Một số khái niệm và lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ
1.1.1 Nuôi con bằng sữa mẹ: o Sinh lý của sự sản xuất sữa:
Sữa mẹ được tạo ra từ các tế bào trong nang sữa của tuyến vú, với sự hỗ trợ của các tế bào cơ xung quanh Những tế bào này co thắt, giúp đẩy sữa ra ngoài qua ống dẫn, đưa sữa từ nang sữa ra ngoài.
Sau khi sinh, sản xuất sữa mẹ được điều chỉnh bởi hai phản xạ: o Phản xạ sinh sữa:
Khi trẻ mút vú, cảm giác này kích thích tuyến yên bài tiết prolactin, hormone cần thiết cho việc sản xuất sữa Prolactin sẽ đi vào máu và đến vú, kích thích các tế bào tiết sữa Nồng độ prolactin trong máu cao nhất khoảng 30 phút sau khi trẻ bú, giúp vú chuẩn bị sữa cho bữa ăn tiếp theo Do đó, việc cho trẻ bú thường xuyên sẽ giúp mẹ sản xuất nhiều sữa hơn.
Prolactin thường được sản xuất nhiều về ban đêm, vì vậy nên cho con bú vào ban đêm để duy trì việc tạo sữa
Prolactin giúp bà mẹ cảm thấy thư giãn và buồn ngủ, cho phép họ nghỉ ngơi tốt hơn ngay cả khi cho con bú vào ban đêm Hơn nữa, hormone này còn ngăn cản sự phóng noãn, giúp mẹ không có thai trở lại Phản xạ xuống sữa, hay tiết sữa, cũng được kích thích bởi prolactin.
Khi trẻ bú, sự kích thích từ vú tác động lên thuỳ sau tuyến yên, dẫn đến việc bài tiết oxytocin Hormone này đi vào máu và đến vú, làm cho các tế bào cơ xung quanh nang sữa co lại, giúp sữa chảy từ nang sữa qua ống dẫn sữa đến xoang sữa và ra ngoài Đây được gọi là phản xạ xuống sữa.
Oxytocin được sản xuất nhanh hơn prolactin và giúp sữa trong vú chảy ra khi cho trẻ bú Hormone này có thể hoạt động ngay cả trước khi trẻ bắt đầu bú, khi bà mẹ đang chờ đợi Nếu phản xạ oxytocin không hoạt động hiệu quả, trẻ có thể gặp khó khăn trong việc nhận sữa.
Oxytocin không chỉ giúp tử cung mẹ co bóp hiệu quả sau khi sinh mà còn liên quan đến cảm xúc của mẹ đối với con Phản xạ oxytocin có thể được tăng cường khi mẹ cảm thấy hài lòng và yêu thương con, đồng thời tin tưởng vào chất lượng sữa của mình Ngược lại, những yếu tố như đau ốm, lo lắng hoặc nghi ngờ về sữa có thể cản trở phản xạ này Do đó, việc mẹ luôn ở bên cạnh con và xây dựng niềm tin vào sữa của mình là rất quan trọng để hỗ trợ phản xạ oxytocin.
Sự sản xuất sữa mẹ được điều chỉnh trực tiếp trong vú, và có một chất trong sữa mẹ có khả năng làm giảm hoặc ức chế quá trình tạo sữa.
Trong giai đoạn cuối thai kỳ, cơ thể mẹ thường tiết ra một lượng nhỏ sữa Sau khi sinh, khi trẻ bú mẹ, lượng sữa tăng nhanh chóng từ vài muỗng trong ngày đầu lên khoảng 100 ml vào ngày thứ hai và 500 ml vào tuần lễ thứ hai Đến ngày thứ 10 - 14 sau sinh, lượng sữa sẽ được tiết ra đều đặn và đầy đủ Trung bình, trẻ khỏe mạnh tiêu thụ khoảng 700 ml sữa mỗi ngày.
Trong 24 giờ, lượng sữa mẹ có thể đạt khoảng 800 ml Kích thước vú không ảnh hưởng nhiều đến sản lượng sữa, nhưng nếu vú quá nhỏ hoặc không tăng kích thước trong thai kỳ, bà mẹ có thể sản xuất ít sữa, khoảng 500 - 700 ml/ngày trong 6 tháng đầu và 400 - 600 ml/ngày trong 6 tháng tiếp theo, với lượng sữa giảm xuống còn 00 - 00 ml trong năm thứ hai Nguyên nhân có thể do nguồn dự trữ mỡ của bà mẹ không đủ trong thời gian mang thai.
