TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG LÊ THÀNH CÔNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP CỦA NGƯỜI BỆNH TẠI HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN, PHÂN TÍCH THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ ĐỀ RA GIẢI P
Trang 1LÊ THÀNH CÔNG
KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP
CỦA NGƯỜI DÂN TẠI HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN, PHÂN TÍCH THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ ĐỀ RA GIẢI PHÁP CẢI THIỆN KIẾN THỨC,
THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI DÂN
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA II
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 62.72.76.05
HÀ NỘI - 2016 HUPH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
LÊ THÀNH CÔNG
KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP
CỦA NGƯỜI BỆNH TẠI HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN, PHÂN TÍCH THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ ĐỀ RA GIẢI PHÁP CẢI THIỆN KIẾN THỨC,
THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI DÂN
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA II
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 62.72.76.05
PGS.TS PHẠM TRÍ DŨNG
HÀ NỘI - 2016 HUPH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học và quý Thầy, Cô Trường Đại học Y tế công cộng đã tận tình giảng dạy, cung cấp kiến thức quý báu và hướng dẫn Tôi trong suốt hai năm học vừa qua
Với tất cả sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn – PGS.TS Phạm Trí Dũng người Thầy đã tận tình hướng dẫn,
hỗ trợ, giúp đỡ, truyền đạt những kinh nghiệm và tạo mọi điều kiện nhằm giúp em hoàn thành tốt luận án này
Tôi xin trân trọng cám ơn quý Thầy, Cô các bộ môn, các bạn đồng nghiệp, các bạn học viên Lớp chuyên khoa II – Tổ chức Quản lý Y tế - Khóa 1, Đồng Tháp năm học 2014 - 2016 đã có những ý kiến đóng góp quý báu giúp Tôi trong khi làm luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn Trường CĐYT Đồng Tháp, UBND huyện Đức Hòa
đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc điều tra, cũng như cung cấp những tài liệu tham khảo giúp chúng tôi thu thập được những thông tin chính xác, trung thực làm
cơ sở hoàn thành nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Lê Thành Công
HUPH
Trang 4ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
HATT Huyết áp tâm thu
HATTr Huyết áp tâm trương
PTCS Phổ thông cơ sở
PTTH Phổ thông trung học
TBMMN Tai biến mạch máu não
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
HUPH
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Định nghĩa và phân loại tăng huyết áp 4
1.2 Biểu hiện của bệnh tăng huyết áp 5
1.3 Tổn thương cơ quan đích có thể gặp trong tăng huyết áp - Tim 7
1.4 Bệnh tăng huyết áp và một số nghiên cứu ở một số nước trên thế giới 8
1.5 Nghiên cứu về bệnh tăng huyết áp ở Việt Nam 9
1.6 Một số yếu tố ảnh hương đến bệnh tăng huyết áp 11
1.7 Mục tiêu điều trị tăng huyết áp 15
1.8 Điều trị tăng huyết áp 16
1.9 Kết quả điều trị và một số nghiên cứu tại Việt Nam 19
1.10 Đặc điểm tình hình địa bàn nghiên cứu 21
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Địa điểm nghiên cứu 23
2.3 Thời gian nghiên cứu 23
2.4 Phương pháp nghiên cứu 23
2.5 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 23
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 24
2.7 Xử lý và phân tích số liệu 25
2.8 Các biến số nghiên cứu định lượng 26
2.9 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức và thực hành về điều trị điều trị bệnh tăng huyết áp trong nghiên cứu 30
2.10 Đạo đức nghiên cứu 32
2.11 Hạn chế nghiên cứu và biện pháp khắc phục 32
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 34
HUPH
Trang 63.2 Kiến thức điều trị tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu 36
3.3 Thực hành điều trị tăng huyết áp của ĐTNC 40
3.4 Thuận lợi và khó khăn điều trị tăng huyết áp của người dân tại huyện Đức Hòa, tỉnh Long An 48
3.5 Giải pháp cải thiện kiến thức, thực hành điều trị bệnh tăng huyết áp của người dân 50
Chương 4: BÀN LUẬN 52
4.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 52
4.2 Một số đặc điểm bệnh tật của đối tượng nghiên cứu 53
4.3 Kiến thức về điều trị tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu 54
4.4 Thực hành điều trị tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu 55
4.5 Một số một số giải pháp quản lý và thực hành điều trị bệnh tăng huyết áp tại huyện Đức Hòa, tỉnh Long An 58
KẾT LUẬN 61
KHUYẾN NGHỊ 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHỤ LỤC 69
HUPH
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Chia độ tăng huyết áp theo WHO/ISH (năm 2003) 4
Bảng 1.2: Phân độ tăng huyết áp theo JNC VII (năm 2003) 5
Bảng 1.3: Phân loại tăng huyết áp tại Việt Nam hiện nay 5
Bảng 2.1: Các biến số của nghiên cứu 2626
Bảng 2.2: Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức đạt 300
Bảng 2.3: Tiêu chuẩn đánh giá thực hành đạt 311
Bảng 3.1: Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 344
Bảng 3.2: Đặc điểm tình hình bệnh tật của đối tượng nghiên cứu 3535
Bảng 3.3: Đánh giá kiến thức về điều trị THA 36
Bảng 3.4: Kiến thức về điều trị THA của đối tượng nghiên cứu 377
Bảng 3.5: Kiến thức về điều trị THA của đối tượng nghiên cứu 388
Bảng 3.6: Đánh giá thực hành về điều trị THA 400
Bảng 3.7: Thực hành về điều trị THA của đối tượng nghiên cứu 411
Bảng 3.8: Thực hành về sử dung thuốc trong điều trị THA 412
Bảng 3.9: Thực hành về chế độ ăn uống trong điều trị THA 433
Bảng 3.10: Thực hành về sinh hoạt, luyện tập trong điều trị THA 455
Bảng 3.11: Thông tin về sự hỗ trợ trong điều trị THA 4747
HUPH
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ kiến thức điều trị THA 2637
Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ thực hành điều trị THA 2640
Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ thực hiện chế độ uống thuốc ở BN nam và nữ 2641
Biểu đồ 3.4: Lý do không uống thuốc đầy đủ 2643
Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ sử dụng rượu bia, hút thuốc lá theo giới tính 2645
Biểu đồ 3.6: Lý do không đi khám bệnh định kỳ 2646
Biểu đồ 3.7: Tình hình luyện tập và đi khám định kỳ ở BN nam và nữ 2647
HUPH
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Tăng huyết áp (THA) là bệnh mạn tính phổ biến trong cộng đồng và là yếu
