương đại của Việt Nam, gây
sự chú ý lớn đối với các nhà nghiên cứu phê bình trong nước với những nhận xétđánh giá trái chiếu Có thể nói đây là tác phẩm đầu tiên viết về chiến tranh dưới gócnhìn của một cá nhân Tác phẩm là một khúc ca bí trắng, đau thương và tàn khốc vềchiến tranh Dennis Mansker, thành viên của Hội cựu binh vì hòa bình và hội cựubinh Việt Nam chống chiến tranh, tác giả cuốn sách A Bad Attitude A Novel fromthe Vietnam War, đã bất ngờ khi đọc NBCT Ngày 3/10/2008, ông viết trong niềm
xúc động choáng váng: “Đây là một bức tranh trung thực và tàn nhẫn đến kinh ngạc
về bi kịch của một người lính Bắc Việt bị tê liệt hết nhân tinh của mình sau mười năm tham chiến Đã đến lúc thế giới phải thức tỉnh trước nỗi đau mang tính phổ quát của những người lính ở mọi bên xung đột, và cuốn sách này là nên đọc đối với những ai chọn nghề “binh nghiệp” Tôi đặc biệt giới thiệu nó cho các bạn bè cựu binh của mình; Bảo Ninh thực sự là "bạn chiến đấu" của chúng tôi, bất kể việc anh ta đứng ở phía bên kia"
Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh là tiểu thuyết xuất sắc mô tả cuộc
chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc bằng cái nhìn chân thực Chưa nhìn chân thứcbao giờ thấy một nhà văn nào viết về chiến tranh lại nói về máu và cái chết với vô sốhồn ma nhiều như Bảo Ninh Với nhà văn chiến tranh là làm đổ máu người, làm đổmáu minh với hàng đợi máu, sông máu, cảnh vật thiên nhiên cũng nhuốm màu máu.Chiến tranh không phải lúc nào cũng huy hoàng, tráng lệ nó là sự đày ải đối với conngười vô cùng tàn nhẫn cả về thể xác lẫn tinh thần, khi cái giá phải trả cho hòa bình
là xương máu của những người cầm súng chiến đấu Lần đầu tiên trong văn học ViệtNam, người đọc nhìn thấy một người lính trở về từ chiến trưởng lại không hề quýtrọng hòa bình, không hân hoan trong ngày chiến thắng cái mà người lính cảm nhận
là nỗi buồn, sự cô đơn, trơ trọi, xót xa và hụt hẫng pha lẫn sự ghen tị trước tâm trạng
Trang 30hàn hoan, háo hức của mọi người trong niềm vui chiến thắng “Cái yên lặng ghê gớm của ban mai hòa bình đang ruổi tới ngược hướng với bóng đêm”.
Trang 31Bên cạnh đó, cái nhìn về người lính cũng rất khác so với văn học trước đóBảoNinh xây dựng nhân vật người lính không bằng cảm hứng sử thi, ngợi ca mà là phi sửthi hóa Người lính không chỉ có anh hùng mà còn có những kẻ phản bội, đảo ngũVí
dụ như Can, anh cảm thấy chiến tranh thật vô nghĩa và quá dài so với bản thân Nỗichán nản, nỗi nhớ nhà, nhớ người mẹ gia đã khiến cho anh bỏ trốn khỏi đơn vị, khỏicuộc chiến thế rồi anh chết và mãi mãi không còn ai nhắc đến anh, mặc dù trước đóanh cũng là một người lính thiện chiến, can trường Đây là điều mà văn học truyềnthống không bao giờ chấp nhận bởi văn học truyền thống mang tinh thần tuyêntruyền, cổ vũ, khích lệ, văn học xây dựng nhân vật người lính bằng sự ngợi ca chứkhông được phép bôi nhọ Mặc dù, Bảo Ninh khi viết về Can không hề phê phánhành động đào ngũ của nhân vật
Viết về chiến tranh với góc độ tàn khốc nhất, người đọc không còn nhìn thấy sựphân biệt giữa ta và địch trên hai chiến tuyến, giữa tốt và xấu một cách rạch ròi nhưvăn học trước 1975 với Nỗi buồn chiến tranh ranh giới ấy rất nhạt nhòa Đó cũng làđiểm khác biệt của Bảo Ninh so với những nhà văn trước đó khi viết về chiến tranh,vậy nên ban đầu tác phẩm có nhiều phản bác gay gắt, cho rằng đây là một tác phẩmphân chiến những càng về nhiều ý kiến sau tác phẩm càng được khẳng định Ở Nỗibuồn chiến tranh nhà văn đã phản ảnh chân thực khái quát nhất về chiến tranh, đókhông chỉ có sự tự hào, anh hùng mà còn có cả sự sợ hãi, hèn nhát và mang chủ nghĩa