1.1.3 Th nh h n ữ ẹ: o Chất dinh dưỡng:
Protein trong sữa mẹ dễ tiêu hóa và hấp thu, với một phần có thể được hấp thu ngay tại dạ dày Sữa mẹ chứa α-lactalbumin và casein (35%), tạo thành những cục mềm lỏng, giúp trẻ dễ dàng tiêu hóa.
Sữa non dễ tiêu hóa, với protein chiếm 10%, trong khi sữa vĩnh viễn chỉ chiếm 1% Acid amin trong sữa mẹ, như cystein và taurine, rất cần thiết cho sự phát triển não bộ của trẻ sơ sinh Hơn nữa, sữa mẹ còn chứa protein kháng khuẩn, trong khi protein trong sữa bò chủ yếu là lactalbumin và casein (chiếm 80%), lại không có các loại protein kháng khuẩn để bảo vệ cơ thể trẻ.
Sữa mẹ chứa axit béo không no, loại axit béo dễ tiêu hóa và cần thiết cho sự phát triển của não, mắt và sức khỏe mạch máu của trẻ Ngoài ra, sữa mẹ còn có lipase, một enzyme kích thích muối mật, giúp khởi động các hoạt động tiêu hóa trong ruột non khi có mặt của muối mật Lipase không hoạt động trong bầu vú hoặc dạ dày trước khi sữa được trộn với mật.
Glucit trong sữa mẹ chủ yếu là β lactose, dễ hấp thu và hỗ trợ sự phát triển của vi khuẩn Lactobacillus bifidus Vi khuẩn này chuyển hóa lactose thành acid lactic, giúp ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh và cải thiện khả năng hấp thu canxi cùng các muối khoáng khác Ngược lại, đường trong sữa bò là flactose, phù hợp cho sự phát triển của vi khuẩn E coli.
- Muối khoáng Calcium trong sữa mẹ ít hơn trong sữa bò nhưng dễ hấp thu hơn và đủ cho trẻ phát triển [4]
- Sắt ở trong sữa mẹ hay sữa bò đều ít (50 - 70 g/100 ml), nhưng vào khoảng 70% sắt trong sữa mẹ được hấp thu, trong khi so với sữa bò là 4 - 10% [4]
Sữa mẹ chứa natri, kali, phospho và clor với hàm lượng thấp hơn sữa bò, nhưng vẫn đáp ứng đủ nhu cầu sinh lý của trẻ Natri trong sữa mẹ phù hợp với chức năng thận của trẻ, trong khi natri trong sữa bò cao có thể dẫn đến tình trạng phù nề.
Nếu mẹ ăn uống đầy đủ, trẻ bú mẹ sẽ nhận được đầy đủ vitamin trong 4 tháng đầu, mặc dù sữa mẹ chứa ít vitamin D nhưng vẫn đủ để ngăn ngừa còi xương Lượng vitamin C, B1, A trong sữa mẹ phụ thuộc vào chế độ ăn của mẹ Bú mẹ cũng được công nhận là có khả năng bảo vệ trẻ khỏi các bệnh nhiễm trùng, đặc biệt là bệnh tiêu chảy, với tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy là 1/17,3 và bệnh đường hô hấp là 1/3,9 ở trẻ bú mẹ so với trẻ ăn nhân tạo.
- Sữa mẹ sạch, sữa mẹ vô trùng
Tình hình NCBSM trên Thế Giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình NCBSM trên Thế Giới:
Một nghiên cứu cắt ngang tại Iraq đã đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của các bà mẹ và phụ nữ làm nghề chăm sóc trẻ Kết quả cho thấy 73,1% phụ nữ cho con bú sớm ngay sau sinh và 92,9% tin rằng sữa non có lợi cho trẻ sơ sinh Tuy nhiên, kiến thức của họ về việc cho bú mẹ hoàn toàn trong tháng đầu còn thiếu sót.