tố nguy cơ quan trọng hàng đầu đối với bệnh tim mạch Ðiều trị THA cần phải liên tục, kéo dài, phải được theo dõi và tuân thủ chặt chẽ Trên thực tế việc phát hiện, quản lý và điều trị người bệnh THA tại cộng đồng gặp rất nhiều khó khăn, công tác quản lý bệnh THA chủ yếu tại các cơ sở y tế tuyến huyện, tỉnh Nghiên cứu Kiến thức và thực hành điều trị tăng huyết áp của người bệnh tại huyện Đức Hòa tỉnh Long An, phân tích thuận lợi, khó khăn và đề ra giải pháp cải thiện kiến thức, thực hành của người dân, nhằm mục tiêu: (1) Mô tả kiên thức, thực hành điều trị tăng huyết áp của người bệnh tại huyện Đức Hòa, Long An (2) Phân tích thuận lợi, khó khăn và giải pháp cải thiện kiến thức, thực hành của người dân Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định tính và định lượng, thời gian nghiên cứu tiến hành từ 3/2016 đến 8/2016 Thu thập số liệu định lượng qua phỏng vấn 260 người mắc THA qua bộ câu hỏi được thiết kế sẵn; số liệu định tính qua phỏng vấn sâu 3 Trưởng trạm y tế, 2 cuộc thảo luận nhóm người mắc THA Kết quả nghiên cứu cho thấy kiến thức chung về điều trị THA của đối tượng nghiên cứu đạt là 31,2% và thực hành điều trị THA đạt là 39,2% Nghiên cứu cũng đưa ra một số thuận lợi, khó khăn và giải pháp cải thiện kiến thức, thực hành của người dân tại huyện Đức Hòa, Long An
HUPH
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp (THA) là một bệnh phổ biến và hiện nay đang là vấn đề thời
sự của y tế cộng đồng, số người mắc bệnh ngày càng tăng ở khắp mọi nơi trên thế giới Theo báo cáo WHO năm 2005, trong số 17,5 triệu người chết do các bệnh tim mạch thì tăng Huyết áp là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong của 7,1 triệu người Tại Hoa Kỳ, hàng năm chi phí cho phòng, chống bệnh THA trên 259 tỷ đô la Mỹ [32] Tăng huyết áp là bệnh mãn tính, phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam,
là mối đe doạ rất lớn đối với sức khỏe của con người Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tăng huyết áp là một trong sáu yếu tố nguy cơ chính ảnh hưởng đến phân
bố gánh nặng toàn cầu [7] THA là yếu tố nguy cơ cao đối với bệnh tim mạch, thường dẫn đến các biến chứng nặng nề như: suy tim, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não, xuất huyết não, suy thận, giảm thị lực, mù lòa dẫn đến ảnh hưởng lớn đến thể chất, tinh thần cũng như vật chất của người bệnh, gia đình và xã hội Tăng huyết áp cũng là nguyên nhân gây tàn phế và tử vong hàng đầu ở các nước đã và đang phát triển Năm 2008, trên Thế giới có khoảng 16,5 triệu người chết vì THA [16]
Theo WHO, tỉ lệ mắc tăng huyết áp là 8 - 18% dân số, thay đổi từ các nước Châu Á như Indonesia 6 - 15%, Malaysia 10 - 11%, Đài Loan 28%, tới các nước Âu
- Mỹ như Hà Lan 37%, Pháp 10 - 24%, Hoa Kỳ 24% [28] Thống kê tại Hoa Kỳ năm 2006, có khoảng trên 74,5 triệu người Mỹ bị THA; cứ 3 người lớn có một người bị THA [17] Trung Quốc năm 2002 ước tính có khoảng 153 triệu người mắc THA [2] Vì vậy, THA là vấn đề lớn đối với y tế cộng đồng đòi hỏi phải có sự can thiệp tích cực và thường xuyên [19] Nhiều nước trên thế giới đã có chương trình quốc gia phòng chống THA
Tại Việt Nam, tần suất THA ngày càng gia tăng và đáng báo động và là nguyên nhân đứng hàng đầu dẫn đến tỷ lệ tử vong Năm 2002, theo điều tra dịch tễ học tại 4 tỉnh phía Bắc Việt Nam ở người dân lớn 25 tuổi thì tỷ lệ THA là 16,3% [7] Theo Nguyễn Lân Việt – viện trưởng Viện Tim Mạch Việt Nam cho biết năm
2005 là 18,3% và năm 2008 tỷ lệ đã gia tăng lên đến 25,1% Cứ 4 người lớn thì có 1 người bị tăng huyết áp [31] Một điều tra gần đây nhất (2008) của Viện Tim mạch
HUPH
Trang 11Việt Nam tiến hành ở người lớn (từ 25 tuổi trở lên) tại 8 tỉnh và thành phố của nước
ta thì thấy tỷ lệ THA đã tăng lên đến 25,1% Theo Tổng cục Thống kê, dân số hiện nay của nước ta hiện nay là khoảng 88 triệu dân [23], thì ước tính sẽ có 11 triệu người bị THA
Tăng huyết áp ở người lớn đại đa số 90 - 95% là không có căn nguyên, chỉ một số nhỏ 5-10% là có căn nguyên [3] Hầu hết các người bệnh bị THA (trên 90%) thường không có dấu hiệu nào cảnh báo trước Do vậy, rất nhiều người bệnh khi đã
bị các biến chứng của THA, thậm chí tử vong mới biết mình bị THA hoặc mới hiểu
rõ việc khống chế tốt THA là quan trọng thế nào [16], [14]
Ðiều trị THA cần phải liên tục, kéo dài , phải được theo dõi và tuân thủ chặt chẽ Trên thực tế việc phát hiện, quản lý và điều trị người bệnh THA tại cộng đồng gặp rất nhiều khó khăn Có nhiều yếu tố ảnh hưởng như người dân còn nghèo chưa
đủ tiền theo dõi, điều trị, thiếu sự quan tâm, thiếu hiểu biết, trình độ học vấn thấp
Do đó cần các giải pháp phòng, chống bệnh THA cho cộng đồng dân cư Huyện Ðức Hoà - Tỉnh Long An Chính vì vây, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Kiến thức và
thực hành điều trị tăng huyết áp của người bệnh tại huyện Đức Hòa tỉnh Long
An, phân tích thuận lợi, khó khăn và đề ra giải pháp cải thiện kiến thức, thực hành của người dân”
HUPH
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1- Mô tả kiên thức, thực hành điều trị tăng huyết áp của người bệnh tại huyện Đức Hòa, Long An
2- Phân tích thuận lợi, khó khăn và giải pháp cải thiện kiến thức, thực hành của người dân
HUPH
Trang 13Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Định nghĩa và phân loại tăng huyết áp
1.1.1 Định nghĩa tăng huyết áp
Theo WHO: một người lớn được gọi là THA khi HA tối đa, (HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc HA tối thiểu, HA tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hàng ngày hoặc có ít nhất 2 lần được bác sỹ chẩn đoán là THA [28], [5], [36] Đây không phải tình trạng bệnh lý độc lập mà là do một số rối loạn với nhiều nguyên nhân, các triệu chứng đa dạng, đáp ứng với điều trị cũng rất khác nhau THA cũng là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh tim mạch khác như: tai biến mạch máu não, bệnh mạch vành
1.1.2 Phân loại tăng huyết áp
Phân loại tăng huyết áp Phân loại THA có nhiều thay đổi trong những năm gần đây Theo WHO/ISH (năm 2003) chia lại THA làm 3 độ [14] [11] [36]:
Bảng 1.1: Chia độ tăng huyết áp theo WHO/ISH (năm 2003)
- Liên Uỷ ban quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá, điều trị THA Hoa
Kỳ (Join National Committee – JNC) lại đưa phân loại hơi khác qua các kỳ họp (JNC IV 1988, JNC V 1993, JNC VI 1997) và gần đây JNC VII (năm 2003) chia THA như sau [29]:
HUPH
Trang 14Bảng 1.2: Phân độ tăng huyết áp theo JNC VII (năm 2003)
- Cách phân loại THA tại Việt Nam: xuất phát từ cách phân độ THA của
WHO/ISH và JNC, Hội tim mạch Việt Nam đã đưa ra cách phân độ như sau [8]:
Bảng 1.3: Phân loại tăng huyết áp tại Việt Nam hiện nay