cá nhân Tại Trung Quốc, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh được ấn hành năm 2015
với lời giới thiệu của Diêm Liên Khoa với tựa đề “Tầm cao của văn học chiến tranh
phương Đông”, tác giả đã không tiếc lời ca ngợi tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh
rằng: “Tôi với tư cách là một tiểu thuyết gia đã có đến 26 năm trong quân đội, đọcxong tiểu thuyết này, cảm giác mãnh liệt nhất, đó chính là giả sử ngay từ cuối nhữngnăm 80 hoặc muộn hơn một chút vào đầu những năm 90, chúng ta có thể dịch “Nỗibuồn chiến tranh” sang tiếng Trung giống như “Vòng hoa dưới núi” của nhà vănTrung Quốc - Lý Tồn Bảo vừa xuất bản hồi đầu những năm 80 đã gần như đồng thờiđược dịch sang tiếng Việt, thì nhận thức của chúng ta đối với văn học Việt Nam sẽkhông đến nỗi phong bế và hạn hẹp như hôm nay, văn học quân đội Trung Quốc cực
kỳ cũ kỹ và trì trệ hôm nay cũng nhất định sẽ không bảo thủ, bó chân và tụt hậu nhưvậy Thậm chí có thể nói, nếu như có thể kịp thời dịch và giới thiệu Nỗi buồn chiếntranh của Bảo Ninh, văn học quân đội Trung Quốc ngày ấy và bây giờ đều rất có thể
đã mang một cảnh sắc và sinh khi khác” Diêm Liên Khoa cũng khẳng định Nỗi buồn chiến tranh đạt đẳng cấp quốc tế: Nghiền ngẫm Nỗi buồn chiến tranh với tư cách là một tiểu thuyết chiến tranh phương Đông trong bối cảnh văn học thể giới và
so sánh nó với dòng văn học chiến tranh mà chúng ta có thể đọc được của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, rõ ràng Nỗi buồn chiến tranh đánh dấu tầm cao của một thứ văn học mới Một tác phẩm cực hiếm của một nhà văn châu Á phương Đông, hiếm có trong những miêu tả, nhận thức, phê phán thẩm mĩ đối với chiến tranh, hiếm có trong những lý giải và tình yêu đối với con người, những suy tư về nhân tinh, hiếm có cả trong biểu đạt nghệ thuật – một phương diện cá tính nhất quan trọng nhất đối với một nhà văn.
Viết về chiến tranh Bảo Ninh không hề né tránh những hậu quả nặng nề màchiến tranh để lại nhất là với con người – những người lính trở về từ chiến trận Chiếntranh không chỉ ám ảnh mà còn giày vò con người trong nỗi buồn dai dẳng, người
Trang 32lính không thể hòa nhập được với cuộc sống bình lặng của hiện tại, họ trở nên lạclõng, bơ vơ ngay
Trang 33trên chính mảnh đất mà họ từng chiến đấu để dành lại hòa bình cho nó Trong cuộcthảo luận về tiểu thuyết Thân phận của tình yêu (trên trang 5, Báo Văn nghệ số 37,năm 1991) Nhà văn Nguyên Ngọc đánh giá cao thành quả sáng tạo của Bảo Ninh
trong Nỗi buồn chiến tranh ông viết: “Đây là cuốn tiểu thuyết về một cuộc chiến đấu của một con người tìm lẽ sống hôm nay Bằng cách chiến đấu lại cuộc chiến đấu của đời mình Cuốn sách này không mô tả chiến tranh Nó "mô tả" một cuộc kiểm tìm nặng nhọc chính hôm nay Hiện thực ở đây là hiện thực bên trong của một tâm hồn đau thương và trách nhiệm lương tâm Cuốn sách nặng nề này không bị quan Vẫn thẩm sâu ở đâu đó trong từng kẽ chữ của nó một âm hưởng họ vong tiềm tàng, chính là vì thế Anh đi tìm, nghĩa là anh còn hy vọng” Ông cũng cho rằng: bằng sự “nghiền ngẫm về hiện thực” bằng “suy nghĩ về cái giả lớn của thắng lợi”, Nỗi buồn chiến tranh là lời kêu gọi thống thiết nhất đừng bao giờ quên cuộc chiến tranh thiêng liêng chúng ta đã làm và cái giả khủng khiếp chúng ta đã phải trả để có được chiến thắng, nền hòa bình ngày hôm nay”.
