1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phê bình sinh thái và ai đã đặt tên cho dòng sông

96 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phê Bình Sinh Thái Và Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông
Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 1981
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 177,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với nhan đề là một câu hỏi tu từ trữ tình Ai đã đặt tên cho dòng sông?, tác giả cũng như người đọc tự hỏi chính mình rằng ai đã đặt cho dòng sông cái tên mỹ miều. “Hương” vừa gợi ra nét đẹp thiên phú lại gợi cả mùi thơm trang nhã, khiến cho biết bao người thán phục.Nhà văn cũng tự hào góp phần lý giải tên dòng sông bằng giai thoại của người dân làng Thành Chung. Từ đó, Hoàng Phủ Ngọc Tường thể hiện niềm trân trọng và biết ơn người đã khai phá dòng sông, khai phá cả vẻ đẹp văn hóa xứ sở. Và khi đặt tác phẩm ở góc nhìn sinh thái, Hoàng Phủ Ngọc Tường có tiếng nói riêng của mình về vấn đề này bằng tình cảm của một con người sinh ra và lớn lên giữa quê hương Việt Bắc. Tìm hiểu bút kí “Ai đã đạt tên cho dòng sông” từ góc nhìn phê bình sinh thái chính là tìm hiểu sự gắn bó thiết thực giữa đời sống văn chương với đời sống xã hội; tìm hiểu trách nhiệm của nhà văn trong việc bảo vệ sinh thái tự nhiên và sinh thái xã hội để ngăn chặn các nguy cơ sinh thái.

Trang 2

MỞ ĐẦU NỘI DUNG

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÊ BÌNH SINH THÁI

1.1 Văn học sinh thái:

1.2 Phê bình sinh thái:

1.2.1 Khái niệm phê bình sinh thái:

1.2.2 Những đặc trưng cơ bản của phê bình sinh thái:

1.3 Vấn đề sinh thái trong văn học Việt Nam:

1.4 Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường và bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng

sông”:

1.4.1 Vài nét về nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường:

1.4.2 Bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông”:

Tiểu kết chương 1:

Chương 2: VẤN ĐỀ SINH THÁI TRONG TÁC PHẨM “AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG” CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG 2.1 Tụng ca hài hòa sinh thái:

2.1.1 Các mối quan hệ ở vùng có sông Hương đi qua tự nhiên và con người2.1.2 Kí ức và sự tái hiện vẻ đẹp tự nhiên của vùng đất Thừa Thiên:

2.1.3 Hướng tới các giá trị sinh thái tinh thần

2.2 Báo động các nguy cơ sinh thái:

2.2.1 Phê phán hành vi phản sinh thái:

2.2.2 Phê phán những tiêu cực của văn minh hiện:

2.2.3 Sự xuống cấp của sinh thái tinh thần: “Ai đã đặt tên cho dòng sông”:

2.3 Sự tương đồng giữa người phụ nữ với thiên nhiên:

2.4 Ưu điểm và giới hạn của tư tưởng sinh thái trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông”:

2.4.1 Ưu điểm của tư tưởng sinh thái trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông”:2.4.2 Giới hạn của tư tưởng sinh thái trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông”:

Tiểu kết chương 2:

Trang 3

Chương 3: NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN TRONG “AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO

DÒNG SÔNG” TỪ HƯỚNG NHÌN SINH THÁI 3.1 Người kể chuyện sinh thái:

3.1.1 Người kể chuyện và hành trình hình thành ý thức sinh thái:

3.1.2 Điểm nhìn trần thuật và ngôi kể:

3.1.3 Giọng điệu trần thuật:

3.1.3.1 Giọng điệu tha thiết, yêu thương

3.1.3.2 Giọng điệu tự hào, trân trọng

3.1.3.3 Giọng điệu giàu chất suy tưởng và chất triết luận

3.2 Biểu tượng sinh thái:

3.2.1 Dòng sông:

3.2.2 Con người:

3.2.2.1.Con người ẩn mình trong vẻ đẹp của Sông Hương:

3.2.2.2.Con người trân quý vẻ đẹp của thiên nhiên; bảo tồn, phát huy những vẻđẹp truyền thống:

3.3 Không gian thể hiện vấn đề sinh thái:

3.3.1 Không gian cuộc sống con người:

3.3.2 Không gian thơ mộng cùng dòng sông Hương:

Tiểu kết chương 3:

KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

PHÊ BÌNH SINH THÁI Ở VIỆT NAM VÀ TRƯỜNG HỢP TẬP BÚT KÍ

“AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG”

CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

MỞ ĐẦU

Ai đó đã từng viết “Đất nước có nhiều dòng sông nhưng chỉ có một dòngsông để thương, để nhớ như đời người có nhiều cuộc tình nhưng chỉ có một cuộctình để mãi mãi mang theo” Vâng, “một dòng sông để thương, để nhớ” của mỗingười rất khác nhau Nếu tên tuổi Văn Cao gắn liền với sông Lô hùng tráng; nếuHoàng Cầm là nỗi nhớ của ta khi ngang qua “Sông Đuống trôi đi một dòng lấplánh”; nếu Hoài Vũ mãi là nhà thơ của con sông Vàm Cỏ đêm ngày thao thiết chởphù sa, thì Hoàng Phủ Ngọc Tường đã song hành cùng sông Hương đi vào tráitim người đọc với “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”…Có một huyền thoại vọng về

từ làng Thành Trung, một ngôi làng trồng rau thơm ở Huế: Vì yêu quý con sôngxinh đẹp, người dân hai bên bờ sông Hương đã nấu nước của trăm loài hoa đổxuống dòng sông cho làn nước xanh thắm ấy mãi mãi thơm tho Phải chăng đó làcách lý giải tên của Hương Giang – con sông gắn liền với Huế, gắn liền với tìnhyêu của Hoàng Phủ Ngọc Tường? Bút ký “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” đượcviết năm 1981, khi tác giả đã sống bên bờ sông Hương, sống trong lòng Huế hơn

40 năm trời, tình yêu máu thịt đối với quê hương cứ lớn lên từng ngày và nó hiệnhữu ở mọi thời gian, mọi không gian

Với nhan đề là một câu hỏi tu từ trữ tình Ai đã đặt tên cho dòng sông?, tácgiả cũng như người đọc tự hỏi chính mình rằng ai đã đặt cho dòng sông cái tên

mỹ miều “Hương” vừa gợi ra nét đẹp thiên phú lại gợi cả mùi thơm trang nhã,khiến cho biết bao người thán phục.Nhà văn cũng tự hào góp phần lý giải têndòng sông bằng giai thoại của người dân làng Thành Chung Từ đó, Hoàng PhủNgọc Tường thể hiện niềm trân trọng và biết ơn người đã khai phá dòng sông,khai phá cả vẻ đẹp văn hóa xứ sở

Và khi đặt tác phẩm ở góc nhìn sinh thái, Hoàng Phủ Ngọc Tường có tiếngnói riêng của mình về vấn đề này bằng tình cảm của một con người sinh ra và lớn

lên giữa quê hương Việt Bắc Tìm hiểu bút kí “Ai đã đạt tên cho dòng sông” từ

góc nhìn phê bình sinh thái chính là tìm hiểu sự gắn bó thiết thực giữa đời sốngvăn chương với đời sống xã hội; tìm hiểu trách nhiệm của nhà văn trong việc bảo

vệ sinh thái tự nhiên và sinh thái xã hội để ngăn chặn các nguy cơ sinh thái

Trang 5

NỘI DUNG Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÊ BÌNH SINH THÁI

1.1.Văn học sinh thái:

Văn học sinh thái là một bộ phận cấu thành quan trọng của văn hóa sinhthái Văn hóa sinh thái bị biên duyên hóa trong tầng diện hình thái chế độ của nó,như vấn đề môi trường rất muộn mới thâm nhập vào phương diện suy xét chínhtrị và chế độ bảo vệ môi trường…, chú trọng bảo hộ sự chuyên biến hình thức củasản xuất vật chất, chuyển biến hình thức năng lượng, và trường cảnh sinh thái củachuyển biến phương thức sống của nhân loại, ra sức không làm cho nó trở nênxấu đi; văn hóa sinh thái ở tầng diện hình thái tinh thần, cố gắng thúc đẩy pháttriển các lĩnh vực giáo dục môi trường, sinh thái hóa phát triển khoa học kĩ thuật,triết học sinh thái, thần học sinh thái, văn học sinh thái, nghệ thuật sinh thái…