Nếu HATT và HATTr ở 2 phân độ khác nhau tính theo trị số HA lớn hơn
1.2 Biểu hiện của bệnh tăng huyết áp
1.2.1 Lâm sàng
Người bệnh bị THA đa số đều không có triệu chứng gì cho tới khi phát hiện
ra bệnh Hay gặp nhất đau đầu vùng chẩm và hai bên thái dương, ngoài ra có thể có
hồi hộp, mệt, khó thở, mờ mắt, tê đầu chi , một số các triệu chứng khác tuỳ thuộc
vào nguyên nhân hoặc biến chứng của THA [23]
HUPH
Trang 15* Đo HA là động tác quan trọng nhất có ý nghĩa chẩn đoán xác định Số đo
HA được đánh giá theo tiêu chuẩn của Hội Tim mạch học Việt Nam như sau:
Tại phòng khám: Khi người bệnh có trị số HA ≥140/90mmHg Sau khám lại lâm sàng ít nhất 2 hoặc 3 lần khác nhau Mỗi lần khám được đo ít nhất 2 lần [11]
Tại nhà khi đo nhiều lần đúng phương pháp THA có trị số HA >135/85 mmHg
- Các dấu hiệu lâm sàng khác: Người bệnh có thể béo phì, mặt tròn, cơ chi trên phát triển hơn cơ chi dưới trong hẹp eo động mạch chủ Tìm các biểu hiện vữa
xơ động mạch trên da (u vàng, u mỡ…)
- Khám tim phổi có thể phát hiện sớm dày thất trái hay dấu hiệu suy tim trái
Sờ và nghe động mạch để phát hiện các trường hợp nghẽn hay tắc động mạch cảnh
- Khám bụng có thể phát hiện tiếng thổi tâm thu hai bên rốn, trong hẹp động mạch thận, phồng động mạch chủ hoặc phát hiện thận to, thận đa nang
- Khám thần kinh có thể phát hiện các tai biến mạch máu não cũ hoặc nhẹ
1.2.2 Cận lâm sàng
Mục đích để đánh giá nguy cơ tim mạch, tổn thương thận và tìm nguyên nhân
1.2.2.1 Những xét nghiệm tối thiểu
* Máu: công thức máu, Ure, Creatinin, điện giải đồ, Cholesterol toàn phần, HDL - C, LDL - C, Glucose, Acid uric trong máu
* Nước tiểu: Protein, hồng cầu…
* Soi đáy mắt, điện tâm đồ, X quang tim, siêu âm tim…
1.2.2.2 Những xét nghiệm hay trắc nghiệm đặc biệt
* Đối với THA thứ phát hay THA khó xác định nghi ngờ có bệnh mạch thận: chụp UIV nhanh, thận đồ
* U tuỷ thượng thận định lượng Catecholamin nước tiểu 24h
HUPH
Trang 161.3 Tổn thương cơ quan đích có thể gặp trong tăng huyết áp - Tim
Suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và là nguyên nhân tử
vong cao nhất đối với THA: dày thất trái gây suy tim toàn bộ, suy mạch vành gây
nhồi máu cơ tim, phù phổi cấp [8] THA thường xuyên sẽ làm cho thất trái to ra, về
lâu dài, thất trái bị giãn; khi sức co bóp của tim bị giảm nhiều thì sẽ bị suy tim, lúc
đầu suy tim trái rồi suy tim phải và trở thành suy tim toàn bộ Về lâm sàng, lúc đầu
người bệnh mệt mỏi, khó thở khi gắng sức, về sau với gắng sức vừa cũng khó thở
và đến giai đoạn cuối của bệnh thì khó thở cả khi đi ngủ Ngoài ra người bệnh còn
có da xanh, phù, tím tái…
Về cận lâm sàng có các biểu hiện sớm trên điện tâm đồ như: thiếu máu cơ
tim, blook nhánh phải hoàn toàn, blook nhánh phải không hoàn toàn, tăng gánh thất
trái, ngoại tâm thu thất, dày thất trái…
- Não: Tai biến mạch máu não thường gặp như: nhũn não, xuất huyết não có
thể tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề Có thể chỉ gặp tai biến mạch máu não
thoáng qua với các triệu chứng thần kinh khu trú không quá 24 giờ hoặc bệnh não
do THA với lú lẫn, hôn mê kèm co giật, nôn mửa, nhức đầu dữ dội [8]
- Thận:
+ Xơ vữa động mạch thận sớm và nhanh
+ Xơ thận gây suy thận dần dần
+ Hoại tử dạng tơ huyết tiểu động mạch thận gây THA ác tính
+ Giai đoạn cuối thiếu máu cục bộ nặng ở thận sẽ dẫn đến nồng độ Renin và
Angiotensin II trong máu tăng gây cường Aldosteron thứ phát
- Mạch máu: THA là yếu tố gây vữa xơ động mạch [37] phồng động mạch
chủ
- Mắt: Soi đáy mắt có thể thấy tổn thương đáy mắt Theo Keith-Wagener
Barker có 4 giai đoạn tổn thương đáy mắt [5]:
+ Giai đoạn I: Tiểu động mạch cứng và bóng
+ Giai đoạn II: Tiểu động mạch hẹp có dấu hiệu bắt chéo tĩnh mạch (dấu hiệu Salus Gunn)
HUPH
Trang 17+ Giai đoạn III: Xuất huyết và xuất tiết võng mạc nhưng chưa có phù gai thị + Giai đoạn IV: Phù lan toả gai thị
1.4 Bệnh tăng huyết áp và một số nghiên cứu ở một số nước trên thế giới
Bệnh THA trong cộng đồng ngày càng gia tăng và hiện tại đang ở mức cao, đặc biệt các nước phát triển Tại các nước phát triển có hình thái bệnh tật chuyển đổi từ các bệnh nhiễm trùng là chủ yếu sang các bệnh không nhiễm trùng là chính, trong đó có bệnh THA Tỷ lệ hiện mắc hiệu chỉnh theo tuổi ở nam là 39% so với nữ 23,1% Nhưng tỷ lệ THA ở nam chỉ cao hơn ở nữ lứa tuổi trước tuổi 45 Ở độ tuổi
45 - 54, tỷ lệ THA ở nữ bắt đầu nhỉnh hơn ở nam giới và ở các độ tuổi lớn hơn tỷ lệ THA ở nữ cao hơn nam [26] THA được coi là nguyên nhân chủ yếu hoặc góp phần chính trong 11,4% các ca tử vong ở Mỹ năm 2003 Trong vòng 10 năm (1993 - 2003), tỷ lệ tử vong do THA tăng 29,3%, số ca tử vong tăng 56,1% THA giai đoạn
II trở lên (HA ≥ 160/95 mmHg) làm tăng nguy cơ đột quỵ thêm 4 lần so với người
có HA bình thường [34] THA cũng tăng nguy cơ phát triển suy tim ứ huyết 2 - 3 lần Năm 1999 - 2000 có tới 37,5 triệu lượt người bệnh phải đi khám vì THA tại
Mỹ Ước tính chi phí trực tiếp và gián tiếp cho THA năm 2003 đã lên tới 65,3 tỷ USD [26]
Đã có nhiều nghiên cứu của các tác giả khác trên thế giới về bệnh THA ở người trưởng thành: tại Canada (1995) tỷ lệ THA là 22%, Mêhicô (1998) 19,4%; Tây Ban Nha (1996) 30%; Cu Ba (1998) 44%; Trung Quốc (2001) 27%; Thái Lan (2001) 20,5%; Singapore (1998) 26,6%; Châu Phi (2007) 21,3% [28] Một nghiên cứu ở Brasil, với nhóm tuổi từ 20 đến 69 tuổi có tỷ lệ THA là 23,6% [28]
Kiểm soát HA có hiệu quả cũng làm giảm tỷ lệ tử vong và biến chứng của các bệnh tim mạch Tuy vậy, tỷ lệ kiểm soát tốt HA bằng thuốc trên thế giới chỉ đạt
từ 25 - 40% Điều trị thuốc hạ áp tích cực cho phép giảm số đo huyết áp tâm thu 6,3 mmHg so với nhóm chứng không dùng thuốc hạ áp tích cực, hơn nữa nhóm chứng không dùng thuốc hạ áp tích cực lại làm tăng số đo HA thêm 4,8 mmHg Các mô hình như người bệnh tự theo dõi HA, nhân viên y tế theo dõi phải được xây dựng và
HUPH
Trang 18đánh giá thêm Giáo dục truyền thông trực tiếp cho người bệnh hoặc thầy thuốc đơn thuần không có tác dụng đáng kể trong việc làm giảm số đo HA ở người bệnh THA
Phân tích tổng hợp khác trên các thử nghiệm phòng tiên phát bệnh mạch vành cho thấy: thay đổi các nguy cơ về lối sống (hút thuốc, chế độ luyện tập thể lực thường xuyên, chế độ ăn) dù không thay đổi đáng kể tử lệ tử vong chung và tử vong riêng do bệnh động mạch vành song đã có tác dụng làm giảm HA tâm thu xuống 3,9 mmHg (95% CI: 3,6 - 4,2); giảm HA tâm trương xuống 2,9 mmHg (95% CI: 2,7 - 3,1) thêm ngoài tác dụng của thuốc hạ áp So sánh việc dùng thuốc tích cực, thay đổi lối sống đơn thuần cũng đã đạt hiệu quả tương tự 50% khi dùng thuốc Hơn nữa phân tích này cũng cho thấy các biện pháp can thiệp yếu tố nguy cơ thông qua tư vấn giáo dục đến từng cá nhân người THA hay đến từng hộ gia đình có hiệu quả nhiều hơn trong việc giảm các yếu tố nguy cơ và cũng dẫn đến giảm tỷ lệ tử vong ở nhóm người bệnh THA có nguy cơ cao
