1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất tại bệnh viện k năm 2022

115 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất tại bệnh viện K năm 2022
Tác giả Nguyễn Thị Thúy Hằng
Người hướng dẫn TS. Phùng Thị Huyền, PGS.TS Tạ Thị Tĩnh
Trường học Trường Đại học Thăng Long
Chuyên ngành Điều dưỡng
Thể loại Luận văn thạc sĩ điều dưỡng
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình học tập, nghiên cứu đề tài “Kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú đang điều trị hóa chất tại bệnh viện K năm 2022”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG

KIẾN THỨC VÀ HÀNH VI TỰ CHĂM SÓC CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ VÚ ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT TẠI BỆNH VIỆN K NĂM 2022

LUẬN VĂN THẠC SỸ ĐIỀU DƯỠNG

HÀ NỘI - 2023

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

BỘ MÔN ĐIỀU DƯỠNG

NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG

Mã học viên: C01837

KIẾN THỨC VÀ HÀNH VI TỰ CHĂM SÓC CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ VÚ ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT TẠI BỆNH VIỆN K NĂM 2022

LUẬN VĂN THẠC SỸ ĐIỀU DƯỠNG

Chuyên ngành: Điều dưỡng

Mã số: 8720301

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC Hướng dẫn 1: TS Phùng Thị Huyền

Hướng dẫn 2: PGS.TS Tạ Thị Tĩnh

HÀ NỘI - 2023

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 3

Trong quá trình học tập, nghiên cứu đề tài “Kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú đang điều trị hóa chất tại bệnh viện K năm 2022”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của các thầy cô, với lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới:

­ TS.BS Phùng Thị Huyền - Trưởng khoa Nội Quán Sứ Bệnh viện K, cô PGS.TS

Tạ Thị Tĩnh - Giảng viên trường Đại Học Thăng Long Hà Nội đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức khoa học quý báu để tôi hoàn thành luận văn này

- Tôi xin chân thành cảm ơn Đảng ủy, Ban Giám Đốc Bệnh viện K, tập thể khoa Nội Quán Sứ Bệnh Viện K đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn:

­ Ban Giám hiệu Trường Đại Học Thăng Long, các thầy cô Phòng Đào tạo sau đại học, các thầy cô bộ môn Điều dưỡng đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu;

­ Các thầy cô trong Hội đồng thông qua Đề cương, Hội đồng bảo vệ luận văn tốt nghiệp đã có những ý kiến hướng dẫn, chỉ bảo giúp tôi hoàn thành luận văn

Con gửi tới bố mẹ lòng biết ơn sâu sắc, những người sinh thành, nuôi dưỡng, dạy dỗ và luôn dành cho con những tình cảm yêu quý nhất

- Cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người luôn động viên, cổ vũ, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng trong suốt quá trình thực hiện đề tài, nhưng vẫn còn có những mặt hạn chế và thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp

và sự chỉ dẫn của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2023

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thúy Hằng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Nguyễn Thị Thúy Hằng, học viên lớp CSN 9.1A – Cao học điều dưỡng khóa học 2020-2023 trường Đại học Thăng Long xin cam đoan:

- Đây là nghiên cứu của tôi, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS.BS Phùng Thị Huyền và PGS.TS Tạ Thị Tĩnh

- Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn trung thực và khách quan, do tôi thu thập và thực hiện

- Kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa được đăng tải trên bất kỳ một tạp chí hay một công trình khoa học nào

Hà Nội, ngày tháng năm 2023

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thúy Hằng

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 5

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ………1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3

1.1 TỔNG QUAN VỀ BỆNH UNG THƯ VÚ 3

1.1.1 Giải phẫu tuyến vú 3

1.1.2 Đặc điểm dịch tễ học của bệnh ung thư vú 3

1.1.3 Phân loại giai đoạn bệnh ung thư vú 4

1.1.4 Các phương pháp điều trị ung thư vú 4

1.2 HÓA TRỊ TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÚ 7

1.3 TỔNG QUAN VỀ KIẾN THỨC HÓA TRỊ VÀ HÀNH VI TỰ CHĂM SÓC CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ VÚ ĐANG ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT 11

1.3.1 Tầm quan trọng của kiến thức hóa trị và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú đang điều trị hóa chất 11

1.3.2 Kiến thức hóa trị của người bệnh ung thư vú đang điều trị hóa chất 13

1.3.3 Hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú đang điều trị hóa chất 16

1.4 KẾ HOẠCH CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH UNG THƯ VÚ ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT 17

1.4.1 Nhận định người bệnh 17

1.4.2 Chẩn đoán điều dưỡng 18

1.4.3 Lập kế hoạch chăm sóc 18

1.4.4 Thực hiện kế hoạch chăm sóc 19

1.4.5 Lượng giá 20

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 22

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 22

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 22

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 22

2.1.4 Địa điểm nghiên cứu 22

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 22

2.2.2 Cỡ mẫu 23

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu 23

2.2.4 Quy trình thu thập số liệu và dữ liệu nghiên cứu 23

2.3 CÔNG CỤ THU THẬP SỐ LIỆU 24

Trang 6

2.4 BIẾN SỐ VÀ CÁC CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU 26

2.4.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 26

2.4.2 Kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất………29

2.4.3 Các yếu tố liên quan đến kiến thức hóa trị và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất 29

2.5 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 30

2.6 CÁC QUY ƯỚC ÁP DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU 31

2.7 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 31

2.8 KHÍA CẠNH ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU 32

2.9 SAI SỐ VÀ KHẮC PHỤC SAI SỐ 32

2.9.1 Các sai số mắc phải 32

2.9.2 Khắc phục sai số 33

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

3.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 34

3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học 34

3.1.2 Đặc điểm bệnh lý và điều trị 35

3.2 MÔ TẢ KIẾN THỨC VÀ HÀNH VI TỰ CHĂM SÓC CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ VÚ ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT 38

3.2.1 Kiến thức hóa trị của người bệnh ung thư vú đang điều trị hóa chất trong nghiên cứu định lượng 38

3.2.2 Hành vi tự chăm sóc trên người bệnh ung thư vú đang điều trị hóa chất trong nghiên cứu định lượng 43

3.2.3 Kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú đang điều trị hóa chất trong nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu) 47

3.3 PHÂN TÍCH MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC VÀ HÀNH VI TỰ CHĂM SÓC CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ VÚ ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT 53

3.3.1 Các yếu tố liên quan đến kiến thức hóa trị của người bệnh ung thư vú 53

3.3.2 Các yếu tố liên quan đến hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú……… 55

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 59

4.1 ĐẶC ĐIỂM MẪU NGHIÊN CỨU 59

4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học 59

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 7

4.1.2 Đặc điểm bệnh lý và điều trị 60

4.2 KIẾN THỨC HÓA TRỊ VÀ HÀNH VI TỰ CHĂM SÓC CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ VÚ ĐANG ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT 62

4.2.1 Kiến thức hóa trị của người bệnh ung thư vú đang điều trị hóa chất 62

4.2.2 Hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú đang điều trị hóa chất 65

4.3 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC HÓA TRỊ VÀ HÀNH VI TỰ CHĂM SÓC CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ VÚ ĐANG ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT 68

4.3.1 Các yếu tố liên quan đến kiến thức hóa trị 68

4.3.2 Các yếu tố liên quan đến hành vi tự chăm sóc 70

4.4 BÀN LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 70

4.4.1 Về tiêu chuẩn chọn mẫu, phương pháp lấy mẫu và thiết kế nghiên cứu 70

4.4.2 Về phương pháp đo lường kiến thức hóa trị và hành vi tự chăm sóc 70

KẾT LUẬN……….……….73

KHUYẾN NGHỊ 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ADE Biến cố bất lợi của thuốc (Adverse drug event)

ADR Phản ứng có hại của thuốc (Adverse drug reaction)

AI Thuốc ức chế aromatase (aromatase inhibitor)

ER Thụ thể estrogen (Estrogen receptor)

L-PASC

Bộ câu hỏi Leuven về tự chăm sóc trong thời gian hóa trị (The Leuven questionnaire for Patient Self-care during Chemotherapy)

NCCN Mạng lưới ung thư Quốc gia Hoa Kỳ (National Comprehensive

Cancer Network)

TMN Khối u – Hạch vùng – Di căn (Tumor – Node – Metastasis)

VIF Hệ số phóng đại phương sai (variance inflation factor)

WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Nội dung và cấu trúc của của bộ câu hỏi L-PaKC 25

Bảng 2.2 Nội dung và cấu trúc của của bộ câu hỏi L-PaSC 25

Bảng 2.3 Các biến số và chỉ số về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu ……… 25

Bảng 2.4 Các biến số và chỉ số về kiến thức hóa trị và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất 25

Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu (N=281) 40

Bảng 3.2 Đặc điểm về bệnh lý của người bệnh ung thư vú (N=281) 35

Bảng 3.3 Đặc điểm điều trị của người bệnh ung thư vú (N=281) 36

Bảng 3.4 Tác dụng không mong muốn người bệnh đánh giá là có thể xảy ra trong quá trình điều trị (N=281) 40

Bảng 3.5 Tỷ lệ người bệnh trả lời đúng liên quan đến kiến thức nguồn cung cấp và trao đổi thông tin (N=281) 41

Bảng 3.6 Điểm số trung bình kiến thức hóa trị và các khía cạnh nghiên cứu 43

Bảng 3.7 Tỷ lệ người bệnh thực hiện đúng khuyến cáo về các vấn đề liên quan đến điều trị (N=281) 448

Bảng 3.8 Tỷ lệ người bệnh gặp và xử trí các tác dụng không mong muốn trong quá trình điều trị (N=281) 50

Bảng 3.9 Điểm số trung bình hành vi tự chăm sóc và các khía cạnh nghiên cứu.51 Bảng 3.10 Mối liên quan giữa từng đặc điểm và kiến thức về hóa trị của người bệnh ung thư vú đang điều trị hóa chất (N=281) 56

Bảng 3.11 Các yếu tố liên quan đến kiến thức hóa trị trong mô hình hồi quy tuyến tính đa biến 58

Bảng 3.12 Mối liên quan đơn biến giữa từng đặc điểm và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú đang điều trị hóa chất (N=281) 59

Bảng 3.13 Các yếu tố liên quan đến hành vi tự chăm sóc trong mô hình hồi quy tuyến tính đa biến 58