Từ khi có văn tự ghi chép, văn minh nhân loại đã có hàng nghìn năm lịch sử,nhưng tổng số con người trên trái đất từ ban dầu 2000 vạn đã phát triển đến 6 tỉ,

và những người đã mất đi lên tới hơn chục tỉ, những loài khác cùng tồn tại vớicon người phần lớn đã bị hủy diệt, một bộ phận đang nhanh chóng bị tuyệt chủng.Đối diện với thảm họa có tính thế giới này, những nhà tư tưởng của nhân loại vàocuối thế kỉ 20 đã phá bỏ thế giới quan chủ nghĩa nhân loại trung tâm trong truyềnthống phương tây, trong việc đề cao văn hóa sinh thái đã cố gắng thức tỉnh ý thứcsinh thái có tính toàn cầu Có thể nói, văn hóa sinh thái chú trọng sự hài hòa giữacon người và tự nhiên, đề xướng chủ nghĩa tự nhiên làm trung tâm, phản đối chủnghĩa nhân loại trung tâm, đặc trưng văn học của nó nằm ở dùng tư tưởng sinhthái và góc độ sinh thái làm xuất phát điểm, đem văn học lấy tự nhiên làm gốc vàvăn học lấy con người làm gốc xếp ngang hàng nhau Giáo sư đại học HavardBuyiell cho rằng: văn học sinh thái là văn học được viết “vì thế giới đang trongnguy cơ” Văn học sinh thái ở một ý nghĩa nào đó là bật đèn đỏ phòng ngừa tainạn sinh thái của nhân loại, là sự thể hiện các nhà văn thời đại toàn cầu hóa quantâm đến sự nghiêm trọng của vận mệnh toàn cầu, và sự lo lắng vô hạn trong sángtác, cũng là sự tự phản tỉnh giá trị sinh thái nhân loại trong nguy cơ thế giới đangphải đối mặt

Thực ra, trong “Ông già và biển cả” của Hemingway, biểu hiện nhân loại trungtâm chủ nghĩa vô cùng rõ ràng: sự đối lập giữa “người” và “tgwj nhiên” là động

cơ và tuyến cơ bản của câu chuyện, mấu chốt của tầng thứ này cho thấy sát hại vàđấu tranh là quy luật căn bản của vũ trụ Trong nước biển, con sứa bị rùa biển ăn,

mà sứa cũng có thể phun chất độc bắt chiến lợi phẩm của mình; trên mặt biển,ông lão bắt, nhưng cá mập cũng có thể biến ông lão thành chiến lợi phẩm, ông lãodùng hết sức để chiến đấu: “…” Hemingway thông qua đối lập giữa người vàkhông phải người, chỉ ra quan hệ giữa hiện tực và tự nhiên, con người và con vật

Trang 6

là quan hệ tàn sát lẫn nhau, không có người mạnh, cũng không có cái gọi là mụcđích Nhưng

Trang 7

đến cuối cùng, con cá mà ông lão dùng cả sinh mệnh để đổi lấy, biến thành một

bộ xương trắng, trở thành rác trôi lềnh phềnh, điều này đã tuyên bố sự thất bại củaông lão Bất luận con người đã bỏ ra sự nỗ lực kinh thiên động địa thế nào, trongquy luật của vũ trụ vẫn vô cùng bé nhỏ và không đáng nhắc đến, hơn nữa, tronglàn sóng thủy triều (ẩn dụ thời gian), tất cả đều mất hết dấu vết Hemingway mộtlần nữa làm rõ, “tinh thần mĩ” cuối cùng của chủ nghĩa nhân loại trung tâm – conngười chân chính là không thể bị hủy diệt, cho dù hành động của anh ta đã thấtbại, nhưng về tinh thần vẫn bảo giữ được sự hoàn chỉnh nhân cách, vẫn vĩnh viễnkhông thất bại Con người sở dĩ có được sự thắng loại sau khi bị phá hủy theokiểu Kant, mấu chốt nằm ở thái độ của con người đối diện với hiện thực sau khithất bại Lực lượng bên ngoài chỉ có thể hủy diệt được thân xác con người chứkhông thể hủy diệt tinh thần con người Điều này thể hiện phong độ ưu nhã dưới

áp lực lớn kiểu Hemingway, bảo giữ giá trị chân chính và sự tôn nghiêm của conngười nhưng, “tinh thần Mĩ” và tôn nghiêm cá thể của chủ nghĩa nhân loại trungtâm này, trong thời đại văn hóa sinh thái đã gặp phải sự hoài nghi của các nhà líluận sinh thái Có thể nói, “tinh thần Mĩ” này hàm chứa một diễn ngôn tiềm tại –Nhân loại là chủ của vạn vật, có thể chinh phục cải tạo vận vật trong vũ trụ Mặc

dù, đối diện với sự phá hoại ghê gớm môi trường đại tự nhiên, và tự nhiên báo thùgấp bội, con người đã cẩm thấy áp lực sinh thái và lo lắng sinh thái to lớn Conngười nhìn thấy cái gọi là sự “tiến bộ” toàn cầu mang tính hiện thực, điều nómang đến là những khổ nạn vô tận của con người và tinh cầu không biết khinhtrọng, vì thế, chủ nghĩa anh hùng chinh phục tự nhiên và tàn sát đang dần dầnnhường chỗ cho sự hài hòa giữa con người và tự nhiên

Nhưng không phải tất cả tác phẩm viết về tự nhiêu đều có thể trở thành văn họcsinh thái Có người cho rằng, giải quyết văn học quan hệ giữa con người và thếgiới tự nhiên, can thiệp đến nghiên cứu quan hệ tương hỗ giữa con người và hoàncảnh vật lí, hoàn cảnh sinh thái, hoàn cảnh xã hội, xã hội loài người lợi dụng tàinguyên tự nhiên, vai trò của hoạt động của nhân loại đối với thế giới tự nhiên,, vaitrò của môi trường đối với con người và xã hội loài người

Cái gọi là văn học sinh thái chủ yếu là chỉ những tác phẩm mẫn cảm góp phầnphơi bày nguy cơ sinh thái thế giới hiện đại, phê phán quan điểm giá trị chủ nghĩanhân loại trung tâm, phản tỉnh đối với nền văn minh hiện đại dẫn đến nguy cơ

sinh thái Văn học sinh thái không coi con người là trung tâm của thế giới tự nhiên, cũng phản đối coi lợi ích của con người là thước đo tuyệt đối phán đoán giá trị tự nhiên Từ trong hậu quả của hết tai họa sinh thái này đến tai họa sinh

thái khác, và cảnh báo nguy cơ sinh thái nhiều không kể hết nhận ra rằng, chỉ cócoi lợi ích chỉnh thể của hệ thống sinh thái toàn cầu bao gồm tự nhiên và tinh thần

là tiền đề cơ bản nhất và giá trị cao nhất của tương lai nhân loại, nhân loại mới có

Trang 8

thể hóa giải một cách toàn diện nguy cơ sinh thái đang uy hiếp sự sinh tồn củatoàn nhân loại, từ đó

Trang 9

mới có thể điều chỉnh lại có lợi cho lợi ích lâu dài của nhân loại và trái đất sinhtồn hài hòa những lợi ích căn bản.

Tính đặc thù của văn học sinh thái nằm ở chỗ nó bước ra trong tuần hoàn ác tính đối kháng – chinh phục – báo thù của con người và tự nhiên, biểu hiện trong hình thức văn học nhu cầu sắp xếp lại vị trí giữa con người và tự nhiên.

Không ít tác phẩm văn học đã dự đoán tương lai khổ nạn của loài người và tínhkhả năng trong việc thoát khỏi khó khăn, trong cảnh báo văn hóa sinh thái thểhiện “viễn cảnh” con người và tự nhiên hòa làm một, ra sức quay về với tự nhiên

để thoát khỏi khổ nạn sinh thái và hủy diệt nhân loại trong tương lai Vì thế, văn học sinh thái không phải là sự miêu tả thông tường cảm giác thanh thản của con người và tự nhiên trong phong cảnh tự nhiên, mà là từ trong văn bản văn học làm lộ ra khó khăn lớn của nhân loại mà trước đây chưa bao giờ làm, và tăng thêm giải đáp thẩm mĩ đối với khó khăn của toàn bộ tương lai nhân loại,

từ đó vượt lên sự xem xét về vấn đề cụ thể mà trực tiếp thâm nhập vào quan tâm đến tầng sâu của trí tuệ, kích phát tình cảm bên trong của quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên phi nhân loại, tìm kiếm con đường mới để con người và tự nhiên quay trở lại thế giới hài hòa tốt đẹp, tìm kiếm luân lí mới tự nhiên nhân loại bình đẳng trong sự phát triển của con người và tự nhiên.

1.2.Phê bình sinh thái:

1.2.1.Khái niệm phê bình sinh thái:

“Phê bình văn học sinh thái ra đời từ gợi ý của sinh thái học, khoa nghiên cứu mối quan hệ tương sinh, tương tác giữa các sinh thể cùng mối quan hệ của chúng với môi trường vật chất xung quanh”.