35% phụ huynh tin rằng sữa mẹ không đủ cho trẻ nhỏ Phụ nữ ở nông thôn và có trình độ văn hóa thấp thường thiếu hiểu biết về nuôi con bằng sữa mẹ hơn so với phụ nữ ở thành phố, mặc dù họ lại cho bú lâu hơn và bắt đầu cho ăn dặm chậm hơn.
Một nghiên cứu được thực hiện tại miền Tây Nam Ả Rập Saudi, tập trung vào các cô giáo dạy trẻ em gái có ít nhất một đứa con nhỏ hơn hoặc bằng 5 tuổi, đã được công bố trên tạp chí quốc tế “International Breastfeeding Journal” vào tháng 8 năm 2012.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, ngay cả những người có trình độ văn hóa cao vẫn chưa hiểu đầy đủ về nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) Cụ thể, 89,3% người tham gia nhận thức rõ về lợi ích của sữa non, trong khi 1,3% cho rằng sữa non có thể gây hại cho hệ thần kinh trẻ em và 9,4% không có ý kiến Về thái độ, 58,6% cho biết cho con bú bằng sữa mẹ vì lý do tôn giáo, trong khi 4% có ý định cho con bú mẹ trong lần sinh tiếp theo Về thực hành, 90,9% cho con bú cả sữa mẹ và sữa thay thế, và 9,1% không thực hiện NCBSM Tuổi trung bình sử dụng sữa thay thế là 2,56 tháng ± 2,5, trong khi tuổi trung bình cắt sữa mẹ là 8,7 tháng ± 7,8.
Khoảng 310 bà mẹ ở vùng nông thôn Savannah, Nigeria, cho thấy rằng những bà mẹ có học vấn cao có xu hướng cho con bú sữa non nhiều hơn so với những bà mẹ có học vấn thấp (p< 0,001), trong khi 54% không cho con bú sữa non Mặc dù tất cả các bà mẹ được phỏng vấn đều đã đi khám thai, chỉ một tỷ lệ nhỏ được nhân viên y tế hướng dẫn về nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM), và 46,8% sinh tại nhà Chỉ có 26,8% trẻ được cho bú trong vòng 24 giờ sau sinh, với thời gian trung bình cho bú lần đầu là 47,7 giờ Mặc dù NCBSM phổ biến, không có trẻ nào được bú mẹ hoàn toàn, mà thường được bổ sung thêm sữa công thức, nước, và trà xanh.
1.2.2 Tình hình NCBSM Ở Việt Nam:
Năm 2011, Alive & Thrive đã hợp tác với Viện nghiên cứu Y xã hội học (ISMS) để thực hiện một cuộc điều tra tại 11 tỉnh thành, bao gồm Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Đắk Nông và Tiền Giang.
Theo khảo sát tại Cà Mau, 78,8% phụ nữ cho rằng trẻ sơ sinh cần được bú sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh.
Theo một nghiên cứu, 74,4% người tham gia cho rằng trẻ sơ sinh cần được bú sữa non Tuy nhiên, chỉ có 52,5% hiểu rằng trong tháng đầu, trẻ chỉ nên bú hoàn toàn bằng sữa mẹ, và chỉ 52,2% biết rằng nên cho trẻ bú đến 24 tháng Số liệu cho thấy các bà mẹ Việt Nam còn thiếu kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ, với chỉ 24,8% hiểu biết về cách xử lý khi trẻ 4 tháng tuổi chưa ăn đủ sữa, và chỉ hơn một nửa (54,2%) biết cách ngậm bắt núm vú đúng khi bú sữa mẹ.
Nghiên cứu của Huỳnh Văn Tú và Nguyễn Vũ Linh chỉ ra rằng tỷ lệ cho con bú trong giờ đầu sau sinh chỉ đạt 29,7%, trong khi tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện là 19,8% Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ này bao gồm sinh ngã âm đạo, niềm tin về khả năng sản xuất sữa mẹ, quyết định về loại sữa nuôi con trước khi sinh, tác động từ mẹ chồng, và kiến thức về dinh dưỡng cho trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi.
