1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

46 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên đề Quản lý nhà nước về kinh tế
Người hướng dẫn PGS. TS Mai Văn Bưu
Trường học Trường đại học Kinh tế quốc dân
Chuyên ngành Quản lý nhà nước về kinh tế
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 322 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài kiểm tra TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC *** CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ Giáo viên hướng dẫn PGS TS Mai Văn Bưu Người thực hiện Trần Thị Hảo Lớp CH17B Hà Nội, 8/[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

-*** -CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

Giáo viên hướng dẫn: PGS TS Mai Văn Bưu

Người thực hiện: Trần Thị Hảo

Hà Nội, 8/2009

Trang 2

MỤC LỤC

Chuyên đề 1: Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế?

Nhà nước ta thực hiện các chức năng ra sao? 3

Chuyên đề 2: Mối quan hệ giữa mục tiêu, cơ cấu tổ chức

và cơ chế quản lý nhà nước về kinh tế Thực tiễn mối quan hệ này

ở nước ta hiện nay 13

Chuyên đề 3: Vai trò nhà nước đối với việc tạo dựng môi trường kinh doanh.

Những căn cứ để đánh giá môi trường kinh doanh Môi trường kinh doanh ởViệt Nam được đánh giá như thế nào trong năm 2008 Nhà nước ta cần tiếp tụchoàn thiện môi trường kinh doanh theo hướng nào? 22

Chuyên đề 4: Những công cụ điều hành trong quản lý nhà nước về kinh tế.

Trong những công cụ này, công cụ nào là đặc trưng cho nền kinh tế thị trường.Nhà nước ta sử dụng công cụ điều hành kinh tế ra sao? 35

Trang 3

Chuyên đề 1

Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Mai Văn Bưu

Người thực hiện: Trần Thị Hảo

Đề bài: Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế? Nhà nước ta thực hiện các

chức năng ra sao?

Bài làm

I Tổng quan chức năng quản lý nhà nước về kinh tế

Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là hình thức biểu hiện phươnghướng và giai đoạn tác động có chủ đích của Nhà nước tới nền kinh tế quốc dân

Là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà nhà nước phải tiến hành trong quátrình quản lý nền kinh tế quốc dân

Quản lý nhà nước về kinh tế trong thời đại ngày nay trở thành nhân tố cơbản quyết định sự phát triển kinh tế mỗi nước, kể cả các nước tư bản chủ nghĩahay xã hội chủ nghĩa

Phân loại chức năng quản lý nhà nước về kinh tế có 3 cách tiếp cận, cáchtiếp cận theo quá trình quản lý chia hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế thànhcác nhóm chức năng: kế hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm soát nền kinh tế;cách tiếp cận theo tính chất tác động chia thành các nhóm chức năng: tạo lậpmôi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất – kinh doanh, bảo đảm cơ sở hạtầng cho phát triển, hổ trợ phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tếnhà nước; cách tiếp cận căn cứ vào các yếu tố và lĩnh vực hoạt động của nềnkinh tế quốc dân chia chức năng quản lý nhà nước về kinh tế thành: quản lý nhànước về tài chính – tiền tệ, quản lý nhà nước về kinh tế đối ngoại, quản lý nhànước về tài nguyên môi trường, quản lý nhà nước về khoa học công nghệ…

II Các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế theo tính chất tác động

II.1 Thiết lập khuôn khổ pháp luật về kinh tế

Để quản lý nền kinh tế quốc dân, nhà nước phải xây dựng, hoàn thiện vàthực hiện một hệ thống pháp luật nói chung, một hệ thống pháp luật về kinh tếnói riêng Pháp luật về kinh tế theo nghĩa rộng là tổng thể các quy phạm phápluật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân

Trang 4

và nhân dân lao động nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, phát sinh trong quátrình tổ chức quản lý và sản xuất – kinh doanh giữa các chủ thể kinh tế với nhau

và với các cơ quan quản lý nhà nước

Pháp luật kinh tế xác định vị trí pháp lý cho các tổ chức và đơn vị kinh tế

Ở nước ta, pháp luật kinh tế thể hiện đường lối, chính sách phát triển kinh tế củaĐảng và Nhà nước trong từng giai đoạn theo đường lối phát triển kinh tế thịtrường, định hướng xã hội chủ nghĩa Bằng pháp luật kinh tế, nhà nước điềuchỉnh hành vi kinh tế trên thị trường, xác định hành vi nào là hợp pháp, hành vinào là phi pháp Luật pháp kinh tế là công cụ của nhà nước đối vói nền kinh tếquốc dân Buông lỏng luật pháp kinh tế là trên thực tế nhà nước mất đi một công

cụ sắc bén nhất trong quản lý xã hội cũng như quản lý kinh tế Xây dựng vàhoàn thiện hệ thống pháp cũng chính là quá trình hoàn thiện quản lý nhà nước

Chức năng luật pháp của nhà nước được thực hiện bởi cả 3 cơ quan: cơquan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp và bao gồm cả quá trìnhxây dựng, quyết định ban hành và tổ chức thực hiện

II.2 Tạo lập môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất – kinh doanh