Suốt mấy chục thế kỉ qua, nhân loại do kiêu hãnh với quan niệm “con người làtrung tâm của thế giới”, “Con người là tinh hoa của muôn loài” đã dẫn đến việccoi chinh phục tự nhiên như một trong những mục đích để khẳng định sức mạnhcủa mình Và đó chính là nguyên nhân của nạn hủy hoại môi trường tự nhiên, đẩymôi trường tự nhiên vào tình trạng suy thoái ngày càng nghiêm trọng Tầng ozon

bị thủng do việc sử dụng, sản xuất và thải bỏ các chất gây hại bừa bãi; đời sốngcông nghiệp khiến cho nguồn nước sạch bị ô nhiễm; “hiệu ứng nhà kính” do sửdụng nhiều nguyên liệu hoá thạch, do sự giảm sút diện tích rừng xanh khiến chonhiệt độ của trái đất tăng lên, mực nước biển dâng cao đe doạ đời sống của hàngtriệu người dân trên thế giới; những luồng di dân tự do không kiểm soát được ởcác nước phương Tây và việc bùng nổ dân số tự nhiên khiến áp lực dân số đènặng lên “thân thể vô cơ” - môi trường tự nhiên, khiến tự nhiên phải căng mình ra

mà chống đó Đó là những hệ lụy ghê gớm do con người gây ra cho chính mình.Chưa bao giờ vấn đề môi sinh lại trở nên nghiêm trọng như bây giờ Và cũng

Trang 10

chưa bao giờ nhân loại lại có chung một nỗi lo sinh thái ghê gớm như bây giờ.Vấn đề môi sinh trở

Trang 11

thành vấn đề đáng quan tâm không của riêng ai, cũng không của riêng một quốcgia nào mà là vấn đề của toàn cầu Nguy cơ sinh thái đòi hỏi văn học cũng phảitrở thành một trận chiến để bảo vệ môi trường nhân sinh Đó là điều kiện cho sự

ra đời của phê bình văn học sinh thái

Sinh thái (oikos) theo nghĩa gốc tiếng Latin là nhà ở, nơi cư trú, bất kì một sinh

vật sống nào cũng cần nơi cư trú của mình Thuật ngữ sinh thái học (ecology) cónguồn gốc từ chữ Hy Lạp, bao gồm oikos (chỉ nơi sinh sống) và logos (họcthuyết, khoa học) Thuật ngữ “sinh thái học” chỉ thật sự ra đời vào năm 1869 donhà sinh vật học người Đức Ernst Haecker đưa ra Ông chính là người đầu tiênđặt nền móng cho môn khoa học sinh thái, nghiên cứu về mối tương quan củasinh vật với môi trường

Phê bình sinh thái được manh nha từ những năm bảy mươi của thế kỉ XX Ngay

từ khi xuất hiện, phê bình sinh thái đã không thuần nhất Ở Anh người ta thường

sử dụng thuật ngữ “nghiên cứu xanh” (green study) còn ở Mĩ người ta lại sử dụngthuật ngữ “phê bình sinh thái” (ecocritism) Ngoài ra, một số thuật ngữ khác như:

“thi pháp sinh thái” (ecopoetics), “phê bình văn học môi trường” (environmentalliterary criticism)…cũng được sử dụng Tuy nhiên, cuối cùng, các học giả đãthống nhất chọn thuật ngữ ecocritism (phê bình sinh thái) của Cheryll Glotfelty vì

nó ngắn gọn và có thể dễ dàng tạo thành dạng thức khác là ecocritical (tính chấtphê bình sinh thái) và ecocritic (nhà phê bình sinh thái)

Thuật ngữ ecocritism có lẽ xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1987 bởi WilliamRueckert trong một khảo luận tên là Văn học và sinh thái: Một thử nghiệm mớitrong phê bình sinh thái (Literature and Ecology: An Experiment in Ecocriticism).Phê bình sinh thái (ecocritism) theo Rueckert có nghĩa là “việc ứng dụng sinh tháihọc và các thuật ngữ sinh thái học vào nghiên cứu văn học”

Năm 1974, công trình của Joseph Mecker là Hài kịch của sự sinh tồn (TheComedy of Survial) đã đưa ra vấn đề tranh luận cơ bản: chính văn hóa phươngTây với nền tảng tư tưởng của thuyết con người là trung tâm đã khiến cho môitrường trở nên khủng hoảng Mãi đến năm 1990, phê bình sinh thái mới thực sựphát triển Phiên họp đặc biệt nổi tiếng nhất của Hội nghiên cứu ngôn ngữ họchiện đại (MLA) vào năm 1991 có chủ đề “Phê bình sinh thái: Xanh hóa nghiêncứu văn học” đã thực sự tạo được tiếng vang và thúc đẩy hướng nghiên cứu nàyphát triển mạnh mẽ

Năm 2004, Grey Garrard (Đại học Bath Spa, Anh) xuất bản chuyên luận Phê bìnhsinh thái (thuật ngữ phê bình mới) Ecocriticism (The New Critical Idiom) bàn vềdiễn ngôn chủ yếu của phê bình sinh thái từ tám phương diện: ô nhiễm, nơi chốn,điền viên, hoang dã, tận thế, cư trú, động vật, trái đất Từ cái nhìn của phê bình

Trang 12

sinh thái, tác giả đã chất vấn và khéo léo đưa người đọc đào sâu vào những tranhluận chính của phê bình sinh thái hôm nay.

Trang 13

Như vậy, khởi phát từ Anh - Mỹ, phê bình sinh thái đang là một trào lưu phê bìnhnăng động, thu hút sự quan tâm của các quốc gia trên thế giới Tiềm năng của phêbình sinh thái là rất lớn Theo Timothy Clark: “Phê bình sinh thái đã tạo được mộtkhu vực hoạt động rất năng động, chưa đánh giá hết được nơi các vấn đề, cácchuyên ngành học thuật chính trị giao cắt nhau Sức mạnh tiềm tàng của nó khôngphải chỉ như một nhánh phê bình văn học khác, được đặt bên trong những biêngiới thiết chế đã có sẵn mà ở chỗ nó là một cách tiếp cận mang tính khiêu khích

cả trong việc phân tích văn học lẫn những vấn đề vừa động hiện, vừa che khuấtlẫn nhau của khoa học, đạo đức, chính trị và thẩm mỹ” Nhìn chung, nghiên cứuvăn học theo lý thuyết phê bình sinh thái phương Tây chủ yếu tập trung vào thái

độ và hành vi của nhân loại đối với tự nhiên, khẳng định vai trò của tự nhiên vàcảnh báo nguy cơ sinh thái đến từ mối quan hệ tiêu cực giữa con người và tựnhiên Sau thời kì phát triển ở Mỹ và phương Tây, đến nay nghiên cứ u sinh thái

và nghiên cứ u văn hoc sinh thái đang mở rộng đến nhiều khu vưc khác trên thếgiới, trong đó có châu Á Ở Việt Nam, trong điều kiên môi sinh đang có nhữngbiến đổi đáng lo ngại, viêc nghiên cứu phê bình văn hoc sinh thái là vô cùng cầnthiết Những năm gần đây, qua các bản dịch của một số học giả, những luận điểm

cơ bản của phê bình sinh thái đã đươc giới thiêu vào Việt Nam, đem đến cho giớinghiên cứu một phương pháp lí thuyết mới của lí luận phê bình Có thể kể đến cáccông trình: Văn chương và môi trường của Lawrence Buell, Ursula K Heise,Karen Thornber do Nguyên Hạnh Quyên dịch; Những tương lai của phê bình sinhthái và văn học Phê bình sinh thái của Karen Thornber do Hải Ngọc dịch; Phêbình sinh thái - Cội nguồn và phát triển do Đỗ Văn Hiểu dic ̣h Cũng đã xuất hiệnnhững bài nghiên cứu hướng về lí thuyết phê bình sinh thái như: Mùa xuân sinhthái & văn chương của Huỳnh Như Phương; Phê bình sinh thái tinh thần trongnghiên cứu văn học hiện nay của Trần Đình Sử; Sá ng tác và phê bình sinh thá i -tiềm năng cần khai thá c của văn hoc Việt Nam của Nguyễn Thị Tịnh Thy…Cùng với đó là những công trình nghiên cứu vận dụng lí thuyết phê bình sinh tháivào tìm hiểu các tác phẩm cụ thể như: Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn HuyThiệp nhìn từ lí thuyết phê bình sinh thái của tác giả Vũ Minh Đức; Bước đầu tìmhiểu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ điểm nhìn phê bình sinh thái của ĐặngThái Hà; Thơ mới từ góc nhìn phê bình sinh thái học của Nguyễn Đăng Điệp;Biến đổi môi trường sống - nhân tố thúc đẩy không gian văn hóa mới trong thơ

Tú Xương của tác giả Dương Thu Hằng; Văn xuôi Việt Nam hiện đại sau 1975nhìn từ góc nhìn phê bình sinh thái của các tác giả Lê Lưu Oanh - Trần Thị ÁnhNguyệt; Cảm quan sinh thái trong văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam đương đại

và Cảm hứng nhân văn trong tiểu thuyết Vi Hồng của Đào Thủy Nguyên; Vănxuôi Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn sinh thái của Nguyễn Thùy Trang, Quốc âm thitập của Nguyễn Trãi từ góc nhìn phê bình sinh thái của Lê Thị Thảo…Có thể

Trang 14

10thấy, các công trình nghiên cứu này đã khẳng định địa hạt rộng mở của văn họcsinh thái, vận dụng tư tưởng sinh thái để nghiên cứu

Trang 15

để từ đó có thể nhìn sâu hơn, đầy đủ hơn vào các khả năng của văn học trongnghiên cứu vấn đề môi sinh của con người.