Nghiên cứu của Tôn Thị Thanh Tú năm 2011 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 cho thấy chỉ có 4,4% bà mẹ có kiến thức đúng về nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) Trong đó, 89,82% nhận thức được lợi ích của sữa mẹ, 91,85% biết sữa non rất quý giá cho trẻ sơ sinh, và 69,45% hiểu cần cho con bú ngay trong vòng một giờ đầu Tuy nhiên, chỉ 48,04% có kiến thức đúng về việc bú mẹ hoàn toàn trong tháng đầu Thái độ chung về NCBSM đạt 80,8%, với 7% đồng ý rằng "sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng hoàn hảo nhất", nhưng 47,2% không đồng ý với việc "vắt sữa dự trữ cho bé bú" Thực hành đúng về NCBSM chỉ đạt 7,4%, trong đó 8,17% đã từng thực hiện NCBSM, và 45,74% không cho con uống gì khác trước lần bú mẹ đầu tiên Tỷ lệ trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu chỉ đạt 18,02%, trong khi 45,43% kết hợp bú sữa mẹ và sữa bình Các yếu tố liên quan bao gồm mẹ làm công nhân viên, có học vấn từ cấp 2 trở lên, và khoảng cách sinh con từ 2 năm trở lên có thái độ đúng cao hơn; mẹ ở ngoại thành có từ 2 con trở lên có thực hành đúng hơn.
Một nghiên cứu năm 2002 tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ cho con bú sữa mẹ trong bệnh viện đạt 57,4%, và giảm xuống 53,1% sau ba tháng sinh Tỷ lệ này tương đương với các quốc gia khác, như Thái Lan với 2%, Indonesia với 64%, và Mexico.
Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) bị giảm do nhiều yếu tố, trong đó 61,8% là do không đủ sữa, 30,9% do mẹ phải trở lại làm việc, 11,4% trẻ không muốn bú sữa mẹ nữa, và 6,5% là do sức khỏe của mẹ không đủ điều kiện để cho trẻ bú.
1.3 Mô h nh inh thái ề NCBSM ột ố ếu tố i n u n [15]
Vì thời gian giới hạn nên trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ nghiên cứu ở cấp độ cá nhân, gia đình và xã hội
Luật, qui định quảng cáo sữa
Sự chấp nhận của cộng đồng, quan niệm về NCBSM
Chấp nhận của cộng đồng về các sản phẩm từ sữa
Sự hỗ trợ của CBYT
Tư vấn và hướng dẫn của CBYT
Thái độ của chồng, người thân về NCBSM
Sự hỗ trợ của chồng và người thân về NCBSM
Tuổi, số lần sinh, kinh tế gia đình, trình độ học vấn, phương pháp sinh…
KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ - THỰC HÀNH VỀ NCBSM
Kiên Giang, tỉnh nằm ở phía Tây Nam Việt Nam, thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, nổi bật với nền nông nghiệp, công nghiệp và du lịch phát triển Đây là vựa lúa lớn thứ ba của Việt Nam và có chỉ số cạnh tranh kinh tế đứng thứ hai trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, thứ năm cả nước vào năm 2008 Tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi, kết nối với các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Campuchia và Thái Lan qua các phương tiện giao thông đường bộ, đường biển và hàng không Phía bắc giáp Vương quốc Campuchia với đường biên giới dài 56,8 km, phía nam giáp tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu, phía đông và đông nam giáp tỉnh An Giang, Thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang, trong khi phía tây giáp Vịnh Thái Lan Trung tâm hành chính của tỉnh là Thành phố Rạch Giá.
Toàn tỉnh có 15 huyện, thị, thành phố (13 huyện, 1 thị xã và 1 thành phố) với
Tỉnh Kiên Giang có 14 xã, phường, thị trấn, trong đó có 8 xã biên giới và một số xã vùng sâu Về cơ sở khám và điều trị, tỉnh có 1 bệnh viện đa khoa và 1 bệnh viện y học cổ truyền, cùng với 4 trung tâm y tế dự phòng và 6 trung tâm chuyên môn Tỉnh có 11 bệnh viện đa khoa tuyến huyện và 15 trung tâm y tế huyện, với tổng số giường bệnh đạt tỷ lệ 20,29 giường bệnh trên vạn dân Hiện tại, Kiên Giang có 6.241 cán bộ y tế, tương đương tỷ lệ 36,60 cán bộ y tế trên vạn dân, trong đó có 2 bác sĩ trên vạn dân và 0,1 dược sĩ trên vạn dân 100% xã có bác sĩ và cán bộ sản phụ khoa - kế hoạch hóa gia đình, trong khi 60% các thôn/ấp có tổ y tế.
Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang, được xây dựng từ thời Pháp, đã trải qua nhiều năm phát triển và cải tiến Qua từng giai đoạn, bệnh viện không ngừng đổi mới và hoàn thiện, hiện nay đã đạt tiêu chuẩn Bệnh viện đa khoa hạng I, tọa lạc tại số 46.
Tóm tắt về địa bàn nghiên cứu
Trong khoảng thời gian từ tháng 1/2014 đến tháng 7/2014, các sản phụ sinh tại khoa sản BVĐK Kiên Giang đều có sức khỏe tốt và không mắc bệnh lý nội khoa Những đối tượng không đủ tiêu chuẩn sẽ được loại trừ.
- Những sản phụ không có khả năng trả lời như: Những người câm điếc hay tâm thần
- Những sản phụ có bệnh lý không cho phép NCBSM: suy tim, lao phổi, HIV, ung thư đang điều trị hóa chất, đang dùng thuốc chống động kinh
- Những sản phụ sinh non, con bị ngạt gửi khoa nhi, con bị tật bẩm sinh không bú được, con mất ngay sau sinh
2.2 Thời gi n đị điểm nghiên cứu:
- Thời gian: Từ ngày 01/0 /2014 đến ngày 20/07/2014
- Địa điểm nghiên cứu: Khoa sản BVĐK Kiên Giang
- Nghiên cứu áp dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
Theo nghiên cứu của Tôn Thị Anh Tú và Nguyễn Thu Tịnh (2011) cho thấy có 43,34% bà mẹ có kiến thức đúng về cho con bú sữa [9]
Z 2 1-α/2 hệ số tin cậy = (1,96) 2 d sai số tuyệt đối chấp nhận 5% = 0,05
Đối tượng nghiên cứu
Trong khoảng thời gian từ tháng 1/2014 đến tháng 7/2014, các sản phụ sinh tại khoa sản BVĐK Kiên Giang đều có sức khỏe tốt và không mắc bệnh lý nội khoa Những đối tượng có bệnh lý nội khoa sẽ được loại trừ khỏi nghiên cứu.
- Những sản phụ không có khả năng trả lời như: Những người câm điếc hay tâm thần
- Những sản phụ có bệnh lý không cho phép NCBSM: suy tim, lao phổi, HIV, ung thư đang điều trị hóa chất, đang dùng thuốc chống động kinh
- Những sản phụ sinh non, con bị ngạt gửi khoa nhi, con bị tật bẩm sinh không bú được, con mất ngay sau sinh
2.2 Thời gi n đị điểm nghiên cứu:
- Thời gian: Từ ngày 01/0 /2014 đến ngày 20/07/2014
- Địa điểm nghiên cứu: Khoa sản BVĐK Kiên Giang
- Nghiên cứu áp dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
Theo nghiên cứu của Tôn Thị Anh Tú và Nguyễn Thu Tịnh (2011) cho thấy có 43,34% bà mẹ có kiến thức đúng về cho con bú sữa [9]
Z 2 1-α/2 hệ số tin cậy = (1,96) 2 d sai số tuyệt đối chấp nhận 5% = 0,05
Cỡ mẫu: 377 Cộng thêm 10% bù vào những phiếu thiếu thông tin hay chưa kịp phỏng vấn sản phụ đã xin về vậy cỡ mẫu là 400 sản phụ
Lập danh sách hàng ngày các sản phụ tại khoa sản BVĐK Kiên Giang để phỏng vấn Chọn những sản phụ đã sinh con và đáp ứng đủ tiêu chuẩn từ tháng 0/2014 cho đến khi thu thập đủ số lượng mẫu nghiên cứu.
2.6 Phương há thu thậ ố iệu:
Nhóm nghiên cứu đã thực hiện phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ sinh con qua đường âm đạo sau 12 giờ hậu sản và các bà mẹ mổ đẻ sau sinh ngày thứ tư, sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc (phụ lục 1) Đối với hai câu hỏi về thực hành, bao gồm cách bế bé cho bú đúng và cách cho bé ngậm bắt vú đúng, dữ liệu được thu thập thông qua quan sát.