Như vậy, để quản lý và giám sát bệnh THA hiệu quả ở cộng đồng, cần phối hợp việc điều trị thuốc hạ áp với những biện pháp can thiệp các yếu tố nguy cơ THA nhằm thay đổi các hành vi lối sống theo chiều hướng có lợi cho người THA Điều kiện quyết định là phải nâng cao nhận thức, tìm hiểu các rào cản trong suy nghĩ và thực hành của người dân để có thể xây dựng, thay đổi và điều chỉnh các biện pháp giáo dục sức khoẻ phù hợp và có hiệu quả với từng địa phương Vậy cần phải có nhiều nghiên cứu về bệnh THA và các yếu tố liên quan ở nhiều địa phương khác nhau để có thể đưa ra những kế hoạch chiến lược, cũng như kế hoạch chi tiết cho chương trình phòng chống bệnh THA tại các địa phương
1.5 Nghiên cứu về bệnh tăng huyết áp ở Việt Nam
Theo điều tra năm 1982, tỷ lệ THA chung là 1,95% và ở người trên 60 tuổi
tỷ lệ THA là 9,2% [20]
Năm 1999, theo điều tra của Phạm Gia Khải và cộng sự, tỷ lệ THA là 16,05% [33] Năm 2002, theo điều tra của Viện Tim mạch trung ương, tỷ lệ THA là 23,2% [17]
HUPH
Trang 19Theo số liệu điều tra y tế quốc gia năm 2001 - 2002 của Việt Nam, tỷ lệ tăng huyết áp ở nam giới từ 16 tuổi trở lên là 15,1% và nữ giới là 13,5% [2]
Điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam về tần suất THA và các yếu tố nguy
cơ tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam năm 2001 - 2002 (trên 5012 người) cho thấy tần suất THA ở người trưởng thành là 16,5%; trong đó THA độ 1, độ 2, độ 3 lần lượt là 10,2%; 4,2% và 1,9% Tỷ lệ được điều trị thuốc hạ áp chỉ chiếm 11,5%, trong số đó kiểm soát HA tốt (đưa HA về bình thường) chỉ chiếm 19,1% [17] Các yếu tố nguy
cơ bao gồm: tuổi cao, giới nam, chỉ số khối cơ thể tăng, béo bụng, chỉ số vòng bụng/vòng mông tăng, rối loạn đường máu, rối loạn mỡ máu, uống nhiều rượu, tiền
sử gia đình huyết thống trực hệ có người THA Yếu tố liên quan mạnh nhất đến THA là tuổi và mức độ béo phì Tỷ lệ người dân hiểu biết đúng tất cả các yếu tố nguy cơ chỉ chiếm 23% (18,8% nông thôn so với 29,5% ở thành thị), trong khi hiểu biết sai về các yếu tố nguy cơ chiếm hơn 1/3 dân số (44,1% ở nông thôn so với 27,1% ở thành thị) [17]
Theo điều tra mới nhất một nghiên cứu của Trường Đại học Y- Dược Thái Nguyên, cho thấy tỷ lệ THA ở vùng nông thôn Thái Nguyên cũng rất cao chiếm tỷ
lệ 33,3% (đối với đối tượng từ 18 tuổi trở lên) [13]
THA và các yếu tố nguy cơ (nhất là các yếu tố lối sống, vốn có thể thay đổi được) đã trở thành vấn đề cần giải quyết không những chỉ bằng thuốc điều trị kiểm soát HA, mà cần hàng loạt các biện pháp giáo dục truyền thông sức khoẻ nhằm vào các yếu tố nguy cơ đặc biệt là các yếu tố nguy cơ về lối sống có khả năng thay đổi theo chiều hướng tích cực có lợi cho người bệnh bị THA
Tình trạng quản lý người bệnh THA ở Việt Nam, cho đến nay chưa có hệ thống quản lý và dự phòng đối với bệnh THA Các hoạt động y tế mới chỉ tập trung vào công tác điều trị người bệnh tại các bệnh viện, chưa có mô hình dự phòng, ghi nhận và quản lý bệnh THA tại cộng đồng Công tác tuyên truyền bệnh THA tại cộng đồng chưa sâu rộng, các hoạt động điều tra dịch tễ, đào tạo cán bộ cho công tác phòng chống THA tại các cơ sở còn nhiều hạn chế nên việc nghiên cứu thực
HUPH
Trang 20trạng bệnh THA và các yếu tố liên quan ở các địa phương là rất cần thiết cho phòng
Ở Việt Nam tỷ lệ thừa cân (BMI ≥ 23) ở nam giới trưởng thành là 10,1% và ở nữ giới trưởng thành là 13,2% [2]
Béo phì rất có hại cho tim mạch vì hay dẫn đến THA và xơ vữa động mạch, cuối cùng dẫn đến rút ngắn tuổi thọ rõ rệt Nhiều nghiên cứu cho thấy béo phì có tương quan thuận với huyết áp Tỷ lệ THA tăng theo mức độ béo phì, tỷ lệ THA tăng dần theo mức độ thừa cân ở cả nam và nữ giới Người béo phì độ II có tỷ lệ THA từ 33% - 39% so với người tiền béo phì tỷ lệ THA chiếm 17% - 24%[17]
Phạm Gia Khải và cộng sự điều tra 7.610 người tại Hà Nội từ tháng 4/1998 đến tháng 4/1999 thấy chỉ số BMI trung bình của quần thể nghiên cứu là 20,09 ± 2,72 Nhóm BMI từ 22 trở lên đã có nguy cơ THA [17]
Tại Nam Phi, tiến hành nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố: trọng lượng, chiều cao, vòng mông và vòng bụng tới THA (điều tra trên 431 sinh viên) Kết quả cho thấy: 18% sinh viên bị tăng cân (BMI 25 - 29,9), 6,5% béo phì (BMI ≥ 30) và 26,8% giảm cân HA, BMI, WHR, WC đều tăng đáng kể cùng với tuổi Chỉ 1,6% sinh viên có THA, 1% hút thuốc lá và 4,4% nghiện hút Nghiên cứu cho thấy BMI, WC và WHR có mối tương quan với HA và tuổi [39]
Gus, Moreira và cộng sự (Brazil - 1998) nghiên cứu sự liên quan giữa BMI, WHR và chu vi vòng bụng với tỷ lệ THA trong một mẫu đại diện 1088 người trưởng thành ở Porto Alegre - Brazinl Tiêu chuẩn được gọi là béo bệu khi: hoặc
HUPH
Trang 21BMI ≥ 27 (cho cả hai giới); hoặc WHR ≥ 0,95 (với nam) và ≥ 0,80 (với nữ); hoặc
WC ≥ 96cm (với nam) và ≥ 92 cm (với nữ) Kết quả nghiên cứu cho thấy: béo phì tính theo BMI có sự liên quan với THA ở cả hai giới [35]
Một số nghiên cứu khác cũng nhận thấy béo phì có mối liên quan với các mức HA Nguy cơ THA ở người thừa cân, béo phì cao gấp 2 lần so với người bình thường và cao gấp 3 lần so với người nhẹ cân [6],[17],[20]
Tại Việt Nam, trong một nghiên cứu của Phạm Gia Khải và cộng sự, WHR ≥ 0,80 có nguy cơ tương đối liên quan chặt chẽ (theo chiều thuận) với THA Điều này
có nghĩa là: vòng bụng càng to thì nguy cơ THA càng cao [33] Ngoài ra, trên các đối tượng béo phì có sự thay đổi bất lợi về các chỉ số sinh hoá như tăng Lipid máu toàn phần, tăng Cholesterol ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ [2] Ở những người béo phì có THA, chỉ cần giảm 5 kg là HA đã giảm nhiều Người ta tính rằng, nếu giảm
10 kg thì HA tâm thu có thể giảm từ 5 đến 20 mmHg, đồng thời còn có nhiều lợi ích khác như giảm tỷ lệ mắc đái tháo đường, hạ Lipid máu
1.6.2 Thói quen hút thuốc lá
Khói thuốc lá chứa hơn 4000 loại hoá chất Trong đó có hơn 200 loại hoá chất có hại cho sức khoẻ Nicotin là chất có trong thuốc lá Nicotin được hấp thụ qua da, niêm mạc miệng, mũi hoặc hít vào phổi Khi hút một điếu thuốc, người hút đưa vào cơ thể từ 1 đến 2 mg Nicotin Nicotin có tác dụng chủ yếu làm co mạch ngoại biên, làm tăng nồng độ Serotonin, Catecholamin ở não, tuyến thượng thận làm THA [31] Hút một điếu thuốc lá, HA tâm thu có thể tăng lên tới 11 mmHg,