Có thể khẳng định, phê bình sinh thái “chỉ dẫn nhập quan niệm cơ bản nhất củatriết học sinh thái vào phê bình văn học” chứ không phải là đem phương phápnghiên cứu sinh thái học, sinh vật học, hay phương pháp nghiên cứu của bất kìngành khoa học tự nhiên nào vào phân tích văn học Chính vì vậy, không thể “giớihạn, đóng khung nó trong phạm vi hay phương pháp nào cả” Theo nhà nghiêncứu Trần Đình Sử, một số nhà phê bình sinh thái Mỹ và phê bình sinh thái TrungQuốc như Lỗ Khu Nguyên, Vương Nhạc Xuyên trong khi quan tâm đến phê bìnhsinh thái tự nhiên cũng đã quan tâm đến “kiểu phê bình văn học lấy tư tưởng sinhthái làm trung tâm, qua đó giải quyết các vấn đề sinh thái xã hội, xác lập lí tưởngsống cao đẹp, khắc phục các ô nhiễm tinh thần, khiến tinh thần trong sạch, cânbằng, góp phần làm ổn định xã hội” Ở đây, “phê bình văn học cũng có thể từ góc

độ văn hóa sinh thái đọc lại kinh điển văn học truyền thống, từ đó tìm ra ý nghĩavăn hóa sinh thái và ý nghĩa mĩ học sinh thái từng bị che lấp, và xây dựng lại mốiquan hệ thẩm mĩ thi ý giữa con người và tự ngã, con người và người khác, conngười và xã hội, con người và tự nhiên, con người và trái đất” Với tinh thần này,

ta cũng có thể vận dụng tư tưởng sinh thái để xem xét “quan hệ giữa văn học vàmôi trường văn hóa, tinh thần xã hội như một vấn đề sinh thái, không tập trungvào quan hệ con người và tự nhiên, mà xem xét môi trường tinh thần xã hội như

là môi trường sống của văn nghệ, sự tương tác giữa môi trường văn hóa tinh thầnvới sáng tạo văn nghệ” Văn học là sản phẩm của môi trường văn hóa xã hội, màtrực tiếp là môi trường sinh thái tinh thần của con người “Là một ngành của khoanghiên cứu nhân văn, nghiên cứu văn học hôm nay không thể chỉ đóng khungtrong việc nghiên cứu các vấn đề của nội bộ văn học nghệ thuật, như hình thức, kíhiệu, biểu tượng, mẫu gốc, phân tâm…”cũng không thể chỉ quan tâm đến các vấn

đề của sinh thái tự nhiên mà không quan tâm đến vấn đề sinh thái xã hội như dân

số, giới tính, tộc người, các mối quan hệ xã hội, các chính sách nhằm đảm bảo

sự cân bằng đời sống xã hội Như vậy, phê bình văn học sinh thái cũng nên cómột cái nhìn động và rộng, không

Trang 16

dừng ở phê bình sinh thái tự nhiên mà mở rộng ra cả phê bình sinh thái xã hội vì chính sự tồn tại và hạnh phúc của con người.

1.2.2.Những đặc trưng cơ bản của phê bình sinh thái:

Nhìn chung, phê bình sinh thái có một số đặc trưng cơ bản sau:

- Thứ nhất: phê bình sinh thái lấy vấn đề sinh thái tự nhiên và sinh thái tinh

thần trong nghiên cứu văn học làm chủ, muốn trong tác phẩm thể hiện độnghướng phức tạp của con người và thế giới tự nhiên, quan hệ tương tác giữa vănhọc và môi trường tự nhiên Phê bình sinh thái trong phê bình văn học tần suất

sử dụng tăng lên và phạm vi sử dụng không ngừng mở rộng, do đó phê bìnhsinh thái đã trở thành thuật ngữ quan trọng của lí luận văn học đi vào từ điểnthuật ngữ văn luận phương tây

- Thứ 2: phê bình văn học cũng có thể từ góc độ văn hóa sinh thái đọc lại kinh

điển văn học truyền thống, từ đó tìm ra ý nghĩa văn hóa sinh thái và ý nghĩa mĩhọc sinh thái từng bị che lấp, và xây dựng lại mối quan hệ thẩm mĩ thi ý giữacon người và tự ngã, con người và người khác, con người và xã hội, con người

và tự nhiên, con người và trái đất

- Thứ 3: phê bình sinh thái đối với vấn đề tính chủ thể của con người trong sáng

tác nghệ thuật bảo giữ lập trường “chính trị chính xác” – vừa không thể có lậptrường chủ nghĩa nhân loại trung tâm, vừa không thể là lập trường chủ nghĩa

tự nhiên tuyệt đối, mà là chú trọng quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên,chủ trương nhân loại chuyển biến từ “ý thức tự ngã” sang “ý thức sinh thái”.Con người và trái đất có quan hệ hòa hợp sinh mệnh cùng tồn vong, nhân loạikhông thể là chú tể của muôn loài nữa, mà là một thành viên trong muôn loàitrên trái đất, cùng sinh tử với các thành viên khác trong thế giới tự nhiên

- Thứ 4: phê bình sinh thái liên kết nghiên cứu văn học và khoa học sinh mệnh,

từ hai lĩnh vực nghiên cứu văn học và tự nhiên, chú trọng từ góc độ phát triển

xã hội loài người và biến đổi môi trường sinh thái thâm nhập vào tầng diệnvăn học, từ đó làm cho phê bình sinh thái có đặc tính liên ngành văn học Phêbình sinh thái là phản tư văn học sau khi nhân loại đối diện với tai họa sinhthái, là các nhà văn học nghệ thuật sự định vị lại vị trí của con người trên tráiđất, là sự tính toán lại những cực đoan mang tính hiện đại phương tây của cácnhà tư tưởng

- Thứ 5, phê bình sinh thái khi tiến hành quan chiếu đối với hiện tượng văn hóa

sinh thái, đã kế thừa hình thái ý thức cách mạng xanh, nhấn mạnh không thể

xa rời tinh thần văn học và diễn ngôn văn học, cần phải cố hết sức có thể tạitầng diện hình thức văn bản văn học và thủ pháp nghệ thuật triển khai tự sựdiễn ngôn, thông qua thủ pháp cái đẹp hình thức của sáng tác mang “tính vănhọc” để thể hiện ra tinh thần văn hóa sinh thái

Trang 17

- Thứ 6: Nội dung của phê bình sinh thái yêu cầu trong tầm nhìn song trùng của

bản chất sinh mệnh và địa cầu, khảo sát trạng thái tồn tại quá khứ và tương laicủa con người Góc nhìn này liên kết nghiên cứu văn học đã rơi vào chủ nghĩahình thức và vấn đề sinh tồn với đầy những nguy cơ của trái đất Văn học từ

đó có thể từ bỏ trò chơi văn tự của chủ nghĩa hình thức, xốc lại tinh thần từtrong đủ các loại diễn ngôn phê bình hóa giải ngôn ngữ

Tóm lại, phê bình sinh thái coi quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên làlĩnh vực nghiên cứu của mình, một mặt nó buộc phải nghiên cứu “tính văn học”,mặc khác lại phải tiếp cận vấn đề “tính sinh thái” Sự chỉnh hợp giữa “tính vănhọc” và “tính sinh thái” khác với phê bình văn học hoặc lí luận văn học khác Phêbình sinh thái tràn dầy hi vọng đối với tương lai nhân loliaj, và không ngừng hôhào thái độ sinh tồn lạc quan thi ý, loại bỏ “sự tuyệt vọng về tương lai”, từ đó làm

rõ đặc điểm tinh thần lạc quan chủ nghĩa của phê bình sinh thái

Tất nhiên, sự xuất hiện của bát kì lí luận mới nào đều có những điểm không đầy

đủ thậm chí mù mờ về lí luận, phê bình sinh thái cũng không ngoại lệ Mô hìnhphê bình mới này cùng với việc thu hút được sự chú ý rộng rãi của giới nghiêncứu, cũng bị phê bình rộng rãi của xã hội Dana Phillip trong cuốn “Bản chất củasinh thái luận” đã nêu ra một số dị nghị đối với phê bình sinh thái, cho rằng phêbình sinh thái là bình cũ rượu mới, trên phương diện lí luận không có gì là mới

mẻ, mà chỉ là dùng thuật ngữ thời thượng lòe công chúng mà thôi; phê bình sinhthái vẫn không hình thành được hệ thống lí luận của riêng mình, sự khuyết thiếucăn cứ lí luận của nó làm nó chẳng qua chỉ trở thành diễn ngôn tự thuật kích động

mà thôi; phê bình văn học sinh thái đầy dã tâm, muốn đương nhiên đem thuyếttiến hóa tương đối phức tạp và lí luận sinh thái vào trong phê bình văn học và rấtkhó tiêu hóa Nhưng cho dù thế nào đi nữa, phê bình sinh thái vẫn bước ra khỏi sự