Hồ sơ bệnh án của các bà mẹ cũng được sử dụng trong nghiên cứu này để so sánh và đối chiếu
2.7 Biến số nghiên cứu: được xây dựng thành 3 nhóm sau
Nhóm các yếu tố thông tin chung về đối tượng nghiên cứu bao gồm: tuổi, nghề nghiệp, địa chỉ, số lần sinh, phương pháp sinh, dân tộc, tình hình kinh tế, trình độ học vấn, điều kiện nhà ở và người sống cùng.
Nhóm đo ường kiến thức và thái độ về nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) bao gồm các nội dung quan trọng như lợi ích của NCBSM và sữa non, thời điểm cho trẻ bú sữa non, và cách thực hiện NCBSM hoàn toàn Nên duy trì NCBSM hoàn toàn đến 6 tháng tuổi và bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung khi trẻ được 6 tháng Các biện pháp làm tăng tiết sữa và duy trì nguồn sữa mẹ cũng rất cần thiết, đặc biệt khi trẻ bị ốm Cha mẹ nên cho trẻ bú theo nhu cầu và cai sữa khi trẻ được 24 tháng tuổi Ngoài ra, cần chú ý vệ sinh trước khi cho trẻ bú, cách bế trẻ và cho trẻ ngậm bắt vú đúng cách, cũng như không nên cho trẻ uống nước đường, nước mật ong hay nước cam thảo trước khi bú mẹ.
HUPH cách bà mẹ NCBSM hoàn toàn, bà mẹ có cho trẻ bú sữa non, cách vắt sữa để duy trì nguồn sữa, trẻ có được nằm cạnh mẹ
Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ và thực hành đúng về nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) bao gồm tuổi tác, nghề nghiệp, địa chỉ cư trú, số lần sinh, phương pháp sinh, dân tộc, tình hình kinh tế, trình độ học vấn, điều kiện nhà ở, người sống cùng, khả năng tiếp cận thông tin, cũng như sự hỗ trợ từ cán bộ y tế và người thân.
Nghiên cứu này tập trung vào ba biến chính: kiến thức, thái độ và thực hành đúng, được tổng hợp từ nhiều biến khác nhau Chúng tôi đã phát triển phương pháp tổng hợp cho ba biến này dựa trên các tài liệu tham khảo từ những nghiên cứu trước đây.
Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ được đánh giá qua 14 điểm, trong đó mỗi câu trả lời đúng tương ứng với 1 điểm Để được coi là "đúng", tổng số điểm phải đạt ít nhất 2/3 tổng điểm, tức là từ 9 điểm trở lên Ngược lại, nếu số điểm dưới 9, sẽ được xem là "không đúng".
Về thái độ nuôi con bằng sữa mẹ được xây dựng dựa trên thang điểm Likert từ
Bài viết phân tích 11 câu được chia thành 2 nhóm: nhóm chưa đúng với điểm từ 1 đến 3 và nhóm thái độ đúng với điểm từ 4 đến 5 cho từng quan điểm Tổng điểm của thái độ là 55, trong đó thái độ "đúng" đạt từ 44 điểm trở lên, trong khi thái độ "không đúng" có số điểm dưới 44.
Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ được đánh giá qua 8 điểm, trong đó mỗi nội dung trả lời đúng sẽ được 1 điểm Để được coi là "đúng", tổng số điểm phải lớn hơn hoặc bằng 2/3 tổng điểm, tức là từ 5 điểm trở lên Ngược lại, nếu tổng số điểm dưới 5 điểm sẽ được xem là "không đúng".
Số liệu sau khi thu thập, được nhập vào phần mềm Excel và chuyển dữ liệu từ Excel sang phần mềm SPSS phiên bản 16.0 để phân tích thống kê
Trình tự các bước phân tích số liệu: o Thống kê t n số
Thông tin chung về sản phụ sau sinh tại khoa sản Bệnh viện đa khoa Kiên Giang năm 2014
Thống kê tần số kiến thức, thái độ, thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ của đối tượng nghiên cứu o Phân tích mối liên quan
Kiểm định chi bình phương ( 2) và tỷ lệ odds (OR) được sử dụng để xác định mối liên quan giữa các yếu tố như tuổi tác, số lần sinh, nghề nghiệp, nơi ở, tình hình kinh tế gia đình, trình độ học vấn, dân tộc, phương pháp sinh, và người sống cùng sản phụ với kiến thức, thái độ và thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ Đồng thời, nghiên cứu cũng nhằm xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành trong việc nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM).
