1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phê bình nữ quyền và trường hợp nguyễn minh châu

109 38 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phê Bình Nữ Quyền Ở Việt Nam Và Trường Hợp Nguyễn Minh Châu
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 169,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Minh Châu được đánh giá là một tên tuổi lớn. Ông đã tạo lập uy tín ở cả nhân cách lẫn tài năng văn chương, luôn hướng ngòi bút của mình đến những vấn đề liên quan đến tình yêu con người và cuộc sống. Ông không những là nhà văn của “chiến tranh và người lính” mà còn là nhà văn chạm đến mảnh đời của những người phụ nữ với số phận khác nhau. Người phụ nữ mà ông xây dựng luôn có những nét riêng khó lẫn và để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng bạn đọc. Dù viết về thời bom đạn ác liệt hay cuộc sống thời hậu chiến thì Nguyễn Minh Châu vẫn luôn dành sự quan tâm đặc biệt, lòng trắc ẩn của mình cho những người phụ nữ. Đọc sáng tác của Nguyễn Minh Châu, chúng ta sẽ nhận ra điều thú vị này. Trong thế giới nghệ thuật của ông, người phụ nữ luôn chiếm một vị trí đặc biệt, và họ đáng được trân trọng, ngưỡng mộ. Tác giả dành sự quan tâm đặc biệt cho phụ nữ, cái phần đẹp nhất và cũng đáng thương nhất của nhân loại. Ở Nguyễn Minh Châu ta thấy được góc độ của một nhà văn nam thương cảm cho số phận của người phụ nữ. Đó là lý do mà chúng tôi chọn đề tài “Phê bình nữ quyền ở Việt Nam và trường hợp Nguyễn Minh Châu” làm đề tài nghiên cứu trong tiểu luận này.

Trang 1

PHÊ BÌNH NỮ QUYỀN Ở VIỆT NAM

VÀ TRƯỜNG HỢP NGUYỄN MINH CHÂU

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ PHÊ BÌNH NỮ QUYỀN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM VÀ NHÀ VĂN NGUYỄN MINH CHÂU 2

1.1 Khái quát về lý thuyết nữ quyền và phê bình nữ quyền 2

1.1.1 Khái quát về lý thuyết nữ quyền 2

1.1.2 Khái quát về phê bình nữ quyền 3

1.2 Vận dụng phê bình văn học nữ quyền ở Việt Nam 5

1.2.1 Trong văn học truyền thống 5

1.2.2 Trong văn học hiện đại 8

1.3 Nhà văn Nguyễn Minh Châu 13

1.3.1 Cuộc đời 13

1.3.2 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu 14

1.3.3 Nguyễn Minh Châu – hiện tượng độc đáo trong đổi mới tư duy nghệ thuật 16

CHƯƠNG 2: CÁC KIỂU NHÂN VẬT NỮ TRONG TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN MINH CHÂU TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH NỮ QUYỀN 19

2.1 Người phụ nữ mang vẻ đẹp hình thể và tâm hồn 19

2.1.1 Người phụ nữ mang vẻ đẹp hình thể 19

2.1.2 Người phụ nữ mang vẻ đẹp tâm hồn 20

2.2 Nhân vật nữ ý thức về thiên tính làm mẹ, làm vợ 25

2.3 Người phụ nữ từ bi kịch tình yêu đến khát khao hạnh phúc 32

CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN MINH CHÂU 42

3.1 Không gian và thời gian nghệ thuật 42

3.1.1 Không gian nghệ thuật 42

3.1.2 Thời gian nghệ thuật 46

3.2 Kết cấu tự sự đa điểm nhìn 49

3.2.1 Kết cấu hình tượng 49

Trang 3

3.2.2 Kết cấu đa điểm nhìn 51

3.3 Giọng điệu nghệ thuật 57

3.3.1 Giọng điệu triết lý suy tư, chiêm nghiệm 58

3.3.2 Giọng điệu xót xa thương cảm 60

KẾT LUẬN 62

A TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 64

Trang 4

MỞ ĐẦU

Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Minh Châu được đánh giá làmột tên tuổi lớn Ông đã tạo lập uy tín ở cả nhân cách lẫn tài năng văn chương,luôn hướng ngòi bút của mình đến những vấn đề liên quan đến tình yêu conngười và cuộc sống Ông không những là nhà văn của “chiến tranh và ngườilính” mà còn là nhà văn chạm đến mảnh đời của những người phụ nữ với sốphận khác nhau Người phụ nữ mà ông xây dựng luôn có những nét riêng khólẫn và để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng bạn đọc Dù viết về thời bom đạn ácliệt hay cuộc sống thời hậu chiến thì Nguyễn Minh Châu vẫn luôn dành sự quantâm đặc biệt, lòng trắc ẩn của mình cho những người phụ nữ Đọc sáng tác củaNguyễn Minh Châu, chúng ta sẽ nhận ra điều thú vị này Trong thế giới nghệthuật của ông, người phụ nữ luôn chiếm một vị trí đặc biệt, và họ đáng được trântrọng, ngưỡng mộ Tác giả dành sự quan tâm đặc biệt cho phụ nữ, cái phần đẹpnhất và cũng đáng thương nhất của nhân loại Ở Nguyễn Minh Châu ta thấyđược góc độ của một nhà văn nam thương cảm cho số phận của người phụ nữ

Đó là lý do mà chúng tôi chọn đề tài “Phê bình nữ quyền ở Việt Nam và

trường hợp Nguyễn Minh Châu” làm đề tài nghiên cứu trong tiểu luận này.

Trang 5

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ PHÊ BÌNH NỮ QUYỀN TRONG VĂN

HỌC VIỆT NAM VÀ NHÀ VĂN NGUYỄN MINH CHÂU

1.1 Khái quát về lý thuyết nữ quyền và phê bình nữ quyền

1.1.1 Khái quát về lý thuyết nữ quyền

Thuật ngữ “nữ quyền” (Jeminism) hay “nhà hoạt động nữ quyền (Jeminist)”

lần đầu tiên xuất hiện ở Pháp và Hà Lan vào năm 1872, ở Vương Quốc Anh vào

những năm 1890, Hoa Kỳ năm 1910 Người đề cập đến cụm từ “chủ nghĩa nữ

quyền” chính là Charles Fourier – một triết gia người Pháp.

Các phong trào nữ quyền xuất hiện để đòi quyền lợi chính đáng, công bằngcho phụ nữ Đó là những quyền cơ bản như: cơ thể toàn vẹn và tự chủ; quyềnđược làm việc và trả lương như nam giới; quyền tự do kết hôn, bình đẳng tronggia đình và tự do tôn giáo; quyền bầu cử, quyền sinh đẻ, chống bạo lực,…

Từ đó, khái niệm nữ quyền và chủ nghĩa nữ quyền có rất nhiều cách hiểu

khác nhau: Theo Judith Lorber, chủ nghĩa nữ quyền “là một phong trào xã hội

mà mục đích căn bản là sự bình đẳng giữa đàn bà và đàn ông” Theo bà, người

phụ nữ có quyền bình đẳng về tất cả các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị.Người phụ nữ được tự do kết hôn, được học tập, tự do tín ngưỡng, được bầu

cử… được luật pháp bảo hộ Theo Trần Huyền Sâm: “Chủ nghĩa nữ quyền là

một phong trào hoạt động xã hội rộng lớn nhằm gắn vấn đề nữ tính với nhân quyền Đó là hành trình “câm lặng và giông bão” trong lịch sử nhân loại, với mục đích đấu tranh cho một xã hội bình đẳng giới” Hoàng Bá Thịnh thì cho

rằng: “Nữ quyền là quyền phụ nữ và hiểu đầy đủ thì đó là đấu tranh cho quyền

bình đẳng của phụ nữ Với niềm tin dựa trên nguyên tắc cho rằng phụ nữ phải

có các quyền và cơ may trong cuộc sống như nam giới về chính trị, kinh tế, luật pháp”.