“thổi phồng văn bản”, “trò chơi diễn ngôn” của văn luận phương Tây”, bắt đầucuối xuống trái đất sinh dưỡng tử táng, trực tiếp quan tâm đến môi trường chânthực sinh tồn của nhân loại, đây là sự thực không thể phủ nhận

1.3.Vấn đề sinh thái trong văn học Việt Nam:

Việt Nam là một nước nằm trong khu vực Đông Á, nơi có truyền thống vềtình yêu thiên nhiên và mối quan hệ tương thân tương ái của con người Nghiêncứu về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, con người và con người đã xuấthiện từ khá lâu trong văn học dân gian, văn học trung đại và văn học hiện đại.Song trong mỗi thời kì mối quan hệ này lại được thể hiện khác nhau do sự chiphối của của tư tưởng thời đại và chủ thể sáng tạo đến các tác phẩm văn học.Thiên nhiên trong văn học dân gian là thiên nhiên quê hương đất nước với vẻ đẹphữu tình của đồng ruộng, sông, núi, mây, gió, trăng, hoa

Trang 18

“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”

(Ca dao)

Con người hiện lên với vẻ đẹp của tình người: tình làng nghĩa xóm “Bán anh em

xa, mua láng giềng gần” (Tục ngữ), tình yêu quê hương, gia đình, vợ chồng…

“Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Đôi ta tình thắm nghĩa

Quãng đời lui về ẩn cư quê ngoại Côn Sơn giúp Nguyễn Trãi có dịp hoà nhập vớithiên nhiên hết mình hơn, khi “công danh đã được hợp về nhàn” Cuộc sống giữathiên nhiên của ông dân dã đến đạm bạc:

Cơm ăn chẳng quản dưa muối Áo mặc nài chi gấm thêu Quê cũ nhà ta thiếu của nào Rau trong nội, cá trong ao.

(Mạn thuật, 35)

Nhưng tấm lòng trung hiếu của ông với nước, với vua và với cha mẹ vẫn bềnvững, son sắt, thuỷ chung, dù có mài đi cũng chẳng khuyết, có nhuộm đi cũngchẳng đen

Trang 19

Bui có một lòng trung lẫn hiếu Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen

(Thuật hứng, 24)

Thiên nhiên trong văn học hiện đại không còn mang tính ước lệ thường thấy ở văn học dân gian, văn học trung đại để đóng vai như một nhân vật đời thường của văn

Trang 20

học Sự hoà điệu con người và thiên nhiên được tăng cường, chứ không chỉ là bốicảnh theo kiểu “người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ” Ở thời kì này, bên cạnhnhững những nhà văn thuộc khuynh hướng văn học hiện thực phê phán viết vềcảnh và hiện thực cuộc sống nghèo khổ của người nông dân trước Cách mạngtháng Tám như: Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan… đã xuất hiện tầnglớp trí thức Tây học thuộc khuynh hướng văn học lãng mạn như: Xuân Diệu, HànMặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính… Không phê phán xã hội, họ nhìn cảnhvật, con người, hiện thực cuộc sống bằng cặp mắt xanh non Nhưng sau vẻ đẹpthiên nhiên ấy vẫn là tấm lòng yêu nước thầm kín.

Văn học giai đoạn 1945 - 1975 là thời kỳ văn học tập trung phục vụ kháng chiến,cứu quốc Tuy nhiên các tác giả cũng chú ý đề cập đến mối quan hệ giữa conngười và tự nhiên, giữa con người với con người Đó là những vần thơ mà cảthiên nhiên và con người đều chống Pháp:

Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.

Núi giăng thành lũy sắt dày Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.

(Việt Bắc - Tố Hữu)

Ở đó có mối quan hệ hòa hợp giữa con người và tự nhiên trong một thể thốngnhất để gìn giữ non sông đất nước Văn học thể hiện tinh thần chiến đấu cho Tổquốc là chiến đấu cho từng cành hoa ngọn cỏ

Văn học Việt Nam sau 1975 đã khẳng định văn học mở rộng quan niệm nghệthuật về con người, nhìn nhận con người ở khía cạnh tự nhiên Trong văn học giaiđoạn này có thể coi các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu là những “dự cảm”đầu tiên về mối quan hệ càng lúc càng trở nên “xa lạ hóa” của con người đô thịvới thế giới tự nhiên Chứng kiến sự chuyển mình mang tính bước ngoặt theohướng hiện đại hóa của đời sống xã hội, Nguyễn Minh Châu đã có được sự nhạycảm thực sự khi nắm bắt được những khát vọng xây dựng và đổi mới của một lớpngười hậu chiến, đặc biệt là thế hệ trẻ

Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp thể hiện một cái nhìn “phi truyền thống” vềvùng nông thôn và cuộc sống thôn quê Những tác phẩm: Con gái thủy thần,Những người thợ xẻ đã diễn tả sự xung đột giữa con người với đất đai được đẩy

Trang 21

lên cùng cực Sự tấn công của con người vào cảnh quan hoang dã cũng là mộtthực trạng

Trang 22

đáng báo động Đó chính là một thực trạng suy thoái trầm trọng của tự nhiên khi

đô thị hóa xuất hiện trong những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp

Như vậy, vấn đề sinh thái trong văn học nghệ thuật từ văn học dân gian đến vănhọc hiện đại đều phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa conngười với con người trong xã hội Dù mỗi thời kì mối quan hệ ấy có sự đậm nhạtkhác nhau nhưng tựu chung lại việc miêu tả mối quan hệ giữa con người và thiênnhiên, giữa con người với con người đều nhằm mục đích hướng con người đếnmột xã hội văn minh và nhân ái

1.4.Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường và bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông”: 1.4.1.Vài nét về nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường:

Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những nhà văn tài hoa và nổi tiếngcủa nền văn học Việt Nam Nhà văn đã khéo léo, tinh tế gửi những tình cảm sâusắc về đất nước và gia đình thông qua những tác phẩm của mình, nhất là xứ Huếthân từng gắn bó máu thịt với mình Nét độc đáo trong các sáng tác văn học củaHoàng Phủ Ngọc Tường là sự kết hợp thông minh, sáng tạo giữa chất trí tuệ vàtrữ tình kết hợp với lối hành văn hướng nội cuốn hút, hấp dẫn

- Tiểu sử cuộc đời Hoàng Phủ Ngọc Tường:

Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937, tại thành phố Huế Tuynhiên, quê gốc của nhà văn ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong,tỉnh Quảng Trị Thời niên thiếu ông sinh sống và học hết bậc trung học tại Huế.Sau khi học hết bậc trung học, tác giả di chuyển vào TP HCM để học tại trườngĐại học Sư phạm Sài Gòn Năm 1960, Hoàng Phủ Ngọc Tường tốt nghiệp khoá Iban Việt Hán và năm 1964 nhận bằng Cử nhân triết Đại học Văn khoa Huế

Từ năm 1960 đến năm 1966 ông dạy học tại trường Quốc Học Huế Sau đó, nhàvăn chia xa gia đình để lên chiến khu, tham gia vào cuộc kháng chiến chống Mỹcứu nước thông qua hoạt động văn học nghệ thuật vào năm 1966 - 1975 ĐếnNăm 1978 ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam Bằng chính sự tài năng

và tâm huyết của mình, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã được kết nạp vào Hội Nhàvăn Việt Nam Đồng thời, nhà văn còn giữ nhiều chức vụ quan trong như: tổngthư ký, chủ tịch Hội văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên, Tổng thư kí Liên minhcác lực lượng dân tộc hay tổng biên tập Tạp chí Cửa Việt

Hoàng Phủ Ngọc Tường có những đóng góp lớn cho kho tàng nền văn học Việtnên vào năm 2007, tác giả đã được trao tặng giải thưởng Nhà nước về văn họcnghệ thuật với tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông” là một trong những bút kýhay nhất Bên cạnh đó, nhà văn còn được nhân giải thưởng Văn học Nghệ thuật

Trang 23

Cố đô Huế và giải thưởng văn học nghệ thuật Chế Lan Viên tỉnh Quảng Trị lầnthứ nhất.