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu:
Sau khi sinh, sản phụ được điều tra viên cung cấp thông tin đầy đủ về nội dung phỏng vấn nghiên cứu và đồng ý tham gia trả lời câu hỏi Tất cả sản phụ đều tham gia phỏng vấn mà không ai từ chối hay bỏ cuộc Đề tài nghiên cứu đã được đăng ký và phê duyệt bởi hội đồng đạo đức của trường Đại học Y tế công cộng cũng như Hội đồng nghiên cứu khoa học Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang.
Biến số nghiên cứu: được xây dựng thành 3 nhóm sau
Nhóm các yếu tố thông tin chung về đối tượng nghiên cứu bao gồm: tuổi, nghề nghiệp, địa chỉ, số lần sinh, phương pháp sinh, dân tộc, tình hình kinh tế, trình độ học vấn, điều kiện nhà ở và người sống cùng.
Nhóm nghiên cứu về nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) đã chỉ ra nhiều lợi ích quan trọng, bao gồm lợi ích của sữa non và thời điểm cho trẻ bú sữa non NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời là rất cần thiết, và việc duy trì nguồn sữa mẹ cũng như các biện pháp làm tăng tiết sữa là cần thiết, đặc biệt khi trẻ bị ốm Cha mẹ nên cho trẻ ăn bổ sung khi trẻ được 6 tháng tuổi và cai sữa khi trẻ được 24 tháng tuổi Ngoài ra, việc vệ sinh trước khi cho trẻ bú, cho trẻ nằm cạnh mẹ, và cho trẻ bú theo nhu cầu là những thực hành quan trọng Cần tránh cho trẻ uống nước đường, nước mật ong hay nước cam thảo trước khi bú mẹ, và nên hướng dẫn mẹ cách bế trẻ và cho trẻ ngậm bắt vú đúng cách.
HUPH cách bà mẹ NCBSM hoàn toàn, bà mẹ có cho trẻ bú sữa non, cách vắt sữa để duy trì nguồn sữa, trẻ có được nằm cạnh mẹ
Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ và thực hành đúng về nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) bao gồm tuổi tác, nghề nghiệp, địa chỉ cư trú, số lần sinh, phương pháp sinh, dân tộc, tình hình kinh tế, trình độ học vấn, điều kiện nhà ở, người sống cùng, khả năng tiếp cận thông tin, cũng như sự hỗ trợ từ cán bộ y tế và người thân.
Nghiên cứu này tập trung vào ba biến chính: kiến thức, thái độ và thực hành đúng, được tổng hợp từ nhiều biến khác nhau Chúng tôi đã phát triển phương pháp tổng hợp cho ba biến này dựa trên tài liệu tham khảo từ các nghiên cứu trước đó.
Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ được đánh giá qua 14 điểm, trong đó mỗi câu trả lời đúng sẽ được 1 điểm Để được coi là "đúng", tổng số điểm phải lớn hơn hoặc bằng 2/3 tổng điểm, tức là từ 9 điểm trở lên Ngược lại, nếu số điểm dưới 7, sẽ được xem là "không đúng".
Về thái độ nuôi con bằng sữa mẹ được xây dựng dựa trên thang điểm Likert từ
Bài viết phân tích 11 câu được chia thành 2 nhóm: nhóm chưa đúng với điểm từ 1 đến 3 và nhóm thái độ đúng với điểm từ 4 đến 5 cho từng quan điểm Tổng điểm của thái độ là 55, trong đó thái độ "đúng" đạt từ 44 điểm trở lên, còn "không đúng" dưới 44 điểm.
Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ được đánh giá qua 8 điểm, trong đó mỗi nội dung trả lời đúng sẽ được 1 điểm Để được coi là "đúng", số điểm phải lớn hơn hoặc bằng 2/3 tổng điểm, tức là từ 5 điểm trở lên Ngược lại, nếu số điểm dưới 5, sẽ được xem là "không đúng".