Những năm gần đây, vấn đề nữ quyền được đề cập rất nhiều trên các phươngtiện thông tin đại chúng, đi sâu vào mọi lĩnh vực cả đời sống, xuất hiện ồ ạttrong văn chương Nó chi phối mạnh mẽ hoạt động và tư tưởng của con người

Vì vậy, nữ quyền được hiểu thông dụng đó là: “Quyền bình đẳng của phụ nữ

Trang 6

trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội và giáo dục Khái niệm “nữ quyền” ở cấp độ

rộng là quyền

Trang 7

lợi của người phụ nữ trong thế tương quan với nam giới để đạt đến cái gọi là

“nam nữ bình quyền” Ở cấp độ hẹp thì nữ quyền có mối liên quan với các khái

niệm như “giới tính”, “phái tính” trong văn học Nếu như giới tính, phái tính là

những công cụ để khu biệt đặc tính giữa hai phái (nam/nữ) thì khái niệm nữquyền không chỉ dừng lại ở đó mà mục đích của nó hướng tới sự bình quyền củanam nữ, đồng thời tạo ra hệ quy chuẩn riêng của nữ giới

Như vậy, khái niệm nữ quyền và chủ nghĩa nữ quyền có rất nhiều cách hiểukhác nhau nhưng không mâu thuẫn nhau Nữ quyền luôn ý thức khẳng định vaitrò và quyền lợi của người phụ nữ, với ý nghĩa như thế, nữ quyền là sản phẩmcủa một quá trình hình thành, phát triển lâu dài và luôn được bổ sung những khíacạnh từ nội hàm giá trị của nó

1.1.2 Khái quát về phê bình nữ quyền

Văn học nữ quyền ngày nay chính là sản phẩm trực tiếp của “phong trào nữ

quyền” thập niên 60 Từ khi khởi phát, bằng những phương thức tối ưu của

mình, văn học nữ quyền ý thức được tầm quan trọng của những cảm nhận từhình tượng của phụ nữ trong văn học Điều đó được xem như một vấn đề sốngcòn để chống lại những quan điểm đó và sự hoài nghi về khả năng chuyên môn

và khả năng liên kết của chúng Trong ý nghĩa này, phong trào phụ nữ luôn làvấn đề quan trọng liên quan đến sách vở và văn học Vì vậy, phê bình nữ quyềnkhông phải là bộ phận trong tổng thể lớn hay một sản phẩm phụ từ phong trào

nữ quyền tách biệt với mục tiêu cơ bản của nó mà đó là một trong những cáchảnh hưởng thực tế nhất đến hành vi và thái độ hàng ngày

Liên quan đến “sự biến đổi do điều kiện ngoại cảnh” và “xã hội hoá” là nền tảng chính của sự riêng biệt, đó là giữa các khái niệm “nữ quyền”, “nữ giới” và

“nữ tính” Như cách lý giải của Toril Moi, thứ nhất là “địa vị chính trị”, thứ hai

là “khác biệt về sinh học”, và thứ ba là “sự tập hợp các đặc điểm văn hoá được

xác định” Thông thường thì sự khác biệt giữa khái niệm thứ hai và thứ ba chủ

yếu nằm ở sự tác động của nữ quyền (xem bài luận của Moi trong quyển Ngườiđọc nữ quyền của Catherine Belsey và Jane Moore) Ý tưởng quan trọng khácđược giải thích trong phần còn lại của mục này

Trang 8

Bên cạnh đó, sự hiện diện của phụ nữ trong văn học được xem như một

trong những hình thức quan trọng của “xã hội hoá”, bởi vì nó đã cung cấp các

vai trò mẫu mực chỉ cho nữ và nam về cái gì tạo nên những quan điểm được

chấp nhận về “nữ tính” và những mục đích, nguyện vọng chính đáng của nữ

giới Lý thuyết nữ quyền chỉ ra rằng, ví dụ như trong tiểu thuyết ở thế kỉ 19, phụ

nữ ít khi ra ngoài làm việc trừ phi họ bị đẩy vào tình thế bức bách nào đó Thayvào đó, họ chú trọng vào việc lựa chọn đối tác trong hôn nhân, cái sẽ quyết địnhđịa vị xã hội và hạnh phúc của họ trong suốt phần đời còn lại

Như vậy, trong những năm 1970, nỗ lực lớn nhất của phê bình nữ quyền là

đi vào phơi bày những gì thuộc về bản chất của chế độ gia trưởng, đó là văn hoá

của “những ý nghĩ bị áp đặt” bởi nam giới và luôn tồn tại sự bất bình đẳng về

tình dục đối với nữ giới Hướng phê bình được cho là thiên về sách vở do các tácgiả nam giới khởi xướng mà nó bị ảnh hưởng hoặc được gợi ý từ hình tượngngười phụ nữ truyền thống Tất yếu, phê bình ở đây được hiểu là việc làm cótính tranh đấu và tranh luận Tiếp sau đó, trong những năm 1980 khi lý thuyết nữquyền và một số khuynh hướng phê bình khác có chiều hướng xích lại gần nhauhơn và có những chuyển biến trong cách nhìn nhận Thứ nhất, lý thuyết phê bình

nữ quyền đã bắt đầu có tính hệ thống hơn về lý thuyết, nghĩa là nó bắt đầu tiếnđến sự khám phá và gần gũi hơn với những thể loại phê bình khác như phê bìnhMác xít, phê bình cấu trúc và ngôn ngữ học và nhiều hơn nữa Thứ hai, nó bắtđầu thay đổi đột ngột định hướng nghiên cứu từ công kích thế giới quan namgiới sang khám phá bản chất tự nhiên của nữ giới và mang tính triển vọng vàxây dựng lại những quan điểm đã bị mai một từ những trải nghiệm của nữ giới.Thứ ba, hướng tiếp cận bị thay đổi đột ngột sang sự cần thiết phải thiết lập mộtchuẩn mực cho lối viết nữ bằng cách viết lại lịch sử của tiểu thuyết và thơ vănnhư cách mà sự sao nhãng của các tác giả nữ được cho là sự nổi trội mới

Ở từng giai đoạn như vậy thì có sự quan tâm khác biệt và có những hoạtđộng đặc trưng của phê bình nữ quyền Elaine Showalter là một ví dụ, mô tả sựthay đổi trong những năm cuối thập niên 70 như thay đổi sự chú ý từ lối viết

Trang 9

nam (ngôn ngữ do nam giới viết) và lối viết nữ (ngôn ngữ do phụ nữ viết) Bà đãđặt ra khái

Trang 10

niệm “phê bình phụ nữ”, nghĩa là môn học về ngôn ngữ do phụ nữ viết nhưng

phê bình nữ quyền lại là một lĩnh vực đa dạng và rộng lớn hơn, để hiểu một cáchtổng quát về nó thì cần được nghiên cứu một cách thận trọng hơn nữa Theo bà

khái niệm phê bình nữ quyền bao gồm “lịch sử, thể loại, thể tài, phong cách, và

cấu trúc của lối viết nữ; tư tưởng và cảm hứng chủ đạo của phụ nữ; Những ảnh hường từ nghề nghiệp và điều kiện cá nhân; và sự phát triển cũng như những qui luật của văn học nữ truyền thống”.

Showalter cũng phát hiện ra rằng trong lịch sử lối viết nữ là giai đoạn tính nữ(1840-80), trong đó thì những nhà văn nữ bị ảnh hưởng bởi những quan điểmthẩm mĩ và những tiêu chuẩn nghệ thuật từ nam giới; kế tiếp là giai đoạn nữquyền (1880-1920) trong đó những tư tưởng cực đoan và li khai thường đượcduy trì; và cuối cùng là giai đoạn phụ nữ (1920 trở về sau) thì quan tâm đến vấn

đề khảo sát tác phẩm của tác giả nữ và những trải nghiệm của họ Có rất nhiềunguyên do để phân chia giai đoạn như vậy: Một phần là do nó là kết quả của sựđòi hỏi phê bình nữ quyền phải được xem như là một thuật ngữ khoa học nếu nómuốn trở thành một học thuyết tồn tại thực thụ Quan trọng hơn nữa, đó là mộtnhu cầu cấp thiết, trong tất cả các quy tắc ứng xử thông thái, để tạo nên sự nhậnthức tiến bộ, có ý thức sớm và trong trường hợp này phê bình nữ quyền đượccho là thừa nhận và công nhận quyền lợi hợp pháp của phụ nữ trong khi đó cùngmột thời gian nó lại cho thấy rõ ràng rằng phương pháp tiếp cận mà họ mô tảkhông phù hợp như là mô hình thông dụng nhất để thực hiện Phê bình nữ quyền

từ những năm 1970 đã đạt được một vị trí đáng kể

1.2 Vận dụng phê bình văn học nữ quyền ở Việt Nam

1.2.1 Trong văn học truyền thống

Ý thức nữ quyền đã có mầm mống trong xã hội loài người từ cổ đại cho đếntận hôm nay Các thể loại của văn học dân gian đã thể hiện khá rõ hình ảnhngười phụ nữ với những đặc điểm sinh học và tâm lí học tiêu biểu; đồng thờicũng đã khái quát được những bất công về giới mang đặc trưng xã hội, đặc biệtdưới xã hội phong kiến phụ quyền

