BÀI TẬP THI KẾT THÚC HỌC PHẦNMÔN: LUẬT LA MÃ ĐỀ BÀI : Từ kiến thức được học trong học phần Luật La Mã và đối sánh với các kiến thức đã được học trong các học phần Luật Dân sự 1, Luật d
Trang 1BÀI TẬP THI KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN: LUẬT LA MÃ
ĐỀ BÀI : Từ kiến thức được học trong học phần Luật
La Mã và đối sánh với các kiến thức đã được học trong các học phần Luật Dân sự 1, Luật dân sự 2, em hãy nêu và phân tích kiến nghị hoàn thiện Bộ luật Dân sự 2015 về nghĩa vụ dân sự, hợp đồng, thực hiện công việc không có ủy quyền và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
HỌ VÀ TÊN : LỚP : MSSV :
Trang 2MỤC LỤC :
MỞ ĐẦU : 1
BÀI LÀM : 1
1 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định về nghĩa vụ dân sự : 1
2 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định về hợp đồng : 5
3 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định về thực hiện công việc không có ủy quyền 7
4 Kiến nghị về việc sửa đổi bổ sung một số quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 9
KẾT LUẬN : 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO : 10
Trang 3MỞ ĐẦU :
Luật La mã được đánh giá là hệ thống pháp luật hoàn chỉnh nhất của thời
kì chế độ chiếm hữu nô lệ Nhiều chế định của luật la mã cổ đại được đánh giá như một nguồn tri thức chung của nhân loại về cấu trúc lập pháp và trình độ lập pháp Cho đến nay mặc dù tình hình kinh tế - xã hội đã có nhiều thay đổi nhưng không thể phủ nhận được những ưu điểm mà chúng mang lại Luật La mã là một nguồn tài liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu pháp luật và các nhà lập pháp trong thời hiện đại
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu thế hội nhập quốc tế của đất nước hiện nay, đặc biệt là sự nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng và ý nghĩa của pháp luật
La mã cổ đại đối với vấn đề xây dựng hoàn thiện hệ thống luật, em xin chọn đề
tài : “Từ kiến thức được học trong học phần Luật La Mã và đối sánh với các
kiến thức đã được học trong các học phần Luật Dân sự 1, Luật dân sự 2, em hãy nêu và phân tích kiến nghị hoàn thiện Bộ luật Dân sự 2015 về nghĩa vụ dân sự, hợp đồng, thực hiện công việc không có ủy quyền và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” Đây là những vấn đề phức tạp, có liên quan đến rất nhiều những giao
dịch đang tồn tại trong cuộc sống hàng ngày tuy nhiên pháp luật hiện hành của nước ta vẫn còn bộc lộ nhiều thiếu sót cần phải sửa đổi bổ sung cho phù hợp để tạo điều kiện cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
BÀI LÀM :
1 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định về nghĩa vụ dân sự :
* Thứ nhất, bổ sung thêm quy định về nghĩa vụ liên đới trong trường hợp liên đới với nhiều người có quyền liên đới với nhiều người có nghĩa vụ liên đới.