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ người bệnh trả lời đúng/sai của cấc câu hỏi liên quan đến kiến thức chung về hóa trị……… 44 Biểu đồ 3.2 Dấu hiệu cần thông báo ngay cho bác sĩ/ điều dưỡng……… 44 Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ người bệnh trả lời đúng/sai về tác dụng không mong muốn có thể xảy ra, thời gian dự kiến xuất hiện tác dụng không mong muốn, mục đích tránh thai trong quá trình điều trị……….46 Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất đường truyền/uống47 Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ người bệnh trả lời đúng liên quan đến kiến thức hóa trị đường uống……… 47

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Quy trình nghiên cứu……….….36

DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Cấu tạo vú và bệnh lý về vú Hình 1.2 Các phương pháp điều trị ung thư vú……….6

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư vú là loại ung thư phổ biến ở phụ nữ nhiều nước trên thế giới và cũng là nguyên nhân tử vong hàng đầu trong các bệnh lý ung thư ở phụ nữ trên toàn thế giới Năm 2020, trên thế giới ước tính có khoảng 2,3 triệu người phát hiện mắc ung thư vú mới, chiếm 11,7% trong tổng số các loại ung thư Tại Việt Nam, theo Globocan 2020 ung thư vú chiếm tỷ lệ mới mắc cao nhất trong các loại ung thư ở nữ giới với số ca mắc mới ước tính là 21.555 ca và số ca tử vong ước tính là 9.345 ca [1], [21]

Mặc dù tỷ lệ mắc ung thư vú có xu hướng tăng cao theo thời gian nhưng tỷ

lệ tử vong ngày càng được cải thiện nhờ các thành tựu trong phát hiện, chẩn đoán

và điều trị, trong đó phải kể đến vai trò của hóa trị Hóa trị đóng vai trò quan trọng trong điều trị cho người bệnh ung thư vú ở cả giai đoạn sớm và giai đoạn muộn Việc sử dụng hóa chất mang lại những đáp ứng lâm sàng cải thiện triệu chứng và lợi ích đáng kể trong kéo dài thời gian sống thêm [1], [8] Tuy nhiên, các phác đồ điều trị có thể gây ra nhiều tác dụng không mong muốn khác nhau, một số trường hợp có thể đe dọa tính mạng như sốt giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu [7], [39] Một nghiên cứu đã ghi nhận 102 người bệnh ung thư vú nhập viện cấp cứu, trong đó tình trạng sốt không giảm bạch cầu chiếm 27% và sốt có giảm bạch cầu chiếm 24% trong vòng 30 ngày sau khi hóa trị [52] Mặt khác, người bệnh điều trị hóa chất phải thay đổi lối sống như tránh tiếp xúc với đám đông, tránh tiếp xúc với những người mắc bệnh truyền nhiễm (có những bệnh thông thường như cảm lạnh), điều đó đôi khi có thể dẫn tới tình trạng người bệnh cảm thấy mình bị cô lập, ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng cuộc sống của người bệnh [33]

Để có thể xử trí trước hết người bệnh ung thư vú cần phải có kiến thức về hóa trị Kiến thức về hóa trị là những vấn đề người bệnh ung thư vú cần hiểu biết liên quan đến hóa trị bao gồm mục tiêu và thời gian điều trị, các tác dụng không mong muốn có thể xảy ra, các biện pháp điều chỉnh lối sống, các nguồn thông tin tin cậy và lý do cần tránh thai trong khi điều trị [24] Việc được cung cấp và vận dụng phù hợp các thông tin về hóa trị liệu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người

Trang 12

bệnh trong việc tuân thủ các chu kỳ hóa trị, giúp người bệnh nhanh chóng nhận biết mức độ nghiêm trọng của tác dụng không mong muốn đặc biệt với những trường hợp cần chăm sóc khẩn cấp [20] Kiến thức và kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe cũng rất cần thiết đối với việc đảm bảo chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú hóa trị Do đó, việc đánh giá về kiến thức hóa trị và các hành vi tự chăm sóc là vấn đề cần được quan tâm, nhằm đưa ra các giải pháp giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú, tăng khả năng tuân thủ điều trị

và cải thiện hiệu quả điều trị Từ đó nhân viên y tế có thể lập kế hoạch nâng cao kiến thức hóa trị và các hành vi tự chăm sóc bằng các phương pháp khác nhau Khảo sát kiến thức hóa trị và hành vi tự chăm sóc trên đối tượng người bệnh ung thư vú đang điều trị hóa chất, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức hóa trị

và hành vi tự chăm sóc là cơ sở để đưa ra các đề xuất can thiệp phù hợp trên người

bệnh ung thư vú Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Kiến thức và

hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất tại Bệnh viện

K năm 2022” với hai mục tiêu:

Mục tiêu 1: Mô tả kiến thức hóa trị và hành vi tự chăm sóc của người bệnh

ung thư vú điều trị hóa chất tại bệnh viện K năm 2022

Mục tiêu 2: Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức hóa trị và hành

vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

Giải phẫu tuyến vú

Tuyến vú nữ giới khi phát triển nằm trong tổ chức mỡ và tổ chức liên kết trên cơ ngực lớn trải từ xương sườn III đến xương sườn VII Ở phía trước từ bờ xương ức tới đường nách giữa, kích thước 10-12 cm, dày 5-7 cm Kích thước tuyến vú thay đổi theo từng người, từng chủng tộc, chưa có một thống kê chính thức nhưng đa số phụ nữ châu Á trong đó có phụ nữ Việt Nam kích thước tuyến

vú bé hơn nhiều so với phụ nữ Châu Âu Vì vậy trong phẫu thuật bảo tồn để đảm bảo tính thẩm mỹ ngoài kích thước u người ta còn phải chú ý nhiều đến thể tích u/thể tích vú Nhiều trường hợp kích thước u không lớn nhưng cũng không thể bảo tồn vú được [14]

Đặc điểm dịch tễ học của bệnh ung thư vú

Ung thư vú là loại ung thư phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới, với tỷ

lệ mới mắc cao và cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh lý ung thư ở phụ nữ [1] Năm 2020, ung thư vú chiếm tỷ lệ mới mắc cao nhất thế giới với khoảng 2,3 triệu ca mắc mới trong năm 2020, chiếm 11,7% trong tổng số các loại ung thư [21] Mặc dù tỷ lệ mắc ung thư vú có xu hướng tăng cao theo thời gian, tỷ lệ tử vong lại ngày càng được cải thiện nhờ vào các tiến bộ trong sàng lọc phát hiện ở giai đoạn sớm và điều trị hiệu quả [1]

Tại Việt Nam năm 2020, số ca ung thư vú mới mắc ghi nhận là 21.555 ca, chiếm 11,8% trong tổng số các loại ung thư ở cả hai giới, đứng thứ 3 sau ung thư gan và ung thư phổi Ở phụ nữ, ung thư vú chiếm tỷ lệ mới mắc cao nhất, chiếm hơn 1/4 số trường hợp, trong đó số ca tử vong lên đến 9.345 ca [21]

Có nhiều yếu tố tham gia vào cơ chế bệnh sinh phức tạp của các bệnh lý ung thư Tuổi càng cao, nguy cơ mắc bệnh càng gia tăng Tuy nhiên, bệnh cũng

có thể xuất hiện ở những người rất trẻ [1] Nguy cơ mắc cao nhất rơi vào nhóm phụ nữ ở độ tuổi từ 55-64 tuổi [56] Phụ nữ có tiền sử gia đình có người thân mắc ung thư vú có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn [1], [8], tỷ lệ ung thư vú di truyền

Trang 14

chiếm khoảng 5%-10% trong tổng số ca mắc [56] Ngoài ra, các yếu tố như có kinh lần đầu sớm, mãn kinh muộn, phụ nữ độc thân, không sinh con, không cho con bú, sinh con đầu lòng muộn,… cũng góp phần làm tăng nguy cơ bị bệnh [8]

Phân loại giai đoạn bệnh ung thư vú

Hiệp hội kiểm soát Ung thư quốc tế (Union for International Cancer Control -UICC) và Hội Ung thư Hoa Kỳ (American Joint Committee on Cancer - AJCC)

đã phát triển hệ thống phân chia giai đoạn các khối u ác tính TMN (T: tumor - khối u, N: node - hạch lympho, M: metastasis - di căn xa) với phiên bản mới nhất năm 2017 [1] Sau đây là tóm lược về phân loại TNM

- Di căn xa (M):

 Mx: Không đánh giá được di căn xa

 M0: Không có di căn xa

 M1: Có di căn xa

Các phương pháp điều trị ung thư vú

Lựa chọn điều trị ung thư vú phụ thuộc vào giai đoạn bệnh lúc chẩn đoán,

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 15

đặc điểm bệnh học của khối u (thể mô bệnh học, độ mô học, tình trạng thụ thể nội tiết, HER2, chỉ số tăng sinh khối u, các đột biến gen, các yếu tố nguy cơ về gen…), tốc độ phát triển trên lâm sàng của bệnh, mong muốn của người bệnh và các bệnh mắc kèm [17] Người bệnh mắc ung thư vú ở giai đoạn sớm được điều trị với mục tiêu chữa khỏi bệnh [34] Trong khi đó, mục tiêu điều trị của ung thư vú giai đoạn tiến triển, di căn hoặc tái phát là giúp giảm nhẹ các triệu chứng và duy trì hoặc cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh Hiện nay, tiếp cận điều trị ung thư vú

là đa mô thức, thông qua phối hợp các biện pháp khác nhau giúp giảm tỷ lệ tử vong do ung thư vú Các biện pháp có thể áp dụng bao gồm: điều trị tại chỗ (phẫu thuật); điều trị tại vùng (xạ trị) và điều trị toàn thân (hóa trị; điều trị đích; điều trị nội tiết; điều trị miễn dịch)

Hình 1.2 Các phương pháp điều trị ung thư vú

(Nguồn: website Bệnh viện K [57])

1.1.4.1 Các phương pháp điều trị tại chỗ, tại vùng

 Phẫu thuật: Phẫu thuật thường điều trị ở các người bệnh giai đoạn đầu, khi khối u còn khu trú và chưa di căn xa [5] Phẫu thuật ung thư vú chia làm hai loại chính: phẫu thuật cắt tuyến vú toàn bộ và phẫu thuật bảo tồn vú Phẫu thuật bảo

