ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
Nhân viên y tế tại 8 khoa bao gồm: Khoa Nội tổng hợp, Khoa Ngoại – Phụ, Khoa Châm cứu – Dƣ ng sinh, Khoa Nhi – Ngũ quan, Khoa HSTC-CĐ, Khoa Khám bệnh đa khoa, Khoa PHCN, và Khoa XN-CĐHA, được phân loại thành hai nhóm.
- Nhóm phân loại CTRYT gồm: Bác sĩ, dƣợc sĩ, y sĩ, điều dƣ ng, kỹ thuật viên
- Nhóm thu gom CTRYT gồm: Hộ lý, y công
Nhân viên y tế, bao gồm bác sĩ, dược sĩ, y sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ lý và y công, tham gia trực tiếp vào việc phân loại và thu gom chất thải rắn y tế trong thời gian nghiên cứu.
Nhân viên hành chính và nhân viên tham gia trực tiếp vào các hoạt động phân loại, thu gom không có mặt trong thời điểm nghiên cứu.
- Nhân viên không đồng ý tham gia nghiên cứu
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 12/2015 đến tháng 6/2016
- Địa điểm: Bệnh viện Y học Cổ truyền Kiên Giang
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả và phân tích, nghiên cứu định tính
Tất cả bác sĩ, dược sĩ, y sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên và hộ lý trong bệnh viện đều tham gia vào hoạt động phân loại và thu gom chất thải rắn y tế Theo danh sách, có tổng cộng 130 cán bộ tham gia.
- Theo chức danh nghề nghiệp có: 27 bác sỹ, dƣợc sỹ, 92 y sĩ, điều dƣ ng, kỹ thuật viên, 11 hộ lý, y công
+ Nhóm phân loại chất thải rắn y tế có 119 nhân viên gồm: bác sỹ, dƣợc sĩ, y sĩ, điều dƣ ng, kỹ thuật viên
+ Nhóm thu gom chất thải rắn y tế có 11 nhân viên gồm: hộ lý và y công
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Thu thập số liệu cho nghiên cứu định lượng
Đánh giá kiến thức, thái độ thực hành của nhân viên y tế:
Sử dụng phương pháp phát vấn với bộ câu hỏi tự điền, nội dung được thiết kế theo quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế Thông tin sẽ được thu thập sau các buổi giao ban tuần tại các khoa lâm sàng.
+ Thực hiện đánh giá kiến thức, thái độ của nhân viên y tế theo từng khoa riêng biệt
+ Tập trung các đối tƣợng nghiên cứu vào một phòng riêng
Điều tra viên sẽ làm rõ mục đích nghiên cứu, phương pháp lựa chọn các phương án trả lời, giải thích các thắc mắc của đối tượng nghiên cứu và nhấn mạnh yêu cầu độc lập của từng cá nhân trong quá trình hoàn thành bộ phiếu.
+ 02 điều tra viên quan sát các đối tƣợng trả lời bộ phiếu
+ Thu các phiếu ngay sau khi các đối tƣợng hoàn thành xong, đồng thời mã hóa phiếu để nhận biết người đã trả lời
Đánh giá thực hành của nhân viên y tế
Điều tra viên tiến hành quan sát nhân viên y tế trong suốt một ngày tại một trong tám khoa, bao gồm Khoa Nội tổng hợp, Khoa Ngoại – Phụ và Khoa Châm cứu.
Dƣ ng sinh; Khoa Nhi – Ngũ quan; Khoa HSTC-CĐ; Khoa Khám bệnh đa khoa; Khoa PHCN; Khoa XN-CĐHA
- Điều tra viên xem lịch phân công nhiệm vụ hàng ngày của nhân viên y tế ở
Trong nghiên cứu này, việc quan sát được thực hiện một cách kín đáo, với người tham gia không được thông báo trước Mỗi ngày, sẽ có 03 YS, ĐD, 01 BS hoặc DS, hoặc KTV, hoặc 01 HL được quan sát.
HUPH đã thực hiện quan sát một lần để mã hóa danh sách nhân viên y tế của khoa khi đánh giá kiến thức trước khi chuyển sang khoa khác Đồng thời, nhóm ĐTNC đã tiến hành quan sát thực hành phân loại CTRYT của bác sĩ, y sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên và dược sĩ tại 08 khoa vào một trong hai thời điểm.
Buổi sáng từ 8h00 – 11h, buổi chiều từ 13h30 – 16h00 phụ lục 2
+ Quan sát thực hành thu gom CTRYT của hộ lý, y công vào 1 trong 2 thời điểm: 6h – 7h; 12h30 – 13h30 phụ lục 3
2.5.2.Thu thập số liệu cho nghiên cứu định tính
Thực hiện phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với các đối tượng nghiên cứu theo bộ câu hỏi đã được thiết kế trước, bao gồm trưởng phòng điều dưỡng, trưởng khoa kiểm soát nhiễm khuẩn, điều dưỡng trưởng ba khoa, bác sĩ, điều dưỡng viên ba khoa và ba hộ lý Mục đích của việc phỏng vấn là làm rõ kết quả nghiên cứu định lượng, đồng thời tìm hiểu sâu nguyên nhân và giả thuyết cho những kết quả này.
- Công cụ hỗ trợ: Máy ghi âm, giấy, bút…
2.6 Các biến số nghiên cứu và các khái niệm: ( Phụ lục 8)
2.7 Phương pháp đánh giá trong nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, mỗi câu trả lời hoặc quan sát chính xác sẽ được tính 1 điểm, trong khi những câu trả lời hoặc quan sát không chính xác, không đầy đủ, không rõ ràng hoặc khác biệt sẽ không được tính điểm.
2.7.1 Nhóm biến số kiến thức, thực hành của nhân viên y tế
Sau khi tham khảo các đề tài nghiên cứu tương tự, như của các tác giả Hoàng
Nghiên cứu của Thị Liên năm 2009 và Châu Thụy Diễm Thúy năm 2015 cho thấy các đề tài đều xác định mốc ≥ 70% tổng số điểm kiến thức và thực hành là đạt Do đó, trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng tiêu chí đánh giá kiến thức và thực hành phân loại, thu gom chất thải rắn của nhân viên y tế, với yêu cầu số điểm kiến thức và thực hành ≥ 80% tổng số điểm là đạt.