Theo pháp luật La mã cổ đại, nghĩa vụ liên đới được thể hiện dưới 03
dạng là: Liên đới chủ động ( liên đới với nhiều chủ nợ liên đới) : trong đó mỗi
chủ nợ đều có quyền như nhau đối với con nợ và con nợ có thể thực hiện đối với
bất cứ chủ nợ nào Liên đới thụ động (liên đới với nhiều con nợ liên đới) : trong
đó chủ nợ có quyền yêu cầu bất cứ con nợ nào thực hiện toàn bộ nghĩa vụ và
1
Trang 4nghĩa vụ chỉ được chấm dứt đối với các con nợ khi đã thực hiện xong toàn bộ
nghĩa vụ Liên đới hỗn hợp ( liên đới với nhiều chủ nợ liên đới với nhiều con nợ
liên đới)
Như vậy pháp luật La mã đã quy định đến trường hợp cả bên có nghĩa vụ liên đới để thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền mà bên có quyền này cũng
có nhiều người liên đới với nhau, đó gọi là trường hợp liên đới hỗn hợp Tuy nhiên pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành lại chỉ mới quy định hai trường hợp liên đới là liên đới chủ động (Điều 288 Thực hiện nghĩa vụ liên đới ) và liên đới thụ động ( Điều 289 Thực hiện nghĩa vụ đối với nhiều người có quyền liên đới Những trường hợp liên quan đến liên đới hỗn hợp thì vẫn được giải quyết một cách tương tự như hai điều luật trên
Đề xuất : Vì vậy bên cạnh việc quy định hai điều luật về nghĩa vụ liên đới như
Điều 288 và 289 trong Bộ luật dân sự 2015 thì cần có thêm một điều quy định
về nghĩa vụ liên đới giữa nhiều người có nghĩa vụ liên đới với nhiều người có quyền liên đới Theo đó sẽ có nhiều người có quyền đối với nhiều người có nghĩa vụ Trong đó mỗi người có quyền đều có thể yêu cầu mỗi người có nghĩa
vụ thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đối với mình Nếu người có nghĩa vụ thực hiện hiện toàn bộ nghĩa vụ đối với người có quyền bất kỳ thì nghĩa vụ được coi là chấm dứt đối với những người có quyền khác đồng thời với đó những người có nghĩa vụ khác cũng sẽ được giải phóng khỏi người có quyền trong quan hệ nghĩa
vụ này
* Thứ hai, bổ sung quy định về trách nhiệm của bên chuyển quyền yêu cầu đối với bên thế quyền.
Chuyển quyền yêu cầu của người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ là nhu cầu thiết yếu nhằm đơn giản hóa các thủ tục thực hiện nghĩa vụ cũng như quyền của bên có quyền mà không ảnh hưởng đến quyền lợi của bên có nghĩa vụ Trong luật pháp La mã cũng đã có quy định về việc chuyển quyền yêu cầu Theo
đó chủ nợ ủy quyền cho người thứ ba thực hiện quyền yêu cầu của mình đối với
Trang 5con nợ, thay mặt chủ nợ thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu con nợ thực hiện nghĩa vụ Con nợ chỉ cần được thông báo về việc chuyển quyền yêu cầu nhằm bảo đảm con nợ không thực hiện nghĩa vụ đối với chủ nợ cũ mà thực hiện đối với chủ nợ mới, bởi việc con nợ thực hiện nghĩa vụ đối với chủ nợ mới không làm xấu đi tình trạng của con nợ Người thứ ba thay thế chủ nợ mới thực hiện quyền yêu cầu đối với con nợ, kể cả tự mình kiện yêu cầu con nợ thực hiện nghĩa vụ Chủ nợ phải chịu trách nhiệm về hiệu lực của quyền yêu cầu đối với người thứ ba nhưng không phải chịu trách nhiệm về việc con nợ có thực hiện được nghĩa vụ hay không
Như vậy theo luật pháp La mã thì người có quyền yêu cầu vừa phải có nghĩa vụ bảo đảm về hiệu lực của việc chuyển quyền cho bên thứ ba vừa có nghĩa vụ chịu trách nhiệm phải thông báo cho bên có nghĩa vụ và thanh toán chi phí thiệt hại ch bên có nghĩa vụ trong trường hợp không thông báo Trong khi đó
theo pháp luật dân sự Việt Nam chỉ yêu cầu “người chuyển giao quyền yêu cầu
phải thông báo bằng văn bản cho bên có nghĩa vụ biết về việc chuyển giao quyền yêu cầu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Trường hợp bên chuyển giao quyền yêu cầu không thông báo về việc chuyển giao quyền mà phát sinh chi phí cho bên có nghĩa vụ thì bên chuyển giao quyền yêu cầu phải thanh toán chi phí này”1 và “Người chuyển giao quyền yêu cầu không phải chịu trách nhiệm về khả
năng thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ sau khi chuyển giao quyền yêu cầu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”2 Từ việc quy định trên ta có thể thấy pháp luật nước ta hiện nay chưa đưa ra giải pháp cho trường hợp thiệt hại của bên thế quyền do lỗi của bên chuyển quyền yêu cầu mang lại
Đề xuất : Bổ sung Điều 367 như sau : “Người chuyển giao quyền yêu cầu
phải chịu trách nhiệm về hiệu lực của quyền yêu cầu đối với bên thế quyền Trong trường hợp do lỗi của bên chuyển giao quyền yêu cầu trong việc thông báo với bên có nghĩa vụ mà gây thiệt hại cho bên thế quyền thì bên chuyển giao quyền yêu cầu phải chịu trách nhiệm”