Môi trường kinh doanh là tổng thể các yếu tố tác động trực tiếp hay giántiếp đến các quyết định hoặc hoạt động của các chủ thể kinh tế trên thị trường.Các yếu tố tác động bao gồm các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô và các yếu tốthuộc môi trường vi mô Trong số các yếu tố thuộc môi trường kinh tế, nhà nước

có vai trò đặc biệt với các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô Vai trò đó được thểhiện qua các nội dung: duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững ổn định chính trị,bảo đảm ổn định xã hội

* Duy trì ổn định kinh tế vĩ mô

Trang 5

Duy trì ổn định kinh tế vĩ mô là làm giảm những biến động ngắn hạntrong nền kinh tế, khuyến khích tăng trưởng bền vững lâu dài Trong ổn định kih

tế vĩ mô, yếu tố hàng đầu là ổn định tiền tệ và biểu hiện là ổn định tỉ giá hốiđoái, ổn định giá cả, lãi suất Để đáp ứng ổn định kinh tế vĩ mô nhà nước cầnthực hiện một loạt các biện pháp:

- Gia tăng tiết kiệm dùng để đầu tư cho phát triển

- Duy trì cân đối giữa thu và chi ngân sách nhằm kiểm soát lạm phát

- Duy trì cân đối trong cán cân thương mại

- Duy trì sự tích luỹ và đầu tư tránh lệ thuộc vào nước ngoài

- Đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực như tham nhũng, quan liêu…

* Giữ vững ổn định chính trị

Ổn định chính trị tạo ra môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinhdoanh Trong một xã hội ổn định chính trị, các nhà kinh doanh được đảm bảo antoàn về đầu tư, quyền sở hữu và các loại tài sản khác Mức độ yên tâm của cácnhà kinh doanh được củng cố thông qua sự đánh giá rủi ro chính trị Các nhàkinh doanh thường đánh giá mức độ rủi ro chính trị dựa trên 4 nhóm yếu tố chủyếu: mất ổn định trong nước, xung đột với nước ngoài, xu thế chính trị vàkhuynh hướng kinh tế

Một nhà nước mạnh, thực thi hữu hiệu các chính sách phát triển kinh tế

-xã hội dáp ứng được các yêu cầu chính đáng của nhà dân sẽ đem lại lòng tin vàhấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước Nhà nước áp dụng nhiều chính sáchkhác nhau trong điều hành đất nước Những chính sách này ảnh hướng đến rấtnhiều khía cạnh trong nền kinh tế và các doanh nghiệp Chẳng hạn, khi chínhphủ áp dụng chính sách đẩy mạnh phát triển kinh tế và chú trọng đến các chínhsách xã hội sẽ rất thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc tìm kiềm các cơ hộikinh doanh

* Bảo đảm ổn định xã hội

Thực chất của việc tạo ra môi trường văn hoá – xã hội thuận lợi cho hoạtđộng của chủ thể kinh tế là nhà nước giải quyết những vấn đề xã hội theo hướngtích cực cho phép các tổ chức kinh tế hoạt động có hiệu quả hơn Thuộc nhómnhững vấn đề xã hội mà nhà nước phải quan tâm để tạo điều kiện thuận lợi chophát triển bao gồm: vấn đề dân số, vấn đề việc làm và xoá đói giảm nghèo, vấn

Trang 6

đề công bằng xã hội, vấn đề xoá bỏ những tệ nạn xã hội, vấn đề thái độ laođộng, vấn đề đạo đức kinh doanh, vấn đề y tế, giáo dục và bảo vệ môi trường

II.2 Chức năng bảo đảm cơ sở hạ tầng cho phát triển

Tính tất yếu của chức năng này xuất phát từ 3 lý do:

- Dịch vụ kết cấu hạ tầng có vai trò to lớn đối với tăng trưởng và pháttriển kinh tế Cơ sở hạ tầng dược xem như là điều kiện tiên quyết để phát triểnkinh tế

- Dịch vụ cơ sở hạ tầng đòi hỏi một khối lượng vốn lớn, thời gian thu hồivốn dài và việc thu hồi vốn khó khăn, thường thu hồi gián tiếp và ít thu hồi trựctiếp

- Dịch vụ cơ sở hạ tầng phần lớn là những hàng hoá công cộng Nhữnghàng hoá này không được các nhà tư nhân quan tâm vì lợi cíh của người sảnxuất ra nó ít hơn nhièu so với lợi ích xã hội và vấn đề sử dụng không phải trảtiền của hàng hoá công cộng

Để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển thuận lợi, nhà nước tất yếu phải cótrách nhiệm cung cấp các dịch vụ hạ tầng cho xã hội Để cung cấp dịch vụ hạtầng, Nhà nước có thể thực hiện bằng một trong hai hướng:

- Cung cấp trực tiếp thông qua các doanh nghiệp hoặc các cơ quan sựnghiệp của nhà nước

- Nhà nước tạo điều kiện khuyến khích tư nhân cung cấp các dịch vụ cơ

sở hạ tầng như trợ cấp các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hạ tầng, đảm bảo lợiích cho các doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ hạ tầng