HA tâm trương tăng lên đến 9 mmHg, kéo dài 20 – 30 phút Hút thuốc nhiều có thể
có cơn THA kịch phát [7] Một nghiên cứu trên công nhân viên nhà máy thuốc lá, nơi chịu đựng bụi và khói thuốc lá nhiều thấy tỷ lệ bệnh THA cao hơn rõ rệt [17]
Monocit carbon (khí CO) có nồng độ cao trong khói thuốc và được hấp thụ vào máu, nó gắn với Hemoglobin với lực mạnh hơn 20 lần so với ô xy [2], do đó làm giảm lượng ô xy chuyển đến các bộ phận trong cơ thể, gây thiếu máu và góp phần hình thành các mảng vữa xơ động mạch Vì vậy, hút thuốc lá là một nguy cơ tiềm tàng dẫn đến phát triển bệnh xơ vữa động mạch Mặc dù không phải là một
HUPH
Trang 22nguyên nhân THA song đây cũng là một yếu tố đe doạ quan trọng đến bệnh THA Nguy cơ mắc bệnh mạch vành ở người THA có hút thuốc lá cao hơn 50 - 60% so với những người THA không hút thuốc lá [19]
Tại Việt Nam, trong một nghiên cứu về dịch tễ học bệnh THA kết quả cho thấy: ở nhóm người hút thuốc lá nhiều (trên 8 điếu/ngày) có tỷ lệ THA cao hơn hẳn nhóm không hút thuốc lá, nhưng nếu hút thuốc lá dưới 8 điếu/ngày thì tỷ lệ THA giữa nhóm có hút thuốc lá và nhóm không hút thuốc là không có sự khác biệt rõ ràng [32]
Năm 1998 - 1999, Phạm Gia Khải và cộng sự tại Huyện Ðức Hoà - Tỉnh Long An đã tiến hành nghiên cứu trên các đối tượng nghiện thuốc lá, có 1.450 người chiếm tỷ lệ 19,03% (nam: 1399 người chiếm 96,48%; nữ 51 người chiếm 3,51%) Số điếu hút trung bình là 22,14 ± 4,7 điếu/ngày tức khoảng 1 bao (20 điếu)/ngày/người Tỷ lệ THA chung ở nhóm những người nghiện thuốc lá là 15,86% [33]
Hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch lên gấp 2-3 lần [2] Khi hít khói thuốc vào cơ thể sẽ gây ra một số tác động ngay lập tức lên tim và mạch máu Khói thuốc gây THA cấp tính và THA dao động Hút thuốc còn giảm tác dụng của các thuốc điều trị THA [19]
1.6.3 Thói quen uống rượu
Theo WHO năm 2001, có khoảng 140 triệu người trên thế giới nghiện rượu,
400 triệu người sử dụng rượu ở mức nguy hại, dẫn đến tai nạn và tử vong Ở Việt Nam tỷ lệ lạm dụng rượu ước tính 8% dân số và 4% là nghiện rượu [2] Rượu được hấp thu nhanh qua đường tiêu hoá, chủ yếu đoạn đầu ruột non và đạt hàm lượng trong máu cao nhất sau khi uống từ 30 đến 90 phút Đã có một số nghiên cứu được báo cáo về sự liên quan của uống rượu nhiều và THA, nhưng cơ chế của liên quan này vẫn còn chưa rõ ràng Có những ý kiến chưa thống nhất nhưng đa số thừa nhận uống nhiều rượu làm THA Một số nghiên cứu cho thấy THA ở 20-30% số người lạm dụng rượu [2] Hơn nữa rượu còn có thể gây rối loạn nhịp tim, rối loạn điều hoà
HUPH
Trang 23Lipoprotein và Triglycerid, làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và các bệnh lý về mạch máu
Các thực nghiệm cho thấy rằng với khối lượng lớn, Ethanol có tác dụng co mạch trực tiếp Giảm tiêu thụ rượu xuống tới dưới 3 lần uống trong ngày (30ml rượu) làm giảm HA ở người bệnh có điều trị [20]
Uống nhiều rượu hay gây THA, càng uống nhiều HA càng cao Vùng nào tiêu thụ nhiều rượu, nơi đó nhiều người bị THA [28] Rượu uống nhiều còn làm mất hiệu quả của những thuốc chữa THA Qua điều tra dịch tễ học bệnh THA ở Việt Nam trong 4 năm (1989 - 1992) nhận thấy lạm dụng rượu ở người THA cao hơn những người bình thường Nghiên cứu của Phạm Gia Khải về dịch tễ học bệnh THA tại Hà Nội năm 1999 thấy uống rượu có mối liên quan chặt chẽ với THA ở cả
2 giới [33] Khoảng 10% trường hợp THA liên quan đến uống rượu Uống rượu thường xuyên trên 3 cốc/1ngày làm tăng nguy cơ mắc bệnh THA [2]
1.6.4 Thói quen ăn mặn
Muốn sống được, cơ thể con người ta cần có muối, nhưng ăn quá nhiều muối
sẽ làm ứ nước trong cơ thể, tăng khối lượng tuần hoàn và HA cũng tăng lên Một số nghiên cứu điều tra khẩu phần ăn từng vùng, các nhà nghiên cứu thấy rằng vùng nào ăn nhiều muối thì có tỷ lệ THA cao hơn Như vậy, lượng muối ăn hàng ngày quá cao là một nguyên nhân gây THA trong các quần thể
Ở Nhật Bản, sau khi vận động nhân dân ăn ít muối, tỷ lệ mắc bệnh chảy máu não giảm 40%, tắc mạch não giảm 24,6% Nghiên cứu của Katz.A., Rosenthal T., Maoz C tại Israel về hiệu quả của chế độ muối khoáng tác động lên HA 24 giờ ở người lớn tuổi THA: Chế độ ăn muối hàng ngày được điều chỉnh cho ít Na và tăng
K, Mg trong 6 tháng Một máy đo HA tự động đo HA cứ 20 phút một lần vào ban ngày và 30 phút một lần vào ban đêm Nghiên cứu được làm trước và sau 6 tháng bắt đầu chế độ ăn này Kết quả giảm ăn Na và tăng ăn cả K và Mg có thể có tác dụng trong việc khống chế THA [21]
Các thử nghiệm cho thấy rằng ăn nhiều muối (trên 14g/ngày) sẽ gây THA; trong khi ăn ít muối (dưới 1g/ngày) gây giảm HA động mạch Theo WHO (1990)
HUPH
Trang 24nên ăn dưới 6g/ngày [26] Hạn chế muối trong khẩu phần ăn hàng ngày là một trong những biện pháp dễ nhất để phòng ngừa THA và cách điều trị mà không phải dùng thuốc là tốt nhất
Việt Nam ở vùng nhiệt đới, với trên 3000 km bờ biển, nhân dân ở các vùng ven biển này chủ yếu là lao động thuần tuý nên họ có thói quen ăn mặn Vì vậy, tác động của chế độ ăn gây ra THA ở nước ta có thể là nguyên nhân gần biển
Một nghiên cứu ở tỉnh Nghệ An là nơi người dân hay ăn mặn, mỗi ngày trung bình ăn 13,9g muối, thì tỷ lệ THA 17,9%, còn người dân ở Hà Nội ăn nhạt hơn, chỉ có 10,5g muối thì chỉ có 10,6% bị THA [33] Một số nghiên cứu cho thấy: vùng ven biển ăn mặn có tỷ lệ THA cao rõ hơn ở vùng đồng bằng và miền núi Một điều tra dịch tễ học: so sánh 1128 và 909 cặp đôi giữa nhóm THA và nhóm đối chứng thấy rằng, tỷ lệ số người ăn mặn THA cao hơn rõ rệt so với nhóm những người bình thường [32]
Ngoài những yếu tố nguy cơ đã nghiên cứu ở trên còn có những yếu tố như là: stress, uống cà phê, thuốc tránh thai, ít hoạt động thể lực, tiền sử gia đình
1.7 Mục tiêu điều trị tăng huyết áp
- Mục tiêu quan trọng nhất của điều trị THA là nhằm giảm tối đa và lâu dài nguy cơ bệnh tim mạch
- Đối với hầu hết các người bệnh, HA mục tiêu phải ở mức < 140/90 mmHg, thậm trí thấp hơn nếu BN có thể dung nạp được
- Đối với BN ĐTĐ hoặc có nguy cơ cao/ rất cao, HA mục tiêu cần phải đạt là
< 130/80 mmHg
- Cần lưu ý là ngay cả khi điều trị phối hợp thuốc, HA tâm thu mục tiêu <
140 mmHg hay < 130 mmHg không phải lúc nào cũng đạt được và càng khó hơn nếu BN cao tuổi, có đái tháo đường hoặc có bệnh lý tim mạch kết hợp
- Theo kết luận của Roland E Schmieder: tăng huyết áp cần được điều trị sớm và tích cực[38] Khởi đầu điều trị càng sớm càng dễ đạt HA mục tiêu khi chưa
có tổn thương nhiều cơ quan đích
HUPH
Trang 25- Khi điều trị đã đạt HA mục tiêu, cần tiếp tục duy trì phác đồ điều trị lâu dài cùng với việc theo dõi chặt chẽ định kỳ [11]