Phải khẳng định một điều rằng, Bảo Ninh đã viết Nỗi buồn chiến tranh với mộtthái độ dũng cảm không né tránh sự thật phũ phàng, tàn nhẫn với những vấn đề gaygắt của cuộc chiến tranh Ông đưa tới người đọc một cái nhìn khác của riêng ông vềchiến tranh và thân phận con người của một người lính chiến – một nhà văn chânchính Bảo Ninh nhìn thấy bộ mặt tàn khốc của chiến tranh cũng như sự bất an củamỗi con người Đúng như dự cảm của Phương trong một buổi đi dạo bên Hồ Tây vớiKiên: "Em nhìn thấy tương lai – Đấy là sự đổ nát”, “ngọn lửa thiêu các bức tranh,thiêu đốt cha và luôn cả đời em” Điều này cũng được thể hiện trong tác phẩm Chiếntranh không có gì lạ của Remarque Nhân vật Paul từng nói: “Chiến tranh biến chúng
mình thành những người vô tích sự” Với Nỗi buồn chiến tranh, nhà văn Bảo Ninh đã
rút ra một định nghĩa khốc liệt về chiến tranh: “Chiến tranh là cõi không nhà khôngcửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, làthế giới sầu thảm, vô cảm, là tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người”
Ở Nỗi buồn chiến tranh, người đọc có dịp nghiên ngẫm, chiêm nghiệm về những
góc khuất của sự thật trần trụi về chiến tranh và con người Điều mà những tác giảtrước đó còn né tránh, còn tô hồng cho chiến tranh và lí tưởng cách mạng thì đến BảoNinh trong Nỗi buồn chiến tranh đã không còn nữa Bảo Ninh viết về chiến tranh vớicái nhìn toàn diện hơn, chân thực hơn về cuộc chiến tranh tàn khốc của dân tộc
Sức ảnh hưởng của tác phẩm.
Ngay từ khi tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh trình làng
tác phẩm đã nhanh chóng chinh phục bạn đọc cả trong và ngoài nước Ban đầu cuốntiểu thuyết được thảo luận trên Báo Văn Nghệ với những lời khen ngợi hết lòng vàkhông đầy một năm sau khi xuất hiện, cuốn sách đã được nhiều người tỏ ý muốn dịch
ra tiếng nước ngoài Bản dịch Anh ngữ The Sorrow of War của Frank Palmos và Phan Thanh Hảo được chuyển ngữ và xuất bản tại Úc năm 1993 có lẽ là bản dịch
đầu tiên về tiểu thuyết Nối miền chiến tranh của Báo Ninh Kể từ đó, cuốn sách bắtđầu cuộc hành trình trên khắp mọi miền thế giới được dịch hơn 18 thứ tiếng Tác giả
Trang 34Đỗ Đức Hiếu trong Thi pháp hiện đại đã khẳng định “Trong văn học mấy chục năm nay, có thế
Trang 35Thần phận của tình yêu là quyển tiểu thuyết hay về tình yêu, quyển tiểu thuyết về tình yêu xót thương nhất”.