Trang 11

Trong văn học dân gian, hình ảnh người phụ nữ xuất hiện xa xưa nhất, có lẽ,

là trong huyền thoại - thể loại “khởi điểm của mọi khởi điểm” (Đỗ Lai Thúy)

Đó là hình ảnh ba người đàn bà (tam mỵ) khởi nguyên: Mỵ Nương trong Sơn

Tinh - Thủy Tinh, Mỵ Châu trong Mỵ Châu - Trọng Thủy, và Mỵ Nương trong Trương Chi Đỗ Lai Thúy cho rằng chuyện Sơn Tinh - Thủy Tinh là “mảnh vỡ

của huyền thoại về Đại Hồng Thủy, ký ức xa xôi của nhân loại về thời kì băng

hà tan Cũng cảnh nước ngập mênh mông gieo rắc tai họa, tưởng như ngày tậnthế; cũng một đôi trai gái (Sơn Tinh và Mỵ Nương) còn sống sau nạn nước (hoặcchiến thắng nó) trở thành vợ chồng, thành tổ của một tộc người, ngọn núi Ba Vìnơi họ đến trú ngụ trơ vơ giữa biển nước như một con thuyền Đồng thời, quaviệc Thủy Tinh đánh đuổi Sơn Tinh để cướp lại Mỵ Nương cũng còn lưu lại ảnh

xạ của tục cướp dâu” Với cách lí giải này, có thể thấy điểm chung của mọi

“khởi nguyên” loài người (huyền thoại, tôn giáo, triết học, văn hóa ) đều cóxuất hiện hình ảnh người phụ nữ với vai trò to lớn trong việc sản sinh và chuyểngiao thế hệ đồng hành cùng người đàn ông

Trong truyện cổ tích, nhân vật nữ xuất hiện rất nhiều và được chia đều cho

cả hai tuyến chính diện và phản diện Các nhân vật nữ được phản ánh đa dạngtrong truyện cổ tích, không chỉ là tầng lớp quý tộc, mà còn có cả hình ảnh ngườiphụ nữ lao động bình dân Những phẩm chất có cả tốt đẹp lẫn độc ác, caothượng lẫn thấp hèn đều được thể hiện một cách rõ ràng trong tính cách củacác nhân vật nữ Một người đàn ông tâm cơ thì người ta gọi là tham vọng, cònmột người phụ nữ tâm cơ thì người ta gọi là nguy hại Từ đây, có thể nói vai tròcủa người phụ nữ ngày càng nhẹ trên cán cân bình đẳng giới của xã hội phong

kiến Dù cho họ có là nhân vật chính diện như Tấm trong Tấm Cám, Quỳnh Nga trong Thạch Sanh, Tiên Dung trong Chử Đồng Tử, Tô Thị trong Hòn vọng

phu ; hay nhân vật phản diện như mẹ con Cám trong Tấm Cám, mẹ Lý Thông

trong Thạch Sanh, hai cô chị vợ trong Sọ Dừa, người vợ phụ bạc trong Sự tích

con muỗi thì số phận của họ cũng do đàn ông nắm giữ và định đoạt Suy cho

cùng, mỗi đau khổ hay hạnh phúc của người phụ nữ cũng đến từ những tranh

Trang 12

đấu vì vật chất và đàn ông Yếu tố tình yêu, sự chung thủy, sự hi sinh được kếttinh thành những phẩm chất tốt đẹp

Trang 13

của người phụ nữ để họ được ghi nhận trong mắt đàn ông và xã hội phong kiến.Còn những nhỏ nhen, ích kỉ, xấu xa và độc ác, dù cho có đấu tranh vì quyền lợicủa chính mình, thì cũng không được xem là “tự vệ” mà trở thành bản án mànam giới và xã hội phụ quyền áp đặt.

Trong ca dao, hình ảnh người phụ nữ xuất hiện ngày càng nhiều với nhữnghoàn cảnh, quan hệ và tính chất đa dạng mà xã hội phong kiến áp đặt cho họ:

“tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Từ chỗ xem họ là ngườikhông có trong dòng họ: “nữ nhân ngoại tộc” đã dẫn đến quan niệm trọng namkhinh nữ một cách vô lí: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” Ca dao than thân

là một trong những minh chứng cho sự bất công ấy của ngươi phụ nữ trong xãhội phong kiến:

- “Thân em như lá đài bi

Ngày thì dãi nắng, đêm thì dầu sương”

- “Thân em như tấm lụa đào,

Phất phơ giữa chợ biết vào tay

ai”.

Một điểm sáng trong ca dao, bên cạnh motif “thân em”, tác giả dân giancũng đã thể hiện được một khía cạnh nhỏ của ý thức nữ quyền để cho người phụ

nữ dám cất lên tiếng nói phản biện cho mình và chính giới của mình:

“Ai làm cho cải tôi ngồng,

Cho dưa tôi khú, cho chồng tôi

chê Chồng chê thì mặc chồng chê,

Dưa khú nấu với cá trê ngọt lừ”.

Có thể nói, bất cần là dấu hiệu đầu tiên của việc phản kháng thay vì an phận,được xem như một điều hiển nhiên

Hình ảnh người phụ nữ được liên tục miêu tả trong văn học trung đại quacác giai đoạn là dấu hiệu của sự phát triển ý thức nữ quyền Hệ thống nhân vật

có liên quan đến vấn đề liệt nữ thể hiện rõ trong đời sống văn hóa, văn học mà

về sau người ta gọi là tiết phụ và dường như còn có các danh hiệu khác như “tiếthạnh khả phong”, “tiết phụ quyên sinh” và “trinh nữ” được quy định cụ thể

Trang 14

trong sử sách Mô hình liệt nữ trong văn học trung đại Việt Nam khởi đầu từhình tượng

Trang 15

nhân vật My Ê trong Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên và cả Lĩnh Nam chích

quái, tương truyền của Trần Thế Pháp (tập hợp các truyền thuyết và cổ tích dân

gian Việt Nam được biên sọan khoảng cuối đời nhà Trần)

Về thơ Nôm, bao gồm thơ trữ tình (thơ Nôm Đường luật, Hát nói, Ngâmkhúc) và thơ tự sự (truyện thơ) cũng có đóng góp đáng kể về hình tượng người

phụ nữ từ góc nhìn giới, đặc biệt từ đầu thế kỉ XIX với Truyện Kiều của Nguyễn

Du Hình ảnh người phụ nữ được khắc họa qua nhân vật trung tâm là Thúy Kiều.Cách nhìn hiện thực và quan niệm nghệ thuật về con người ở tác phẩm này đã cóbước nhận thức mới Ở đây, con người và các mối quan hệ với đời sống xã hội

đã có sự phát triển logic nội tại Và vấn đề thân phận người phụ nữ trong xã hộiphong kiến đã được Nguyễn Du đặt ra và chỉ được những nguyên nhân của sựbất bình đẳng, của sự áp bức và thiệt thòi mà nữ giới phải chịu Tác phẩm đãphần nào cho thấy sự chủ động của nhân vật nữ trong việc tìm kiếm tình yêu,nhưng lại không nắm giữ được tình yêu bởi xã hội phụ quyền không cho phép

Dù có cố gắng “xăm xăm băng lối” nhưng Nguyễn Du vẫn không thể tìm được

cho Thuý Kiều một con đường “thoát li” khỏi “gông xiềng” bất công của thờiđại

1.2.2 Trong văn học hiện đại

Trong những năm 1980, lý thuyết nữ quyền và một số khuynh hướng phêbình khác có chiều hướng xích lại gần nhau hơn và có những chuyển biến trongcách nhìn nhận Xã hội hiện đại, khi dân trí được nâng cao, phụ nữ bắt đầu được

đi học, được tự do bầu cử, tầng lớp công chức đã có sự tham gia của phụ nữ thìcán cân công bằng về giới mới bắt đầu được hiện thực hóa Giờ đây, phụ nữ cóquyền li hôn chính đáng và được pháp luật bảo vệ Tuy nhiên, quá trình ấykhông phải lúc nào cũng diễn ra thuận lợi và nhanh chóng mà phải trải qua rấtnhiều quanh co, sóng gió Nhìn chung, văn học nữ quyền từ khi du nhập vàoViệt Nam, có thể coi là đã trở thành một trào lưu văn học mới, làm dậy sóng vănđàn từ những năm 1986 trở về sau Bao giờ cũng vậy, văn học phản ánh cuộcsống và góp phần làm phong phú hơn cuộc sống Cho nên văn học nữ quyền đãgóp phần quan trọng trong việc đưa vai trò và vị trí của người phụ nữ lên ngang

Trang 16

hàng với nam giới, để phụ nữ khẳng định vị thế của mình trong mọi lĩnh vực củađời sống xã hội.