Trang 24

Vợ của Hoàng Phủ Ngọc Tường tên là nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ khá nổi tiếng và

có rất nhiều đóng góp cho nền văn học Việt Nam Cả hai có hai cô con gái tên làHoàng Dạ Thư và Hoàng Dạ Thi đã nối tiếp sự nghiệp văn chương của cha mẹ.Phu nhân của ông là Lâm Thị Mỹ Dạ - bà cũng là một nhà thơ khá nổi tiếng và córất nhiều đóng góp cho nền văn học Việt Nam Nối tiếp sự nghiệp văn chương củaông bà là hai cô con gái là Hoàng Dạ Thư làm việc tại NXB Trẻ và Hoàng Dạ Thitừng làm thơ, viết văn, hiện đã định cư tại Mỹ Từ năm 2012 đến nay, gia đìnhnhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đang cư ngụ tại TP Hồ Chí Minh

- Sự nghiệp văn học của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Hoàng Phủ Ngọc Tường là một cây bút đa tài với đa dạng chủ đề và kiến thứckhác nhau như văn học, lịch sử, địa lí, triết học, Đồng thời, nhà văn sáng tácnhiều thể loại, đặc biệt nổi tiếng về thể loại bút kí Không những thế, mỗi áng thơsâu lắng, lãng mạn mang tên ông đều có một phong cách viết rất độc đáo giữachất trí tuệ và chất trữ tình nên đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả.Hoàng Phủ Ngọc Tường sở hữu phong cách nghệ thuật hướng nội, súc tích kếthợp với tấm lòng nhân văn sâu sắc, trí tuệ uyên bác cùng chất Huế quyến rũ.Hoàng Phủ Ngọc Tưởng nổi tiếng với một số tác phẩm thuộc thể loại bút ký như:

Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu

Rượu hồng đào chưa uống đã say (2001)

Bên cạnh thể loại bút ký, Hoàng Phủ Ngọc Tường còn sáng tác thơ và nhận đượcnhiều sự yêu thích bởi có nhiều độc đáo, sáng tạo với vẻ đẹp của nỗi buồn hoàiniệm cùng những suy ngẫm về lẽ sống, cái chết, từ đó ảnh hưởng sâu sắc đếntâm hồn người đọc Tác giả nổi tiếng với các bài thơ gây dấu ấn sâu sắc, mạnh mẽnhư: Những dấu chân qua thành phố (1976), Người hái phù dung (1992) và Dạkhúc

Ngoài ra, Hoàng Phủ Ngọc Tường sáng tác ở một số tác phẩm thuộc thể loại nhànđàm như:

Nhàn đàm, Nxb Trẻ, 1997

Trang 25

Người ham chơi, Nxb Thuận Hóa, 1998

Trang 26

Miền gái đẹp, Nxb Thuận Hóa, 2001 (Tặng thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam 2001)

Với tài năng của mình và nhiều đóng góp nổi bật cho nền văn học Việt Nam, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhận một số giải thưởng danh giá như:

Giải thưởng Nhà nước về văn hóa nghệ thuật năm 2007.

Giải thưởng Văn học Hội nhà văn Việt Nam: "Rất nhiều ánh lửa" (1980 - 1981) Tặng thưởng Văn học Ủy ban toàn quốc LH các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam các năm 1999 và 2008.

Giải A Giải thưởng văn học nghệ thuật Cố đô (1998-2003)

Giải thưởng văn học nghệ thuật Chế Lan Viên tỉnh Quảng Trị lần thứ nhất (2015).

Được biết đến là một nhà văn của những dòng sông đầy mộng mơ nên sựnghiệp văn chương của Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng như dòng sông luôn chămchỉ và miệt mài hoạt động, sáng tác không nghỉ ngơi để đóng góp những cho nềnvăn học Việt Nam nói chung cũng như văn học thế giới nói riêng với những ángvăn thơ đầy giá trị, ý nghĩa Ngoài ra, tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường là cây bút

ký chuyên nghiệp của văn học Việt Nam bởi những giá trị quý báu mà nhà văngửi gắm qua mỗi tác phẩm Ông đã thắp lên trong lòng người đọc niềm trân trọng

và biết ơn quê hương xứ sở và những giá trị lịch sử, văn hóa lâu đời của đất nướcmình, đồng thời thành công trong việc khẳng định tên tuổi của mình

1.4.2.Bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông”:

Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những cây bút viết kí xuất chúng củavăn học Việt Nam giai đoạn hiện đại Nhắc đến tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường,

chắc hẳn chúng ta không thể không kể đến tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông,

một bài bút kí nổi tiếng về vẻ đẹp con sông Hương được ghi chép lại thật tinh tếqua ngòi bút của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường

"

Ai đã đặt tên cho dòng sông?" (ban đầu có tên là "Hương ơi, e phải mày

chăng?") là bài bút kí do nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường viết ở Huế vào ngày 4tháng 1 năm 1981, và được in trong tập sách cùng tên vào năm 1986 Một phầnbài bút ký này đã được đưa vào giảng dạy trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam,bút ký này đã được đưa vào đề văn quốc gia 2019 và được đánh giá là một đoạnvăn xuôi súc tích và đầy chất thơ về sông Hương Đây là một bút kí đặc sắc, thểhiện phong cách tài hoa, uyên bác, giàu chất thơ của Hoàng Phủ Ngọc Tường Bài

ký đã ca ngợi dòng sông Hương như một biểu tượng của Huế

Trong sách Tuyển chọn & giới thiệu Ngữ văn có đoạn phân tích, tóm tắt nhưsau:

Trang 27

Vẻ đẹp dòng sông được phát hiện rất đa dạng Có lúc trữ tình êm ả, hiền hòa như

"một thiếu nữ dịu dàng, duyên dáng"; có lúc phóng khoáng và man dại, rầm rộ và mãnh liệt như một "bản trường ca của rừng già" Có khi dịu dàng và trí tuệ như

"người mẹ phù sa"; có khi biến ảo "sớm xanh, trưa vàng, chiều tím"; hoặc khi thì vui tươi, khi thì như một mặt hồ yên tĩnh v.v Tất cả được miêu tả bằng một tình cảm thiết tha với Huế, với một vốn văn hóa phong phú và một vốn ngôn từ giàu có và đậm chất thơ của tác giả.

Đọc những trang viết về Huế của Hoàng Phủ Ngọc Tường (trong đó có bài

Ai đã đặt tên cho dòng sông?), nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, đã

nhận xét:

Nói rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường yêu Huế và hiểu Huế, thì đó là một lẽ đương nhiên Tôi muốn đi xa hơn, tìm một căn nguyên thầm kín để cắt nghĩa cho sự thành công mỹ mãn của những trang viết ấy: phải chăng ở đây đã có một sự hòa hợp, tương giao, linh ứng giữa cảnh sắc Huế, lịch sử Huế, văn hóa Huế với một tâm hồn nhà văn dễ rung động, nhạy cảm, tinh tế Phải là sự tương giao, đến mức hòa quyện chặt chẽ mới sinh ra được những áng văn tài hoa không dễ một lần thứ hai viết được như thế Ngỡ như không khác được: viết về sông Hương là phải vậy, viết về "văn hóa vườn" ở Huế là phải vậy Đó là những áng văn, câu chữ được chọn lựa cân nhắc kỹ càng, vì hình ảnh được sáng tạo đẹp đẽ, vì cảm xúc phong phú bất ngờ, mới mẻ

Và theo Lê Uyển Văn, thì:

Sông Hương của Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ mang vẻ đẹp trời phú mà còn ánh lên vẻ đẹp của con người, những tài nữ đánh đàn, những người dân Châu Hóa lái thuyền xuôi ngược, những người con anh dũng đã hi sinh, những Nguyễn Du, những Bà huyện Thanh Quan, những Tố Hữu đã viết thơ trên dòng chảy long lanh in bóng mây trời.

Cũng như tình yêu của sông Hương với Huế, tình yêu của Hoàng Phủ NgọcTường với sông Hương cũng là quá trình dâng tặng, khám phá và hoàn thiệnchính mình

Tiểu kết chương 1:

Phê bình sinh thái văn học là một hướng nghiên cứu hoàn toàn mới, có sựliên ngành giữa văn học và môi trường, từ nghiên cứu văn chương và các ngànhkhoa học liên quan mà rút ra những cảnh báo về môi trường sinh thái Nghiên cứuvăn học Việt Nam hiện đại, trong đó có văn học dân tộc thiểu số theo hướng nàymới chỉ là những bước khởi đầu nhưng hứa hẹn những tiềm năng trong tìm tòi

khám phá sâu hơn vào giá trị của các tác phẩm văn chương Nghiên cứu “Ai đã

Trang 28

đặt tên cho dòng sông” dưới góc nhìn phê bình sinh thái sẽ giúp cho chúng ta

-những

Trang 29

người yêu mến Hoàng Phủ Ngọc Tường - có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về giátrị bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường, về vị trí của nhà văn trong nền văn học dântộc thiểu số nói riêng và trong nền văn học Việt Nam hiện đại nói chung

Trang 30

Chương 2: VẤN ĐỀ SINH THÁI TRONG TÁC PHẨM “AI ĐÃ ĐẶT TÊN

CHO DÒNG SÔNG” CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG.