- Phần kiến thức chung về chất thải y tế: Gồm 15 câu từ câu Q11 đến câu
Q25, tổng điểm là 15 điểm, điểm đạt ≥ 12 điểm trở lên
- Phần kiến thức về phân loại chất thải y tế: Gồm 10 câu từ câu Q26 đến câu
Q35 tổng điểm là 10 điểm, điểm đạt ≥ 8 điểm trở lên
- Phần kiến thức về thu gom chất thải rắn y tế: Gồm 8 câu từ câu Q36 đến câu Q45, tổng điểm là 10 điểm, điểm đạt ≥ 8 điểm trở lên
- Phần quan sát thực hành phân loại chất thải: Gồm 8 nội dung từ nội dung quan sát B1 đến B8 tổng điểm là 8 điểm, điểm đạt ≥ 7 điểm trở lên
- Phần quan sát thực hành thu gom: Gồm 8 nội dung từ nội dung quan sát B9 đến B16 tổng điểm là 8 điểm, điểm đạt ≥ 7 điểm trở lên
2.7.2 Nhóm biến số thái độ của nhân viên y tế
Phần đánh giá thái độ của nhân viên y tế trong công tác quản lý chất thải rắn được thực hiện qua 5 câu hỏi từ Q46 đến Q50, mỗi câu có 3 lựa chọn: đồng ý, không đồng ý và không có ý kiến Kết quả đánh giá thái độ của nhân viên y tế sẽ được tổng hợp từ các câu trả lời này.
Câu hỏi Biến Điểm Đồng ý Không đồng ý
Q46 Ông/bà có cho rằng chất thải y tế nguy hại sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và môi trường nếu không đƣợc quản lý đúng cách
Q47 Ông/bà có cho rằng phân loại chất thải y tế chính xác ngay từ đầu sẽ làm giảm chi phí xử lý chất thải
Q48 Ông/bà có cho rằng nhân viên thu gom, vận chuyển là người dễ bị ảnh hưởng xấu từ chất thải y tế nguy hại
Q49 Ông/bà có cho rằng để thực hành tốt hoạt động quản lý chất thải bệnh viện, nhân viên y tế cần đƣợc định kỳ tập huấn lại 1 0 0
Q50 Ông/bà có cho rằng cần nhắc đồng nghiệp khi thấy họ phân loại chất thải sai qui định
+ Thái độ tích cực: 4-5 điểm + Thái độ tiêu cực: ≤ 3 điểm
2.8 Phương pháp phân t ch số liệu
- Các thông tin sẽ được mã hóa, làm sạch trước khi nhập bằng phần mềm Epidata 3.1, xử lý bằng phần mềm SPSS 19.0
Áp dụng các kết quả phân tích để tính toán tỷ lệ phần trăm và trung bình thông tin chung của các đối tượng nghiên cứu, đồng thời đánh giá tỷ lệ kiến thức, thái độ và thực hành của họ.
- Áp dụng các kết quả phân tích đo lường bằng phép kiểm Chi bình phương
2 để xác định mối liên quan trong xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của các đối tƣợng nghiên cứu
Thông tin thu đƣợc sẽ đƣợc g băng, tiến hành mã hóa và phân nhóm theo từng chủ đề, áp dụng trong phần nhận xét kết quả và bàn luận
2.9 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu chỉ tiến hành phỏng vấn những người tham gia tự nguyện và đồng ý, với quyền từ chối câu trả lời hoặc rút lui bất kỳ lúc nào Thông tin cá nhân của các đối tượng nghiên cứu được bảo mật hoàn toàn.
Tất cả thông tin và số liệu được thu thập một cách trung thực, chỉ nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu và không được sử dụng cho bất kỳ mục đích nào khác.
- Kết quả nghiên cứu đƣợc phản hồi tại bệnh viện
2.10 Sai số, biện pháp khắc phục và hạn chế của đề tài
- Sai số do kỹ năng thu thập số liệu của các điều tra viên
- Sai số do nhớ lại: Nghiên cứu có một số câu hỏi đòi hỏi đối tƣợng nghiên cứu phải nhớ lại các hoạt động đã làm
Nghiên cứu định tính có thể gặp phải sai số trong quá trình dẫn dắt và ghi chép, dẫn đến thông tin thu được không hoàn toàn khách quan Điều này có thể do ảnh hưởng của yếu tố tâm lý hoặc các vấn đề nhạy cảm.
2.10.2 iện pháp khắc ph c sai số
Để đảm bảo chất lượng điều tra, cần tổ chức tập huấn kỹ lưỡng cho các điều tra viên, thống nhất các tiêu chuẩn đánh giá, tiến hành thử nghiệm bộ công cụ và rút ra kinh nghiệm trước khi bắt đầu quá trình điều tra.
- Thiết kế bộ câu hỏi ngắn gọn, từ ngữ đơn giản, rõ ràng và dễ hiểu
Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Thu thập số liệu cho nghiên cứu định lượng
Đánh giá kiến thức, thái độ thực hành của nhân viên y tế:
Sử dụng phương pháp phát vấn với bộ câu hỏi tự điền, nội dung được thiết kế theo quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế Thông tin sẽ được thu thập sau các buổi giao ban tuần tại các khoa lâm sàng.
+ Thực hiện đánh giá kiến thức, thái độ của nhân viên y tế theo từng khoa riêng biệt
+ Tập trung các đối tƣợng nghiên cứu vào một phòng riêng
Điều tra viên làm rõ mục đích nghiên cứu, phương pháp lựa chọn các phương án trả lời, giải thích thắc mắc của đối tượng nghiên cứu và nêu rõ yêu cầu độc lập của từng cá nhân trong quá trình hoàn thành bộ phiếu.
+ 02 điều tra viên quan sát các đối tƣợng trả lời bộ phiếu
+ Thu các phiếu ngay sau khi các đối tƣợng hoàn thành xong, đồng thời mã hóa phiếu để nhận biết người đã trả lời
Đánh giá thực hành của nhân viên y tế
Điều tra viên tiến hành quan sát nhân viên y tế trong suốt một ngày tại một trong tám khoa, bao gồm Khoa Nội tổng hợp, Khoa Ngoại – Phụ và Khoa Châm cứu.
Dƣ ng sinh; Khoa Nhi – Ngũ quan; Khoa HSTC-CĐ; Khoa Khám bệnh đa khoa; Khoa PHCN; Khoa XN-CĐHA
- Điều tra viên xem lịch phân công nhiệm vụ hàng ngày của nhân viên y tế ở
Quan sát kín là phương pháp mà người được theo dõi không được thông báo trước Mỗi ngày, sẽ có 03 YS, 01 ĐD, 01 BS hoặc DS, hoặc KTV, hoặc 01 HL được quan sát.
HUPH đã thực hiện quan sát một lần để mã hóa danh sách nhân viên y tế của khoa khi đánh giá kiến thức trước khi chuyển sang khoa khác Đồng thời, nhóm ĐTNC đã tiến hành quan sát thực hành phân loại CTRYT của bác sĩ, y sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên và dược sĩ tại 08 khoa vào một trong hai thời điểm.