Trang 17

Thật sự ý thức nữ quyền đã có từ lâu Sang đầu thế kỉ XX, khi tiếp xúc vớiphương Tây, Việt Nam bắt đầu tiếp cận những tư tưởng mới, trong đó có nộidung, quan niệm mới về người phụ nữ Phan Bội Châu trong vận động cứu nước

đã đề cao vai trò, bổn phận và quyền lợi của người phụ nữ và xem việc giảiphóng phụ nữ, thực hiện nam nữ bình quyền là nhiệm vụ trọng tâm để đưa phụ

nữ cùng nam giới tham gia vào cách mạng Từ đó, vai trò và địa vị của ngườiphụ nữ trong mọi hoạt động văn hóa, xã hội và tinh thần được khẳng định SauPhan Bội Châu, Phan Khôi là một trong những người đầu tiên đặt lại vấn đề tiếtphụ Bên cạnh đó, ý thức giới tính/ phái tính và âm hưởng nữ quyền trong vănhọc nửa đầu thế kỉ XX đặt trong liên hệ với các hoạt động báo chí của Phan BộiChâu, Phan Khôi, Đạm Phương, Trần Thị Như Mân, Sương Nguyệt Anh, HằngPhương, Nguyễn Thị Kiêm, còn trong văn học, với vai trò của các cây bút nữĐạm Phương, Anh Thơ, Mộng Tuyết, Ngân Giang, Vân Đài, Hình ảnh ngườiphụ nữ với sự chủ động và mạnh dạn hơn trong cuộc sống được phản ánh rấtnhiều trong báo chí

Ta thấy nhân vật nữ tân thời trong Thơ mới, trong văn chương Tự lực vănđoàn, trong văn học hiện thực phê phán là biểu hiện cho ý thức thể hiện quyềnbình đẳng giới của các nhà văn hiện đại trên cơ sở tiếp thu ảnh hưởng văn hóavăn học phương Tây Vẻ đẹp và quyền sống của người phụ nữ trong cuộc sốngmới được văn học hiện đại nhấn mạnh như là sức mạnh nữ giới mà mọi ngườiphải tôn trọng, khiến cho nam giới phải đề cao Đó cũng là cách để từng bướcthể hiện quyền bình đẳng của nữ giới so với nam giới thời hiện đại Đặc biệttrong thời này, nổi lên vai trò của phụ nữ làm thơ Ý thức nữ giới của họ trongthời cuộc bấy giờ có thể xem là tiếng nói nữ quyền bằng thơ ca, với một lối viết

nữ rất mới mẻ trong sáng tác của các nhà thơ nữ tiên phong Điển hình là nữ sĩAnh Thơ với tác phẩm Bức tranh quê đạt giải thưởng của Tự lực văn đoàn Dĩnhiên là ý thức nữ quyền của các nhà thơ này, do bước đầu và chưa có thực tiễnthúc đẩy nên giọng thơ của họ vẫn nghiêng về ngậm ngùi, buồn nhớ hơn là tiếngthơ cất cao thể hiện tiếng nói tình yêu và khát vọng nữ giới mạnh mẽ và chínhđáng của mình và giới mình

Trang 18

Nhân vật phụ nữ trong quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam cuối thế kỉXIX đầu thế kỉ XX xuất hiện trở lại Tuy nhiên, trong hoàn cảnh văn học có sựgiao thoa với văn minh phương Tây, kiểu nhân vật nữ này có xu hướng từ giãchuẩn mực và quy phạm của văn học truyền thống để dần dần thể hiện hìnhtượng người phụ nữ với hằng số tâm lí - xã hội mới Kiểu nhân vật mới/ tân thờinày bắt đầu xuất hiện trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và tiểu thuyết hiện thực

phê phán.Các nhà văn lãng mạn Tự lực văn đoàn thời kì đầu đã có những trang viếttiến bộ, mạnh bạo hơn về vấn đề phẩm tiết của phụ nữ như các nhân vật trong

Hồn bướm mơ tiên (1933), Gánh hàng hoa (1934), Đoạn tuyệt (1935) nhằm

phản biện vai trò gia đình truyền thống trong xã hội lúc đó, hoặc đấu tranh choquyền sống cá nhân theo quan niệm mới tiếp thu từ phương Tây Sang thời kì

thứ hai (1936- 1939), những tác phẩm như Lạnh lùng (1936), Thoát ly (1937),

vẫn tiếp tục mạch phê phán lễ giáo hủ lậu, trói buộc hạnh phúc con người, đặcbiệt là phụ nữ và phê phán vấn đề trinh tiết truyền thống như Lạnh lùng củaNhất Linh đưa hình ảnh người phụ nữ bị kìm hãm trong vùng tăm tối đến tuyệtvọng hoặc kiên quyết đấu tranh để tự giải phóng mình, bảo vệ đến cùng quyền

tự do yêu đương và hạnh phúc cá nhân là mạch cảm hứng tiến bộ đáng ghi nhậncủa các tác gia Tự lực văn đoàn

Ý thức nữ quyền trong văn học giai đoạn 1945-1975 lại vận động và thể hiệntheo một hướng khác, phù hợp với nhu cầu và sự phát triển của đời sống cáchmạng Những biểu hiện của họ, dù chưa ứng dụng cụ thể những nội dung củachủ nghĩa nữ quyền, nhưng qua thực tế hành động, có những biểu hiện thực tiễnrất gần với lí thuyết nữ quyền Phụ nữ trong cuộc sống kháng chiến ý thức rấtsâu sắc về vai trò và vị trí của mình trong mối quan hệ với cộng đồng dân tộc

Sự bình quyền nam nữ về mặt pháp luật được Đảng nêu trong hiến pháp và xãhội hóa trong đấu tranh cách mạng Trong văn học nghệ thuật, đội ngũ nhữngnhà thơ nữ xuất hiện nhiều hơn giai đoạn trước Tác phẩm của họ phát huy tínhtích cực công dân và nghĩa vụ cao cả đối với cuộc sống cách mạng Hình tượngngười phụ nữ với tư cách là nhân vật trữ tình ngôi thứ nhất và nhân vật trữ tình

Trang 19

nhập vai hiện lên trong thơ ca cách mạng một cách sinh động và bình đẳng vớinam giới Mẹ

Trang 20

Suốt được Tố Hữu thể hiện trong tư thế hiên ngang của người anh hùng trên

sông nước: “Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung,/ Gió lay như sóng biển tung trắng bờ./

Gan chi gan rửa mẹ nờ,/ Mẹ rằng cứu nước mình chờ chi ai” (Mẹ Suốt) Trong

văn xuôi cách mạng, đặc biệt là thời kháng chiến chống Mỹ, hình ảnh nhữngngười phụ nữ bằng xương bằng thịt hiện lên sinh động thông qua các nhân vật

và tác phẩm tiêu biểu như chị Út Tịch trong Người Mẹ cầm súng (1965) củaNguyễn Thi, chị Sứ trong Hòn Đất (1966) của Anh Đức, Nguyệt trong Mảnhtrăng cuối rừng (1973) của Nguyễn Minh Châu và nhiều nhân vật nữ đa dạngtrong các tác phẩm khác là biểu hiện hùng hồn cho ý thức thể hiện địa vị và tầmvóc của người phụ nữ mới trong bão táp cách mạng