Nội tiết

Điều trị đích/miễn dịch

Xạ trị

Trang 16

tồn vú – cắt bỏ khối u, một giải pháp thay thế cho phẫu thuật cắt tuyến vú toàn bộ

ở những người bệnh ung thư giai đoạn đầu Phẫu thuật bảo tồn giúp cải thiện về mặt thẩm mỹ trong khi vẫn đảm bảo mục tiêu chữa bệnh [5] Phẫu thuật cắt tuyến

vú toàn bộ được chỉ định cho những người bệnh ung thư vú khi người bệnh chống chỉ định với bảo tồn vú hoặc do nhu cầu của người bệnh [19]

 Xạ trị: là phương pháp dùng tia bức xạ ion hóa có năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư Xạ trị thường được sử dụng bổ trợ sau phẫu thuật cắt tuyến

vú toàn bộ hoặc phẫu thuật bảo tồn vú [8] Mục tiêu của xạ trị là loại bỏ các tế bào ung thư còn sót lại sau phẫu thuật, làm giảm nguy cơ tái phát và cải thiện tỷ lệ sống đối với người bệnh ung thư vú [16]

1.1.4.2 Các phương pháp điều trị hệ thống

 Hóa trị: là việc sử dụng các chất độc tế bào với mục đích loại bỏ các tế bào ung thư đang lưu hành trong cơ thể [7] Quyết định điều trị hóa trị phụ thuộc vào các yếu tố như: đặc điểm mô học của khối u, thụ thể estrogen (ER) và/hoặc progesteron (PR), giai đoạn khối u, tuổi người bệnh và mức độ xâm lấn hạch bạch huyết [53] Hóa trị được chia làm 3 loại chính: hóa trị bổ trợ trước, hóa trị bổ trợ

và hóa trị điều trị giai đoạn tái phát di căn [7]

 Điều trị đích: đang được áp dụng rộng rãi trong điều trị ung thư vú Các thuốc trong nhóm có tác dụng chọn lọc, trực tiếp lên tế bào ung thư, ít gây độc cho tế bào lành, ít xảy ra tác dụng phụ Các thuốc kháng thụ thể Her-2/neu, một thụ thể tyrosin kinase, được dùng trong điều trị cho khoảng 15 – 25% người bệnh ung thư vú và thường kết hợp với phác đồ hóa trị Các thuốc điển hình được sử dụng trong liệu pháp tại đích bao gồm trastuzumab, pertuzumab, T-DM1, … [1], [11]

 Điều trị nội tiết: được chỉ định khi người bệnh có thụ thể nội tiết ER hoặc

PR dương tính với mục đích làm chậm hoặc ngừng phát triển các tế bào ung thư Các thuốc nội tiết điển hình được sử dụng trong liệu pháp nội tiết bao gồm tamoxifen, letrozol, anastrozol, exemestan, thuốc ức chế CDK4/6…[32]

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 17

1.2 HÓA TRỊ TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÚ

1.2.1 Các nhóm hóa chất điều trị ung thư vú

Hóa chất tác động lên các giai đoạn khác nhau trong quá trình tổng hợp acid nucleic và sinh tổng hợp protein tế bào ung thư ở các thời kỳ khác nhau của sự phân chia tế bào Tại các tế bào ung thư, có khoảng 50% tế bào ở giai đoạn nghỉ không phân chia (giai đoạn G0) [2] Sự phân chia của các tế bào ung thư chia làm bốn giai đoạn:

- Giai đoạn G1: Tế bào sinh ra enzym cần cho sự tổng hợp ADN

- Giai đoạn S: Nhân đôi ADN

- Giai đoạn G2: Tổng hợp ARN, các protetin đặc hiệu của ung thư, chuẩn bị cho quá trình nguyên phân

- Giai đoạn M: Thời kỳ nguyên phân gồm có kỳ đầu, kỳ giữa, kỳ sau và kỳ cuối

Nguyên tắc hóa trị liệu ung thư là chọn các thuốc hóa chất tác động lên nhiều giai đoạn của tế bào ung thư nhằm giảm nhiều nhất số lượng tế bào ung thư

Đa số các thuốc thường tác động lên các giai đoạn S, G2 và M [2], [3] Có nhiều loại hóa chất được dùng trong điều trị ung thư vú, gồm các tác nhân thuộc các nhóm sau:

- Nhóm chống chuyển hóa: Các thuốc này có cấu trúc hóa học tương tự các

chất chuyển hóa trong quá trình tổng hợp acid nucleic Do vậy những chất này ngăn cản sự tổng hợp acid nucleic của tế bào ung thư Một số đại diện của nhóm thuốc thường gặp là methotrexat, 5-FU, capecitabin và gemcitabin

- Nhóm alkyl hóa: Trong cơ thể các thuốc này chuyển hóa thành các gốc

alkyl gọi là ion carbonium R-CH2+, gốc này phản ứng mạnh trên các vị trí ái nhân của acid nucleic như: N ở vị trí 7 hoặc O ở vị trí 6 trong phân tử guanin; N ở vị trí

1 hay 3 của adenin; N ở vị trí 3 của cytosin Các thuốc này thường tác động lên giai đoạn G1 và S trong chu kỳ phát triển tế bào Một số thuốc: cyclophosphamid, carboplatin, cisplatin,

- Alcaloid thực vật và các sản phẩm từ tự nhiên khác:

Trang 18

 Các taxan: Các thuốc làm tăng quá trình trùng hợp các dimer tubulin tạo thành các vi quản và làm ổn định các vi quản, ức chế quá trình phân bào đồng thời gây ra các bất thường về cấu trúc vi quản trong quá trình phân bào Một số thuốc: docetaxel, paclitaxel,

 Các alcaloid của cây dừa cạn: Các thuốc này ngăn cản sự phân bào ở giai đoạn M bằng cách gắn lên một protein đặc hiệu của tế bào – tubulin, làm cho quá trình phân ly của các sợi nhiễm sắc thể sai lệch Một số thuốc: vinorelbin, vinblastin, vincristin,

- Các kháng sinh độc tế bào: Phần phân tử mang nhân thơm có cấu trúc

phẳng chèn vào giữa hai base nitơ của ADN, phần đường sẽ tương tác với nhánh bên của cặp base nitơ nằm gần đó Từ đó, ức chế enzym topoisomerase II dẫn đến

ức chế sự sao chép ADN, ức chế sự phân chia và phát triển khối u Thuốc thường dùng trong nhóm có doxorubicin và epirubicin [2], [3]

1.2.2 Chỉ định điều trị bằng hóa chất cho người bệnh ung thư vú

Theo các hướng dẫn điều trị hiện hành, nhiều phác đồ hóa trị được sử dụng trong điều trị phối hợp đa dạng các nhóm hóa chất Một số phác đồ thường được lựa chọn sử dụng trong điều trị ung thư vú nguy cơ tái phát thấp như là TC (docetaxel /cyclophosphamid) hay AC (doxorubicin /cyclophosphamid) Những phác đồ hóa trị có chứa taxan và anthracyclin với số chu kì nhiều hơn hay liều dày được áp dụng cho những người bệnh có yếu tố nguy cơ cao như kích thước khối

u lớn, di căn hạch nách hoặc trên những người bệnh ở giai đoạn sớm nhưng có các đặc điểm sinh học tiên lượng xấu như thụ thể nội tiết âm tính, độ mô học và Ki67 cao [1]

Đối với người bệnh ung thư vú giai đoạn IV hoặc tái phát, các phác đồ đơn trị liệu và đa trị liệu cũng được khuyến cáo Tuy nhiên, trên đối tượng người bệnh này ưu tiên các phác đồ có tỷ lệ độc tính thấp Theo NCCN, liệu pháp đa trị liệu

có liên quan đến sự gia tăng tác dụng không mong muốn mà người bệnh gặp phải, đồng thời không tìm thấy sự khác biệt giữa thời gian sống thêm của người bệnh khi sử dụng hai loại phác đồ trên Vì vậy, phác đồ đơn trị liệu được khuyến cáo

ưu tiên hơn trên nhóm đối tượng này Một số phác đồ đơn trị liệu được ưu tiên

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 19

như taxan (paclitaxel), anthracyclin (doxorubicin, liposomal doxorubicin), nhóm

thuốc chống chuyển hóa (capecitabin, gemcitabin), nhóm thuốc ức chế tiểu vi

quản (vinorelbin, eribulin),…[1], [43]

Trong trường hợp HER-2 dương tính bất kể giai đoạn nào thì người bệnh đều được khuyến cáo sử dụng hóa chất kết hợp với các kháng thể đơn dòng kháng HER-2 như trastuzumab, pertuzumab,… giúp cải thiện thời gian sống thêm bệnh không tiến triển và thời gian sống toàn bộ so với việc chỉ sử dụng hóa chất đơn độc [1], [43]

1.2.3 Tác dụng không mong muốn của hóa chất điều trị ung thư vú

Hầu hết các loại thuốc gây độc tế bào nhắm vào các tế bào đang nhân lên nhanh với đích tác dụng là các acid nucleic và tiền chất, được tổng hợp trong quá trình phân chia tế bào; tuy nhiên, các thuốc này ít có khả năng phân biệt tế bào lành với tế bào ung thư [38] Vì vậy, các thuốc điều trị hóa chất có thể gây ra các dụng không mong muốn cho người bệnh ngay ở liều điều trị đầu tiên Trong nhiều trường hợp, sự phát triển của các khối u đặc có phần chậm hơn so với các tế bào tủy xương, niêm mạc dạ dày ruột và tuyến sinh dục Do đó, thuốc ảnh hưởng đến các mô này phụ thuộc vào liều lượng và độ nhạy cảm của từng cá thể Đây chính

là nguyên nhân gây ra rất nhiều tác dụng không mong muốn của các hóa chất điều trị ung thư Các tác dụng không mong muốn có thể cấp hoặc mạn tính hoặc có khả năng đe dọa tính mạng [22] Một số tác dụng không mong muốn cần lưu ý đã được đề cập trong nhiều bộ câu hỏi về kiến thức/hành vi tự chăm sóc trên đối tượng người bệnh ung thư đang điều trị hóa chất Các tác dụng không mong muốn này bao gồm: suy tủy xương (giảm bạch cầu trung tính, thiếu máu); độc tính trên đường tiêu hóa (buồn nôn và nôn mửa, viêm niêm mạc miệng); rụng tóc, mệt mỏi…