II.4 Chức năng hỗ trợ phát triển

Chức năng này được nhà nước thực hiện thông qua việc bảo trợ cácngành, các lĩnh vực cũng như các đối tượng cụ thể, đặc biệt đối với các ngànhsản xuất còn non trẻ Bảo trợ sản xuất là sự can thiệp của nhà nước vào cácngành kinh tế nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn cho những ngành đótrong quá trình phát triển Bảo trợ sản xuất là việc làm cần thiết của nhà nước.Các nhà đầu tư sẽ không tiến hành các dự án đầu tư tuy đáp ứng yêu cầu của xãhội nhưng phải mất thời gian hay cần phải có một quá trình học hỏi lâu dài Đểthực hiện vai trò bảo trợ thành công, nhà nước cần đảm bảo 3 yếu tố cơ bản:

Trang 7

- Sự bảo trợ phải giảm dần theo từng giai đoạn lớn mạnh của ngành đượcbảo trợ (bảo trợ có thời gian, có trọng tâm, trọng điểm).

- Chính phủ phải có thực lực, có năng lực và không tham nhũng

- Chính phủ phải là nười chủ yếu đóng vai trò người điều phối và cungcấp thông tin rõ ràng

Những thất bại của nhà nước trong việc bảo trợ thường là:

- Tạo sự lệch lạc về phân bố nguồn lực

- Chi phí hành chính cao

- Chi phí cho việc bảo trợ lớn (giảm thuế, hỗ trợ kỹ thuật, vốn…)

- Thất thoát do tiêu cực trong bộ máy nhà nước, đặc biệt do tham nhũng

- Kém hiệu quả do quy định của chính phủ thiếu khoa học

- Kém hiệu quả do đặc điểm của chính phủ (thiếu kiến thức và tầm nhìnhạn chế, sự cứng nhắc, quy định thiển cận, hạn chế về mặt chính trị, quan liêu)

II.5 Cải cách khu vực công

Cải cách khu vực công là những hoạt động của nhà nước nhằm nâng caohiệu quả khu vực này Thông qua đó tác động đến toàn bộ nền kinh tế Vai tròcủa cải cách khu vực công được thể hiện:

- Tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực tư nhân phát triển và do đó tác độngđến toàn bộ nền kinh tế quốc dân

- Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của đất nước

- Góp phần thúc đẩy hoạt động có hiệu quả của doanh nghiệp

Nội dung của cải cách khu vực công gồm:

- Hợp lý hoá chi tiêu công cộng: đầu tư công cộng, tiền lương và hệ thốngcông chức, trợ cấp và chuyển giao thu nhập, chi phí quân sự

- Nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, sắp xếp lạidoanh nghiệp nhà nước, đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước

- Cải cách nền hành chính quốc gia, cải cách bộ máy hành chính, cải cáchthể chế hành chính, cải cách đội ngũ công chức nhà nước

Trang 8

- Đổi mới quản lý ài sản nhà nước, đổi mới quản lý các nguồn tài nguyênthiên nhiên, đổi mới quản lý các tài sản công.

III Thực tiễn việc thực hiện chức năng thiết lập khuôn khổ pháp luật của nhà nước ta

Thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường hơn 20 năm đổi mới cho thấy,vai trò của hệ thống pháp luật về kinh tế là vô cùng to lớn Nhận thức được tầmquan trọng này, từ cuối những năm 1980 đến nay, việc không ngừng hoàn thiện

hệ thống pháp luật, đặc biệt là pháp luật về kinh tế luôn là mối quan tâm lớn,thường xuyên và là một trong những chủ trương quan trọng của Đảng và Nhànước ta

Lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế được Nhà nước đặc biệt quan tâm, cả

về số lượng văn bản cũng như nội dung thể hiện Những sửa đổi cơ bản về chế

độ kinh tế trong Hiến pháp 1992, sự ra đời của Bộ luật Dân sự cùng với các vănbản pháp luật quan trọng khác như Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Doanhnghiệp, Bộ Luật Hàng hải, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, Luật Hợp tác

xã, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật Đất đai, Luật Dầu khí, LuậtKhoáng sản, Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Kinhdoanh bảo hiểm, Bộ luật lao động, Luật Hải quan, các luật thuế, v.v và việc kýkết một số điều ước quốc tế quan trọng đã tạo ra một hành lang pháp lý cơ bảncho phát triển kinh tế ở nước ta Pháp luật về kinh tế ngày càng phân định rõchức năng quản lý nhà nước của các cơ quan quản lý nhà nước và hoạt độngkinh doanh của các doanh nghiệp, khuyến khích mọi tổ chức cá nhân đầu tư vàohoạt động kinh doanh, khẳng định nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì

mà pháp luật không cấm

Trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, những chính sách và biện phápđiều chỉnh, sắp xếp lại doanh nghiệp, đặc biệt là những biện pháp về quản lý tàichính của công ty nhà nước, quản lý các nguồn vốn nhà nước đầu tư vào doanhnghiệp, hay việc chuyển các công ty nhà nước thành công ty cổ phần theo tinhthần cải cách mạnh mẽ hơn nữa các doanh nghiệp nhà nước, ngày càng được coitrọng nhằm nâng cao tính hiệu quả cho khu vực kinh tế quốc doanh

Hệ thống pháp luật kinh tế những năm qua đã ghi nhận những bước tiếnmới thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài cũng như các quốc

Trang 9

gia trên thế giới, thể hiện rõ quyết tâm hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm tiếnnhanh hơn trên con đường hội nhập kinh tế thế giới.

Trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng - chứng khoán, năm 2004, Quốc hội

đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật của các loại hình Tổ chứctín dụng (TCTD) được thành lập theo pháp luật Việt Nam Mở rộng các TCTD

cổ phần, cho phép thành lập loại hình TCTD 100% vốn nước ngoài, loại bỏ loạihình hợp tác xã tín dụng; các đơn vị thành viên trực thuộc được phép quản lý,khai thác, phát mại tài sản trong quá trình xử lý nợ; các TCTD được quyền xemxét lựa chọn, quyết định cho vay có bảo đảm hay không có bảo đảm Khuyếnkhích hoạt động kinh doanh chứng khoán bằng những ưu đãi về thuế, chức năngquan trọng của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước là cấp phát, gia hạn, đình chỉhoặc thu hồi giấy đăng ký phát hành, giao dịch, giấy phép niêm yết, chứng chỉhành nghề kinh doanh dịch vụ chứng khoán; cũng trong năm 2004, Chính phủcòn ban hành Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứngkhoán và thị trường chứng khoán

Về Thuế, các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực được ban hành,

có khá nhiều những quy định mới trong các khoản đã được quy định như: Trongthuế thu nhập cá nhân, nâng mức khởi điểm chịu thuế của công dân Việt Nam và

cá nhân khác định cư tại Việt Nam từ trên 3-5 triệu đồng/tháng, nâng mức thunhập không thường xuyên chịu thuế từ 2-15 triệu đồng/lần; bổ sung vào diện thunhập thường xuyên chịu thuế đối với các khoản thu nhập phát sinh tại Việt Namcủa người nước ngoài được coi là không cư trú tại Việt Nam, các khoản từ cácdịch vụ khoa học, kỹ thuật, tin học, du học, hoa hồng môi giới Đối với cácdoanh nghiệp, bổ sung nhiều quy định về ưu đãi thuế suất và miễn giảm thuế

Kể từ ngày 1/1/2004 thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài được bãi bỏ đối vớilợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài khi chuyển ra nước ngoài hoặc giữ lại ViệtNam, còn lợi nhuận tái đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vẫn có thể xem xéthoàn thuế thu nhập doanh nghiệp nếu phù hợp quy định Thuế xuất - nhập khẩu

có thêm 19 mặt hàng bổ sung vào danh mục hàng hoá và thuế suất Việt Namthực hiện CEPT của các nước ASEAN được cắt giảm thuế quan cho đến năm

2006 xuống còn 0-5% (trước là 20%); còn các mặt hàng xuất - nhập khẩu theohợp đồng mua bán thì sẽ áp dụng theo giá trị của hợp đồng để tính thuế chứkhông quy định về giá tính thuế như trước đây nữa

Trang 10

Về Thương mại, xuất nhập khẩu đã có một bộ luật lần đầu tiên được banhành thu hút được nhiều sự quan tâm của các doanh nghiệp, đó là Luật Cạnhtranh Luật quy định rõ 4 nhóm hành vi bị nghiêm cấm của các cơ quan Nhànước đối với các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; kiểm soát hành vi hạnchế cạnh tranh, các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, độc quyền Ban hànhPháp lệnh Chống trợ cấp hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam và Pháp lệnh Chốngbán phá giá, quy định các biện pháp chống trợ cấp, biện pháp chống bán phá giá

áp dụng trực tiếp đối với hàng hoá nhập khẩu Đây là một trong những biệnpháp quan trọng để chống trợ cấp hàng nhập khẩu và chống bán phá giá

Về Luật Đầu tư, ban hành chính sách cụ thể khuyến khích đầu tư nướcngoài trong lĩnh vực dạy nghề như: công nghệ thông tin, viễn thông, điện tử,hàng không Còn về đầu tư trong nước có những quy định sửa đổi về tín dụngđầu tư phát triển của Nhà nước: mức vốn cho vay đối với từng dự án tối đa là70% tổng số vốn đầu tư của dự án Bên cạnh đó có quy định mới về đăng kýkinh doanh đã cụ thể hoá cách đặt tên doanh nghiệp nhằm tránh nhầm lẫn vàtrùng hợp, cho phép cá nhân đăng ký kinh doanh nếu cam kết sử dụng từ 10 laođộng trở xuống và có 1 địa điểm kinh doanh

Về Luật phá sản, giải thể doanh nghiệp, cụ thể hoá đối tượng áp dụng củaLuật là được áp dụng để giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với các DN

và hợp tác xã (HTX), xác định sớm tình trạng phá sản để làm cơ sở cho việcphục hồi hoặc thanh lý; bổ sung các quy định nhằm bảo toàn tài sản của các DN,HTX lâm vào tình trạng phá sản Thứ tự phân chia tài sản được sửa đổi tạo ra sựbình đẳng của Nhà nước