2.1 Tụng ca hài hòa sinh thái:

2.1.1 Các mối quan hệ ở vùng có sông Hương đi qua- tự nhiên và con người trong mối quan hệ hài hòa, tương hỗ.

Những năm gần đây, phê bình sinh thái trong văn học nổi lên như một hiện tượngcấp thiết để bảo vệ các vấn đề của môi sinh, đồng thời nhắc nhớ con người tráchnhiệm trước những hành động của mình Vấn đề thời sự này đã được nhiều nhàvăn khai thác như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Thiều, Sương NguyệtMinh… nhưng với Hoàng Phủ Ngọc Tường, điều đó được đề cập một cách trựcdiện, thiết tha với nhiều suy tư trăn trở không dễ giãi bày Từ góc nhìn sinh thái,thiên nhiên vùng sông nước Bắc Trung Bộ hiện lên trong trang văn Hoàng PhủNgọc Tường với nhiều màu sắc, càng lật giở từng lớp màu ấy càng khám phánhững chất chứa xen lẫn chỉ báo của tác giả trước thực trạng môi trường trong tácphẩm “ Ai đã đặt tên cho dòng sông”

2.1.1.1 Sinh thái rừng già với dáng đại ngàn, với con sông mãnh liệt mà bí ẩn cuộn ẩn vào vùng châu thổ êm đềm, có bao bí mật của thiên nhiên mà với con người, mãi là một bí ẩn trường tồn:

“Vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộgiữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốcvào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữanhững dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”

2.1.1.2 Sinh thái nhà vườn mang dáng dấp cổ xưa:

“Khu vườn xưa cổ sầm uất, mùa nào cũng có những loài hoa đang nở,những trái cây đang chín, nhưng luôn luôn toả sáng thần thái yên tĩnh và khoángđạt, giống như một tự do nội tâm Ngày xưa Nguyễn Du đã sống rất lâu ở vùngnày, và bây giờ, trước sân nhà bà Tùng vẫn toả bóng một cây hồng cổ, giống hồngTiên Điền nổi tiếng mà chính cụ Nghè Mai, cháu nội cụ Nguyễn Du đã tặng chogia đình bà”

2.1.1.3 Sinh thái cấu trúc thượng tầng, một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của mình:

“Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyển dòngmột cách liên tục, vòng những khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đườngcong thật mềm Từ ngã ba Tuần, sông Hương theo hướng nam - bắc qua điện HònChén; vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng sang tây - bắc, vòng qua thềm đất bãi

Trang 31

22Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông -bắc, ôm

Trang 32

lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đitrong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi NgọcTrản, để sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừngsững như thành quách, với những điểm cao đột khởi như Vọng Cảnh, Tam Thai,Lưu Bảo mà từ đó, người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm lụa, vớinhững chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi”.

2.1.1.4 Sinh thái cấu trúc hạ tầng đô thị cổ kết hợp với không gian xanh mát của thiên nhiên:

“Sông Hương nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quý của mình; Huế trongtổng thể vẫn giữ nguyên dạng một đô thị cổ, trải dọc hai bờ sông Đầu và cuốingõ thành phố, những nhánh sông đào mang nước sông Hương tỏa đi khắp phốphường với những cây đa, cây dừa cổ thụ tỏa vầng lá u sầm xuống xóm thuyềnxúm xít; từ những nơi ấy, vẫn lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chàicủa một linh hồn mô tê xưa cũ mà không một thành phố hiện đại nào còn nhìnthấy được”

2.1.1.5 Sinh thái nhà vườn nguyên sinh, nơi tồn tại dấu ấn của thiên nhiên xanh mát trong lòng cuộc sống con người:

“Rời khỏi kinh thành, sông Hương chếch về hướng chính bắc, ôm lấy đảoCồn Hến quanh năm mơ màng trong sương khói, đang xa dần thành phố để lưuluyến ra đi giữa màu xanh biếc của tre trúc và của những vườn cau vùng ngoại ô

Vỹ Dạ Và rồi, như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẽngoặt sang hướng đông - tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinhxưa cổ Đối với Huế, nơi đây chính là chỗ chia tay dõi xa ngoài mười dặm trườngđình Riêng với sông Hương, vốn đang xuôi chảy giữa cánh đồng phù sa êm áicủa nó, khúc quanh này thực bất ngờ biết bao Có một cái gì rất lạ với tự nhiên vàrất giống con người ở đây; và để nhân cách hóa nó lên, tôi gọi đấy là nỗi vươngvấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”

2.1.1.6 Sinh thái mảng xanh:

“Suốt một dải đất dài ven sông Hương mà ông đã đi qua, chỉ có một vùngđất ở đấy hạt giống mọc thành những đám rau xanh tốt, chính là làng ThànhTrung bây giờ Người Thành Trung trồng rau với bàn tay tài hoa nào không hiểuđược: rau Thành Trung thơm ngát, xưa vẫn phải “cung tiến” cho vua chúa, chenchúc nơi chợ búa vẫn không để ai nhầm lẫn; người Huế thường gọi một cách kính

nể là “Rau phường Thành”

Bằng việc tiếp cận những tác phẩm viết dưới góc nhìn phê bình sinh thái,

Trang 33

ta nhận thấy, nhà văn đã góp nên một tiếng nói nhỏ bé của mình vào việc bồidưỡng ý thức gìn giữ và bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên Đến với các tácphẩm nhẹ nhàng mà sâu lắng của Hoàng Phủ Ngọc Tường, người đọc sẽ cảmnhận được một thiên nhiên trong lành, tươi mát, đầy sức sống Thiên nhiên đóđược miêu tả với cái nhìn trân trọng, yêu thương Những khu vườn, cây cối, đềutrở thành những người bạn thân thiết của con người Thiên nhiên ở đây khôngphải là công cụ của con người, không phải là thứ có thể để cho con người điềukhiển, sử dụng một cách tùy tiện Hoàng Phủ Ngọc Tường đã chỉ ra một thiênnhiên có sự sống riêng, luôn vận hành theo một cách riêng mà con người phảilắng nghe, cảm nhận bằng cả trái tim của mình Chủ nghĩa nhân văn sinh tháikhông tập trung đề cao con người như hình mẫu của muôn loài mà muốn nhấnmạnh vào sự kì diệu của tự nhiên, vào sự hòa hợp của con người với thiên nhiên.Hoàng Phủ Ngọc Tường đã làm được điều ấy khi để những độc giả của mìnhsống giữa thiên nhiên, biết chia sẻ với tự nhiên, lắng nghe, tôn trọng và bảo vệthế giới tự nhiên ấy, cảm nhận được từng biến đổi nhỏ trong sự vận hành vĩnhcửu của nó Qua tác phẩm “ Ai đã đặt tên cho dòng sông” , bảo vệ tự nhiên hơn

và có lẽ chỉ như thế, chúng ta mới thực sự có một tâm hồn phong phú, có ýnghĩa Thiên nhiên sẽ chấp cánh ước mơ, nuôi dưỡng tâm hồn, để ta biết yêu hơnnhững gì mình đang có, những gì mà tự nhiên ban tặng cho con người

2.1.2 Kí ức và sự tái hiện vẻ đẹp tự nhiên (nguyên sơ) của vùng đất Thừa Thiên:

2.1.2.1 Sông Hương mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người

mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở:

“Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mìnhnhư một cô gái Digan phóng khoáng và man dại Rừng già đã hun đúc cho nómột bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng Nhưng chính rừng già nơiđây, với cấu trúc đặc biệt có thể lý giải được về mặt khoa học, đã chế ngự sứcmạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng”

2.1.2.2 Cảm xúc vô thức về thi ca và âm nhạc:

“Tôi đọc sách trong trạng thái vừa thích thú vừa lơ đãng, miên man trong

vẻ đẹp của dòng sông đang đổi sắc không ngừng dưới ánh nắng và trong mùihương trốn tìm của hoa trái trong vườn Chính trong những giờ phút bồng bềnhgiữa cõi thức và cõi thơ ấy, tôi đã cảm nhận ra cái âm hưởng sâu thẳm của Huế

Trang 34

trên mỗi trang truyện Kiều: dòng sông đáy nước in trời và những nội cỏ thơm,nắng vàng

Trang 35

khói biếc, nỗi u hoài của dương liễu và sắc đẹp nồng nàn của hoa trà mi, nhữngmùa thu qua san, những vầng trăng thắm thiết Một trăm năm mươi năm, (rồinữa ba trăm năm sau), nhà thơ đã qua đời, mà vẫn trời ấy, vẫn đất ấy, cỏ hoa vẫn ynguyên quanh chỗ tôi ngồi Thiên nhiên của mảnh đất Kinh xưa đã để lại một cáibóng mông lung nhưng rất dễ nhận ra trong thơ Nguyễn Du”.