Số liệu sau khi thu thập, được nhập vào phần mềm Excel và chuyển dữ liệu từ Excel sang phần mềm SPSS phiên bản 16.0 để phân tích thống kê
Trình tự các bước phân tích số liệu: o Thống kê t n số
Thông tin chung về sản phụ sau sinh tại khoa sản Bệnh viện đa khoa Kiên Giang năm 2014
Thống kê tần số kiến thức, thái độ, thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ của đối tượng nghiên cứu o Phân tích mối liên quan
Kiểm định chi bình phương ( 2) và tỷ lệ odds (OR) được sử dụng để xác định mối liên quan giữa các yếu tố như tuổi tác, số lần sinh, nghề nghiệp, nơi ở, tình hình kinh tế gia đình, trình độ học vấn, dân tộc, phương pháp sinh, và người sống cùng sản phụ với kiến thức, thái độ và thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ Đồng thời, nghiên cứu cũng nhằm xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành trong việc nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM).
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu:
Sau khi sinh, sản phụ được điều tra viên cung cấp thông tin đầy đủ về nội dung phỏng vấn nghiên cứu và đồng ý tham gia trả lời câu hỏi Tất cả sản phụ đều tham gia phỏng vấn mà không ai từ chối hay bỏ cuộc Đề tài nghiên cứu đã được đăng ký và phê duyệt bởi hội đồng đạo đức của trường Đại học Y tế công cộng cũng như Hội đồng nghiên cứu khoa học Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Sản phụ sau sinh đã được điều tra viên cung cấp thông tin đầy đủ về nội dung phỏng vấn nghiên cứu và đồng ý tham gia trả lời câu hỏi Không có sản phụ nào từ chối hay bỏ cuộc trong quá trình phỏng vấn Đề tài nghiên cứu đã được đăng ký và phê duyệt bởi hội đồng đạo đức của trường Đại học Y tế công cộng cũng như Hội đồng nghiên cứu khoa học Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang.
Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về NCBSM
Từ kết quả nghiên cứu chúng tôi có những kết luận như sau:
1 Thực trạng kiến thứ , thái độ, thực hành về NCBSM của các bà mẹ sau sinh tại khoa sản Bệnh viện Đ ho Ki n Gi ng
Kiến thức chung về nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) cho thấy 61,8% bà mẹ đạt yêu cầu Cụ thể, 85,0% bà mẹ biết duy trì cho trẻ bú mẹ khi trẻ bị bệnh, 80,5% nhận thức được lợi ích của việc NCBSM hoàn toàn, và 80,0% biết thời gian cho trẻ bú sữa non Ngoài ra, 77,7% bà mẹ biết thời gian cho trẻ ăn dặm, và 62,7% hiểu rõ lợi ích của NCBSM Tuy nhiên, một số yếu tố kiến thức còn thấp, như chỉ 28,5% biết những hoạt động giúp tăng tiết sữa, 26,5% nhận thức được lợi ích cho mẹ khi cho trẻ bú sữa non, và 23,5% biết cho trẻ bú theo nhu cầu.
Theo khảo sát, 68,5% bà mẹ có thái độ đúng về nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) Trong đó, quan điểm về việc nên NCBSM đạt tỷ lệ cao nhất với 80,7% Ngoài ra, 67,0% bà mẹ cho rằng cần vệ sinh trước khi cho trẻ bú, 39,3% ủng hộ việc cho trẻ bú hoàn toàn đến 6 tháng tuổi, và 37,5% cho rằng nên cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh Cuối cùng, 4% bà mẹ cho rằng nên cai sữa khi trẻ được 24 tháng tuổi.
Thực hành chung về nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) đạt 2,0% Trong đó, 70% trẻ được nằm cạnh mẹ cả ngày và đêm, 70% có vệ sinh trước khi bú, 8,7% được bế đúng cách khi bú, 1% ngậm bắt vú đúng, 2% bú mẹ theo nhu cầu cả ngày và đêm, 17,7% được bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh, và 12,5% vắt sữa dư bỏ sau mỗi lần bú.
2 Một số yếu tố liên quan với kiến thứ , thái độ, thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ sau sinh tại khoa sản Bệnh viện đ ho Ki n Gi ng Đa số những đặc điểm cá nhân như: Tuổi, số lần sinh con, nơi ở, kinh tế hộ gia đình, dân tộc, được cán bộ y tế hướng dẫn, chồng người thân hỗ trợ có liên quan với kiến thức, thái độ, thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ là có ý nghĩa thống kê (p