Riêng trong văn học ở đô thị miền Nam 1954-1975, có sự xuất hiện của cáctác giả nữ, đặc biệt là các nhà tiểu thuyết nữ Với sự ảnh hưởng của của phântâm học và chủ nghĩa hiện sinh cũng như phong trào hiện sinh chủ nghĩa, họ đặt

ra vấn đề lựa chọn, giải phóng tính dục, đề cao người phụ nữ ở tâm hồn và thânxác, xóa bỏ mọi cấm kị, tiêu biểu như các nhân vật nữ trong tiểu thuyết Khungrêu của Nguyễn Thị Thụy Vũ, Vòng tay học trò của Nguyễn Thị Hoàng Vềthơ, từ 1960 đến 1975, thi đàn xuất hiện hàng loạt các nhà thơ nữ, tạo nên luồnggió lạ trong sáng tác và tiếp nhận văn chương Thơ họ đề cao vai trò nữ tính, cónhu cầu khám phá sự phong phú của đời sống cá nhân phụ nữ từ những quan hệbên trong đến quan hệ xã hội Nữ giới chung - tờ báo phụ nữ đầu tiên của báochí Việt Nam, xuất bản số đầu tiên ngày 02/02/1918 tại Sài Gòn do bà SươngNguyệt Anh làm chủ bút đã quan tâm và đề cao vai trò của phụ nữ Từ trên trangbìa tờ Phụ nữ tân văn do bà Nguyễn Đức Nhuận làm chủ nhiệm, Phan Khôi làm

chủ bút có ghi hai câu thơ: “Phấn son tô điểm sơn hà,/ Để cho rõ mặt đàn bà

nước Nam”, nhà thơ Tuệ Mai đã đồng cảm nói lên niềm vui phái nữ của mình

trong bài Đêm tôi: “Chợ đời vui quá đi Anh,/ Tôi bìa tạp chí mang hình phấn

son” Trong nhiều nhà thơ nữ ở miền Nam 1954-1975, Nhã Ca là nhà thơ ý thức

về phái tính mạnh mẽ nhất qua bài thơ Đàn bà là mặt trời với nhiều câu thơ, khổ

thơ khẳng định địa vị và vẻ đẹp nữ tính cụ thể, đầy tự hào: “Chúng ta, mỗi

Trang 21

người phải là một nàng công chúa/ Người đàn bà nào cũng đẹp/ Mùa xuân và hoa hồng đều nở vì chúng ta/ Chúng

Trang 22

ta ban phát ái tình/ Cho thiên đàng của chúng ta tươi tốt mãi” Tác giả đã đề cao

thiên chức của người phụ nữ - một sáng tạo tuyệt mĩ của Thượng đế “Cám ơn

Thượng đế đã cho tôi đôi vụ/ cho tôi da mịn và tóc dài/ cho tôi rực rỡ như mặt trời/ để tôi làm ra ái tình và rượu ngọt/ tràn trên trái đất”.

Thơ ca giai đoạn 1945-1975, ý thức nữ quyền được ghi lại đa dạng và phongphú từ cảm nghĩ đến quy mô tầm vóc tâm hồn và hành động của từng cá nhân vàtập thể Điều đặc biệt là trong hai cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc,các tác giả nữ xuất hiện đông đảo hơn các giai đoạn trước rất nhiều Nhu cầusáng tạo để ghi lại cuộc đời mình và nhân dân mình, đặc biệt là ghi lại hình ảnhnhững người nữ thanh niên xung phong, nữ bộ đội trong chiến đấu và dựng xây

là một trong những thành tựu của thơ nữ Ý thức công dân, chính trị và nữ quyềncủa mỗi cá nhân đã nâng họ lên tầm thời đại và nhân loại Nhân vật trữ tình là

nữ trong thơ giai đoạn này thực sự là người phụ nữ anh hùng trong thời đại anhhùng mà hành vi và đạo đức của họ ngang bằng với nam giới

Từ 1986 đến nay là giai đoạn đặc biệt trong văn học Việt Nam Mười nămsau hòa bình, rồi bước qua thời đất nước đổi mới và mở cửa, xóa bỏ bao cấpkinh tế và phần nào bao cấp tư tưởng, văn học nữ đã được giải phóng khỏi nhiềucấm kị xã hội Bởi vậy, song song với việc các nhà văn và nhà thơ nữ lớp trước

vẫn xuất hiện đều trên văn đàn và thi đàn như Vũ Thị Thường, Nguyễn Thị Ngọc

Tú, Lê Minh Khuê (văn xuôi), Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị

Mây (thơ), Đã xuất hiện một lớp nhà văn, nhà thơ trẻ khác hẳn về cảm xúc, tư

tưởng, quan niệm thẩm mĩ, ngôn ngữ, thể loại thi ca Giờ đây, hình tượng ngườiphụ nữ trong các tác phẩm của họ được thể hiện khác, đặc biệt là trong tác phẩmcủa các tác giả trẻ Họ ý thức về giới nữ và quyền bình đẳng nữ giới cụ thể hơn

và lí tính hơn Họ có cách cảm nhận khác và ý thức khác về vai trò, địa vị củamình trong cuộc sống hiện đại của thời bình Họ không còn ám ảnh và chịu tácđộng từ hậu quả chiến tranh quá khứ như các tác giả lớp trước Giờ đây, văn -thơ nữ trẻ đã làm nên một bước ngoặt mới trong cách nhìn nghệ thuật về pháitính và âm hưởng nữ quyền so với văn - thơ nữ trước đó Về văn xuôi, có thể

Trang 23

nhắc đến Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Xuân Hà, Dạ Ngân, Y Ban,

Nguyễn Ngọc Tư, với

Trang 24

nhiều tác phẩm tiêu biểu, mới lạ; về thơ, có thể nhắc đến Đoàn Thị Lam Luyến,

Tuyết Nga, Phạm Thị Ngọc Liên, Đinh Thị Như Thúy, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thúy Hằng, với nhiều thi phẩm thể hiện khát vọng

và tâm hồn nữ giới phong phú, chân thành, tự do và mãnh liệt

Có thể nói, hình tượng người phụ nữ trong văn học sau 1975, đặc biệt từ

1986 đến nay lại một lần nữa đánh thức sự bình đẳng giới trong sáng tác và phêbình văn học Việt Nam Ý thức nữ quyền đã phát triển mạnh mẽ thành phongtrào nữ quyền trong xã hội Riêng văn học, chủ nghĩa nữ quyền đã xâm lấn cảvăn đàn, báo chí và lí luận phê bình Các cây bút nữ xuất hiện ngày càng đông,văn học viết về quyền lợi nữ giới ngày càng nhiều và tạo được hiệu ứng xã hội.Điều này chứng minh rằng quá trình hình thành và phát triển ý thức nữ quyềntrong văn học từ truyền thống cho đến hiện đại là có ý nghĩa và đã đạt đượcthành tựu thuyết phục

Hành trình nữ quyền trong văn học Việt Nam từ truyền thống cho đến hiệnđại đã phơi bày sự kì thị giới tính thông qua những nhân vật nữ điển hình trongtừng hoàn cảnh điển hình Việc chỉ ra mối quan hệ bất bình đẳng giới và nguyênnhân dẫn đến ý thức đấu tranh vì nữ quyền là một thực tế mang tính quy luật Vàvăn học với tư cách là một hình thái ý thức xã hội - thẩm mĩ đã chiếm lĩnh, cắtnghĩa và lí giải mối quan hệ bất bình đẳng giới đó một cách khách quan, cụ thể

và nghệ thuật, góp phần khẳng định tiếng nói nữ quyền trong đời sống xã hội nóichung, và đời sống văn hoá - tinh thần nói riêng một cách mạnh mẽ và hiệu quả

1.3 Nhà văn Nguyễn Minh Châu

Trang 25

sau đó di chuyển vào Huế học tiếp Đến năm 1945, ông trở về quê thi Tốt nghiệpTrường Kỹ nghệ Huế và đỗ bằng Thành Chung.

Năm 1950, Nguyễn Minh Châu tiếp tục học chuyên khoa ở trường HuỳnhThúc Kháng tại Nghệ – Tĩnh Sau đó ông tình nguyện gia nhập Quân đội vàđược đào tạo tại trường Sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn

Trong giai đoạn từ năm 1952 - 1956, ông công tác và chiến đấu tại Ban thammưu các tiểu đoàn 722, 706 thuộc sư đoàn 320

Hai năm sau, Nguyễn Minh Châu vẫn tiếp tục phục vụ trong quân đội vàđược bầu làm trợ lý văn hóa trung đoàn 64 thuộc sư đoàn 320

Sự nghiệp học hành của ông vẫn chưa dừng lại ở đó, vào năm 1961, ông bắtđầu theo học tại trường Văn hóa Lạng Sơn Một năm sau, ông được điều động

về làm việc tại phòng Văn nghệ quân đội, sau đó chuyển sang công tác tại tạpchí Văn nghệ quân đội Công việc chính của ông là biên tập và phóng viên.Năm 1972, ông vinh dự trở thành một trong những thành viên Hội nhà vănViệt Nam

1.3.2 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu

Nguyễn Minh Châu là một nhà văn quân đội, sáng tác cả trong hai cuộckháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Ông còn là người mở đường tinh anh và

là cây bút tiên phong trong văn học thời kì đổi mới

Hành trình văn học của ông khởi đầu vào năm 1960 với thể loại truyện ngắn.Hầu hết nội dung của những tác phẩm trong giai đoạn này của ông đều phản ánhnhững hình ảnh sinh động của cuộc chiến đấu và hình tượng cao đẹp của nhữngcon người Việt Nam thuộc nhiều thế hệ

Bước vào giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, sự nghiệp văn học của ông mớigây được sự chú ý mạnh mẽ Lúc này, ông tập trung vào khám phá và phản ánhnhững đề tài về hiện thực của chiến tranh và người lính cách mạng Đồng thờiông cũng ngợi ca tinh thần dũng cảm, chấp nhận hi sinh vì sự nghiệp chiến đấugiành độc lập, tự do cho dân tộc của toàn đất nước

Vào những năm 80 của thế kỉ XX, Nguyễn Minh Châu bỗng nhận ra nhữnghạn chế của nền văn học thời chiến tranh lúc bấy giờ và chuyển hướng sáng tác,

Trang 26

tìm kiếm ra con đường mới cho chính mình Từ đó, ông trở thành một trong sốnhững nhà văn đầu tiên của thời kì đổi mới, đi sâu khám phá về những vấn đềđạo đức, triết lí nhân sinh.