Buổi sáng từ 8h00 – 11h, buổi chiều từ 13h30 – 16h00 phụ lục 2
+ Quan sát thực hành thu gom CTRYT của hộ lý, y công vào 1 trong 2 thời điểm: 6h – 7h; 12h30 – 13h30 phụ lục 3
2.5.2.Thu thập số liệu cho nghiên cứu định tính
Thực hiện phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với các đối tượng nghiên cứu theo bộ câu hỏi đã được thiết kế trước, bao gồm trưởng phòng điều dưỡng, trưởng khoa kiểm soát nhiễm khuẩn, điều dưỡng trưởng ba khoa, bác sĩ, điều dưỡng viên ba khoa và ba hộ lý Mục đích của việc phỏng vấn là làm rõ kết quả nghiên cứu định lượng, đồng thời tìm hiểu sâu nguyên nhân và giả thuyết cho những kết quả này.
- Công cụ hỗ trợ: Máy ghi âm, giấy, bút…
2.6 Các biến số nghiên cứu và các khái niệm: ( Phụ lục 8)
2.7 Phương pháp đánh giá trong nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, mỗi câu trả lời hoặc quan sát chính xác sẽ được tính 1 điểm, trong khi những câu trả lời hoặc quan sát không chính xác, không đầy đủ, không rõ ràng hoặc khác biệt sẽ không được tính điểm.
2.7.1 Nhóm biến số kiến thức, thực hành của nhân viên y tế
Sau khi tham khảo các đề tài nghiên cứu tương tự, như của các tác giả Hoàng
Nghiên cứu của Thị Liên năm 2009 và Châu Thụy Diễm Thúy năm 2015 cho thấy các đề tài đều xác định mốc ≥ 70% tổng số điểm kiến thức và thực hành là đạt Do đó, trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng tiêu chí đánh giá kiến thức và thực hành phân loại, thu gom chất thải rắn của nhân viên y tế, với yêu cầu số điểm kiến thức và thực hành ≥ 80% tổng số điểm là đạt.
- Phần kiến thức chung về chất thải y tế: Gồm 15 câu từ câu Q11 đến câu
Q25, tổng điểm là 15 điểm, điểm đạt ≥ 12 điểm trở lên
- Phần kiến thức về phân loại chất thải y tế: Gồm 10 câu từ câu Q26 đến câu
Q35 tổng điểm là 10 điểm, điểm đạt ≥ 8 điểm trở lên
- Phần kiến thức về thu gom chất thải rắn y tế: Gồm 8 câu từ câu Q36 đến câu Q45, tổng điểm là 10 điểm, điểm đạt ≥ 8 điểm trở lên
- Phần quan sát thực hành phân loại chất thải: Gồm 8 nội dung từ nội dung quan sát B1 đến B8 tổng điểm là 8 điểm, điểm đạt ≥ 7 điểm trở lên
- Phần quan sát thực hành thu gom: Gồm 8 nội dung từ nội dung quan sát B9 đến B16 tổng điểm là 8 điểm, điểm đạt ≥ 7 điểm trở lên
2.7.2 Nhóm biến số thái độ của nhân viên y tế
Phần đánh giá thái độ của nhân viên y tế trong công tác quản lý chất thải rắn bao gồm 5 câu hỏi từ Q46 đến Q50, mỗi câu có 3 lựa chọn: đồng ý, không đồng ý và không có ý kiến Kết quả đánh giá thái độ của nhân viên y tế sẽ được tổng hợp từ các câu trả lời này.
Câu hỏi Biến Điểm Đồng ý Không đồng ý
Q46 Ông/bà có cho rằng chất thải y tế nguy hại sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và môi trường nếu không đƣợc quản lý đúng cách
Q47 Ông/bà có cho rằng phân loại chất thải y tế chính xác ngay từ đầu sẽ làm giảm chi phí xử lý chất thải
Q48 Ông/bà có cho rằng nhân viên thu gom, vận chuyển là người dễ bị ảnh hưởng xấu từ chất thải y tế nguy hại
Q49 Ông/bà có cho rằng để thực hành tốt hoạt động quản lý chất thải bệnh viện, nhân viên y tế cần đƣợc định kỳ tập huấn lại 1 0 0
Q50 Ông/bà có cho rằng cần nhắc đồng nghiệp khi thấy họ phân loại chất thải sai qui định
+ Thái độ tích cực: 4-5 điểm + Thái độ tiêu cực: ≤ 3 điểm
2.8 Phương pháp phân t ch số liệu
- Các thông tin sẽ được mã hóa, làm sạch trước khi nhập bằng phần mềm Epidata 3.1, xử lý bằng phần mềm SPSS 19.0
Áp dụng các kết quả phân tích để tính toán tỷ lệ phần trăm và trung bình thông tin chung của các đối tượng nghiên cứu, đồng thời đánh giá tỷ lệ kiến thức, thái độ và thực hành của họ.
- Áp dụng các kết quả phân tích đo lường bằng phép kiểm Chi bình phương
2 để xác định mối liên quan trong xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của các đối tƣợng nghiên cứu
Thông tin thu đƣợc sẽ đƣợc g băng, tiến hành mã hóa và phân nhóm theo từng chủ đề, áp dụng trong phần nhận xét kết quả và bàn luận
2.9 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu chỉ tiến hành phỏng vấn những người tự nguyện tham gia và đồng ý trả lời Đối tượng có quyền từ chối các câu hỏi không muốn trả lời hoặc rút khỏi nghiên cứu bất kỳ lúc nào Thông tin cá nhân của họ được bảo mật tuyệt đối.
Tất cả thông tin và số liệu được thu thập một cách trung thực, nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu và không được sử dụng cho bất kỳ mục đích nào khác.
- Kết quả nghiên cứu đƣợc phản hồi tại bệnh viện
2.10 Sai số, biện pháp khắc phục và hạn chế của đề tài
- Sai số do kỹ năng thu thập số liệu của các điều tra viên
- Sai số do nhớ lại: Nghiên cứu có một số câu hỏi đòi hỏi đối tƣợng nghiên cứu phải nhớ lại các hoạt động đã làm
Nghiên cứu định tính có thể gặp phải sai số trong quá trình dẫn dắt và ghi chép, dẫn đến thông tin thu được không hoàn toàn khách quan Điều này có thể do ảnh hưởng của yếu tố tâm lý hoặc các vấn đề nhạy cảm trong nghiên cứu.
2.10.2 iện pháp khắc ph c sai số
Để đảm bảo chất lượng điều tra, cần tổ chức tập huấn kỹ lưỡng cho các điều tra viên, thống nhất các tiêu chuẩn đánh giá, tiến hành thử nghiệm bộ công cụ và rút ra kinh nghiệm trước khi bắt đầu quá trình điều tra.