- Suy tủy xương, đa dạng về mức độ và các biểu hiện, bao gồm:

 Giảm bạch cầu trung tính: Hầu hết các người bệnh được hóa trị đều giảm

số lượng bạch cầu từ 10 đến 14 ngày sau mỗi chu kỳ, sau đó thường trở về bình thường trước khi điều trị hóa chất đợt tiếp theo Trong trường hợp người bệnh giảm bạch cầu trung tính nặng hoặc kéo dài có thể bị sốt hoặc nhiễm trùng gây

Trang 20

nguy hiểm đến tính mạng Đối với người bệnh giảm bạch cầu trung tính, mục tiêu chính là ngăn ngừa biến chứng nhiễm trùng hoặc phát hiện nhiễm trùng ở giai đoạn sớm nhất Các loại thuốc gây giảm bạch cầu trung tính thường gặp là: docetaxel, doxorubicin, cisplatin, carboplatin,… [22]

 Thiếu máu: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thiếu máu ở người bệnh ung thư

vú như mất máu, không cung cấp đủ dinh dưỡng cho cơ thể, suy tủy hoặc tác động trực tiếp của các thuốc gây độc tế bào Các triệu chứng thiếu máu có thể ảnh hưởng tới hoạt động bình thường cũng như chất lượng cuộc sống của người bệnh Các loại thuốc gây thiếu máu thường gặp là: docetaxel, paclitaxel, cisplatin,… [22]

- Độc tính trên đường tiêu hóa

 Buồn nôn và nôn: Thông thường buồn nôn và nôn thường xuất hiện từ 4 đến 6 giờ sau khi bắt đầu điều trị và kéo dài trong 1 đến 2 ngày sau đó [6] Buồn nôn và nôn do hóa trị làm giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh, giảm tuân thủ điều trị và là mối lo ngại đối với rất nhiều người bệnh Mức độ gây nôn khác nhau tùy thuộc vào các phác đồ điều trị của người bệnh Phác đồ phối hợp liều cao của doxorubicin và cyclophosphamid gây nôn cao với hơn 90% người bệnh gặp phải, trong khi đó các phác đồ có chứa docetaxel, paclitaxel hoặc carboplatin thì chỉ gây nôn vừa phải với khoảng 60-90% người bệnh [4] Hiện nay, buồn nôn

và nôn đã được kiểm soát tốt hơn nhờ các phác đồ chống nôn, các nhóm thuốc hiện thường được dùng trong dự phòng nguy cơ gây nôn là chất đối kháng thụ thể 5-hydroxytryptamin (5-HT3) và glucocorticoid (đặc biệt là dexamethason) [47]

 Viêm niêm mạc miệng: Biểu hiện ban đầu thường xuất hiện ban đỏ mô mềm niêm mạc miệng hoặc vòm miệng kèm theo cảm giác bỏng rát trong khoang miệng Khi bệnh tiến triển nặng, tạo thành các vết loét lớn gây đau đớn, khó nuốt khiến cho người bệnh gặp khó khăn trong quá trình ăn uống, có thể làm tăng nguy

cơ nhiễm trùng tại chỗ và toàn thân, ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người bệnh Viêm niêm mạc miệng thường bắt đầu hồi phục sau vài ngày và thường hồi phục khoảng từ 10 đến 14 ngày sau khi hóa trị liệu Đối với viêm niêm mạc miệng nặng có thể dẫn đến việc gián đoạn điều trị hoặc giảm liều hóa chất ở

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 21

chu kỳ kế tiếp, do đó có thể ảnh hưởng hiệu quả điều trị Hiện tại các biện pháp

dự phòng và điều trị chủ yếu là giảm nhẹ và bao gồm vệ sinh răng miệng thích hợp, chế độ ăn kiêng và các sản phẩm chăm sóc răng miệng, nước súc miệng giảm đau tại chỗ, thuốc gây tê tại chỗ và thuốc giảm đau [38], [50]

- Rụng tóc: Rụng tóc là tác dụng không mong muốn thường gặp trên người

bệnh ung thư vú điều trị hóa chất Rụng tóc do hóa trị liệu có thể gây ra những hậu quả nặng nề về mặt tâm lý xã hội và chất lượng cuộc sống của người bệnh, lo lắng, trầm cảm, hình ảnh cơ thể không đẹp là những dấu hiệu thường gặp [27] Một nghiên cứu chỉ ra rằng, những phụ nữ bị ung thư có tác dụng không mong muốn là rụng tóc so với những phụ nữ bị ung thư không bị rụng tóc thì họ cảm

thấy tự ti hơn về cơ thể cũng như chất lượng cuộc sống thấp hơn [41]

- Mệt mỏi: Mệt mỏi là một vấn đề sức khỏe thường gặp ở người bệnh ung

thư đang điều trị hóa chất Hầu hết, các người bệnh đều cảm thấy mệt mỏi ở một mức độ nào đó trong quá trình điều trị của họ, khoảng một phần ba trong số đó sẽ mệt mỏi kéo dài một vài năm tiếp theo sau khi điều trị [50] Các nguyên nhân gây

ra mệt mỏi ở người bệnh thường là sự phát triển của bệnh lý, điều trị bằng hóa chất gây độc tế bào, liệu pháp nhắm trúng đích hoặc xạ trị, thiếu máu, rối loạn giấc ngủ và dinh dưỡng kém,…[8] Nhìn chung, mệt mỏi ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của người bệnh bao gồm cả thể chất, tâm lý xã hội, nghề nghiệp,

kinh tế,…

Ngoài ra, người bệnh đang điều trị hóa chất có thể gặp các vấn đề về da (ngứa, đỏ, phát ban, …), các vấn đề về tiêu hóa như tiêu chảy, táo bón,…, độc tính trên tim, gan, thận,… Tùy vào từng phác đồ điều trị, người bệnh sẽ gặp các tác dụng không mong muốn khác nhau với mức độ và tần suất khác nhau [38]

SÓC CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ VÚ ĐANG ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT Tầm quan trọng của kiến thức hóa trị và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú đang điều trị hóa chất

Hóa trị liệu là một phương pháp điều trị ngày càng phổ biến và có hiệu quả cao, tuy nhiên người bệnh trong quá trình điều trị có thể gặp nhiều ảnh hưởng

Trang 22

Các phác đồ điều trị có thể gây ra nhiều tác dụng không mong muốn khác nhau, một số trường hợp có thể đe dọa tính mạng như sốt giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu [7], [39] Một nghiên cứu đã ghi nhận 102 người bệnh ung thư vú nhập viện cấp cứu, trong đó tình trạng sốt không giảm bạch cầu chiếm 27% và sốt có giảm bạch cầu chiếm 24% trong vòng 30 ngày sau khi hóa trị [52] Mặt khác, người bệnh điều trị hóa chất phải thay đổi lối sống như tránh tiếp xúc với đám đông, tránh tiếp xúc với những người mắc bệnh truyền nhiễm (có những bệnh thông thường như cảm lạnh), điều đó đôi khi có thể dẫn tới tình trạng người bệnh cảm thấy mình bị cô lập, ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng cuộc sống của người bệnh [33]

Theo định nghĩa của WHO, tự chăm sóc sức khỏe là cách mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng có khả năng chăm sóc cho nhu cầu thể chất, kiểm soát các vấn

đề bệnh lý nhẹ và các chứng bệnh mãn tính Đây được xem là giải pháp giúp giảm tải áp lực lên hệ thống y tế, kiểm soát thành công chi tiêu y tế, thúc đẩy hành vi chăm sóc sức khỏe phù hợp, trong đó mỗi cá nhân chịu một phần trách nhiệm với sức khỏe của chính mình [57] Ngày nay, hóa trị liệu là một phương pháp điều trị được áp dụng phổ biến tại các cơ sở điều trị cho người bệnh ung thư Thông thường, người bệnh có thể nhập viện để hoàn thành các xét nghiệm và được truyền hóa chất vào ngày hôm sau, khi được bác sĩ đánh giá đủ điều kiện để điều trị Nếu không cần đến các chăm sóc đặc biệt, người bệnh có thể xuất viện từ ngay sau khi kết thúc truyền hóa chất cho đến chu kỳ tiếp theo; vì vậy có khả năng sẽ phải đối mặt với các biến cố bất lợi của thuốc trong quá trình ở nhà Do đó, người bệnh (và/hoặc người chăm sóc) cần có các kiến thức phù hợp cũng như khả năng tự chăm sóc, nhận biết và xử trí đúng đối với các biến cố bất lợi [18], [23]

Để có thể xử trí trước hết người bệnh ung thư vú cần phải có kiến thức về hóa trị Kiến thức về hóa trị là những vấn đề người bệnh cần hiểu biết liên quan đến hóa trị bao gồm mục tiêu và thời gian điều trị, các tác dụng không mong muốn

có thể xảy ra, các biện pháp điều chỉnh lối sống, các nguồn thông tin tra cứu và lý

do cần tránh thai trong khi điều trị [24] Người bệnh có kiến thức hóa trị biết được mục tiêu, ý nghĩa, các vấn đề liên quan của điều trị và áp dụng chúng vào các hành

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 23

vi tự chăm sóc, điều này sẽ giúp cho người bệnh tăng việc tuân thủ điều trị trong các chu kỳ [20] Mặt khác, người bệnh cần nhận biết các tác dụng không mong muốn, cách xử trí phù hợp trong từng trường hợp, đặc biệt là các triệu chứng nghiêm trọng cần phải liên hệ ngay với cơ sở y tế Người bệnh sẽ có lối sống phù hợp trong quá trình điều trị từ đó giúp giảm thiểu các triệu chứng bất lợi, nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh Đồng thời, người bệnh cũng cần biết cách

để tìm kiếm hoặc trao đổi các thông tin liên quan đến phương pháp điều trị của mình qua các nguồn thông tin đáng tin cậy Việc tiếp cận với các nguồn thông tin thiếu chính thống có thể gây hoang mang, lo lắng đối với người bệnh [24] Vì vậy, người bệnh có kiến thức không đầy đủ về hóa trị liệu sẽ dẫn đến các xử trí không đúng làm tăng khả năng nhập viện và giảm chất lượng cuộc sống [54]