Rõ ràng là những thay đổi theo hướng tích cực của hệ thống pháp luật vềkinh tế trong thời gian vừa qua đã tháo gỡ nhiều khó khăn cho doanh nghiệp,qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nhờ đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhìnchung, không ngừng được nâng cao: thời kỳ 1986 – 1990, tăng trưởng GDP bìnhquân đạt 4,5%/năm; 1996 – 2000: 7%/năm; 2001 – 2005: 7,5%/năm; năm 2007đạt 8,48% Năm 2008, dù phải đối mặt với không ít khó khăn, nhưng Việt Namvẫn đạt mức tăng trưởng GDP là 6,23% Thành công về tăng trưởng và ổn địnhkinh tế của những năm qua đã góp phần tạo đà cho các năm tiếp theo và để ViệtNam hy vọng có thể đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

Trang 11

Mặc dù vậy, hệ thống pháp luật kinh tế của Việt Nam và cách áp dụngchưa được đánh giá cao, dù những nỗ lực cải thiện của Việt Nam rất lớn Hệthống pháp luật kinh tế vẫn chưa đầy đủ và đồng bộ; chất lượng soạn thảo, xâydựng các văn bản pháp luật chưa cao; nhiều văn bản pháp quy dưới luật khôngđược ban hành kịp thời và thiếu nhất quán đã gây ra không ít rào cản đối với quátrình phát triển Các loại thị trường chậm hình thành, phát triển chưa đồng bộ,thiếu những nhân tố thúc đẩy tích cực; nguyên tắc thị trường chưa được coitrọng đúng mức Cải cách hành chính diễn ra chậm; bộ máy quản lý vận hànhchưa hiệu quả Thủ tục hành chính còn nhiều bất cập, phiền hà, gây khó khăn trởngại cho doanh nghiệp Theo một cuộc điều tra mới đây của Tổ chức Xúc tiếnthương mại Nhật Bản (Jetro) thì điểm cho việc thực thi chính sách của Việt Nam

từ góc nhìn của các doanh nghiệp (DN) tham gia điều tra công bố mới đây là38,5, mức trung bình của khu vực ASEAN là 34,8 Nội dung thực thi thủ tụchành chính phức tạp và phiền hà, Việt Nam cũng đứng ở mức rất xa so với điểmtrung bình, là 50 so với 35, đứng thấp nhất khu vực

Để khắc phục những vấn đề tồn tại nêu trên, hệ thống pháp luật về kinh tế

ở nước ta cần tiếp tục đổi mới theo phương hướng chủ yếu sau:

Nghiên cứu và ban hành các đạo luật có liên quan đến việc tạo môi trườngpháp lý chính thức, ổn định cho sự hình thành và phát triển các quan hệ kinh tếthị trường Đây là động lực thúc đẩy nền kinh tế quốc dân chuyển nhanh sanghoạt động theo cơ chế thị trường, hệ thống pháp luật về kinh tế phải tạo đượcmôi trường pháp lý thuận lợi cho sự hình thành và phát triển các loại thị trường:

tì trường hàng tiêu dùng, thị trường tư liệu sản xuất, thị trường vốn, thị trường

kỹ thuật, thị trường bất động sản…Quá trình ban hành luật cần hết sức chú ý tớitính hệ thống, khắc phục tình trạng chồng chéo, không ăn khớp, mâu thuẫn hoặctriệt tiêu lẫn nhau giữa chúng, trực tiếp dẫn đến hạ thấp hiệu lực thực thi

Bên cạnh đó đồng thời sửa đổi, bổ sung các luật, pháp lệnh hiện hành phùhợp với thực tiễn vận động nhanh chóng của nền kinh tế quốc dân (như luậtcạnh tranh, luật chống độc quyền, luật chứng khoán và thị trường chứng khoán,luật bảo hộ quyền sở hữu tư nhân ) Cần cải tiến công tác làm luật, tăng cườngvai trò của Quốc hội, các Ủy ban của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội chuyêntrách trong tiến trình xây dựng, đưa ra và phê chuẩn các dự án luật

Trang 12

Quán triệt đầy đủ nguyên tắc bình đẳng trong quá trình xây dựng và thựcthi hệ thống pháp luật quản lý nhà nước về kinh tế Khi xây dựng luật cũng nhưkhi thực thi luật phải xoá bỏ triệt để tư tưởng cục bộ, bản vị, địa phương chủnghĩa, nhấn mạnh quá mức tính đặc thù, tính “ngoại lệ” dẫn đến tình trạng cómột số tổ chức và cá nhân được hưởng sự “ưu ái” quá mức cần thiết và khôngcông bằng của pháp luật Điều này gây tác hại tiêu cực cho sự phát triển cân đối,hài hoà các quan hệ kinh tế thị trường nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động củachúng.