- Thiết kế bộ câu hỏi ngắn gọn, từ ngữ đơn giản, rõ ràng và dễ hiểu
Thông báo trước lịch phỏng vấn cho các đối tượng nghiên cứu giúp họ sắp xếp thời gian hợp lý Đồng thời, việc giải thích rõ ràng mục đích và tính bảo mật của nghiên cứu sẽ tạo ra một không khí thoải mái, cởi mở trong suốt quá trình thực hiện.
2.10.3.Hạn chế của đề tài
- Kết quả nghiên cứu chỉ đánh giá đƣợc tại thời điểm nghiên cứu do thiết kế nghiên cứu ở dạng mô tả cắt ngang
- Cở mẫu quan sát thực hành thu gom vận chuyển của hộ lý, y công còn thấp nên chƣa đại diện đƣợc hết trong quần thể nghiên cứu
Phương pháp đánh giá trong nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, mỗi câu trả lời hoặc quan sát chính xác sẽ được tính 1 điểm, trong khi những câu trả lời hoặc quan sát không chính xác, không đầy đủ, không rõ ràng hoặc khác biệt sẽ không được tính điểm.
2.7.1 Nhóm biến số kiến thức, thực hành của nhân viên y tế
Sau khi tham khảo các đề tài nghiên cứu tương tự, như của các tác giả Hoàng
Nghiên cứu của Thị Liên năm 2009 và Châu Thụy Diễm Thúy năm 2015 cho thấy rằng các đề tài đều xác định mốc ≥ 70% tổng số điểm kiến thức và thực hành là đạt Do đó, trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng tiêu chí đánh giá kiến thức và thực hành phân loại, thu gom chất thải rắn của nhân viên y tế, với yêu cầu số điểm kiến thức và thực hành ≥ 80% tổng số điểm là đạt.
- Phần kiến thức chung về chất thải y tế: Gồm 15 câu từ câu Q11 đến câu
Q25, tổng điểm là 15 điểm, điểm đạt ≥ 12 điểm trở lên
- Phần kiến thức về phân loại chất thải y tế: Gồm 10 câu từ câu Q26 đến câu
Q35 tổng điểm là 10 điểm, điểm đạt ≥ 8 điểm trở lên
- Phần kiến thức về thu gom chất thải rắn y tế: Gồm 8 câu từ câu Q36 đến câu Q45, tổng điểm là 10 điểm, điểm đạt ≥ 8 điểm trở lên
- Phần quan sát thực hành phân loại chất thải: Gồm 8 nội dung từ nội dung quan sát B1 đến B8 tổng điểm là 8 điểm, điểm đạt ≥ 7 điểm trở lên
- Phần quan sát thực hành thu gom: Gồm 8 nội dung từ nội dung quan sát B9 đến B16 tổng điểm là 8 điểm, điểm đạt ≥ 7 điểm trở lên
2.7.2 Nhóm biến số thái độ của nhân viên y tế
Phần đánh giá thái độ của nhân viên y tế trong công tác quản lý chất thải rắn bao gồm 5 câu hỏi từ Q46 đến Q50, mỗi câu có 3 lựa chọn: đồng ý, không đồng ý và không có ý kiến Kết quả đánh giá thái độ của nhân viên y tế được trình bày như sau:
Câu hỏi Biến Điểm Đồng ý Không đồng ý
Q46 Ông/bà có cho rằng chất thải y tế nguy hại sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và môi trường nếu không đƣợc quản lý đúng cách
Q47 Ông/bà có cho rằng phân loại chất thải y tế chính xác ngay từ đầu sẽ làm giảm chi phí xử lý chất thải
Q48 Ông/bà có cho rằng nhân viên thu gom, vận chuyển là người dễ bị ảnh hưởng xấu từ chất thải y tế nguy hại
Q49 Ông/bà có cho rằng để thực hành tốt hoạt động quản lý chất thải bệnh viện, nhân viên y tế cần đƣợc định kỳ tập huấn lại 1 0 0
Q50 Ông/bà có cho rằng cần nhắc đồng nghiệp khi thấy họ phân loại chất thải sai qui định
+ Thái độ tích cực: 4-5 điểm + Thái độ tiêu cực: ≤ 3 điểm
2.8 Phương pháp phân t ch số liệu
- Các thông tin sẽ được mã hóa, làm sạch trước khi nhập bằng phần mềm Epidata 3.1, xử lý bằng phần mềm SPSS 19.0
Áp dụng các kết quả phân tích để xác định tỷ lệ phần trăm và trung bình thông tin chung của các đối tượng nghiên cứu, bao gồm tỷ lệ kiến thức, thái độ và thực hành.
- Áp dụng các kết quả phân tích đo lường bằng phép kiểm Chi bình phương
2 để xác định mối liên quan trong xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của các đối tƣợng nghiên cứu
Thông tin thu đƣợc sẽ đƣợc g băng, tiến hành mã hóa và phân nhóm theo từng chủ đề, áp dụng trong phần nhận xét kết quả và bàn luận
2.9 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu chỉ tiến hành phỏng vấn những người tự nguyện tham gia và đồng ý trả lời Đối tượng có quyền từ chối các câu hỏi không muốn trả lời hoặc rút khỏi nghiên cứu bất kỳ lúc nào Thông tin cá nhân của họ được bảo mật tuyệt đối.
Tất cả thông tin và số liệu được thu thập một cách trung thực, chỉ nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu và không được sử dụng cho bất kỳ mục đích nào khác.
- Kết quả nghiên cứu đƣợc phản hồi tại bệnh viện
2.10 Sai số, biện pháp khắc phục và hạn chế của đề tài
- Sai số do kỹ năng thu thập số liệu của các điều tra viên
- Sai số do nhớ lại: Nghiên cứu có một số câu hỏi đòi hỏi đối tƣợng nghiên cứu phải nhớ lại các hoạt động đã làm
Nghiên cứu định tính có thể gặp phải sai số trong quá trình dẫn dắt và ghi chép, dẫn đến thông tin thu được không hoàn toàn khách quan Điều này có thể do ảnh hưởng của yếu tố tâm lý hoặc các vấn đề nhạy cảm trong quá trình thu thập dữ liệu.
2.10.2 iện pháp khắc ph c sai số
Để đảm bảo chất lượng điều tra, cần tổ chức tập huấn kỹ lưỡng cho các điều tra viên, thống nhất các tiêu chuẩn đánh giá, tiến hành thử nghiệm bộ công cụ và rút ra kinh nghiệm trước khi bắt đầu quá trình điều tra.
- Thiết kế bộ câu hỏi ngắn gọn, từ ngữ đơn giản, rõ ràng và dễ hiểu
Thông báo trước lịch phỏng vấn cho các đối tượng nghiên cứu giúp họ sắp xếp thời gian hợp lý Đồng thời, cần giải thích rõ ràng mục đích và tính bảo mật của nghiên cứu, nhằm tạo ra một không khí thoải mái và cởi mở trong suốt quá trình thực hiện.