1.8 Điều trị tăng huyết áp
1.8.1 Điều trị không dùng thuốc
Ở người bệnh THA độ 1, không có biến chứng BTM và không có tổn thương
cơ quan đích, đáp ứng với thay đổi lối sống xảy ra sau 4-6 tháng đầu Nên bắt đầu biện pháp thay đổi lối sống đồng thời với việc dùng thuốc ở người bệnh THA có nguy cơ cao
- Giảm cân nặng
- Ăn hơi nhạt (hạn chế bớt lượng muối ăn hàng ngày)
- Tăng cường vận động thân thể
- Tăng cường ăn rau xanh, trái cây
- Ngừng hút thuốc lá, thuốc lào
- Giảm chất béo toàn phần, nhất là chất béo bão hòa
- Tăng cường ăn cá
1.8.2 Điều trị bằng thuốc hạ huyết áp
- Nhìn chung ở hầu hết BN, để đạt và duy trì được HA mục tiêu cần phối hợp
ít nhất 2 loại thuốc hạ áp
- Cần lưu ý là việc kiểm soát một phần HA vẫn có giá trị ngăn ngừa đáng kể các biến chứng tim mạch
- Lợi ích của việc dùng thuốc là do tác dụng làm giảm số đo HA
- Hiện nay có 5 nhóm thuốc hạ HA chính gồm:
+ Nhóm thuốc lợi tiểu thiazid
+ Nhóm ức chế men chuyển angiotensin 1
+ Nhóm ức chế thụ thể AT1 của angiotensin 2
+ Nhóm chẹn beta giao cảm
1.8.3 Theo dõi người bệnh tăng huyết áp
HUPH
Trang 26- Người bệnh THA cần được khám định kỳ đều đặn nhằm điều chỉnh chế độ dùng thuốc thích hợp với chỉ số huyết áp cũng như phát hiện và xử trí các tác dụng không mong muốn do thuốc gây ra
- Tần suất theo dõi HA phụ thuộc vào đặc tính nguy cơ toàn bộ của BN cũng như mức THA [28]
- Khi điều trị đạt được huyết áp mục tiêu ổn định, tần suất khám định kỳ có thể giảm xuống (Khoảng 1 đến 3 tháng, tùy thuộc vào từng người bệnh) Tần suất tái khám cũng không nên thưa quá vì sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự gắn kết thầy thuốc và người bệnh, một yếu tố hết sức quan trọng đối với hiệu quả điều trị
- Đối với người bệnh THA giai đoạn 1 hoăc có nguy cơ tim mạch thấp, có thể khám định kỳ khoảng 1 – 3 tháng một lần, cần khuyên người bệnh tự đo HA tại nhà để theo dõi tốt hơn chỉ số huyết áp Đối với người bệnh có nguy cơ cao hoặc rất cao, cần khám định kỳ với tần suất dày hơn Khám định kỳ cũng được khuyến cáo ở những trường hợp chỉ thực hiện điều chỉnh lối sống
- Khám định kỳ nhằm kiểm tra chỉ số huyết áp và đánh giá lâm sàng các yếu
tố nguy cơ cũng như mức độ tổn thương cơ quan đích
- Cần luôn tư vấn cho người bệnh là việc điều trị THA thường kéo dài và liên tục, thậm chí là suốt đời Việc tự ngưng thuốc sẽ làm HA tăng cao trở lại gây biến chứng nguy hiểm [11]
1.8.4 Phòng ngừa bệnh tăng huyết áp
Những nghiên cứu kinh điển đã cho thấy, việc tôn trọng điều trị giảm được huyết áp đã ngăn chặn được đáng kể tử vong và tàn phế do các biến chứng của THA gây ra Theo ước tính, nếu cứ giảm đi được 10 mmHg huyết áp tâm thu ở người bị THA thì giảm được khoảng 30% nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch và giảm được 40% nguy cơ tử vong do tai biến mạch máu não Để điều trị có hiệu quả thì phải kết hợp giữa việc thay đổi lối sống, ăn uống, tập thể dục và dùng thuốc đều đặn và liên tục theo chỉ định của thầy thuốc
- Giảm cân nặng nếu thừa cân
- Không hút thuốc lá, thuốc lào
HUPH
Trang 27- Ăn uống hợp lý, không ăn nhiều chất béo bão hòa
- Không ăn mặn (giảm muối trong khẩu phần)
- Tập thể dục đều đặn
- Không uống nước có cam thảo
- Uống rượu bia có chừng mực (nếu đã có thói quen)
- Tránh căng thẳng, tự tạo cho mình cuộc sống hài hòa
- Kiểm tra huyết áp thường xuyên hơn theo khuyến cáo
- Kiểm tra các nguy cơ khác: rối loạn đường máu, lipid máu…
1.8.5 Tuân thủ điều trị tăng huyết áp
Tuân thủ điều trị THA là người bệnh phải tuân thủ thực hiện chế độ ăn, luyện tập, sinh hoạt, thực hiện uống thuốc và đi khám, kiểm tra huyết áp theo chỉ dẫn của bác sỹ
1.8.6 Thực hiện ăn chế độ ăn, luyện tập và sinh hoạt
Cần thực hiện một cách thích hợp ở tất cả các bênh nhân để ngăn ngừa tiến triển và giảm được số đo HA, giảm số thuốc cần dùng… nhưng do việc tuân thủ này thường kém, nên cần theo dõi sát để khuyến khích người bệnh và bắt đầu dùng thuốc khi cần
- Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng:
+ Giảm mặn: ít hơn 100mmol natri/ngày (< 6gam NACl/ ngày)
+ Tăng cường rau xanh, hoa quả tươi (≥ 5 suất tiêu chuẩn/ ngày)
+ Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và acid béo no
- Tích cực giảm cân nếu quá cân, duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối cơ thể (BMI) từ 18,5 đến 23 kg/m2
- Cố gắng duy trì vòng bụng dưới 90 cm ở nam và dưới 80 cm ở nữ
- Hạn chế uống rượu bia: số lượng ít hơn 3 cốc/ ngày ở nam và ít hơn 2cốc/ ngày ở nữ và tổng cộng ít hơn 14 cốc/tuần (nam), ít hơn 9 cốc/ tuần (nữ): cốc tiêu chuẩn tương đương với 360 ml bia hoặc 150ml rượu vang hoặc 30 ml rượu nặng
HUPH
Trang 28- Bỏ hoàn toàn hút thuốc là biện pháp mạnh mẽ nhất để phòng ngừa THA và các bệnh tim mạch khác Bỏ thuốc lá không những đảm bảo sức khỏe, tăng tuổi thọ
và còn giúp tiết kiệm tài chính
- Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: tập thể dục, chạy bộ hoặc vận động ở mức độ vừa, đều đặn 30 – 60 phút hàng ngày trong tuần
- Tránh căng thẳng thần kinh, cần thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý
1.8.7 Uống thuốc điều trị tăng huyết áp
- Phải tuân thủ uống thuốc theo đơn bác sĩ
- Không tự ý thay đổi thuốc và liều lượng
- Uống thuốc thường xuyên, lâu dài liên tục kể cả khi huyết áp bình thường
1.8.8 Khám bệnh và kiểm tra huyết áp
Điều trị đạt kết quả tốt là khi đạt được huyết áp mục tiêu và ngăn ngừa được biến chứng tim mạch cũng như tổn thương cơ quan Vì vậy ngoài việc theo dõi thường xuyên chỉ số huyết áp, khám bệnh định kỳ, theo dõi huyết áp theo chỉ dẫn của bác sĩ, tái khám đúng kỳ hẹn, đi khám ngay nếu uống thuốc không hiệu quả người bệnh cần được định kỳ kiểm tra, làm một số xét nghiệm nhằm phát hiện tổn thương cơ quan đích, đánh giá các yếu tố nguy cơ tim mạch khác
1.9 Kết quả điều trị và một số nghiên cứu tại Việt Nam
1.9.1 Kết quả điều trị THA tại Việt Nam
Điều trị THA là rất quan trọng để bảo vệ sức khỏe và phòng tránh các biến chứng Nhưng do ở Việt nam chưa được quan tâm chăm sóc đúng mức, cộng với đời sống xã hội chưa cao, kiến thức còn nhiều hạn chế nên tỷ lệ đạt điều trị THA còn thấp Kiến thức hiểu biết về bệnh nói chung và bệnh THA nói riêng còn nhiều hạn chế, không tránh khỏi những điều trị không đúng Đặc biệt, ở vùng nông thôn
do điều kiện sống thiếu thốn, cùng với hạn chế của y tế địa phương về trình độ cũng như địa hình xa xôi mà sức khỏe của người dân chưa được đảm bảo và bản thân họ cũng chưa quan tâm đến sức khỏe của mình Chỉ khi nào bệnh nặng quá khó khăn chịu đựng của bản thân họ mới đi khám, lúc ấy bệnh đã nặng và có nhiều biến chứng Nhiều người bị TBMMN, cũng như NMCT nằm liệt giường, chiếu thì họ