Một số tác phẩm tiêu biểu không thể không nhắc đến của Nguyễn Minh Châu

đó là:

- Sau một buổi tập (1960)

- Cửa sông (tiểu thuyết, 1966)

- Những vùng trời khác nhau (truyện ngắn, 1970)

- Dấu chân người lính (tiểu thuyết, 1972)

- Miền cháy (tiểu thuyết, 1977)

- Lửa từ những ngôi nhà (tiểu thuyết, 1977)

- Những người đi từ trong rừng ra (tiểu thuyết, 1982)

- Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (truyện ngắn, 1983)

Giải thưởng Bộ Quốc phòng năm (1984- 1989) cho toàn bộ tác phẩm củaông viết về chiến tranh và người lính,

Giải thưởng Hội nhà văn 1988-1989 cho tập truyện “Cỏ lau”

Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt II năm 2000

Mặc dù sự nghiệp văn chương của Nguyễn Minh Châu không quá dài (29năm), nhưng thực sự nó đã để lại rất nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng các thế

hệ độc giả Ông còn được đánh giá là một cây bút tiên phong đầy tài năng củanền văn học Việt Nam

Trang 27

1.3.3 Nguyễn Minh Châu – hiện tượng độc đáo trong đổi mới tư duy nghệ thuật

Nguyễn Minh Châu là người đi tiên phong trong bước đầu đổi mới thôngqua những tác phẩm có giá trị Giai đoạn trước 1975, Nguyễn Minh Châu đãkhẳng định được vị trí xứng đáng của mình trong nền văn xuôi chống Mỹ nhưng

sự nghiệp sáng tác của ông nếu nói là đạt được những thành công lớn trên bướcđường nghệ thuật thì phải kể đến những sáng tác sau 1975 Đó là những bướctiến về tư duy nghệ thuật, giúp ông trở thành một cây bút tiên phong mở đường

“tinh anh và tài năng” cho một thời đại văn học mới

Dấu hiệu đầu tiên để tạo ra sự đổi mới là nhà văn nhận ra bi kịch tự đánh

mất mình Với sự ra đời của ba tập truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu

tốc hành, Bến quê, Cỏ lau, Nguyễn Minh Châu trở nên “khác lạ” so với những

gì ông có trước đây

Quan niệm về con người trước 1975

Con người trong các tác phẩm văn học là hiện thân của ý chí độc lập tự do

và chủ nghĩa xã hội, được thể hiện trong chiều sâu của sự gắn bó với tổ quốc và

ý thức tự giác cao độ trong cuộc đụng đầu lịch sử chưa từng có giữa dân tộcViệt Nam anh hùng và đế quốc Mỹ xâm lược Ở đây, con người cầm súng vàquyết thắng lấn át con người bình thường, con người tinh thần ý chí nổi lên trêncon người vật chất, con người vì nghĩa lớn lấn át con người riêng tư Các nhânvật của Nguyễn Minh Châu cũng nằm trong cùng mô típ ấy, dù là người dân,hay người lính đều tiêu biểu cho tập thể, thấm nhuần đạo đức cách mạng mang

vẻ đẹp của lý tưởng và được xác định trong kích thước lớn lao của lịch sử

Cô giáo Thùy (Cửa sông) là một nhân vật đẹp Đó là cô giáo yêu nghề, yêu

học sinh, gắn bó thân thiết với xóm làng, biết nén dẹp lo lắng riêng tư để hòa

nhập với cuộc sống là hoàn thành nhiệm vụ Những con người trong Những

vùng trời khác nhau là những con người cao thượng và trong sáng, có tình yêu

chung thủy gắn bó với cách mạng, tình cảm thân thương giữa người hậu phương

và chiến trường…, là những con người hài hòa trong mối quan hệ riêng chung,

Trang 28

họ tiêu biểu cho vẻ đẹp của một dân tộc, lấy ân tình thủy chung làm lẽ sống caothượng Tuy

Trang 29

nhiên những nhân vật này còn thiếu chiều sâu nội tâm, bạn đọc nhận thấy hìnhnhư họ vươn tới cái đẹp hãy còn đơn giản, dễ dàng quá Đó cũng chính lànguyên nhân là cho sức hấp dẫn của chúng ít nhiều bị giảm sút.

Nhìn chung, con người trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu trước 1975hoàn toàn tuân thủ theo những chuẩn mực nghệ thuật của văn học sử thi Đó lànhững con người mới xã hội chủ nghĩa, căm thù giặc, xả thân vì sự nghiệpchung… đứng về mặt tác động của văn học mà nói: Tác phẩm của Nguyễn MinhChâu đã góp phần cổ vũ, động viên các thế hệ nối tiếp nhau lên đường bảo vệ

Tổ quốc

Quan niệm về con người sau 1975

Con người ở đây không chỉ thể hiện chiến công, tinh thần khí phách của dântộc, được nhìn dưới ánh sáng của cuộc đấu tranh mà còn là một nhân cách, một

cá nhân riêng biệt được đo đếm chính xác trong cuộc đời thường bình dị và vôcùng phong phú Sau này, sự trăn trở tìm đến “tầng đáy” của cuộc sống giúpNguyễn Minh Châu tìm gặp những “truân chuyên, chìm nổi” của con ngườitrong cuộc sống hôm nay Đọc tác phẩm của ông, ta bắt gặp những con ngườikhông chỉ ở trong “mối quan hệ tổng hòa” của xã hội, mà trước hết họ là nhữngcon người có số phận riêng, cuộc đời riêng

Bác Thông (Sống mãi với cây xanh) là người có nội tâm phong phú và cao

thượng Ở con người bác, ta thấy tỏa ra ánh sáng của tấm lòng bao dung nhânhậu, một lối sống hết mình với công việc, nhưng cuộc đời bác lại cô đơn đaukhổ Gắn chặt đời mình với thiên nhiên có phần cũ kỹ, bác Thông ngơ ngáctrước những đổi thay của quá trình đô thị hóa Sự kiện cây sấu bị “làm thịt” làmBác đổ bệnh Dường như thiên nhiên trở thành máu thịt của Bác, cuộc đời bácđược đo đếm bằng thiên nhiên

Lão Khúng (Khách ở quê ra và Phiên chợ Giát) dữ dội hoang dã, quyết liệt

như chính mảnh đất sinh ra lão Từng là người làm ra cái vật chất, gánh trên vaihai cuộc kháng chiến, đẻ con ra cũng cho cách mạng, nhưng Khúng vẫn khôngthoát khỏi tầm nhìn thiển cận của tư tưởng nông dân Lão Khúng vừa cương

Trang 30

quyết tạo dựng cuộc sống vừa thích nổi tiếng, thích đẻ nhiều con, hay phản ứngtrước

Trang 31

cái mới, con người ấy quyết liệt, ham hố trong những tranh chấp riêng tư, nhưnglại tình nghĩa trong quan hệ họ hàng, con cái Vắt kiệt sức lao động để nuôi sốnggia đình và bản thân, lão vẫn buồn về mụ Huệ và lai lịch thằng Dũng Hình ảnhlão Khúng sợ hãi nỗi cô đơn nơi phố phường, quay về với núi rừng hoang dãphải chăng là sự khó thở trước vùng cấm đối với lối sống thiên bẩm của lão.