2.10.3.Hạn chế của đề tài
- Kết quả nghiên cứu chỉ đánh giá đƣợc tại thời điểm nghiên cứu do thiết kế nghiên cứu ở dạng mô tả cắt ngang
- Cở mẫu quan sát thực hành thu gom vận chuyển của hộ lý, y công còn thấp nên chƣa đại diện đƣợc hết trong quần thể nghiên cứu
Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu chỉ tiến hành phỏng vấn những người tự nguyện tham gia và đồng ý trả lời Các đối tượng có quyền từ chối câu trả lời mà họ không muốn hoặc rút khỏi nghiên cứu bất kỳ lúc nào Thông tin cá nhân của họ được bảo mật tuyệt đối.
Tất cả thông tin và số liệu được thu thập một cách trung thực, nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu và không được sử dụng cho bất kỳ mục đích nào khác.
- Kết quả nghiên cứu đƣợc phản hồi tại bệnh viện.
Sai số, biện pháp khắc phục và hạn chế của đề tài
- Sai số do kỹ năng thu thập số liệu của các điều tra viên
- Sai số do nhớ lại: Nghiên cứu có một số câu hỏi đòi hỏi đối tƣợng nghiên cứu phải nhớ lại các hoạt động đã làm
Nghiên cứu định tính có thể gặp phải sai số trong quá trình dẫn dắt và ghi chép, dẫn đến thông tin thu được không hoàn toàn khách quan Điều này có thể do ảnh hưởng của yếu tố tâm lý hoặc các vấn đề nhạy cảm trong quá trình thu thập dữ liệu.
2.10.2 iện pháp khắc ph c sai số
Tập huấn kỹ lưỡng cho các điều tra viên là rất quan trọng để thống nhất các tiêu chuẩn đánh giá Việc tiến hành thử nghiệm bộ công cụ và rút kinh nghiệm trước khi bắt đầu điều tra sẽ giúp nâng cao chất lượng và độ chính xác của kết quả.
- Thiết kế bộ câu hỏi ngắn gọn, từ ngữ đơn giản, rõ ràng và dễ hiểu
Thông báo trước lịch phỏng vấn cho các đối tượng nghiên cứu giúp họ sắp xếp thời gian hợp lý Đồng thời, việc giải thích rõ ràng mục đích và tính bảo mật của nghiên cứu sẽ tạo ra một không khí thoải mái, cởi mở trong suốt quá trình thực hiện.
2.10.3.Hạn chế của đề tài
- Kết quả nghiên cứu chỉ đánh giá đƣợc tại thời điểm nghiên cứu do thiết kế nghiên cứu ở dạng mô tả cắt ngang
- Cở mẫu quan sát thực hành thu gom vận chuyển của hộ lý, y công còn thấp nên chƣa đại diện đƣợc hết trong quần thể nghiên cứu
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung về đối tƣợng nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm về giới, tuổi của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: Đặc điểm về giới, tuổi của đối tượng nghiên cứu
Tên biến Nội dung Kết quả
Nhận xét: Tỉ lệ nữ trong nghiên cứu cao nhất chiếm 68,5%, tuổi trung bình là
Đối tượng nghiên cứu có độ tuổi từ 21 đến 56, với độ tuổi từ 26 đến 35 chiếm tỷ lệ cao nhất là 36,2% Đáng chú ý, nhóm tuổi ≤ 25 cũng có tỷ lệ khá cao là 27,7% Kết quả cho thấy đối tượng nghiên cứu chủ yếu nằm trong độ tuổi lao động lâu dài, trong khi chỉ có 7,7% người trên 50 tuổi, đây là tỷ lệ thấp nhất trong các đối tượng nghiên cứu.
3.1.2 Đặc điểm về nghề nghiệp, trình độ và thâm niên công tác
Bảng 3.2: Đặc điểm về nghề nghiệp, trình độ và thâm niên công tác của đối tượng nghiên cứu
Tên biến Nội dung Kết quả
Y sĩ, Điều dƣ ng, KTV 92 70,8
Trong nghiên cứu với 130 đối tượng, nhóm nghề nghiệp y sĩ, điều dưỡng và kỹ thuật viên chiếm tỷ lệ cao nhất với 70,8%, trong đó 69,2% có trình độ trung cấp Tỷ lệ có trình độ đại học và sau đại học lần lượt là 10,8% và 7,7% Đáng chú ý, 7,7% đối tượng không có bằng cấp thuộc nhóm hộ lý và y công, những người trực tiếp tham gia vào công tác thu gom chất thải rắn y tế Ngoài ra, nhóm đối tượng có thâm niên từ 1-5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất với 33,1%.
HUPH nghiên cứu < 1 năm công tác chiếm 19,2%, nhóm đối tƣợng nghiên cứu có thâm niên > 20 năm công tác chiếm tỉ lệ thấp nhất 8,5%
3.1.3 Đặc điểm về sự quan tâm của lãnh đạo đối với qui chế quản lý chất thải rắn y tế
Bảng 3.3: Sự quan tâm của lãnh đạo về qui chế quản lý chất thải y tế
Tên biến Nội dung Kết quả
Tần số (n ) T lệ ( ) Đƣợc lãnh đạo khoa nhắc nhở về quy chế quản lý chất thải trong giao ban khoa
Số lần lãnh đạo khoa nhắc nhở lặp lại
Nhận xét: Các đối tƣợng nghiên cứu đƣợc lãnh đạo khoa nhắc nhở về qui chế
Công tác quản lý chất lượng (QLCT) trong giao ban của khoa đạt tỷ lệ cao 92,3%, cho thấy sự quan tâm và chú trọng của lãnh đạo khoa Số lần lãnh đạo nhắc nhở về QLCT là 54,1% mỗi tuần, điều này phản ánh rõ ràng sự cam kết của bệnh viện đối với chất lượng dịch vụ Kết quả này cũng được xác nhận qua các cuộc phỏng vấn sâu với trưởng khoa và y sĩ, điều dưỡng viên.
Các văn bản chỉ đạo về kiểm soát nhiễm khuẩn và quản lý chất thải đã được ban hành đầy đủ, do đó, các điều dưỡng cần thực hiện đúng quy định để tránh bị trừ thi đua hàng tháng Một điều dưỡng trưởng thường xuyên nhắc nhở về việc phân loại rác đúng cách, vì việc phân loại sai sẽ dẫn đến việc trừ thi đua của cả khoa và cá nhân.