Tuy nhiên, đứng trước sự đối trước của sự tự nhận thức suy ngẫm về hiện thựcchiến tranh, Nỗi buồn chiến tranh đằng sau những lờii khen ngợi không ít bạn đọccông kích, phản đối nội dung của câu chuyện Từ những lời chê bai lẻ tẻ ban đầubỗng trở thành một phong trào phê phán, cuốn sách bị cho là thế hiện sự u ám, cáinhìn sai lệch về cuộc kháng chiến chính nghĩa và vinh quang của dân tộc Cuốn sáchtrở thành tâm tiếng chia rẽ dư luận và giới phê bình trong nước vì những trang viếtquá chân thực, trực diện, vừa hào hùng, vừa bi thảm và đầy tranh cãi về cuộc chiếntranh chống Mỹ của nhân dân Việt Nam Một điều đáng buồn đó là có những ngườitừng khen cuốn sách này lại lên tiếng phủ nhận phát ngôn của mình, không ít ngườiphẫn nộ vì Bảo Ninh đã gọi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là “cuộc chiếntranh Việt - Mỹ” Tác phẩm thể hiện người lính quân đội nhân dân như những ngườithất trận chứ không phải những người lính kiên trung, anh dũng mang trong mình mộttinh thần thép với tâm thế “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậytương lai Nhà nghiên cứu Vương Tri Nhàn từng cho rằng: “Nếu thời trước thì cứ thếcuốn sách sẽ chìm dần trong bóng tối và chỉ cần bị ném ra khỏi các thư viện nữa thôi
là có thể coi như bị xóa sổ hoàn toàn Cái may của Nỗi buồn chiến tranh là ở chỗ nó
ra đời vào thời hội nhập Nhiều khách phương xa đặt chân đến đây với cuốn truyệncủa Bảo Ninh Trong chừng mực mà ở nhiều nơi, hai tiếng Việt Nam mới có nghĩamột cuộc chiến tranh - nó đã trở thành người đại sứ duy nhất của văn học mời gọingười ta đến với xứ sở này để khám phá tiếp Tuy nhiên, Nỗi buồn chiến tranh đượcxem là một tác phẩm có sự đột phá mới về tư duy và thể loại, như lời nhận xét của tácgiả Nguyễn Thị Bình trong báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu cấp bộ: Một số khuynh
hướng tiểu thuyết ở nước ta từ thời điểm đổi mới dên nay đã cho rằng: “Sau Thiên sử, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh đã làm xôn xao dư luận, phân lập người đọc rất mạnh Những tranh cãi phức tạp, gay gắt hầu hết liên quan đến câu hỏi “có thể viết
về chiến tranh như thế nào?” Nhưng chính việc tự giác trước câu hỏi “có thể viết
tiểu thuyết như thể nào?” mới thật sự đặt Nỗi buồn chiến tranh vào vị trí những tácphẩm có đột phá về tư duy thể loại"
Có thể nói, Nỗi buồn chiến tranh là tác phẩm văn học Việt Nam đã vượt ra khỏi
biên giới Việt Nam và đã được thừa nhận ở quốc tế Tác phẩm được độc giả và giớinghiên cứu trên thế giới đánh giá rất cao và đón nhận nồng hậu Riêng ở nước Mỹ,tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh đã được đưa vào giảng dạy trong trường đại học.Cho đến nay, tác phẩm vẫn được bản trong các cửa hàng sách trực tuyến danh tiếngnhư Amazon, Barnes & Nobles Từ khi ra mắt độc giả thế giới vào giữa thập niên
1990, những tờ bảo danh tiếng của Mỹ như Time, The London Times, The New YorkTimes, Philadelphia Inquirer, The New Yorker, Washington Post đã không tiếc lời
ngợi khen tác phẩm văn học gây kinh ngạc của “phía bên kia” Cho rằng Nỗi buồn chiến tranh vượt lên trên tất cả các tác phẩm văn xuôi của Mỹ đã viết về cuộc chiến
Việt Nam Thậm chí Nỗi buồn chiến tranh còn được đứng chung với những tác phẩmvăn học kinh điển lớn của đề tài này như All Quiet On The Western Front của EricMaria Remarque, hay Heart Of Darkness của Conrad
Năm 1998, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh đã được gới
thiệu ở Hàn Quốc thông qau bản dịch tiếng Pháp của dịch giả Park Chan – gyu do
Trang 36nhà xuất bản Yedam phát hành Ngay khi vừa mới ra mắt, Nỗi buồn chiến tranh đã
thu hút