Thực hiện công khai minh bạch các thiết chế quản lý theo quy định củaWTO Đây là tiền đề rất quan trọng để không những phát huy tiềm năng của cácthành phần kinh tế trong nước mà còn thu hút mạnh đầu tư nước ngoài, qua đótiếp nhận vốn, công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý, thúc đẩy chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, tạo ra công ăn việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động, thựchiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bảo đảm tốc độ tăng trưởng và rútngắn khoảng cách phát triển

Thực hiện một cách mạnh mẽ cải cách thủ tục hành chính, bãi bỏ các thủtục, giấy tờ không thực sự cần thiết nhằm rút ngắn thời gian thành lập doanhnghiệp và tham gia thị trường, đưa nhanh hàng hoá và dịch vụ vào kinh doanh

Bên cạnh việc cải cách hệ thống pháp luật kinh tế cần đẩy mạnh cải tổ hệthống các cơ quan tư pháp, đặc biệt là toà án và thi hành án để bảo đảm luậtpháp được thực thi, tạo môi trường công bằng và lành mạnh cho các doanh nhânyên tâm kinh doanh

Trang 13

Chuyên đề 2

Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Mai Văn Bưu

Người thực hiện: Trần Thị Hảo

Đề bài: Mối quan hệ giữa mục tiêu, cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý nhà nước

về kinh tế Thực tiễn mối quan hệ này ở nước ta hiện nay

Bài làm

A Những vấn đề chung về mục tiêu, cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý nhà nước về kinh tế.

I Tổng quan mục tiêu quản lý nhà nước về kinh tế

I.1 Khái niệm

Quản lý nhà nước về kinh tế là quá trình thiết kế mục tiêu quản lý và căn

cứ vào mục tiêu quản lý mà lựa chọn những công cụ, phương pháp quản lý đểđiều tiết sự vận hành của nền kinh tế theo mục tiêu đã định Mục tiêu quản lý làcăn cứ đầu tiên của quá trình quản lý

Trong quản lý nhà nước về kinh tế, các mục tiêu chỉ ra phương hướng vàyêu cầu số lượng cho các hoạt động quản lý của Nhà nước nhằm giải quyết cácvấn đề kinh tế - xã hội cơ bản như tăng trưởng kinh tế, rút ngắn khoảng cách tụthậu về kinh tế, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, xoá đói giảm nghèo, hội nhập kinh tếkhu vực và quốc tế…

I.2 Đặc điểm

Mục tiêu quản lý nhà nước về kinh tế có các đặc điểm chính sau:

Tính vĩ mô: Việc thiết kế các mục tiêu hoạt động sản xuất – kinh doanh

khong phải là nội dung của quản lý nhà nước về kinh tế Chỉ những mục tiêukinh tế quan trọng như tốc độ tăng trưởng, lạm phát, sự chuyển dịch cơ cấu kinhtế… liên quan đến toàn bộ nền kinh tế mới có thể quy về mục tiêu quản lý nhànước về kinh tế

Thông nhất về chất và lượng: Mục tiêu quản lý nhà nước về kinh tế được

xây dựng trên cơ sở đường lối kinh tế của Đảng để hình thành các mục tiêu

Trang 14

chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Sau đó, được cụ thể hoá thành các mụctiêu của kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm.

Tính tiến thủ và tính trình tự giai đoạn: Mục tiêu quản lý nhà nước về

kinh tế là sự phán đoán của chủ thể quản lý đối với trạng thái lý tưởng phát triểnkinh tế trong tương lai Trong thực tế, cần phải căn cứ thực lực kinh tế, điều kiệntài nguyên, trình độ quản lý đặt trong điều kiện quốc tế khi xác định mục tiêucho các giai đoạn khác nhau

Tính quan hệ tương hỗ: Quan hệ tương hỗ giữa các mục tiêu quản lý nhà

nước về kinh tế có thể chia làm 3 loại: quan hệ độc lập, quan hệ bổ sung và quan

hệ ngược chiều Trong quản lý nhà nước về kinh tế, nhận thức đầy đủ mối quan

hệ tương hỗ giữa các mục tiêu là tiền đề cho việc xác định các giải pháp quản lý.Ngoài ra, nếu giữa hai mục tiêu có quan hệ ngược chiều, để thực hiện tốt mụctiêu nào đó, tất yếu phải từ bỏ đối với mục tiêu thứ hai

I.3 Hệ thống mục tiêu quản lý nhà nước về kinh tế

Căn cứ vào nội dung của mục tiêu quản lý nhà nước về kinh tế, có thểchia thành 10 mục tiêu lớn: 1) tăng trưởng kinh tế; 2) sử dụng tài nguyên hợp lý;3) tạo công ăn việc làm; 4) ổn định vật giá; 5) phân phối của cải xã hội; 6) cảithiện cán cân thanh toán quốc tế; 7) chuyển dịch cơ cấu kinh tế; 8) bảo hộ sảnxuất trong nước; 9) phát triển kinh tế vùng lãnh thổ; 10) nâng cao phúc lợi, đảmbảo công bằng

Tuy nhiên, để dễ phân tích ta phân nhóm các mục tiêu trên thành 4 nhómmục tiêu: tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế, công bằng kinh tế và phúc lợikinh tế tổng hợp

II Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế

II.1 Bộ máy nhà nước và cơ quan nhà nước

Các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước được thực hiện thông qua bộ máynhà nước Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương tớiđịa phương, được tổ chức theo những nguyên tắc thống nhất, tạo thành mộtchỉnh thể đồng bộ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Cơ quan nhà nước là một bộ phận của bộ máy nhà nước, mang tính độclập tương đối, có chức năng, nhiệm vụ nhất định, được thành lập theo quy địnhcủa pháp luật để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Trang 15

Bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế là một bộ phận cấu thành của bộ máynhà nước, mang tính độc lập tương đối, bao gồm các cơ quan nhà nước thựchiện các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế từ trung ương tới địa phương

II.2 Nguyên tắc chung của tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế Chuyên môn hoá và phân nhóm chức năng: Để đảm bảo cho mục tiêu

được thực hiện, các hoạt động trong hệ thống phải được chuyên môn hoá theochức năng Tuy nhiên, không phải có bao nhiêu chức năng là có bấy nhiêu bộphận Để tinh giản bộ máy người ta tiến hành phân nhóm các chức năng có mốiquan hệ gần gũi thành các bộ phận, phân hệ,

Phân định phạm vi quản lý và phân cấp quản lý: Đây là nguyên tắc nhằm

định hướng thích hợp cho phân quyền quản lý, sắp xếp bộ máy, đồng thời cũngthích hợp cho việc bố trí số lượng và chất lượng nhân viên trong nội bộ mỗi cơquan

Nguyên tắc hoàn chỉnh thống nhất: Mục tiêu của các bộ phận, phân hệ,

con người trong hệ thống phải phục tùng mục tiêu chung

Nguyên tắc tương hợp giữa các chức năng, nhiệm vụ với quyền hạn; giữa quyền hạn với trách nhiệm; giữa nhiệm vụ, trách nhiệm với phương tiện: Trong

hoạt động quản lý, chức năng, nhiệm vụ - quyền hạn – trách nhiệm – phươngtiện là những yếu tố tạo điều kiện cho nhau nên phải tương xứng với nhau

Nguyên tắc hiệu quả và hiệu lực: Hiệu lực của bộ máy quản lý thể hiện ở

khả năng ra các quyết định đúng đắn, kịp thời, được xã hội thừa nhận, được cấpdưới thực hiện nhanh chóng, mang lại kết quả cao và ít tốn kém Bộ máy có hiệuquả là bộ máy hoàn thành được mục tiêu của mình với chi phí nhất định

II.3 Mô hình cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế

Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước vềkinh tế nói riêng được thực hiện thông qua cả ba loại cơ quan lập pháp, hànhpháp và tư pháp với sự phân định chức năng, quyền hạn tương ứng cho từng loại

cơ quan Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước về kinh tế được thực hiện bởi cơquan hành pháp (Chính phủ, các Bộ và chính quyền địa phương)

Quản lý nhà nước về kinh tế được thực hiện ở cả 4 cấp chính quyền:Trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; huyện, quận, thành phốthuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn

Trang 16

Cơ cấu tổ chức quản lý nhà nước về kinh tế có thể xây dựng theo hai môhình: tập trung và phân quyền.

III Cơ chế quản lý kinh tế

Cơ chế quản lý kinh tế là phương thức điều hành có kế hoạch nền kinh té,dựa trên cơ sở các đòi hỏi của các quy luật khách quan của sự phát triển xã hội,bao gồm tổng thể các phương pháp, các hình thức, các thủ thuật để thực hiệnyêu cầu của các quy luật khách quan ấy

Nội dung cơ chế quản lý kinh tế bao gồm:

Phân tích thực trạng nền kinh tế, từ đó xác định đường lối, chủ trương,chiến lược phát triển

Xác định cơ cấu của nền kinh tế bao gồm cơ cấu sản xuất, cơ cấu tổ chức

và cơ cấu quản lý đảm bảo tính hoàn chỉnh cho hệ thống kinh tế nhằm loại bỏcác tiêu cực xã hội

B Phân tích mối quan hệ giữa mục tiêu, cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý nhà nước về kinh tế

Giữa mục tiêu, cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý nhà nước có mối quan hệchặt chẽ với nhau trong việc điều hành nền kinh tế Nếu cơ chế quản lý đượcxây dựng một cách hợp lý nhưng cơ cấu tổ chức không hợp lý thì việc điều hành

sẽ hết sức khó khăn và ngược lại, cơ cấu tổ chức được bố trí hợp lý nhưng cơchế quản lý không đúng thì cũng không thể quản lý thành công được Nếu mụctiêu được thiết lập đầy đủ nhưng không có cơ cấu tổ chức thì cũng không thểthực hiện được mục tiêu Mặt khác nếu cơ chế quản lý không phù hợp thì mụctiêu cũng không thể thực hiện được