3.1.4 Đặc điểm về tập huấn qui chế quản lý chất thải y tế
Bảng 3.4:Tập huấn các qui chế quản lý chất thải của đối tượng nghiên cứu
Tên biến Nội dung Kết quả
Tập huấn quy chế QLCTYT
Tổng 130 100 Đơn vị tập huấn
Năm được tập huấn/hướng dẫn
Các đối tượng nghiên cứu có tỷ lệ được tập huấn về công tác quản lý chất lượng rất cao, đạt 89,2% Trong đó, bệnh viện là đơn vị có tỷ lệ tập huấn cao nhất với 63,8%, tiếp theo là khoa kiểm soát nhiễm khuẩn với 32% Đặc biệt, tỷ lệ tập huấn gần như đạt 95,7% sau năm 2007.
Năm 2007, qui chế quản lý chất thải y tế được ban hành, dẫn đến sự quan tâm tăng cường trong công tác quản lý chất thải tại các cơ sở y tế Kết quả phỏng vấn với trưởng phòng điều dưỡng cho thấy bệnh viện chú trọng đến việc này, với các chương trình tập huấn hàng năm cho điều dưỡng về phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải y tế Bên cạnh đó, khoa Kiểm soát Nhiễm khuẩn cũng tổ chức các chuyên đề đào tạo về tác động của chất thải y tế đến sức khỏe con người và môi trường, kèm theo hướng dẫn phân loại chất thải y tế.
3.2 Đặc điểm kiến thức, thái độ, thực hành về phân loại, thu gom chất thải rắn của đối tƣợng nghiên cứu
3.2 1 Đặc điểm kiến thức về chất thải rắn y tế của đối tượng nghiên cứu
3.2.1.1 Kiến thức chung về chất thải rắn y tế
Bảng 3.5 Đặc điểm kiến thức chung về chất thải rắn của đối tượng nghiên cứu
Kiến thức về định nghĩa CTYT 119 (91,5) 11 (8,5)
Kiến thức về số lượng chất thải y tế phát sinh tại cơ sở y tế cho thấy 63,1% có hiểu biết, trong khi 36,9% không Về chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao, 22,3% người được khảo sát có kiến thức, còn 77,7% thiếu hiểu biết Đối với chất thải hóa học nguy hại, 39,2% có kiến thức, trong khi 60,8% không nắm rõ Về thành phần chất thải thông thường, 77,7% có kiến thức, còn 22,3% không biết Đặc biệt, 94,6% người tham gia khảo sát hiểu biết về thành phần chất thải tái chế và nguy cơ lây nhiễm bệnh khi bị kim tiêm đâm, trong khi chỉ có 5,4% không có kiến thức.
Các đối tượng nghiên cứu có kiến thức về định nghĩa chất thải y tế (CTYT) đạt 91,5%, nhưng chỉ 22,3% có kiến thức đúng về chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao và 39,2% hiểu đúng về chất thải hóa học nguy hại Tỷ lệ kiến thức đúng về chất thải thông thường và chất thải tái chế lần lượt là 77,7% và 94,6% Kết quả phỏng vấn cho thấy kiến thức chung về chất thải của nhân viên y tế còn hạn chế Một bác sĩ cho biết: “Chúng tôi chỉ biết phân loại một số loại chất thải hay gặp, ít quan tâm đến nhiều nội dung khác trong quản lý chất thải.” Trưởng phòng điều dưỡng cũng nhấn mạnh rằng trong các buổi tập huấn, họ chỉ tập trung vào những nội dung cơ bản trong phân loại chất thải y tế, như phân loại đầu kim sắc nhọn vào thùng kháng thủng, mà ít đi sâu vào các loại chất thải ít gặp như hóa học hay gây độc tế bào.
Biểu đồ 3.1 Kết quả kiến thức chung của đối tƣợng nghiên cứu
Các đối tượng nghiên cứu chỉ đạt 45,4% kiến thức chung về quy chế quản lý chất thải rắn y tế, trong khi 54,6% không đạt yêu cầu Nguyên nhân chủ yếu là do sự nhầm lẫn giữa các loại chất thải, như việc cho rằng chất thải y tế nguy hại là loại phát sinh nhiều nhất trong bệnh viện, hay nhầm lẫn chất thải lây nhiễm tại các phòng bệnh là loại có nguy cơ lây nhiễm cao, và nước rửa phim X-quang được coi là chất thải phóng xạ.
3.2.1.2 Kiến thức về phân loại chất thải rắn y tế
Bảng 3.6 Đặc điểm kiến thức phân loại chất thải rắn của đối tượng nghiên cứu
Hiểu về số lượng màu sắc quy định trong phân loại chất thải y tế (CTYT) là rất quan trọng, với 90,8% người tham gia nắm rõ quy định này Đối với phân loại chất thải lây nhiễm không sắc nhọn, tỷ lệ hiểu biết đạt 98,5% Quy định phân loại chất thải lây nhiễm sắc nhọn cũng được hiểu rõ với 99,2% Tuy nhiên, chỉ 59,2% người tham gia hiểu quy định phân loại chất thải hóa học, trong khi 96,2% nắm rõ quy định phân loại chất thải thông thường Cuối cùng, 90% người tham gia hiểu quy định phân loại chất thải tái chế.
Các đối tượng nghiên cứu có kiến thức cao về phân loại chất thải rắn y tế, với tỷ lệ đạt 99,2% cho chất thải sắc nhọn và 98,5% cho chất thải lây nhiễm Kiến thức về phân loại chất thải thông thường và tái chế cũng cao, lần lượt là 96,2% và 90% Tuy nhiên, 40,8% vẫn chưa hiểu đúng về quy định phân loại chất thải hóa học nguy hại Một điều dưỡng chia sẻ: “Thực ra khi học thì đã được học qua rồi, nhưng khi làm thực tế thì kiến thức cũng bị mai một.” Điều dưỡng trưởng cho biết: “Khoa cũng thường xuyên nhắc nhở công tác phân loại chất thải trong giao ban khoa và tôi cũng đích thân đi kiểm tra nhắc nhở các em, nhất là những em mới vào làm.”
Biểu đồ 3.2 Kết quả kiến thức phân loại của đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu có kiến thức về phân loại chất thải rắn y tế đạt tỉ lệ 92,3% Bệnh viện thể hiện sự quan tâm lớn đến công tác quản lý chất thải y tế thông qua việc tổ chức tập huấn, nhắc nhở và trang bị nhiều bảng hướng dẫn phân loại chất thải rắn y tế với hình ảnh sinh động.