Khảo sát về kiến thức hóa trị và hành vi tự chăm sóc trên đối tượng người bệnh ung thư vú đang điều trị hóa chất giúp nhận ra được các vấn đề kiến thức hóa trị và hành vi tự chăm sóc của người bệnh Từ đó nhân viên y tế có thể lập kế hoạch nâng cao kiến thức hóa trị và các hành vi tự chăm sóc bằng các phương pháp khác nhau Ngoài ra, từ kết quả của các nghiên cứu về kiến thức hóa trị và hành vi tự chăm sóc các nhà lâm sàng có thể tổng hợp, chắt lọc những thông tin đầy đủ, chất lượng hơn góp phần giúp người bệnh cân nhắc và lựa chọn hướng điều trị phù hợp nhất [24], [54]

Kiến thức hóa trị của người bệnh ung thư vú đang điều trị hóa chất

1.3.2.1 Các bộ công cụ đánh giá kiến thức hóa trị của người bệnh ung

thư vú

Bộ câu hỏi “Kiến thức về hóa trị” (The Chemotherapy Knowledge Questionnaire) được xây dựng bởi tác giả Dodd và Mood từ năm 1981, gồm có

20 câu hỏi trong các lĩnh vực: tên thuốc, tác dụng không mong muốn có thể xảy

ra, và mục đích của hóa trị Kiến thức về hóa trị được đánh giá dựa trên việc người bệnh có thể phân biệt các yếu tố được đề cập trong các lĩnh vực trên hơn là đánh giá việc người bệnh có thực sự hiểu đúng về kiến thức hóa trị hay không Ngoài

ra, các lĩnh vực đề cập trong bộ câu hỏi chưa thực sự được thẩm định về mức độ liên quan đến hóa trị [24], [26]

Trang 24

Trong nghiên cứu kiến thức về tác dụng không mong muốn của hóa trị của Arunachalam và cộng sự năm 2021 trên đối tượng người bệnh ung thư đang điều trị hóa chất, bộ câu hỏi bao gồm 24 câu liên quan đến tác dụng không mong muốn của hóa trị được sử dụng Người bệnh sẽ lựa chọn đáp án có/không cho từng câu hỏi Mức độ tin cậy của bộ câu hỏi được đánh giá bằng test-re-test với r = 0,72-0,78 (giá trị r càng gần 1 cho thấy mức độ tin cậy của thang càng cao) Tuy nhiên,

bộ công cụ chỉ xoay quanh các tác dụng không mong muốn của hóa trị, kết quả của nghiên cứu sẽ không thể đánh giá một toàn diện kiến thức hóa trị của người bệnh [18]

Một số bộ công cụ được một số bộ công cụ khác đo lường mức độ tái hiện hoặc nhớ lại được kiến thức sau một chương trình tư vấn, hơn là đánh giá kiến thức của người bệnh Các bộ công cụ này thường dựa trên cách tiếp cận từ nội dung của tư vấn người bệnh thay vì tất cả các kiến thức liên quan đến hóa trị và được sử dụng để đánh giá mức độ ghi nhớ của người bệnh sau khi được tư vấn [28], [29]

Từ những hạn chế trên, bộ câu hỏi Leuven về kiến thức về hóa trị của người bệnh ung thư (The Leuven Questionnaire on Patient Knowledge of Chemotherapy, L-PaKC) được phát triển Nhóm tác giả đã xây dựng những chủ

đề về kiến thức mà người bệnh ung thư cần có Những chủ đề này được thẩm định nội dung bởi quy trình lấy đồng thuận Delphi 3 vòng từ một nhóm chuyên gia gồm 3 bác sĩ và 6 điều dưỡng để loại bỏ những chủ đề ít liên quan Bộ câu hỏi sau

đó được thẩm định về nội dung, hình thức, đánh giá độ khó của câu hỏi và độ tin cậy; kết quả nghiên cứu cho thấy bộ câu hỏi độ chính xác và độ tin cậy tốt [24]

1.3.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức hóa trị của người bệnh ung

thư vú

- Các đặc điểm nhân khẩu học:

 Tuổi: Nhiều nghiên cứu đồng thuận rằng tuổi tác tăng lên làm giảm khả năng đọc hiểu của người bệnh cũng là lý do dẫn đến kiến thức về hóa trị của người bệnh còn hạn chế Madden nhận thấy rằng trên các đối tượng người bệnh từ 20 đến 78 tuổi khả năng và tốc độ đọc hiểu giảm dần [40] Rice và Mayer cũng ghi

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 25

nhận rằng người bệnh từ 62 đến 80 tuổi sẽ gặp khó khăn để ghi nhớ nội dung của đoạn văn mình đã đọc hơn so với người trẻ tuổi [49] Trong một nghiên cứu đánh giá khả năng nhận thức của người cao tuổi khẳng định rằng so với người trẻ thì người cao tuổi không thua kém về kỹ năng, kiến thức đã có từ trước Tuy nhiên, đối với các thông tin mới, kiến thức mới, kỹ năng mới thì họ cho thấy việc không linh hoạt, thận trọng vào bảo thủ trong quá trình tiếp thu và đọc hiểu [31]

 Thu nhập: Nhiều nghiên cứu đồng thuận rằng có sự ảnh hưởng của thu nhập đến kiến thức hóa trị của người bệnh Jiang và cộng sự; Lee và cộng sự đã nhận thấy rằng, người bệnh có thu nhập thấp thì có hạn chế về kiến thức hóa trị [30], [36] Trong nghiên cứu của Parker và cộng sự, nhận thấy có sự khác biệt đáng kể

về kiến thức hóa trị ở nhóm có thu nhập thấp nhất (<19.999$/năm) so với những người có thu nhập từ 30.000$/ năm (p = 0,03) [46]

 Trình độ học vấn: Trình độ học vấn là một trong các yếu tố thường được tìm thấy có liên quan đến kiến thức hóa trị Một nghiên cứu mô tả cắt ngang trên

101 người bệnh hóa trị tại Mỹ, kết quả nghiên cứu cho thấy trình độ học vấn cao hơn giúp phụ nữ có kiến thức hóa trị nhiều hơn [30] Osazuwa-Peters và cộng sự

đã nhận thấy, những người bệnh chỉ tốt nghiệp trung học trở xuống có kiến thức thấp hơn so với người bệnh có bằng đại học [45]

 Tình trạng hôn nhân: Tình trạng hôn nhân được tìm thấy có liên quan đến kiến thức hóa trị trong một vài nghiên cứu Parker và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức hóa trị liệu nhận thấy rằng, kiến thức hóa trị bị ảnh hưởng bởi tình trạng hôn nhân (p = 0,018) Kiến thức về hóa trị của phụ

nữ đã kết hôn tốt hơn đáng kể so với phụ nữ đã ly hôn (p = 0,02); tuy nhiên, không tìm thấy sự khác biệt so với những phụ nữ độc thân [46]

- Các đặc điểm về bệnh lý và điều trị

 Giai đoạn bệnh: Villar và cộng sự ghi nhận mối quan hệ giữa giai đoạn bệnh và mức độ lo lắng của người bệnh, giai đoạn bệnh càng tiến triển đồng nghĩa với việc người bệnh càng lo lắng hơn [52]

Trang 26

 Số chu kỳ hóa trị đã hoàn thành: Số chu kỳ hóa trị đã hoàn thành có thể ảnh hưởng đến kiến thức hóa trị của người bệnh Trong nghiên cứu của Dodd & Mood; Rieger & Yarbro nhận thấy người bệnh trải qua nhiều chu kỳ hóa trị có thể có thời gian tiếp xúc, trao đổi các vấn đề liên quan đến hóa trị liệu với nhân viên y tế hoặc những người cùng mắc, tự tìm kiếm thông tin nhiều hơn và do đó, có thể có nhiều

về kiến thức hóa trị liệu hơn [46]

Hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú đang điều trị hóa chất

1.3.3.1 Các bộ công cụ đánh giá hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư

Độ tin cậy của bộ câu hỏi được thiết lập bằng test-re-test trên một nhóm nhỏ gồm

12 người bệnh Tuy vậy bộ câu hỏi có mức độ tin cậy thấp khi đánh giá bằng re-test (r=0,21) [25]

test-Năm 1991, Nail và cộng sự đưa ra nhật ký tự chăm sóc (The Self-care Diary): cũng tương tự như bộ câu hỏi của Dodd nhưng giới hạn ở 17 loại ADE và không hỏi về nguồn thông tin hướng dẫn xử trí Bộ câu hỏi này có độ tin cậy cao hơn (r = 0,80) Tuy nhiên độ tin cậy chỉ dựa trên dữ liệu về mức độ nghiêm trọng của ADE, chỉ có 2 người bệnh và 3 điều dưỡng thẩm định về mặt nội dung của bộ câu hỏi này [42]

Năm 1998, nhật ký tự chăm sóc bản thân phiên bản đầu tiên của Hà Lan dựa trên bộ câu hỏi hành vi tự chăm sóc của Dodd và nhật ký tự chăm sóc của Nail Nội dung của bộ câu hỏi xoay quanh 5 triệu chứng nghiêm trọng nhất mà người bệnh trải qua, cách xử trí của người bệnh và mức độ hiệu quả của các hành động xử trí Tuy nhiên, dữ liệu về độ tin cậy của nhật ký chưa được công bố rõ ràng và người bệnh cảm thấy khó khăn khi phải viết nhiều trong nhật ký [23]

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 27

Bảng câu hỏi về gánh nặng hóa trị của của Tanghe và cộng sự (1998) bao gồm 31 triệu chứng mà người bệnh có thể gặp phải và cung cấp danh sách các xử trí có liên quan đến triệu chứng Bộ câu hỏi được tính trên thang đo Likert 5 mức

độ Nội dung bộ câu hỏi được kiểm duyệt bởi 16 điều dưỡng ung thư từ Hiệp hội điều dưỡng ung thư đến từ Bỉ và Hà Lan [23]

Năm 2021, Arunachalam và cộng sự tiến hành khảo sát về đặc điểm hành

vi tự chăm sóc trên đối tượng người bệnh ung thư đang điều trị hóa chất Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi gồm 22 câu hỏi liên quan đến các triệu chứng người bệnh gặp phải và các đáp án để người bệnh có thể chọn lựa nhằm xác định các phương pháp xử trí khác nhau của người bệnh ung thư đang điều trị hóa chất Mức độ tin cậy của bộ câu hỏi năm trong khoảng r= 0,72-0,76 [18]