HUPH
Trang 29cũng không biết nguyên nhân đó là do biến chứng của bệnh THA Ngay cả ở thành thị, không ít người cho rằng huyết áp tăng cao cùng với tuổi tác là hiện tượng bình thường, nên dẫn đến tâm lý chủ quan không điều trị bệnh, khi nhập viện thì các biến chứng của THA đã xảy ra Một số người mắc bệnh THA chỉ uống thuốc khi bản thân họ cảm thấy khó chịu, căng thẳng về tinh thần Nhiều người cho rằng THA là bệnh có thể chữa khỏi được, nên chỉ uống thuốc một đợt khi thấy người không còn khó chịu thì ngừng không uống nũa
Nhưng phần lớn BN bị THA không điều trị hoặc thực hành điều trị THA không đạt là do tâm lý chủ quan Như chúng ta đã biết THA là bệnh diễn biến rất
âm thầm, triệu chứng thường nghèo nàn, khi không uống thuốc, họ vẫn sinh hoạt bình thường được, nên chủ quan không uống thuốc, một số bệnh nhân lại tự điều trị
giảm HA cho bản thân hoặc điều trị theo sự chỉ dẫn của người khác, nên kết quả
1.9.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam
Theo Trần Đỗ Trinh và cộng sự trong điều tra dịch tễ học bệnh THA năm
1992, có 67,5% người bệnh không biết mình bị THA, 15% biết mình bị THA nhưng không điều trị, 13,5% có điều trị nhưng thất thường không đúng cách, 4% điều trị đúng, 96% các bệnh THA không được quan tâm điều trị theo dõi [30]
Nghiên cứu của Phạm Gia Khải và cộng sự ở người dân trên 25 tuổi sống tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam, trong 818 người được phát hiện có THA, chỉ có 94 người là dùng thuốc chiếm tỷ lệ 11,5%, trong đó tỷ lệ điều trị tốt là 19,1% [18] Cũng theo nghiên cứu của Phạm Gia Khải và cộng sự năm 2002 cho thấy THA ở người trẻ ít được chú ý hơn ở người có độ tuổi cao hơn cho dù hiệu quả điều trị đạt được là dễ dàng hơn[28, 18]
Nghiên cứu của Hoàng Viết Thắng năm 2000 ở BN THA tại xã Lộc Thủy, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế có 23,8% BN tuân thủ theo dõi điều trị, 46% theo dõi điều trị sơ sài, 30,2% BN không theo dõi điều trị [27, 1]
Nghiên cứu của Bùi Thị Hà năm ở BN THA tại Hải Phòng, 12,62% người bệnh THA thực hiện điều chỉnh lối sống, chỉ có 5,85% BN là tuân thủ điều trị, 64,62% BN không điều trị mặc dù biết bị THA và 29,54% BN có điều trị nhưng
HUPH
Trang 30uống thuốc không đều Nguyên nhân bỏ thuốc hoặc không uống thuốc là do người bệnh thiếu kiến thức là 68,95%, do kinh tế là 20,92%, do cán bộ y tế là 8,17% Chỉ
có 1,58% BN có máy đo HA 34,75% biết nên duy trì HA<140/90 mmHg [9]
Nghiên cứu của Cao Mỹ Phượng năm 2006 ở người trên 40 tuổi tỉnh Trà Vinh, trong số người THA có 7% là được điều trị, có 31,3% người được điều trị bằng thuốc, 76,1% đang dùng thuốc hạ áp nhưng HA vẫn tăng, chỉ có 23,9% là HA
ổn định [25]
Nghiên cứu can thiệp cộng đồng của Nguyễn Lân Việt và cộng sự năm 2007
ở người trên 25 tuổi tại xã Xuân Canh, Đông Anh, Hà Nội Đối tượng không biết mình bị THA là 65,4%, chỉ có 34,6% biết đã bị THA Đối tượng chưa được điều trị
là 75,1%, đã được điều trị là 24,9% [32]
Nghiên cứu của Vương Thị Hồng Hải năm 2007 ở BN THA điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên có 45% BN nhận thức được điều trị THA cần lâu dài Tuân thủ dùng thuốc tốt là 73,4%, chưa tốt là 23,7% Tuân thủ tốt chế độ ăn kiêng, thay đổi lối sống là 63,3% [12]
Nghiên cứu của Ninh Văn Đông năm 2010 ở BN THA trên 60 tuổi tại phường Hàng Bông, Hà Nội có 46,5% BN có kiến thức đạt về bệnh THA, 21,5%
BN đạt về tuân thủ điều trị [4]
1.10 Đặc điểm tình hình địa bàn nghiên cứu
Huyện Đức Hoà là một Huyện thuộc biên giới Tây Nam, tổng diện tích tự nhiên là 42.169 ha trong đó đất nông nghiệp chiếm 80.4%,đất lâm nghiệp 2.68%, đất ở 3.03%,đất chuyên dùng 7.88%, đất chưa sử dụng:10.59% Nhìn chung tài nguyên của huyện Đức Hoà có nhiều điều kiện phát triển công nghiệp, nguồn đất chưa sử dụng còn nhiều, địa hình tương đối bằng phẳng, thuận tiện việc sang lắp mặt bằng và cơ sở hạ tầng là địa bàn tiếp giáp với Thành Phố Hồ Chí Minh, điều kiện đất đai rất thuận lợi cho việc phát triễn trang trại Dân số tính đến 2015 là 227.563 triệu/người Trong đó dân tộc kinh là chính, nữ chiếm 51.2%, số người trong độ tuổi lao động chiếm 45%, mật độ dân số toàn huyện chiếm 476.0 người/km2, Thu nhập bình quân 20 triệu đồng/người/năm Nhờ mở rộng các cụm
HUPH
Trang 31khu công nghiệp nên đời sống nhân dân ngày càng tăng Cũng theo đó mô hình bệnh tật cũng đang thay đổi, bệnh không lây nhiễm có xu hướng gia tăng trong đó có bệnh tăng huyết áp
HUPH
Trang 32Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
(1)- Người bệnh tăng huyết áp đang được điều trị tại cộng đồng của huyện Ðức Hoà, Tỉnh Long An Năm 2016
(2)- Các cán bộ y tế tham gia quản lý và điều trị người bệnh tăng huyết áp đang được điều trị ở cộng đồng của huyện Ðức Hoà, tỉnh Long An Năm 2016
*Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu:
- BN Có trong danh sách quản lý THA tại các trạm y tế xã huyện Ðức Hoà, tỉnh Long An
- Đã uống thuốc điều trị THA ít nhất 6 tháng tại cộng đồng
- Có khả năng trả lời phỏng vấn
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
*Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng: Từ chối tham gia nghiên cứu
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Huyện Ðức Hoà, tỉnh Long An
2.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2016
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu bằng phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích, thiết kế nghiên cứu định lượng kết hợp định tính
2.5 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
2.5.1 Cỡ mẫu định lượng:
n: là cỡ mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu
: mức ý nghĩa thống kê, trong nghiên cứu này = 0,05
Z = 1,96 tương ứng với gía trị = 0,05 Độ tin cậy 95%
2
2
)2/1
(
d
q p n
Trang 33p = 19,1% (tỉ lệ BN THA tuân thủ điều trị.trong nghiên cứu của Phạm Gia Khải năm 2002)
q = 1 – p = 1 - 0,19 = 0,81
d = 0,05 là độ sai số chấp nhận được
Kết quả tính cỡ mẫu n = 236 đối tượng cần nghiên cứu
Dự phòng bỏ cuộc do đối tượng không tham gia (khoảng 10%), cỡ mẫu cần cho nghiên cứu là 260
2.5.2 Cách chọn mẫu định lượng
Theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống
Bước 1: Lập danh sách người bệnh THA đang quản lý tại các Trạm Y tế của huyện Ðức Hoà, tỉnh Long An (Tổng số người bệnh THA đang quản lý là 1.350)
Bước 2: Tính khoảng cách k = N/n (1.350/260 = 5,19) Chúng tôi làm tròn k
= 5