3.2.1.3 Kiến thức về thu gom, vận chuyển chất thải rắn y tế
Bảng 3.7 Đặc điểm kiến thức thu gom CTRYT của đối tượng nghiên cứu
Hiểu về quy định đặt thùng thu gom chất thải là rất quan trọng, với 72,3% người tham gia nắm rõ Số lượng chất thải trong túi cần thu gom cũng được 51,5% người hiểu rõ Đặc biệt, 78,5% đã hiểu về loại chất thải cần xử lý trước khi thu gom Về phương tiện thu gom chất thải lây nhiễm, 96,2% người tham gia có kiến thức đầy đủ, trong khi 93,1% hiểu về phương tiện thu gom chất thải thông thường Quy định về đường vận chuyển chất thải y tế cũng được 88,5% người biết đến, và 67,7% hiểu rõ thời gian lưu giữ chất thải y tế tại các khoa.
Các đối tượng nghiên cứu có hiểu biết tốt về phương tiện thu gom chất thải lây nhiễm và chất thải thông thường, với tỷ lệ lần lượt là 96,2% và 93,1% Tuy nhiên, có 48,5% đối tượng hiểu sai về quy định số lượng chất thải cần thu gom trong túi Một hộ lý cho biết: “Hiện nay tại các vị trí của các khoa phòng đã được dán hướng dẫn đầy đủ quy trình phân loại, thu gom nên chúng tôi cũng dễ thực hiện, không nhớ nhìn cái là nhớ liền…” (HL-V).
Biểu đồ 3.3 Kết quả kiến thức thu gom, vận chuyển của đối tƣợng nghiên cứu
Nhận xét: Đối tƣợng nghiên cứu có kiến thức về thu gom CTRYT tỉ lệ này đạt 65,4% Tuy nhiên vẫn còn một tỉ lệ khá cao 34,6% không đạt
3.2.2 Đặc điểm thái độ về công tác quản lý chất thải rắn y tế của các đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.8 Đặc điểm thái độ của đối tượng nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu n = 130 Đồng ý n(%)
Chất thải y tế nguy hại có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và môi trường nếu không được quản lý đúng cách Việc phân loại chất thải y tế chính xác ngay từ đầu sẽ giúp giảm chi phí xử lý Nhân viên thu gom và vận chuyển là những người dễ bị ảnh hưởng tiêu cực từ chất thải này Để thực hiện tốt quản lý chất thải bệnh viện, nhân viên y tế cần được định kỳ tập huấn lại Ngoài ra, cần nhắc nhở đồng nghiệp khi phát hiện họ phân loại chất thải không đúng quy định.
Đặc điểm thực hành phân loại, thu gom chất thải rắn y tế
3.3.1 Đặc điểm thực hành phân loại chất thải rắn y tế của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.9 Đặc điểm thực hành phân loại CTRYT của đối tượng nghiên cứu
Việc phân loại chất thải ngay tại nơi phát sinh là rất quan trọng, với 68,1% thực hiện đúng Đối với chất thải lây nhiễm không sắc nhọn, tỷ lệ phân loại đúng đạt 86,5% Trong khi đó, chỉ có 61,3% thực hiện phân loại đúng cho chất thải lây nhiễm sắc nhọn Đối với chất thải thông thường, tỷ lệ phân loại đúng lên tới 90%.
Thực hiện phân loại đúng chất thải tái chế 54 (45,4) 65 (54,6)
Các ĐTNC đã thực hiện phân loại chất thải ngay tại nơi phát sinh với tỷ lệ đạt 68,1% Việc phân loại đúng chất thải lây nhiễm không sắc nhọn và chất thải thông là rất quan trọng.
HUPH đạt tỷ lệ phân loại chất thải cao, lần lượt là 86,5% và 90% Tuy nhiên, vẫn còn 38,7% và 54,6% trường hợp phân loại sai đối với chất thải sắc nhọn và chất thải tái chế Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy
Hiện nay, các khoa lâm sàng chủ yếu phân loại chất thải thành hai nhóm chính: chất thải lây nhiễm và chất thải thông thường Chất thải hóa học nguy hại rất ít và không đáng kể Hiện chỉ có bốn khoa trang bị thùng và bọc để đựng chất thải tái chế, trong khi hầu hết các khoa còn lại chưa có.
Chị không có thùng đựng chất thải tái chế trong khoa, mặc dù đã làm phiếu xin nhưng chưa được phê duyệt Do đó, các em biết rằng loại chất thải này có thể tái chế, nhưng lại bỏ qua chất thải thông thường.
Biểu đồ 3.5 Kết quả thực hành phân loại của đối tƣợng nghiên cứu
Theo nghiên cứu, tỷ lệ thực hành phân loại chất thải rắn y tế đạt 60,2%, tuy nhiên vẫn còn 39,8% chưa đạt yêu cầu.
3.3.2 Đặc điểm thực hành thu gom, vận chuyển chất thải rắn y tế của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.10 Đặc điểm thực hành thu gom CTRYT của đối tượng nghiên cứu
Thu gom riêng từng loại chất thải 10 (91%) 1( 9%)
Sử dụng xe đúng qui định vận chuyển cho từng loại CT 8(72,7%) 3( 27,3%)
Thu gom đúng thời gian qui định 6(54,5%) 5(45,5%)
Khi thu gom chất thải, 72,7% túi và thùng được lấp đầy đến 3/4, trong khi 27,3% còn lại không đạt yêu cầu Tất cả 100% túi đựng chất thải được buộc kín miệng trước khi thu gom Về vận chuyển, 91% chất thải rắn được chuyển về khu lưu giữ ít nhất một lần mỗi ngày, trong khi 9% còn lại không thực hiện đúng quy định Cuối cùng, 91% túi đựng chất thải đều được ghi xuất xứ từ các khoa bên ngoài, chỉ có 9% không tuân thủ.
Nhận xét: 100% các túi thu gom được buộc kín miệng trước khi thu gom,
91% chất thải tại bệnh viện được thu gom riêng theo từng loại và vận chuyển về nơi lưu giữ tập trung ít nhất một lần mỗi ngày, với thông tin xuất xứ từ các khoa/phòng được ghi rõ trên túi đựng Tuy nhiên, có đến 45,5% việc thu gom và vận chuyển không tuân thủ thời gian quy định Một hộ lý cho biết rằng việc thu gom sớm không khả thi do bệnh nhân thường bỏ rác nhiều sau bữa sáng, dẫn đến việc thu gom thường diễn ra sau 8 giờ để tiết kiệm bọc rác và thời gian Hơn nữa, một hộ lý khác chia sẻ rằng khi thu gom, lượng chất thải có thể vượt quá 3/4 thùng, vì mỗi người thường phải gom một lượt cho đầy xe để giảm thiểu số lần thu gom, điều này gây khó khăn cho công việc.
Biểu đồ 3.6 Kết quả thực hành thu gom, vận chuyển của đối tƣợng nghiên cứu
Các đối tượng nghiên cứu cho thấy chỉ có 45,5% đạt tiêu chuẩn thực hành thu gom chất thải rắn y tế, trong khi đó, 54,5% còn lại không đạt yêu cầu này.