1 Khoản 2 Điều 365 Bộ luật dân sự 2015.
2 Điều 367 Bộ luật dân sự 2015
3
Trang 6*Thứ ba, sửa đổi về khái niệm của cầm cố tài sản :
Theo pháp luật La mã, trong trường hợp con nợ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ, chủ nợ có thể thỏa mãn quyền của mình thông qua tài sản của con nợ - dùng vật quyền để bảo đảm việc thực hiện trái quyền Quyền cầm cố là một dạng quyền đối với tài sản của người khác là quyền của chủ nợ thỏa mãn yêu cầu của mình thông qua tài sản của con nợ
Pháp luật Việt Nam quy định cầm cố tài sản tại điều 309 : “Cầm cố tài
sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.” Ta có thể nhận thấy bản chất của việc cầm cố là nếu bên cầm cố
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ được bảo đảm thì bên nhận cầm cố được quyền ưu tiên thỏa mãn lợi ích của mình từ tài sản cầm cố Bởi vậy mà khái niệm mà luật dân sự đưa ra chưa bộc lộ được bản chất của việc cầm cố
Đề xuất : Sửa đổi khái niệm về cầm cố tài sản tại Điều 309 như sau “Cầm cố là
biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, theo đó bên nhận cầm cố được quyền ưu tiên thỏa mãn lợi ích vật chất của mình từ giá trị của tài sản là động sản thuộc
sở hữu của bên cầm cố (gọi là tài sản cầm cố) nếu như bên cầm cố không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ được bảo đảm”
* Thứ tư, bổ sung thêm quy định về việc người chuyển giao nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên thế nghĩa vụ :
Pháp luật La mã quy định chuyển nghĩa vụ là sự thỏa thuận giữa chủ nợ, con nợ và người thứ ba nhằm chuyển nghĩa vụ của con nợ cho người thứ ba.Trong chuyển quyền yêu cầu thì nhân thân của chủ nợ không đóng vai trò quan trọng, nhưng trong việc chuyển nghĩa vụ thì nhân thân của con nợ có vai trò quan trọng đặc biệt
Trang 7Pháp luật Việt Nam quy định về chuyển giao nghĩa vụ “Bên có nghĩa vụ
có thể chuyển giao nghĩa vụ cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý, trừ trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của bên có nghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định không được chuyển giao nghĩa vụ” Trong thực tiễn có thể xảy ra trường hợp bên thế nghĩa vụ không có khả năng thanh toán, cho nên khi chuyển nghĩa vụ các bên cần phải xem xét khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên thế nghĩa vụ Mặc dù pháp luật đã có quy định về việc cần phải có sự “đồng ý” của bên có quyền nhưng thiết nghĩ điều luật vẫn chưa giải phóng hoàn toàn cho người chuyển giao nghĩa vụ Liệu người chuyển giao nghĩa vụ có còn phải chịu trách nhiệm đối với khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên thế nghĩa vụ hay không Việc pháp luật chưa quy định rõ ràng đã làm cho quá trình áp dụng pháp luật gặp phải nhiều cách hiểu khác nhau Bên cạnh đó việc quy định thêm về giải phóng nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ còn tạo nên sự đối xứng so với quy định giải phóng quyền đối với người có quyền