Những bộ công cụ trên đều tập trung vào hành vi tự chăm sóc bản thân liên quan đến các tác dụng không mong muốn của hóa trị Tuy nhiên, hành vi tự chăm sóc bản thân trong quá trình hóa trị không phải chỉ bao gồm cách xử trí với các tác dụng không mong muốn mà người bệnh gặp phải Bộ câu hỏi Leuven về tự chăm sóc trong thời gian hóa trị (The Leuven questionnaire for Patient Self-care during Chemotherapy, L-PaSC) đã khắc phục được những nhược điểm trên Bộ câu hỏi sau khi được xây dựng bằng phương pháp lấy đồng thuận Delphi 3 vòng

từ một nhóm chuyên gia gồm 3 bác sĩ và 6 điều dưỡng đã được đánh giá về mức

độ chính xác và độ tin cậy (Cronbach’s Alpha =0,76) trên quần thể lớn người bệnh ung thư Các câu hỏi bao gồm cả nội dung liên quan đến hành vi quản lý các biến

cố bất lợi cũng như tự chăm sóc bản thân của người bệnh trong quá trình hóa trị [23]

1.3.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư

 Tuổi tác: Kết quả giữa các nghiên cứu về ảnh hưởng của tuổi đến hành vi

tự chăm của người bệnh hiện nay chưa thống nhất Lev và cộng sự thực hiện nghiên cứu trên 307 người bệnh ung thư, nhận thấy rằng mức độ hiệu quả khi thực hiện các hành vi tự chăm sóc của người bệnh sẽ giảm dần theo thời gian khi không được can thiệp bổ sung [37] Tương tự, Rogers và cộng sự báo cáo rằng tuổi tác

Trang 28

càng cao thì người bệnh thực hiện các hành vi tự chăm sóc phù hợp càng giảm [51] Tuy nhiên, trong nghiên cứu của mình, Akin và cộng sự không nhận thấy được sự ảnh hưởng của tuổi tác đến các hành vi tự chăm sóc [15]

 Trình độ học vấn: Nhiều nghiên cứu đồng thuận rằng trình độ học vấn là một yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư Các nghiên cứu của Qian và cộng sự, Lam và Fielding, Porter và cộng

sự đều cho rằng người bệnh có trình độ học vấn cao sẽ tự tin hơn và thực hiện các hành vi tự chăm sóc phù hợp hơn [48] Các nghiên cứu cũng nhận thấy, những người bệnh có trình độ học vấn cao hơn có khả năng tìm kiếm và hiểu tốt hơn các nguồn thông tin liên quan đến bệnh, phương pháp điều trị, tác dụng không mong muốn, hành vi xử trí,…[48]

 Nghề nghiệp: Trong nghiên cứu của mình, Lam và Fielding nhận thấy phụ

nữ nội trợ có khả năng tự chăm sóc kém hơn so với những phụ nữ đã nghỉ hưu hoặc đi làm [15] Cùng với kết quả trên trong nghiên cứu của mình, Akin và cộng

sự nhận ra rằng phụ nữ nội trợ ít có khả năng duy trì các hành vi tự chăm sóc và rất cần hỗ trợ trong lĩnh vực này Trong nghiên cứu cũng nhận thấy, phụ nữ nội trợ báo cáo nhiều hơn về triệu chứng thể chất so với phụ nữ nghỉ hưu [35]

 Giai đoạn bệnh: Kết quả giữa các nghiên cứu về ảnh hưởng của giai đoạn bệnh đến hành vi tự chăm sóc của người bệnh hiện nay chưa thống nhất Nghiên cứu của Ogce và cộng sự trên đối tượng phụ nữ ung thư vú tại Thổ Nhĩ Kỳ nhận thấy giai đoạn bệnh tăng ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi tự chăm sóc của người bệnh [44] Tương tự, các nghiên cứu của Qian và cộng sự, Porter và cộng sự đều cho thấy khi giai đoạn bệnh tiến triển thì điểm số của hành vi tự chăm sóc bản thân của người bệnh giảm xuống [48] Tuy nhiên, Akin và cộng sự không tìm thấy mối quan hệ giữa giai đoạn bệnh và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư [15]

DỤNG TRONG THỰC HÀNH ĐIỀU DƯỠNG

- Học thuyết Nightingale:

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 29

Việc làm của Florence Nightingale được xem như mô hình học thuyết và khái niệm cho ngành điều dưỡng Theo Meleis (1997) ghi nhận rằng học thuyết Nightingale dùng môi trường như một phương tiện để điều dưỡng chăm sóc người bệnh, và cũng đề nghị rằng điều dưỡng cần biết tất cả môi trường ảnh hưởng bệnh tật để tận dụng dùng các môi trường chung quanh người bệnh để tác động vào việc chăm sóc Môi trường bao gồm: sự thông khí trong lành, ánh sáng, sức nóng,

sự sạch sẽ, yên tĩnh, vệ sinh cá nhân để lồng ghép vào điều dưỡng và điều trị (Nightingale,1969)

Học thuyết này đến nay vẫn còn giá trị trong thực hành bệnh viện của điều dưỡng, đó là kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, việc quản lý các nguy cơ dẫn đến nhiễm trùng, đề cao những vấn đề vệ sinh và sạch sẽ trong môi trường

- Học thuyết Peplau’s:

Theo Peplau’s mối quan hệ gắn bó giữa điều dưỡng và người bệnh cần được xác định và học thuyết này cũng chỉ rõ quy trình lồng ghép cùng kết quả của việc lồng ghép này Theo học thuyết này, khách hàng là một cá thể, họ có những nhu cầu cá nhân và điều dưỡng là người đáp ứng cho người bệnh trong mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân để chăm sóc điều trị người bệnh Mục tiêu của điều dưỡng là giáo dục cho người bệnh và gia đình họ để giúp đỡ cho người bệnh đạt được việc tự chăm sóc cho chính mình Người điều dưỡng cố gắng phát triển mối quan hệ mật thiết giữa điều dưỡng và người bệnh và điều dưỡng là người cung cấp dịch vụ, là người tư vấn và là người đại diện cho người bệnh

- Học thuyết Henderson:

Virginia Henderson xác định rằng điều dưỡng là sự hỗ trợ cho người bệnh hoặc người khỏe mạnh nếu họ có khả năng hoạt động để hồi phục, giữ gìn sức khỏe hoặc có chết cũng được chết trong cái chết êm ả miễn là họ có đủ nghị lực, kiến thức, ý chí để hợp tác thực hiện Mục tiêu của điều dưỡng là sớm giúp người bệnh đạt được tính độc lập càng sớm càng tốt, học thuyết Henderson chỉ dẫn có 14 nhu cầu cơ bản cho người bệnh bao gồm các nhu cầu về:

Hô hấp bình thường

Trang 30

Ăn uống đầy đủ

Chăm sóc bài tiết

Tránh nguy hiểm, an toàn

Được giao tiếp tốt

Tôn trọng tự do tín ngưỡng

Được tự chăm sóc, làm việc

Vui chơi và giải trí

Học tập có kiến thức cần thiết

- Học thuyết về Orem’s:

Dorothea Orem’s (1971) xác định việc chăm sóc điều dưỡng cần nhấn mạnh

về việc người bệnh tự chăm sóc Orem khẳng định việc tự chăm sóc người bệnh cần được hướng dẫn, chỉ dẫn họ cách thức để tự họ làm, người bệnh sẽ thích thú

vì thấy đời sống của họ vẫn còn có ý nghĩa, sức khỏe được dần dần từng bước được nâng cao Mục tiêu của học thuyết Orem là giúp người bệnh có năng lực tự chăm sóc Khi họ có khả năng về tâm sinh lý và nhu cầu xã hội, việc nâng cao này được phát triển đến khi người bệnh tự làm lấy tất cả (Orem, 2001)

Bà đã đưa ra 3 mức độ có thể tự chăm sóc:

Phụ thuộc hoàn toàn: người bệnh không có khả năng tự chăm sóc, theo dõi và kiểm soát các hoạt động hàng ngày của mình phải nhờ vào điều dưỡng hoặc người chăm sóc trực tiếp cho họ

Phụ thuộc một phần: chăm sóc hỗ trợ khi người bệnh bị hạn chế về việc tự chăm sóc, điều dưỡng cung cấp, giúp đỡ việc chăm sóc một phần cho họ

Không cần phụ thuộc: người bệnh tự mình hoàn toàn chăm sóc, điều dưỡng hướng dẫn, tư vấn cho họ tự làm

- Học thuyết Newman:

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 31

Betty Newmans (1995) xác định việc chăm sóc toàn diện cho con người Người điều dưỡng nhận định, quản lí và đánh giá hệ thống khách hàng Hành động điều dưỡng bao gồm 3 mức độ: phòng ngừa cấp I, II, và III

Phòng ngừa ban đầu: ngay khi con người phát hiện có vấn đề liên quan nguy cơ bệnh tật họ có thể có và cần được can thiệp ngay để không xảy ra

Phòng ngừa cấp II: khi người bệnh có những triệu chứng, dấu chứng được phát hiện có bệnh, cần có kế họach điều trị sớm, không để bệnh nặng thêm

Phòng ngừa cấp III: bệnh rõ ràng cần tích cực điều trị không để bệnh tái phát và không để lại di chứng thông qua giáo dục người bệnh và hỗ trợ họ phòng ngừa

Trang 32

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được tiến hành trên người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất tại

bệnh viện K trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 1 năm 2023

thỏa mãn những tiêu chuẩn chọn mẫu dưới đây

Tiêu chuẩn lựa chọn

- Người bệnh nữ

- Người bệnh từ 18 tuổi trở lên

- Người bệnh được chẩn đoán xác định ung thư vú

- Đang điều trị ung thư vú bằng hóa chất tại bệnh viện K trong giai đoạn

nghiên cứu và đã trải qua ít nhất 1 chu kỳ hóa trị tại bệnh viện

- Người bệnh có khả năng tiếp nhận và trả lời các câu hỏi bằng tiếng việt

- Người bệnh đồng ý tham gia vào nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