Một số yếu tố liên quan đến kiến thực, thực hành về phân loại, thu gom chất thải rắn của đối tƣợng nghiên cứu
3.4.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức của đối tượng nghiên cứu
3.4.1.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức chung của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa kiến thức chung chất thải rắn y tế với thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Kết quả phân tích Đạt n(%)
Trình độ ĐH trở lên
Chưa có mối liên hệ thống kê đáng kể giữa kiến thức về quản lý chất thải rắn y tế và các yếu tố như thâm niên công tác, trình độ chuyên môn, cũng như việc tham gia tập huấn hoặc hướng dẫn, với giá trị p > 0.05 Tuy nhiên, vẫn có những nhận định đáng chú ý.
HUPH cho thấy rằng đối tượng nghiên cứu không được tập huấn có kiến thức chung đạt 78,6%, trong khi đối tượng được tập huấn về quy chế quản lý chất thải chỉ đạt 51,7%.
Có mối liên quan thống kê đáng kể giữa kiến thức chung về quản lý chất thải rắn y tế và yếu tố nghề nghiệp với p < 0,05 Cụ thể, nhóm thu gom chất thải rắn y tế, bao gồm hộ lý và y công, có kiến thức tốt hơn so với nhóm phân loại nghề nghiệp bác sĩ, dược sĩ, y sĩ và điều dưỡng Một hộ lý chia sẻ: “Hiện nay tại các vị trí của các khoa phòng đã được dán hướng dẫn đầy đủ quy trình phân loại, thu gom rồi nên chúng tôi cũng dễ thực hiện, không nhớ nhìn cái là nhớ liền” (HL-V).
3.4.1.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức phân loại của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.12: Mối liên quan giữa kiến thức phân loại CTRYT với thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Kết quả phân tích Đạt n(%)
Sự quan tâm nhắc nhở của lãnh đạo
Chưa có mối liên hệ thống kê đáng kể nào giữa kiến thức phân loại chất thải rắn y tế và các yếu tố như nghề nghiệp, thâm niên công tác.
HUPH chú trọng đến sự nhắc nhở của lãnh đạo với giá trị p > 0,05 Đặc biệt, ĐTNC trong nhóm phân loại có kiến thức về phân loại chất thải rắn y tế đạt 98,5%, cao hơn so với các đối tượng khác là 90,9%.
Có sự liên quan thống kê đáng kể giữa kiến thức phân loại CTRYT và các yếu tố như trình độ chuyên môn và việc được tập huấn, với p < 0,05 Cụ thể, tỷ lệ người có kiến thức về phân loại chất thải rắn y tế đạt 98,1% ở trình độ cao đẳng/trung cấp, cao hơn so với 87,5% ở trình độ đại học/sau đại học Ngoài ra, những người được tập huấn/hướng dẫn có kiến thức đạt 97,4%, vượt trội hơn so với 85,7% của những người không được tập huấn/hướng dẫn.
3.4.1.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức thu gom, vận chuyển của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.13: Mối liên quan giữa kiến thức thu gom, vận chuyển CTRYT với thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Kết quả phân tích Đạt n(%)
Sự quan tâm nhắc nhở của lãnh đạo
Chưa có mối liên hệ thống kê rõ ràng giữa kiến thức về thu gom chất thải rắn y tế và các yếu tố như nghề nghiệp, thâm niên công tác và trình độ.
Đối tượng nghiên cứu cho thấy độ chuyên môn HUPH với giá trị p > 0,05 Tuy nhiên, ĐTNC là hộ lý và y công có kiến thức về thu gom chất thải y tế (CTRYT) đạt 90,9%, cao hơn so với các đối tượng khác chỉ đạt 62,2%.
Có mối liên quan thống kê đáng kể giữa kiến thức thu gom chất thải rắn y tế với việc được tập huấn/hướng dẫn và sự quan tâm nhắc nhở của lãnh đạo (p < 0,05) Cụ thể, những người được tập huấn/hướng dẫn có kiến thức thu gom chất thải rắn y tế đạt 69%, cao hơn so với 35,7% của những người không được tập huấn Tương tự, những người nhận được sự quan tâm nhắc nhở từ lãnh đạo có kiến thức đạt 68,9%, trong khi tỷ lệ này ở những người không nhận được sự quan tâm chỉ là 27,3%.
3.4.2 Một số yếu tố liên quan đến thực hành của đối tượng nghiên cứu Bảng 3.14 Mối liên quan giữa thực hành phân loại chất thải rắn y tế với thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Thực hành phân loại ( n = 119 ) Kết quả phân tích Đạt n(%)
Trình độ ĐH trở lên
Chưa có mối liên hệ thống kê đáng kể nào giữa việc phân loại chất thải rắn y tế và các yếu tố như nghề nghiệp, thâm niên công tác, cũng như trình độ của đối tượng nghiên cứu, với giá trị p > 0,05.
Có mối liên quan thống kê đáng kể giữa thực hành phân loại chất thải rắn y tế và yếu tố được tập huấn/hướng dẫn với giá trị p < 0,001.
HUPH tập huấn/hướng dẫn đạt thực hành về phân loại chất thải rắn y tế 68,6% cao hơn người không được tập huấn/hướng dẫn 14,3%
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành phân loại chất thải rắn y tế của đối tượng nghiên cứu
Kết quả phân tích Đạt n(%)
Mặc dù chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức và thực hành phân loại chất thải rắn y tế (p > 0,05), nhưng kết quả cho thấy 63,2% đối tượng nghiên cứu có kiến thức phân loại thực hiện đúng thực hành phân loại, cao hơn so với 40% ở nhóm không có kiến thức.
Thái độ Thực hành phân loại Tổng n(%)
Kết quả phân tích Đạt n(%) Không đạt n(%)
Mặc dù chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thái độ của các đối tượng nghiên cứu về qui chế quản lý chất thải rắn y tế và thực hành phân loại chất thải rắn y tế (p > 0,05), nhưng có thể nhận thấy rằng 63,5% đối tượng nghiên cứu có thái độ tích cực thực hiện tốt việc phân loại chất thải rắn y tế, cao hơn nhiều so với chỉ 25% đối tượng có thái độ tiêu cực.
Thực hành phân loại ( n= 119) Kết quả phân tích Đạt n(%)
Cho rằng phân loại chất thải y tế chính xác ngay từ đầu sẽ làm giảm chi phí xử lý Đồng ý
Cho rằng nhân viên thu gom là người dễ bị ảnh hưởng xấu từ chất thải y tế Đồng ý
Chưa có mối liên hệ thống kê rõ ràng giữa việc phân loại chất thải rắn y tế và thái độ của đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu cho thấy rằng việc phân loại chất thải y tế một cách chính xác ngay từ đầu có thể giúp giảm chi phí xử lý chất thải.