Bước 3: Chọn ngẫu nhiên một số thứ tự từ 1 đến 5, ví dụ chọn được số 2 là đối tượng phỏng vấn đầu tiên, chọn người kế tiếp cộng dồn cho khoảng cách k (2+5) = 7 và tiếp tục chọn đủ cỡ mẫu nghiên cứu 260 đối tượng thì dừng
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
(1)- Thông tin được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi phỏng
vấn BN THA đang được điều trị tại huyện Ðức Hoà, tỉnh Long An
Số liệu được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp BN bằng phiếu phỏng vấn thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn
Bộ câu hỏi phỏng vấn gồm các phần:
- Phần 1: Thông tin chung của ĐTNC
HUPH
Trang 34- Phần 2: Kiến thức về bệnh và tuân thủ điều trị THA
- Phần 3: Thực hành tuân thủ điều trị THA
- Phần 4: Nguồn thông tin hỗ trợ
Điều tra viên: gồm nghiên cứu viên và 04 cán bộ y tế (có trình độ trung cấp y) của Trung tâm y tế huyện Ðức Hoà, tỉnh Long An)
(2)- Nghiên cứu viên trực tiếp tổ chức phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm theo nội dung bộ câu hỏi đã soạn sẵn
2.7 Xử lý và phân tích số liệu
(1)- Xử lý và phân tích số liệu định lượng:
Chuẩn bị: Kiểm tra lại toàn bộ các phiếu điều tra thu thập được, loại trừ các phiếu điền không đầy đủ
Bước 1 – Nhập liệu: Toàn bộ số liệu thu thập được nhập liệu bằng phần mềm EpiData 3.1
Bước 2 – Làm sạch số liệu: Sau khi hoàn tất nhập liệu, các số liệu được làm sạch bằng và hiệu chỉnh các sai sót trong quá trình nhập liệu
Bước 3 – Xử lý và phân tích số liệu: Các số liệu sau khi thu thập, được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0
Thống kê mô tả: Lập bảng phân bố tần số của các biến số
Thống kê phân tích: xác định mối liên quan giữa việc tuân thủ điều trị với các đặc điểm của ĐTNC Sử dụng phép kiểm χ 2 với khoảng tin cậy 95%, mức ý nghĩa p < 0,05 Dựa trên kết quả phân tích hai biến
(2)- Xử lý và phân tích số liệu định tính:
Sau khi thu thập ở dưới dạng những ghi chép vào sổ sách, bằng ghi âm (gỡ băng đối với ghi âm) Tổng hợp, mã hóa nội dung theo chủ đề và trích dẫn phù hợp
HUPH
Trang 352.8 Các biến số nghiên cứu định lượng
Bảng 2.1: Các biến số của nghiên cứu
loại
PP thu thập
số liệu Thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC)
1 Tuổi
Tính theo năm sinh của ĐTNC đến thời điểm điều tra (năm dương lịch)
Phỏng vấn
Danh mục
Phỏng vấn
6 Bảo hiểm y tế
ĐTNC chữa trị bệnh được bảo hiểm y tế hỗ trợ với mức theo qui định khi tham gia BHTY
Danh mục
Phỏng vấn
Thông tin về bệnh tăng huyết áp của ĐTNC
7 Tiền sử gia đình về
bệnh THA
Trong gia đình có người đã mắc bệnh THA (Bố mẹ, anh chị em ruột thịt)
Danh mục
Phỏng vấn
HUPH
Trang 3610 Các yếu tố nguy cơ
tim mạch
Một số yếu tố chính là nguyên nhân mắc bệnh tim mạch của BN THA
Danh mục
Phỏng vấn
Phỏng vấn
Phỏng vấn
Kiến thức về bệnh và điều trị tăng huyết áp của ĐTNC
13 Đặc điểm của
bệnh THA
Kiến thức của ĐTNC về bệnh THA có chữa khỏi không
Danh mục
Phỏng vấn
14 Sự nguy hiểm của
bệnh THA
Kiến thức của ĐTNC về các hậu quả do bệnh THA gây ra có nguy hiểm hay không?
Danh mục
Phỏng vấn
Phỏng vấn
Danh mục
Phỏng vấn
Danh mục
Phỏng vấn
18
Điều trị THA tốt
nhất cần thực
hiện như thế nào
Kiến thức của ĐTNC về các biện pháp cần thực hiện để điều trị THA tốt nhất: như cần phối hợp uống thuốc với thay đổi chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý…
Danh mục
Phỏng vấn
19 Kiến thức về cách ĐTNC nắm được người bệnh cần Danh Phỏng
HUPH
Trang 37uống thuốc khi
Phỏng vấn
Danh mục
Phỏng vấn
Danh mục
Phỏng vấn
Thực hành về tuân thủ điều trị tăng huyết áp của ĐTNC
Phỏng vấn
Phỏng vấn
25 Uống thuốc điều
trị THA
Hiện tại, ĐTNC có uống thuốc điều trị THA hay không
Danh mục
Phỏng vấn
26 Các biện pháp
điều trị khác
ĐTNC không uống thuốc điều trị THA nhưng thực hiện một số biện pháp điều trị như đông y, thực phẩm chức năng
Danh mục
Phỏng vấn
Danh mục
Phỏng vấn
28 Uống thuốc đầy
đủ
Trong suốt thời gian điều trị, ĐTNC có uống thuốc đủ không
Danh mục
Phỏng vấn
29 Nguyên nhân Lý do làm cho ĐTNC không uống Danh Phỏng
HUPH
Trang 38không uống thuốc
Phỏng vấn
31 Chế độ sử dụng
muối
Chế độ ăn muối mà ĐTNC thực hiện khi phát hiện THA
Danh mục
Phỏng vấn
32 Uống rượu bia Chế độ uống rượu bia mà ĐTNC
thực hiện trong 6 tháng gần đây
Danh mục
Phỏng vấn
Danh mục
Phỏng vấn
Phỏng vấn
35
Lượng thuốc
thường hút
Số lượng thuốc ĐTNC thường hút
là nhiều hay ít (so với số lượng gây ảnh hưởng đến tình trạng bệnh tật)
Danh mục
Phỏng vấn
Danh mục
Phỏng vấn
37 Luyên tập, vận
động cơ thể
ĐTNC có thực hiện chế độ luyện tập thường xuyên không
Danh mục
Phỏng vấn
Danh mục
Phỏng vấn
HUPH
Trang 39Phỏng vấn
Phỏng vấn
Phỏng vấn
2.9 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức và thực hành về điều trị điều trị bệnh tăng huyết áp trong nghiên cứu
Kiến thức và thực hành về điều trị THA của ĐTNC được chia thành 2 mức
độ đạt và không đạt theo quy ước của chúng tôi sau khi đã tham khảo các nghiên cứu có liên quan như sau:
2.9.1 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức về điều trị tăng huyết áp
Kiến thức của ĐTNC về điều trị bệnh THA gồm 10 nội dung trong 10 câu từ câu 11 đến câu 20
Trong đó có các câu hỏi nhiều lựa chọn, và một lựa chọn và sẽ được tính điểm theo từng lựa chọn đúng, mỗi lựa chọn đúng sẽ được 1 điểm, lựa chọn sai sẽ không được điểm Tính điểm ở từng câu Mỗi câu là một nội dung về kiến thức sẽ được tính điểm đạt hay không đạt Tổng điểm của kiến thức là 10 những người đạt
từ 70% trong tổng số điểm trở lên là có kiến thức về điều trị THA
Bảng 2.2: Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức đạt Câu
(nội dung)
Kiến thức đúng
Kiến thức đạt
Câu (nội dung)
Kiến thức đúng
Kiến thức đạt
HUPH
Trang 40không chọn 4 chọn trở lên
15 Chọn 1, 2,
3
Đúng 2 lựa chọn trở lên
20 1, 2, 3 và
không chọn 4
Đúng 3 lựa chọn trở lên
2.9.2 Tiêu chuẩn đánh giá thực hành về điều trị tăng huyết áp
Thực hành của ĐTNC về điều trị bệnh THA gồm 11 nội dung trong các câu
22, 23, 25, 26, 28, 29, 30, 32, 34, 35, 37
Trong đó có các câu hỏi nhiều lựa chọn, và một lựa chọn và sẽ được tính điểm theo từng lựa chọn đúng, mỗi lựa chọn đúng sẽ được 1 điểm, lựa chọn sai sẽ không được điểm Tính điểm ở từng câu Mỗi câu là một nội dung về thực hành sẽ được tính điểm đạt hay không đạt Tổng điểm của thực hành là 11 những người đạt
từ 70% trong tổng số điểm trở lên là thực hành đạt về điều trị THA
Bảng 2.3: Tiêu chuẩn đánh giá thực hành đạt Câu Thực hành
đúng
Thực hành đạt
Câu Thực hành
đúng
Thực hành đạt
22 1, 2, 3 và
không chọn 4
Đúng 2 lựa chọn trở lên 29 Chọn 1 Chọn 1
2.9.3 Nhóm biến số định tính
HUPH