2.1.2.3 Cảm xúc về nền văn hoá mang nặng tính dân tộc, tính chiến đấu:

“Phải nhiều thế kỷ qua, người tình mong đợi mới đến đánh thức người congái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại Giấc ngủ nghìnnăm của những vua chúa được phong kín trong lòng những rừng thông u tịch, vàniềm kiêu hãnh âm u của những lăng tẩm đồ sộ tỏa lan khắp cả một vùng thượng

lưu “bốn bề núi phủ mây phong - mảnh trăng thiên cổ, bóng tùng vạn niên” Đó là

vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương, như triết lý, như cổ thụ, kéo dài mãi đếnlúc mặt nước phẳng lặng của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờbên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà ”

2.1.2.4.Dòng cảm xúc mang đậm dấu ấn cá nhân của người viết:

“Lúc ấy, tôi nhớ lại con sông Hương của tôi; chợt thấy quý điệu chảy lặng

lờ của nó khi ngang qua thành phố Đấy là điệu slow tình cảm dành riêng choHuế, có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnhvào những đêm hội rằm tháng bảy từ điện Hòn Chén trôi về, qua Huế bỗng ngậpngừng như muốn đi muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương củamột nỗi lòng”

Có một nguồn mạch sinh thái thẳm sâu trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông”của Hoàng Phủ Ngọc Tường Nhà văn đã khai thác và thể hiện trong tác phẩm củamình những bình diện sinh thái hoài cảm về con sông Hương với những giá trị vănhóa truyền thống thể hiện được chất thơ lãng mạn và sự tinh tế của ngòi bút củaHoàng Phủ Ngọc Tường Tác giả nêu lên sự tồn tại song song hai mặt của vănminh đô thị nhưng thiên về hoài cảm, về quá khứ, về lịch sử oai hùng của dòngsông Hương đi qua bao thế hệ Bằng góc nhìn văn hoá, truyền thống dân tộc được

Trang 36

thể hiện rất rõ nét Sông Hương hiện lên không chỉ trong nỗi cảm hoài là chứngnhân lịch sử

Trang 37

oai hùng, là nơi lưu giữ những chiến tích vang dội, là cửa ngõ, là phòng tuyếnquan trọng của những ngày đầu dựng nước và giữ nước mà còn là nơi thể hiệnnhững cảm xúc , những thăng hoa của một nhà văn bằng cái nhìn của một nghệ sĩ.Điểm nhìn của người viết bao quát và phổ rộng với một tâm hồn đồng điệu, vớinhững nhạy cảm vô cùng tinh tế, với vốn hiểu biết sâu rộng không chỉ có sự hiểubiết về địa lý, về lịch sử, về văn hoá truyền thống Bằng sự sắc sảo và nhạy bén,

tư chất của một nhà văn, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã chỉ ra và phân tích lý giảitừng góc khuất nhỏ trong những nơi mà sông Hương chảy qua Trong guồng quaycủa đời sống hiện đại, con người đã đánh mất đi nhiều tình cảm tốt đẹp: sự rungcảm, lòng trắc ẩn, sự đồng cảm và xót thương với nỗi đau của tự nhiên Qua nhữngkhám phá và cắt nghĩa nêu trên, tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường góp phầntác động vào nhận thức của người đọc trước sự khủng hoảng của môi trường sinhthái Một cách gián tiếp, nhà văn đề xuất một lối ứng xử đầy nhân văn mới giữacon người và tự nhiên Đây chính là đóng góp đáng ghi nhận của tác giả trongdòng văn học sinh thái

2.1.3 Hướng tới các giá trị sinh thái tinh thần (các hình tượng sinh thái-thẩm mỹ):

2.1.3.1 Giá trị sinh thái tinh thần thi ca và âm nhạc:

“Chính sông Hương và thành phố của nó vẫn gợi cho tôi, như một vangbóng trong thời gian, hình tượng của cặp tình nhân lý tưởng của truyện Kiều: tìmkiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, thi ca và âm nhạc, và cả hai cùng gắn bóvới nhau trong một tình yêu muôn thủa” “Hình như trong khoảnh khắc chùng lạicủa sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêmkhuya Đã nhiều lần tôi thất vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày hoặc trên sânkhấu nhà hát Quả đúng như vậy, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinhthành trên mặt nước của dòng sông này, trong một khoang thuyền nào đó, giữatiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya Nguyễn Du đã bao năm lênh

Trang 38

đênh trên quãng sông này, với một phiến trăng sầu và từ đó những bản đàn đã đisuốt đời Kiều.

2.1.3.2 Giá trị sinh thái tinh thần văn hoá:

Trang 39

“Dòng sông và những đầm phá của nó, những dòng kênh uốn lượn qua thành phố

cũng với tư thái của những ngôi nhà nằm giữa những khu vườn xanh tươi, tất cả mang lại cho Huế một vẻ trong sáng đầy thư thái, giành riêng cho cảm hứng nghệ thuật và tri thức Huế đã là và vẫn còn là một trung tâm của nền văn hoá Việt Nam Vẻ đẹp của Huế và lịch sử mà nó làm cứng, đã ban cho thành phố Huế mang một sức hấp dẫn về văn hoá và du lịch có tầm quốc gia và quốc tế”.

2.1.3.3 Giá trị sinh thái tinh thần trong dòng lịch sử từ quá khứ đến hiện tại:

“Tôi thấy hiện bóng khuôn mặt tươi trẻ và quyễn rũ của dòng sông thànhphố giữa lòng thế giới hiện đại Người ta đã nhìn khắp trái đất, và đã không quênđược nó, dòng sông Việt Nam nhỏ nhắn chỉ dài gần một trăm ki-lô-mét từ nguồnđến biển Hiển nhiên là sông Hương đã sống những thế kỷ quang vinh với nhiệm

vụ lịch sử của nó, từ thuở nó còn là một dòng sông biên thuỳ xa xôi của đất nướccác vua Hùng Trong sách địa dư của Nguyễn Trãi, nó mang tên là Linh Giang,dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của tổ quốcÐại Việt qua những thế kỷ trung đại Thế kỷ XVIII, nó vẻ vang soi bóng Kinhthành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ; nó sống hết lịch sử bi trángcủa thế kỷ XIX với máu của những cuộc khởi nghĩa, và từ đấy sông Hương đã đivào thời đại Cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển”

2.1.3.4 Giá trị sinh thái đô thị:

“Xét về mặt lịch sử đô thị, thành phố đầu tiên đã được xây dựng ở chínhnơi này, trải hơn ba trăm năm giữ nước kiên cố, phong hoá giàu đẹp Ba trăm năm

cũ, vẫn còn sống trong tâm trí tôi hình ảnh vị nguyên soái già ngồi mài gươmdưới chân thành, ánh trăng thế kỷ lay động trong giọng thơ chính khí:

“Thù nước chưa xong đầu đã bạc Gươm mài bóng nguyệt biết bao lần ”

Trang 40

quan tâm đến các vẻ đẹp và giá trị tinh thần của tự nhiên đối với đời sống con

Ngày đăng: 27/09/2023, 14:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Thái Hà, Bước đầu tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ điểm nhìn phê bình sinh thái, nguồn:http://vietvan.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ điểmnhìn phê bình sinh thái
2. Dương Thu Hằng (2015), “Biến đổi môi trường sống - nhân tố thúc đẩy không gian văn hóa mới trong thơ Tú Xương”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi môi trường sống - nhân tố thúc đẩy khônggian văn hóa mới trong thơ Tú Xương”, "Tạp chí Nghiên cứu Văn học
Tác giả: Dương Thu Hằng
Năm: 2015
3. Đỗ Văn Hiểu, Phê bình sinh thái, Cội nguồn và sự phát triển, www.dovanhieu.wordprece.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình sinh thái, Cội nguồn và sự phát triển
4. Đỗ Văn Hiểu, Phê bình sinh thá i, Khuynh hướ ng nghiên cứ u văn hoctính cá ch tân, www.Tapchisonghuong.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình sinh thá i, Khuynh hướ ng nghiên cứ u văn hoctínhcá ch tân
7. Lê Lưu Oanh, Trần Thị Ánh Nguyệt (2016), Văn xuôi Việt Nam hiện đại sau 1975 nhìn từ góc nhìn phê bình sinh thái, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam hiện đại sau1975 nhìn từ góc nhìn phê bình sinh thái
Tác giả: Lê Lưu Oanh, Trần Thị Ánh Nguyệt
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2016
9. Lê Huy Bắc. (1988). Giọng và giọng điệu văn xuôi hiện đại. Tạp chí Văn học số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Huy Bắc. (1988). "Giọng và giọng điệu văn xuôi hiện đại". Tạp chí "Văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1988
10.Lê Huy Bắc. (1998). Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại, Tạp chí Văn học số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại", Tạp chí"Văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
11.Phan Tuấn Anh, “Văn học Mỹ Latin nhìn từ phê bình sinh thái”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, tháng 5 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Mỹ Latin nhìn từ phê bình sinh thái”, "Tạp chí Vănnghệ Quân đội
12.Trần Thị Ánh Nguyệt (2015), Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái, Luận án, ĐH Sư Phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Namsau 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái
Tác giả: Trần Thị Ánh Nguyệt
Năm: 2015
5. Nguyễn Tuân, Người lài đò sông Đà, SGK Ngữ văn 12, tập 2, Nxb Giáo dục Khác
6. Trần Ngọc Vương (2007), Văn học Việt Nam thế kỉ X-XIX những vấn đề lí luận và lịch sử, Nxb Giáo dục, Hà Nôi Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w