Tiểu kết:

Văn học Việt Nam ngày càng ghi nhận sự ra đời của nhiều tác phẩm hay và

có khả năng phản ánh sâu sắc những góc khuất của xã hội Dù là văn học truyềnthống hay văn học hiện đại thì dấu ấn mà những tác phẩm mang lại là một điều

mà chúng ta cần phải trân trọng và khai phá Cùng với dòng chảy của văn học,các trường phái phê bình văn học cũng dần được vận dụng triệt để và đã tạo rađược nhiều giá trị cho nền văn học nói chung Từ khi mới xuất hiện, phê bình

Nữ quyền đã giải quyết được sự mất quân bình về giới ở trong văn học và khiđược soi chiếu qua những tác phẩm của nhà văn Nguyễn Minh Châu thì nó hoàntoàn mở ra một con đường, một ánh nhìn mới mà không phải ai cũng có thể thấu

rõ Khi tổng quát quá trình sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Lã Nguyên đã đi

đến kết luận khá thỏa đáng: “Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu mang đến

cho người đọc một quan niệm mới mẻ về con người và cuộc đời mà nền tảng của nó là chiều sâu triết học và nhân bản” Suốt hành trình sáng tác của mình,

nhà văn Nguyễn Minh Châu đã trở thành một “cây đại thụ” trong nền văn họcnước nhà

Trang 32

CHƯƠNG 2: CÁC KIỂU NHÂN VẬT NỮ TRONG TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN MINH CHÂU TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH NỮ QUYỀN 2.1 Người phụ nữ mang vẻ đẹp hình thể và tâm hồn

2.1.1 Người phụ nữ mang vẻ đẹp hình thể

Vẻ đẹp hình thể được thể hiện qua nhân vật Nguyệt trong truyện ngắn Mảnh

trăng cuối rừng Nguyệt xuất hiện thông qua lời kể của một người lính lái xe

tên là Lãm, người có chị gái tên là Tính là một nữ công nhân ở công trường cầu

Đá Xanh Chị đã làm mai mối cho Lãm với một cô gái tên là Nguyệt mà chị rấtưng bụng cho làm em dâu Thế nhưng vì chiến tranh, vì mỗi người đều có một

nhiệm vụ khác nhau mà Lãm và Nguyệt chưa từng có một lần “xem mặt” chính

thức Bẵng đi cả một thời gian mấy năm trời, thậm chí đến bản thân Lãm cũngsắp quên cái việc mối mai này thì bất ngờ trong một chuyến xe đi qua cầu Đá

Xanh, anh lái phụ “vượt quyền” cho một cô gái đi nhờ Lãm chính thức gặp mặt

Nguyệt, cô gái mà vốn trước đó đọc thư của chị Tính anh đã rất cảm động vì sựđợi chờ của nàng dành cho mình suốt mấy năm trời đằng đẵng, dù chưa một lầngặp mặt

Ban đầu bản thân nhân vật Lãm không hề biết cô gái anh gặp là Nguyệt,người anh dự định sau chuyến xe này sẽ đến thăm Ngoại hình của nhân vậtNguyệt được Nguyễn Minh Châu dựng lên một cách thật ý nhị và hấp dẫn, độcgiả nhận ra vẻ đẹp của cô gái đầu tiên không phải là từ khuôn mặt mà ấy là từ

đôi chân “một đôi gót chân hồng hồng sạch sẽ, đôi dép cao su cũng sạch sẽ, gấu

quần lụa đen chấm mắt cá” Sự đẹp đẽ chỉn chu đến tận gót chân ấy đã cho

người đọc một cảm nhận rằng Nguyệt là cô gái rất tinh tế, tỉ mỉ và biết cáchchăm sóc bản thân, dẫu lỡ như khuôn mặt cô không xinh đẹp đi chăng nữa, thìcũng ắt là người duyên dáng, dịu dàng Khi nhân vật Lãm từ gầm xe lên, chính

thức chạm mặt Nguyệt anh đã ấn tượng với cô bởi “một vẻ đẹp giản dị và mát

mẻ như sương núi tỏa ra từ nét mặt, giọng nói và tấm thân mảnh dẻ”, lại “mặc

áo xanh chít hông vừa khít, mái tóc dài tết thành hai dải Chiếc làn và chiếc nón mới trắng lóa khoác ở cánh tay trông thật nhẹ nhàng” Chỉ từng ấy câu chữ

nhưng cũng đủ làm người ta mê say cái vẻ đẹp thơ mộng hiếm có của cô gái, hệt

Trang 33

như một bông hoa sen giữa chiến trường khắc nghiệt Đó là một vẻ đẹp trongngần, tràn đầy sức sống tươi trẻ của một cô

Trang 34

gái độ hai mươi tuổi đầu, một vẻ đẹp hiếm có giữa hàng ngàn nữ công nhân củangầm Đá Xanh, thảo nào chị Tính lại sốt ruột giành về cho em trai như thế.

Nguyễn Minh Châu quả thật sắc sảo, khi ông biết khai thác lợi thế “phái

đẹp” để lý tưởng hóa nhân vật của mình Nhà văn thực sự bị ám ảnh bởi vẻ đẹp

mảnh mai, trong sáng Họ hiện lên như những “kiều nữ”, có thể nhận ra thái độ

nâng niu, trân trọng của tác giả dành cho nhân vật của mình: một cô Y Khiêu

“gọn gàng”, dịu dàng trong nếp váy đen với đôi mắt ngời sáng trong Nguồn

suối, cô Thận “cổ cao, răng trắng, nom dịu dàng và thùy mị” trong Nhành mai,

cô Nguyệt với “tấm thân mảnh dẻ”, và vẻ “mát mẻ như sương núi” tỏa ra từ

“nét mặt, lời nói, cử chỉ” trong Mảnh trăng cuối rừng; cô Quý với “nét mặt thật nhẹ nhõm, xởi lởi”; cô giáo Thùy trẻ trung, trong sáng “có thân hình mảnh dẻ”

và “đôi mắt đen trong suốt” trong Cửa sông v.v Cái ác liệt của chiến tranh

dường như không làm cho vẻ đẹp của họ hao khuyết Tuy nhiên, tác giả không

“duy mỹ” và “duy ý chí” đến mức không biết đến điều này, ông đã tỏ ra thực sự

am tường về tâm lý phụ nữ Ông đã để họ luôn sống giữa tình yêu, luôn lưu giữ

và mang trong lòng một tình yêu sâu sắc Họ là những người đàn bà “chỉ biết

yêu một người” Yêu và được yêu, đó cũng là “bí quyết” để họ mãi xinh đẹp.

2.1.2 Người phụ nữ mang vẻ đẹp tâm hồn

Bên cạnh vẻ đẹp ngoại hình, nhân vật nữ trong truyện Nguyễn Minh Châu

mang vẻ đẹp tâm hồn Đó là Nguyệt trong truyện Mảnh trăng cuối rừng, ta bắt

gặp giọng nói hay cử chỉ hành động cũng thật duyên dáng, yêu kiều biết bao, cônói chuyện rất kiêng dè, lễ phép và đối đáp mạch lạc với anh lái xe chỉ mớiquen Ở những câu nói của cô gái, người ta thấy được sự trẻ trung, thông minh

và sự dịu dàng, đáng yêu ví như việc cô hỏi về chiếc đèn “quả dưa” hay “quả

táo”, rồi việc cô kể những những cô Nguyệt trong đoàn công nhân một cách thật

thà Hoặc những lúc cô bối rối giải thích về sự lồi lõm của những con đường mà

tổ đội cô chịu trách nhiệm tu sửa, san bằng Bấy nhiêu câu chuyện ấy cũng đểthấy được cái tâm hồn trong sáng, chân thật của cô gái trẻ, nó góp thêm vào cái

vẻ đẹp như hoa như sương khiến cho chàng chiến sĩ lái xe vốn tự nhận mình là

Trang 35

"già đời trong nghề lái xe" bâng khuâng đến độ nhận nhầm trăng thành pháosáng Dẫu thoải

Trang 36

mái, vô tư và hồn nhiên, nhưng người ta vẫn thấy ở Nguyệt tính cách e lệ, giữ kẽcủa một thiếu nữ chưa chồng, cô cố ý ngồi sát mép cửa, chiếc làn ôm gọn tronglòng, để lại giữa Lãm và cô một khoảng trống lớn, đồng thời không quên ngắmtrong buồng xe bằng một cặp mắt rụt rè và tò mò Không chỉ như vậy, ở Nguyệt

ta còn thấy một sự tự tin và lòng nhiệt thành toát lên từ tâm hồn, gặp đoạn

đường khó đi và tối cô động viên anh lính lái xe bằng câu “Anh cứ yên tâm,

đoạn đường này em quen lắm” Và đúng là cô quen thật, Nguyệt liên tục chỉ lối

cho Lãm lái xe, thỉnh thoảng có đoạn bánh trước sục xuống rãnh sâu quá cô phải

xuống “xi nhan” cho anh kéo lên Vốn dĩ cô gái sẽ xuống xe trước khi qua sông, thế nhưng với tấm lòng nhiệt tình “anh đã cho em đi nhờ xe, lúc khó khăn lại bỏ

anh ư”, cô quyết giúp đỡ anh lội qua con sông tối om, nguy hiểm này.