Đề xuất : Bổ sung thêm quy định về giải phóng nghĩa vụ cho người chuyển giao
nghĩa vụ tại khoản 3 Điều 370 : “Người chuyển giao nghĩa vụ không phải chịu
trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên thế nghĩa vụ”
2 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định về hợp đồng :
* Thứ nhất, bổ sung thêm quy định về xác định lãi xuất khi vay vật nhưng trả
tiền bằng giá trị của vật :
Theo pháp luật La mã, hợp đồng vay nợ là sự thỏa thuận của hai bên, theo
đó bên cho vay chuyển tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên vay (tiền, lương thực, thực phẩm, rượu, bơ, sữa ) Bên vay có nghĩa vụ trả vật cùng loại hoặc số tiền đã vay khi hết hạn của hợp đồng Ngoài số tiền vay hoặc số tài sản tương xứng phải trả thì bên vay phải trả một khoản lãi suất, theo luật Justinian là 6%/năm nếu vay để tiêu dùng và 8%/năm nếu vay để kinh doanh, không tính lãi
mẹ đẻ lãi con
5
Trang 8Tại khoản 2 Điều 466 BLDS 2015 “Trường hợp bên vay không thể trả vật
thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả
nợ, nếu được bên cho vay đồng ý”, tuy nhiên luật lại thiếu quy định cụ thể trong
trường hợp tính lãi suất nếu như bên vay trả nợ bằng tiền theo giá trị của vật Bởi lẽ giá cả của vật luôn luôn biến đổi, đặc biệt trong thời hạn từ khi giao kết đến khi kết thúc hợp đồng vay tài sản luôn là một quãng thời gian nhất định Nếu tính lãi thì lãi suất được tính theo giá cả của vật tại thời điểm giao kết hợp đồng, hay là trong cả quá trình vay, hay là tại thời điểm trả nợ Nếu không quy định rõ điều này sẽ dẫn tói việc thiếu thống nhất trong hoạt động xét xử bên cạnh đó còn tiềm ẩn hậu quả bất lợi cho một trong hai bên trong hợp đồng vay
Đề xuất : Bổ sung Điều 466 “Lãi suất trong trường hợp bên vay trả tiền theo
giá của vật tại thời điểm vay được tính dựa trên giá của vật tại thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng Mức lãi suất này có thể thay đổi tùy theo tỉ lệ biến động giá của vật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”
* Thứ hai, thay chữ “tiền vay” tại khoản 1 Điều 468 thành chữ “tài sản vay”
Như ở trên, pháp luật La mã đã quy định đối tượng của hợp đồng vay nợ
là tài sản thuộc quyền sở hữu của bên cho vay Đồng thời bên cạnh đó cũng quy định ngoài số tiền vay hoặc số tài sản tương xứng phải trả thì bên vay phải trả một khoản lãi suất Như vậy thì bên vay phải trả lãi cho khoản tiền vay nếu đối tượng vay là tiền, phải trả lãi cho khoản tài sản vay nếu đối tượng vay là tài sản khác ngoài tiền
Tuy nhiên tại khoản 1 Điều 468 lại chỉ nhắc tới mức lãi suất 20%/năm của khoản “tiền vay” Điều này tạo ra các cách hiểu khác nhau về điều luật Có ý kiến cho rằng mức lãi suất 20%/năm này chỉ có thể áp dụng cho khoản vay có đối tượng là tiền còn những tài sản khác thì không thể áp dụng mức lãi suất này được
Đề xuất : Sửa chữ “tiền vay” tại khoản 1 Điều 468 thành chữ “tài sản vay” ,
hoặc sửa chữ “tiền vay” thành chữ “tiền vay và tài sản vay khác”.