- Người bệnh có mắc kèm các bệnh ung thư khác

- Người bệnh được điều trị hóa xạ trị đồng thời hoặc hóa trị kết hợp với các

liệu pháp điều trị ung thư khác trong thời gian nghiên cứu

- Người bệnh mắc các bệnh lý khác ảnh hưởng đến chức năng giao tiếp

hoặc chức năng nghe

- Người bệnh không thể hoàn thành phiếu khảo sát

Thời gian nghiên cứu

Thời gian thu thập dữ liệu từ tháng 09 năm 2022 đến tháng 1 năm 2023

Địa điểm nghiên cứu

Khoa Nội 5, Nội 6 bệnh viện K (Khoa Nội 5 và Nội 6 bệnh viện K là 2 khoa

Nội chuyên điều trị các người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất tại bệnh viện K)

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang, phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp định tính

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 33

Cỡ mẫu

- Nghiên cứu định lượng: 281 người bệnh

- Nghiên cứu định tính: 10 người bệnh

Phương pháp chọn mẫu

- Nghiên cứu định lượng: phương pháp chọn mẫu thuận tiện, lấy mẫu toàn

bộ người bệnh ung thư vú thỏa mãn tiêu chuẩn

- Nghiên cứu định tính: chọn mẫu có chủ đích, sau khi triển khai nghiên cứu định lượng chúng tôi tiến hành lựa chọn 10 người bệnh ung thư vú thuộc 2 nhóm để phỏng vấn sâu: 1 nhóm 5 người bệnh ung thư vú ở thành thị và 1 nhóm 5 người bệnh ung thư vú ở nông thôn

Quy trình thu thập số liệu và dữ liệu nghiên cứu

- Quy trình sàng lọc người bệnh tham gia vào nghiên cứu

 Tại khoa Nội 5, Nội 6 của bệnh viện K, nghiên cứu viên tiếp cận những người bệnh đến điều trị hoá chất theo lịch hẹn

 Nghiên cứu viên xem phiếu công khai thuốc để ở kẹp đầu giường bệnh hoặc trao đổi với người bệnh về bệnh ung thư hiện mắc, phương pháp điều trị hiện tại và số chu kỳ hóa chất đã điều trị trước khi mời người bệnh tham gia nghiên cứu để đảm bảo chỉ khảo sát những người bệnh thoả mãn tiêu chuẩn chọn mẫu Đối với mỗi người bệnh thoả mãn các tiêu chuẩn trên, nghiên cứu viên giới thiệu cho người bệnh các thông tin về nghiên cứu, cung cấp cho người bệnh Bản cung cấp thông tin cho đối tượng tham gia nghiên cứu (PHỤ LỤC 1) và mời người bệnh tham gia nghiên cứu Với người bệnh đồng ý tham gia, nghiên cứu viên cung cấp Đơn chấp thuận tham gia nghiên cứu (PHỤ LỤC 2) để lấy xác nhận của người bệnh về việc chấp thuận tham gia vào nghiên cứu

 Mỗi người bệnh thoả mãn tiêu chuẩn đưa vào mẫu nghiên cứu được nghiên cứu viên quy ước bằng 01 mã ID người bệnh Mã ID người bệnh được quy ước thống nhất trong nghiên cứu và được sử dụng trong quá trình nhập và

xử lí dữ liệu

Trang 34

- Thu thập dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu viên giới thiệu về phiếu khảo sát (PHỤ LỤC 3), cách điền/lựa chọn các phương án trả lời và phát cho người bệnh phiếu câu hỏi để người bệnh

tự đọc và điền câu trả lời Trong trường hợp người bệnh không hiểu nội dung câu hỏi, nghiên cứu viên cần giải thích về mục đích của câu hỏi để người bệnh có thể hiểu và trả lời Phiếu thu được sau khi người bệnh trả lời bao gồm các nội dung sau:

 Thông tin hành chính, đặc điểm nhân khẩu học: họ và tên, số điện thoại, nghề nghiệp, địa chỉ, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, thu nhập trung bình hàng tháng, tỷ lệ bảo hiểm chi trả

 Đặc điểm bệnh lý và điều trị: giai đoạn bệnh, các biện pháp điều trị trước đây (phẫu thuật, xạ trị, nội tiết), số chu kỳ hóa chất đã điều trị, tên phác đồ hóa chất đang điều trị, các bệnh mắc kèm

 Kiến thức hóa trị và hành vi tự chăm sóc của người bệnh: sử dụng thang đo L-PaKC và L-PaSC [23], [24]

Sau khi người bệnh hoàn thành xong bộ câu hỏi, nghiên cứu viên rà soát những thông tin về đặc điểm người bệnh (đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm bệnh

lý và điều trị) còn thiếu và bổ sung tối đa bằng cách tra trên hồ sơ bệnh án giấy

 Thu thập thông tin qua bộ câu hỏi có sẵn với nghiên cứu định lượng Nghiên cứu sử dụng hai bộ công cụ L-PaKC và L-PaSC được phát triển bởi Khoa ung thư thuộc bệnh viện đại học Leuven, Bỉ [23], [24]

- Bộ công cụ L-PaKC

Bộ câu hỏi bao gồm 20 mục: 13 câu hỏi chính với tương ứng 5, 2 và 3 câu hỏi nhỏ cho câu 5, câu 7 và câu 9 [24] Nội dung và cấu trúc bộ câu hỏi L- PaKC được mô tả trong bảng

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 35

Bảng 2.1 Nội dung và cấu trúc của của bộ câu hỏi L-PaKC

câu hỏi Thứ tự câu

Đáp án và cách tính điểm chi tiết cho bộ câu hỏi được trình bày tại PHỤ LỤC 4

- Bộ công cụ L-PaSC

Bộ câu hỏi bao gồm 22 mục: 12 câu hỏi chính với tương ứng 7 và 5 câu hỏi nhỏ cho câu 1 và câu 2 [23] Nội dung và cấu trúc bộ câu hỏi L- PaKC được mô

tả trong bảng

Bảng 2.2 Nội dung và cấu trúc của của bộ câu hỏi L-PaSC

Trang 36

Cách tính điểm: Mỗi câu hỏi được tính 1 điểm trong tổng số điểm Điểm số cuối cùng được tính dựa trên tỷ lệ phần trăm của số câu trả lời đúng chia cho số câu hỏi được áp dụng

Đáp án và cách tính điểm chi tiết từng câu hỏi được trình bày tại PHỤ LỤC

+ Chế độ tham gia BHYT?

+ Thời gian chẩn đoán ung thư vú?

+ Phương pháp đã và đang điều trị ugn thư vú?

- Kiến thức hóa trị của người bệnh ung thư vú

+ Kiến thức về mục đích, thời gian, phác đồ, nguồn thông tin

+ Kiến thức về tác dụng không mong muốn trong quá trình điều trị hóa chất của người bệnh

- Hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú

+ Xử trí các tác dụng không mong muốn trong quá trình truyền hóa chất + Dinh dưỡng trong quá trình truyền hóa chất

- Chi tiết từng câu hỏi được trình bày ở PHỤ LỤC 6

2.4 BIẾN SỐ VÀ CÁC CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 2.3 Các biến số và chỉ số về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Trang 37

Nhóm biến số Biến số Chỉ số và định nghĩa

tượng nghiên

nông thôn Tình trạng kinh

nguyệt - Tỷ lệ % người bệnh đã mãn kinh

Trình độ học vấn

Tỷ lệ % từng loại học vấn + Dưới THPT

+ Từ THPT trở lên

Nghề nghiệp

Tỷ lệ % từng nhóm nghề nghiệp + Lao động thủ công

+ Lao động trí thức + Hưu trí/Nôi trợ

Thu nhập trung bình hàng tháng

Tỷ lệ % thu nhập trung bình hàng tháng:

+ Dưới 5 triệu + Từ 5 triệu trở lên

Tình trạng kết hôn

Tỷ lệ % từng nhóm tình trạng hôn nhân

+ Đã kết hôn, sống cùng chồng + Độc thân/ly thân/ly dị

BHYT

Tỷ lệ % người bệnh có BHYT + ≤ 80%

+ > 80%

Đặc điểm bệnh lý của người bệnh

- Tỷ lệ % người bệnh ở các giai đoạn: + GĐ I

+ GĐ II + GĐ III + GĐ di căn/tái phát

Trang 38

Nhóm biến số Biến số Chỉ số và định nghĩa

- Thời gian người bệnh có chẩn đoán ung thư vú:

+ Tỷ lệ % người bệnh có thời gian chẩn đoán ≤12 tháng

+ Tỷ lệ % người bệnh có thời gian chẩn đoán >12 tháng

- Tỷ lệ % người bệnh có bệnh khác mắc kèm

Đặc điểm điều trị của người bệnh ung thư

- Tỷ lệ % người bệnh:

+ Không phẫu thuật + Phẫu thuật cắt tuyến vú toàn bộ + Phẫu thuật bảo tồn

- Tỷ lệ % người bệnh đã từng xạ trị

- Tỷ lệ % người bệnh đã từng điều trị nội tiết

- Tỷ lệ % người bệnh đang điều trị phác đồ:

+ Đơn trị liệu + Đa trị liệu

- Tỷ lệ % đường dùng hóa chất trong phác đồ:

+ Đường truyền + Đường uống

- Số chu kỳ hóa trị:

+ Trung vị (tứ phân vị) + Nhỏ nhất – lớn nhất

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 39

Kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất

Bảng 2.4 Các biến số và chỉ số về kiến thức hóa trị và hành vi tự chăm sóc

của người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất

Kiến thức hóa

trị của người

bệnh ung thư

Kiến thức chung về hóa

biến số

- Tỷ lệ % của từng chỉ số trong nhóm biến số

- Giá trị nhỏ nhất, lớn nhất

- Độ lệch chuẩn

Kiến thức về tác dụng không mong muốn Kiến thức về nguồn thông tin

Kiến thức về hóa trị đường uống

- Độ lệch chuẩn

Xử trí các triệu chứng Tổng điểm hành vi tự chăm sóc

Các yếu tố liên quan đến kiến thức hóa trị và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất

Bảng 2.5 Các biến số về yếu tố liên quan tới kiến thức hóa trị và hành vi tự

chăm sóc của người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất

- Giá trị 95%CI

- Giá trị p

Yếu tố về nhóm tuổi Yếu tố về trình độ học vấn Yếu tố về nơi ở

Yếu tố về tình trạng kinh nguyệt

Yếu tố về tình trạng hôn nhân

Trang 40

Nhóm biến số Biến số Chỉ số và định nghĩa

Yếu tố về tỷ lệ BHYT chi trả Yếu tố về giai đoạn bệnh Yếu tố về phương pháp điều trị