Cũng từ đây một vẻ đẹp khác của Nguyệt dần hiện ra trước mắt độc giả, sựlanh lẹ, kiên cường, dũng cảm và thông minh trong chiến đấu Kinh nghiệm làmviệc ở ngầm Đá Xanh đã cho Nguyệt biết được nhiều điều trong đó có việc nghethấy tiếng máy bay trinh sát của địch, hoặc việc bóng đèn xe trên sông sẽ loang

đi rất xa, điều đó khiến cô nhanh chóng nhận thấy nguy hiểm tới gần “vội nhảy

ùm xuống sông” rồi bảo Lãm tắt đèn xe đi Sự chuyển biến ấy của Nguyệt khiến

tác giả không khỏi sửng sốt, một cô gái sạch sẽ, tỉ mỉ luôn giữ cho cả gót chânlẫn đôi dép tinh tươm thế mà lại sẵn sàng nhanh chóng nhảy ùm xuống sông,chấp nhận ướt hết người Lúc đó họ mới hiểu Nguyệt không phải chỉ là một côgái thông thường, cô là một bông hoa xinh đẹp nhưng cũng là một nữ chiến sĩchiến đấu giữ chiến trường ác liệt Vào cuộc chiến, Nguyệt cũng trở nên kiêncường, mạnh mẽ và dứt khoát hơn tất thảy Cô nhanh nhẹn lội qua bên kia sông,giúp Lãm buộc dây tời xe, gặp máy bay địch đánh ngầm Nguyệt đã lanh lẹ vàkhỏe hết sức đẩy một người đàn ông như Lãm vào giữa một vật gì đó rất cứng

và sâu, hòng bảo vệ anh khỏi việc đánh tọa độ của kẻ thù Dù Lãm được an toàntrong cái khe đá, thế nhưng bản thân Nguyệt lại chịu phần nguy hiểm khi đứngnấp ở rìa ngoài, sự dũng cảm ấy khiến người ta xúc động không thôi Tâm trí cô

gái ấy chỉ có một điều “Anh bị thương thì xe cũng mất, anh cứ nấp ở đó!”, cô

Trang 37

nhất nhất bảo vệ người lính lái xe và chiếc xe chở hàng tấn đồ quân sự bằng

sự liều lĩnh của bản thân

Trang 38

mình Lúc này đây người ta còn thấy Nguyệt đẹp, đẹp vượt trội hẳn so với cáinhan sắc kiều diễm bề ngoài, nét đẹp ấy đến từ tâm hồn của người thiếu nữ.Trong giây phút nguy hiểm ấy, Nguyệt rất bình tĩnh, cô chạy theo Lãm lên xe,mặc kệ bị bom làm ngã đau đớn, Lãm cứ chạy xe và Nguyệt cứ nói rành rọt như

người đếm ở bên tai: “Anh ngoặt sang trái Trước mặt anh có hố bom đấy

Chuẩn bị sắp lên một cái dốc có “cua” ” Có quãng khó đi và tối cô lại nhảy

xuống đi dò đường trước cho Lãm lái theo sau Qua được đoạn nguy hiểm, khiđèn xe sáng lên, Lãm mới phát hiện Nguyệt bị thương bên vai, máu chảy ướt cả

một bên tay áo, thế nhưng cô gái ấy vẫn cười an ủi rằng “anh cứ yên tâm, vết

thương chỉ xước ngoài da thôi Từ giờ tới sáng em có thể lên đến tận trời được”.

Sự tự tin, kiên cường và dũng cảm lại thêm chút hóm hỉnh ấy khiến cả độc giả

và Lãm càng thêm yêu Nguyệt, bông hoa kiều diễm giữa núi rừng ấy biết bao.Một cô gái trẻ tuổi, dũng cảm, thông minh và có kha khá kinh nghiệm chiếnđấu ấy không phải là hiếm trong suốt cuộc đấu tranh của dân tộc, nhưng ở nhânvật Nguyệt người ta vẫn thấy một nét gì đó rất khác, rất Nguyễn Minh Châu,người ưng đặt nhân vật vào những vẻ đẹp thơ và đầy chất nhân văn, nhân bản

Mà ở đây là cái tình cảm thủy chung của Nguyệt dành cho một người trai chưabiết mặt bao giờ, thú thực đến thời điểm này khó có thể có tình yêu nào lạ lùngnhư thế nữa Nhưng giữa cuộc chiến, bất cứ cái gì cho người ta những hy vọngtốt đẹp đều trở nên thật bền vững và thiêng liêng Nguyệt là một cô gái có nhansắc, được biết bao anh lính khá hỏi thăm, nhưng nàng vẫn chẳng chịu quen ai,chỉ một lòng hướng về Lãm, chàng trai chưa từng gặp, bằng một trái tim nguyên

vẹn mong chờ suốt mấy năm trời Lãm đã bâng khuâng rằng “Qua bấy nhiêu

năm tháng sống giữa bom đạn và cảnh tàn phá những cái quý giá do chính bàn tay mình xây dựng nên, vậy mà Nguyệt vẫn không quên tôi sao? Trong tâm hồn người con gái bé nhỏ, tình yêu và niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống, cái sợi chỉ xanh óng ánh ấy, bao nhiêu bom đạn dội xuống cũng không hề đứt không thể tàn phá nổi ư?” Có thể thấy rằng sự chờ đợi, thủy chung của cô Nguyệt chính

là biểu trưng cho sức sống tiềm tàng mạnh mẽ, niềm tin vào tình yêu mãnh liệt,

Trang 39

cũng như niềm tin về một mai đây đất nước giải phóng, Nam Bắc sum vầy vậy.giữa chiến trường khốc

Trang 40

liệt ấy, không chỉ có sự kiên cường, dũng cảm, lòng yêu nước mà còn có cả tìnhyêu cùng góp chung vào làm nên sức mạnh của tuổi trẻ Người không thể sống

mà thờ ơ với tình yêu, và tình yêu trong chiến tranh đôi lúc nó nảy nở từ nhữngđiều không ai ngờ tới Nguyệt yêu Lãm như thế nào? Không ai chắc được hạtmầm ấy đã được gieo vào lòng Nguyệt ra sao, có lẽ là từ những lời kể của chịTính về cậu em trai chăng? Nhưng quả thực đó là thứ tình yêu thật lạ kỳ, thậtđẹp và cũng thật hiếm có, làm cho chiến trường và tâm tư của những người línhtrở nên bâng khuâng và tin tưởng nhiều hơn về tương lai, về cuộc sống chiếnđấu vốn nhiều gian khổ

Tình yêu thủy chung ấy cũng được thể hiện ở nhân vật Thai trong Cỏ lau,

người phụ nữ là hiện thân của sự thủy chung, của tình yêu thương con người sâusắc Thai là nhân vật điển hình cho những số phận không may mắn trước đó ỞThai có sự kết hợp của những thiên tính nữ có trong khắp các nhân vật nữ của

Nguyễn Minh Châu Thai vừa có nét dịu dàng của Xiêm trong Dấu chân người

lính, vừa có cái mạnh mẽ của Quỳ Thai và Lực cưới nhau chưa đầy được một

tuần, Lực đã phải ra trận và đáp lại sự trông chờ, nhớ thương của người vợ trẻ là

cái xác của “Người đàn ông hai tay bị trói giật cánh khuỷu, có nhiều vết dao

đâm trên người, đang nằm rúc trong đám bèo tây” Sau khi chôn người chồng

gửi gắm biết bao thương yêu, người đàn bà ấy vẫn ấp ủ, nung nấu một tình yêusuốt hai bốn năm còn lại, người chồng đã nằm xuống nhưng tình yêu không baogiờ tắt trong tim chị Thai yêu Lực - người chồng đầu tiên là bất tử Trong cái

nhìn của Quảng – người chồng sau, Thai “thuộc người đàn bà cổ, loại đàn bà

chỉ có thể yêu được một người” Bởi trong Thai luôn tồn tại những hồi ức về

những năm tháng sống cùng chồng đã hy sinh, chị luôn nhớ về người chồng ấybằng tình yêu không bao giờ vơi, mặc dù chị đang sống cùng Quảng - ngườichồng hết mực thương yêu mình và đã có một gia đình con cái đề huề Vì vậy,

dù biết Thai sống cùng mình trên danh nghĩa chứ không có tình yêu, Quảng vẫnchấp nhận và trân trọng Thai, yêu quý vợ mình ở tính cách thủy chung ấy

Ngày đăng: 25/09/2023, 09:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w