Trang 9* Thứ ba, bổ sung thêm quy định về hình thức của hợp đồng vay tài sản :
Pháp luật La mã quy định hợp đồng cho vay được ký kết dưới hình thức giấy vay nợ do người vay tự tay viết Người vay ghi nhận số tiền hoặc tài sản vay, lãi suất và thời gian trả nợ vào giấy vay nợ đó Đây là chứng cứ cho vay để buộc người vay phải trả nợ như đã ghi trong giấy công nhận nợ
Tại Việt Nam hiện nay, pháp luật chưa có quy định về hình thức của hợp đồng vay, vì vậy mà hợp đồng vay có thể được thực hiện bằng hình thức miệng hoặc văn bản Vì tính chất tiện lợi nhanh gọn và do sự tin tưởng lẫn nhau nên nhiều người chọn hình thức vay bằng miệng Tuy nhiên trong thời gian vừa qua
có không ít trường hợp người cho vay không đòi lại được tiền vay vì không chứng minh được việc cho vay do không có chứng cứ Vì vậy nên chăng pháp luật cần phải quy định thêm về hình thức của hợp đồng vay tài sản để tránh rủi
ro cho cả hai bên
Đề xuất : Bổ sung thêm khoản 2 vào Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015 : “Hợp
đồng vay tài sản phải được lập thành văn bản có chữ ký của bên cho vay và bên vay.”
3 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định về thực hiện công việc không
có ủy quyền
* Thứ nhất, bổ sung thêm quy định về trường hợp một người nhầm tưởng
mình có nghĩa vụ thực hiện một công việc nhất định và đã thực hiện công việc đó
Theo luật La mã thì thực hiện công việc không có ủy quyền là một trong
các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ thuộc dạng nghĩa vụ ngoài hợp đồng3 theo đó người thực hiện công việc đã tự nguyện thực hiện công việc vì lợi ích của người khác (thực hiện công việc, quản lý tài sản, ) mà không có sự ủy quyền của người có công việc Người thực hiện công việc không có nghĩa vụ phải thực hiện công việc (theo hợp đồng, theo quy định của pháp luật) Như vậy người
3 Nghĩa vụ như từ hợp đồng ( ex quasi contractu)
7
Trang 10thực hiện công việc không có ủy quyền tham gia vào quan hệ này với ý chí chủ quan của bản thân là hoàn toàn tự nguyện, họ không có một sự ràng buộc pháp
lý nào yêu cầu họ phải thực hiện công việc Đồng thời người thực hiện công việc không có ủy quyền đã thực hiện công việc đó với ý định bằng chi phí của người
có công việc (mặc dù tự họ có thể bỏ ra các chi phí đó) Người thực hiện công việc không có ý định tặng cho người chủ công việc để thể hiện lòng hảo tâm Nên người chủ công việc phải bồi hoàn toàn bộ chi phí mà người thực hiện công việc không có ủy quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc
Tuy nhiên trong thực tế có thể xảy ra trường hợp một người lầm tưởng rằng mình có nghĩa vụ phải thực hiện một công việc nào đó và đã thực hiện nó mặc dù họ không có nghĩa vụ đó Hiện nay pháp luật Việt Nam tuy đã ghi nhận
sự tự nguyện về mặt ý chí chủ quan của người thực hiện công việc không có ủy quyền giống như trong pháp luật La mã nhưng chưa có quy định về trường hợp được nêu ra ở trên Điều này gây ra sự mâu thuẫn với quy định về giao dịch dân
sự vô hiệu do nhầm lẫn
Đề xuất : Bổ sung quy định : “Một người do nhầm lẫn tưởng mình có nghĩa vụ
và đã thực hiện công việc thì có quyền yêu cầu người có quyền hoàn trả lại những gì đã nhận”
* Thứ hai, bổ sung thêm quy định về việc người có công việc từ chối trả các chi phí cho việc thực hiện công việc nếu đó là công việc không cần thiết đối với họ.
Luật La mã có quy định nếu người có công việc không coi công việc đã thực hiện là cần thiết , chủ công việc có quyền từ chối trả các chi phí cho việc thực hiện, thậm chí có thể buộc người đã thực hiện công việc phục hồi lại tình trạng ban đầu
Pháp luật Việt Nam hiện hành còn quy định “Người có công việc được
thực hiện phải trả cho người thực hiện công việc không có ủy quyền một khoản thù lao khi người này thực hiện công việc chu đáo, có lợi cho mình, trừ trường