Tư vấn trước nghiên cứu

Lập danh sách người bệnh tham gia nghiên cứu thỏa mãn tiêu chuẩn

Danh dách người bệnh nông thôn

Nhập liệu, phân tích

và xử lý số liệu

Phỏng vấn sâu (nghiên cứu định tính)

Kết quả nghiên cứu

Ngày đăng: 12/09/2023, 23:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y tế (2020), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư vú, Quyết định số 3128/QĐ-BYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư vú
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2020
4. Bộ Y tế (2017), Hướng dẫn phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ, theo Quyết định số 51/2017/TT-BYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2017
5. Bùi Diệu (2011), “Phục hồi chức năng sau phẫu thuật vú”, Những kiến thức cơ bản về phòng chống ung thư, NXB y học, tr. 271-278 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kiến thức cơ bản về phòng chống ung thư
Tác giả: Bùi Diệu
Nhà XB: NXB y học
Năm: 2011
6. Bùi Diệu (2011), “buồn nôn và nôn”, Những kiến thức cơ bản về phòng chống ung thư, NXB y học, tr. 236-261 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kiến thức cơ bản về phòng chống ung thư
Tác giả: Bùi Diệu
Nhà XB: NXB y học
Năm: 2011
7. Bùi Diệu (2011), “Tìm hiểu về hóa trị liệu”, Những kiến thức cơ bản về phòng chống ung thư, NXB y học, tr. 230-231 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kiến thức cơ bản về phòng chống ung thư
Tác giả: Bùi Diệu
Nhà XB: NXB y học
Năm: 2011
9. Đào Thị Yến Phi (2020), Dinh dưỡng trong điều trị ung thư, NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng trong điều trị ung thư
Tác giả: Đào Thị Yến Phi
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2020
10. Nguyễn Nhật Tân (2004), Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật Patey trong điều trị ung thư vú giai đoạn I, II, IIIa tại bệnh viện K Hà Nội, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ chuyên khoa cấp II, Trường đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật Patey trong điều trị ung thư vú giai đoạn I, II, IIIa tại bệnh viện K Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Nhật Tân
Nhà XB: Trường đại học Y Hà Nội
Năm: 2004
11. Hoàng Thị Minh Thu (2017), Phân tích thực trạng phác đồ trị liệu và các biến cố bất lợi trên người bệnh ung thư vú điều trị tại trung tâm Ung bướu - bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ Dược học, Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn thạc sĩ Dược học
Tác giả: Hoàng Thị Minh Thu
Nhà XB: Đại học Dược Hà Nội
Năm: 2017
12. Trần Văn Thuấn, Lê Văn Quảng (2019), Hướng dẫn chăm sóc người bệnh ung thư, NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chăm sóc người bệnh ung thư
Tác giả: Trần Văn Thuấn, Lê Văn Quảng
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2019
13. Bích Thủy – Hải Yến (2010), “cuộc sống sau khi mắc bệnh”, Cẩm nang vú và các bệnh về vú nguyên nhân - chẩn đoán – điều trị, NXB y học, tr. 421-424 Sách, tạp chí
Tiêu đề: cẩm nang vú và các bệnh về vú nguyên nhân - chẩn đoán – điều trị
Tác giả: Bích Thủy, Hải Yến
Nhà XB: NXB y học
Năm: 2010
14. Nguyễn Sào Trung (1996), Đặc tính giải phẫu bệnh - lâm sàng của ung thư vú, Tài liệu Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc tính giải phẫu bệnh - lâm sàng của ung thư vú
Tác giả: Nguyễn Sào Trung
Nhà XB: Tài liệu Y học
Năm: 1996
15. Bộ Y tế và nhóm đối tác (2020). Hướng bao phủ chăm sóc sức khoẻ toàn dân. Báo cáo chung tổng quan ngành Y tế năm 2013, Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng bao phủ chăm sóc sức khoẻ toàn dân
Tác giả: Bộ Y tế và nhóm đối tác
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2020
19. Arunachalam Serma Subathra, Shetty Asha P, et al. (2021), "Study on knowledge of chemotherapy's adverse effects and their self-care ability to manage-The cancer survivors impact", 11, pp. 100765 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Study on knowledge of chemotherapy's adverse effects and their self-care ability to manage-The cancer survivors impact
Tác giả: Arunachalam Serma Subathra, Shetty Asha P, et al
Năm: 2021
22. Cancer International Agency for Research on (2020), "Globocan 2020: Viet Nam&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Globocan 2020: Viet Nam
Tác giả: International Agency for Research on Cancer
Năm: 2020
28. Hesketh P. J., Batchelor D., et al. (2004), "Chemotherapy-induced alopecia: psychosocial impact and therapeutic approaches", Support Care Cancer, 12(8), pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chemotherapy-induced alopecia: psychosocial impact and therapeutic approaches
Tác giả: Hesketh P. J., Batchelor D., et al
Năm: 2004
34. Kneece J. C (2017), "Breast Cancer Treatment Handbook (2nd ed)&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Breast Cancer Treatment Handbook
Tác giả: Kneece J. C
Năm: 2017
35. Kurian Allison W., Carlson Robert W. (2010), "Principles of Breast Cancer Therapy", Breast Cancer Epidemiology, Li Christopher, Springer New York, New York, NY, pp. 371-388 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Principles of Breast Cancer Therapy
Tác giả: Kurian Allison W., Carlson Robert W
Nhà XB: Springer New York
Năm: 2010
16. Akin Semiha, Can Gulbeyaz, et al. (2008), "The quality of life and self-efficacy of Turkish breast cancer patients undergoing chemotherapy", 12(5), pp. 449-456 Khác
17. Alphonse Taghian MD, PhD, (2021), "Adjuvant radiation therapy for women with newly diagnosed, non-metastatic breast cancer&#34 Khác
18. Alphonse Taghian MD, PhDSofia D Merajver, MD, PhD, (2021), "Overview of the treatment of newly diagnosed, invasive, non-metastatic breast cancer&#34 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2 Các phương pháp điều trị ung thư vú - Kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất tại bệnh viện k năm 2022
Hình 1.2 Các phương pháp điều trị ung thư vú (Trang 15)
Bảng 2.1 Nội dung và cấu trúc của của bộ câu hỏi L-PaKC - Kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất tại bệnh viện k năm 2022
Bảng 2.1 Nội dung và cấu trúc của của bộ câu hỏi L-PaKC (Trang 35)
Bảng 2.2 Nội dung và cấu trúc của của bộ câu hỏi L-PaSC - Kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất tại bệnh viện k năm 2022
Bảng 2.2 Nội dung và cấu trúc của của bộ câu hỏi L-PaSC (Trang 35)
Sơ đồ 2.1 Quy trình nghiên cứu - Kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất tại bệnh viện k năm 2022
Sơ đồ 2.1 Quy trình nghiên cứu (Trang 40)
Bảng 3.3 cho thấy, đa số người bệnh đã phẫu cắt tuyến vú toàn bộ (49,1%), - Kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất tại bệnh viện k năm 2022
Bảng 3.3 cho thấy, đa số người bệnh đã phẫu cắt tuyến vú toàn bộ (49,1%), (Trang 47)
Bảng 3.5 thống kê tỷ lệ người bệnh trả lời đúng liên quan đến kiến thức  nguồn thông tin - Kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất tại bệnh viện k năm 2022
Bảng 3.5 thống kê tỷ lệ người bệnh trả lời đúng liên quan đến kiến thức nguồn thông tin (Trang 51)
Bảng 3.6 thể hiện điểm số trung bình của kiến thức hóa trị và các khía cạnh  nghiên cứu (kiến thức chung về hóa trị, kiến thức về tác dụng không mong muốn,  kiến thức về nguồn thông tin, kiến thức về hóa trị đường uống) - Kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất tại bệnh viện k năm 2022
Bảng 3.6 thể hiện điểm số trung bình của kiến thức hóa trị và các khía cạnh nghiên cứu (kiến thức chung về hóa trị, kiến thức về tác dụng không mong muốn, kiến thức về nguồn thông tin, kiến thức về hóa trị đường uống) (Trang 53)
Bảng 3.7 thể hiện, trong các khuyến cáo, uống nước tối thiểu 1,5L/ngày, vệ  sinh răng miệng và tránh tiếp xúc với người ốm/người mắc bệnh truyền nhiễm  được phần lớn người bệnh thực thiện đúng với tỷ lệ lần lượt là 94,3%; 96,8% và - Kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất tại bệnh viện k năm 2022
Bảng 3.7 thể hiện, trong các khuyến cáo, uống nước tối thiểu 1,5L/ngày, vệ sinh răng miệng và tránh tiếp xúc với người ốm/người mắc bệnh truyền nhiễm được phần lớn người bệnh thực thiện đúng với tỷ lệ lần lượt là 94,3%; 96,8% và (Trang 54)
Bảng 3.9 thể hiện điểm số trung bình của hành vi tự chăm sóc và khía cạnh  nghiên cứu (tuân thủ khuyến cáo điều trị, xử trí triệu chứng) - Kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất tại bệnh viện k năm 2022
Bảng 3.9 thể hiện điểm số trung bình của hành vi tự chăm sóc và khía cạnh nghiên cứu (tuân thủ khuyến cáo điều trị, xử trí triệu chứng) (Trang 56)
Bảng 3.10 cho thấy, khi phân tích đơn biến, có 3 yếu tố ảnh hưởng đến kiến  thức hóa trị của người bệnh: tỷ lệ bảo hiểm chi trả cho hóa trị (p=0,041); giai đoạn  bệnh (p=0,017); thời gian chẩn đoán có ung thư vú (p=0,009) - Kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất tại bệnh viện k năm 2022
Bảng 3.10 cho thấy, khi phân tích đơn biến, có 3 yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức hóa trị của người bệnh: tỷ lệ bảo hiểm chi trả cho hóa trị (p=0,041); giai đoạn bệnh (p=0,017); thời gian chẩn đoán có ung thư vú (p=0,009) (Trang 64)
Bảng 3.12 cho thấy, khi phân tích đơn biến, có 6 yếu tố ảnh hưởng đến hành - Kiến thức và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ung thư vú điều trị hóa chất tại bệnh viện k năm 2022
Bảng 3.12 cho thấy, khi phân tích đơn biến, có 6 yếu tố ảnh hưởng đến hành (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w