I Mối quan hệ giữa mục tiêu và cơ cấu tổ chức

Trang 17

Có thể thấy rằng, thực chất của quá trình quản lý kinh tế vĩ mô là quátrình thiết kế mục tiêu quản lý, là nhiệm vụ và căn cứ đầu tiên của quá trìnhquản lý Mục tiêu quản lý chính là trạng thái mong đợi, cần có của Nhà nướctrong tương lai khi thực hiện quá trình quản lý Không có mục tiêu quản lý kinh

tế chính xác, có căn cứ khoa học, sẽ không thể tiến hành quản lý nền kinh tếquốc dân có hiệu quả cao Mục tiêu quản lý kinh tế là căn cứ để tổ chức các hoạtđộng quản lý kinh tế Như vậy, nếu mục tiêu quản lý kinh tế đề ra dù có chínhxác và khả thi đến đâu đi nữa nếu không có tổ chức đứng ra thực hiện thì mụctiêu quản lý vẫn chỉ là mục tiêu trên lý thuyết, chứ chưa phải là mục tiêu quản lýtrong hiện thực Muốn mục tiêu quản lý kinh tế trở thành hiện thực phải có bộmáy quản lý kinh tế, tức là một tổ chức đứng ra để thực hiện các chức năng,nhiệm vụ của Nhà nước nhằm đạt được các mục tiêu đã định

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế được xây dựng trướchết dựa vào mục tiêu của tổ chức Từ mục tiêu sẽ xây dựng các chức năng nhiệm

vụ của từng bộ phận cấu thành cơ cấu tổ chức nhằm thực hiện các mục tiêu đề

ra Yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới quá trình chuyên môn hoá và phân nhómchức năng trong tổ chức chính là mục tiêu của tổ chức Để đảm bảo mục tiêuđược thực hiện thì các hoạt động trong tổ chức cần phải được chuyên môn hoátheo chức năng

II Mối quan hệ giữa mục tiêu và cơ chế quản lý

Mục tiêu và cơ chế quản lý có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ trong trongquản lý tổ chức Mục tiêu là trạng thái mong đợi, cần có của tổ chức trong mộtthời gian nhất định, để biến mục tiêu thành hiện thực cần có một cơ chế quản lýthích hợp, tác động đến các đối tượng quản lý mới có thể biến mục tiêu trở thànhhiện thực Mục tiêu quản lý đúng đắn sẽ hình thành động lực thúc đẩy cơ chếquản lý, đưa hệ thống đạt đến mục tiêu quản lý trong một thời gian ngắn nhất

Cơ chế quản lý là công cụ để thực hiện mục tiêu của tổ chức Đối với một quốcgia, cơ chế quản lý được thể hiện bằng hệ thống các chính sách, nếu các chínhsách là phù hợp thì mục tiêu quản lý sẽ được thực hiện thành công và ngược lại.Thành công hay thất bại của quá trình quản lý chính là do cơ chế quản lý

Trang 18

C Việc thực hiện mối quan hệ giữa mục tiêu, cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý Nhà nước về KT ở nước ta hiện nay

I Mục tiêu quản lý nhà nước về kinh tế của nhà nước ta hiện nay

Mục tiêu tổng thể là: xây dựng một Nhà nước của dân, do dân, vì dân, lấylợi ích chính đáng của nhân dân làm căn cứ cho toàn bộ hoạt động của Nhànước

Mục tiêu cuối cùng của việc xây dựng nền KTTT định hướng XHCN ởViệt Nam chính là thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh

Mục tiêu tổng thể đó thông qua việc thực hiện các mục tiêu cụ thể dướiđây

* Thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững

* Thực hiện công bằng xã hội

* Ổn định kinh tế vĩ mô

Ba mục tiêu trên có quan hệ qua lại với nhau, tác động tương hỗ trong mộtthể thống nhất nhằm hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế, xây dựng xã hội côngbằng và văn minh Bản thân mục tiêu tăng trưởng bền vững đã hàm ý đi liền vớimục tiêu bảo vệ môi trường sinh thái, khai thác có hiệu quả các nguồn lực hiện

có, thực hiện công bằng xã hội và đảm bảo ổn định vĩ mô Đó là các bộ phậnhợp thành của một chiến lược hướng tới sự phát triển bền vững, một sự pháttriển cho phép làm tăng phúc lợi của các thế hệ hiện tại mà không làm giảm khảnăng cải thiện phúc lợi của các thế hệ tương lai Công bằng xã hội và ổn định vĩ

mô vừa là điều kiện, vừa là kết quả của tăng trưởng bền vững

Nói tóm lại, ba nhóm mục tiêu trên cần được nhận thức đúng đắn và nhấtquán, nhằm tạo nên một hệ mục tiêu không xung đột, mâu thuẫn với nhau, màđóng vai trò tương hỗ, bổ sung lẫn nhau trong việc phát triển nền KTTT địnhhướng XHCN vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh

II Thực trạng cơ chế quản lý Nhà nước về kinh tế hiện nay

Như chúng ta đã biết cơ chế quản lý kinh tế là toàn bộ hệ thống pháp quycủa Nhà nước quy định về quản lý và điều hành nền kinh tế Cơ chế quản lý kinh

tế có quá trình hình thành, hoàn thiện và luôn có sự đổi mới phù hợp với sự biến

Trang 19

đổi của đối tượng quản lý và năng lực vủa chủ thể quản lý Vì vậy, sẽ là ảotưởng nếu đòi hỏi có ngay một cơ chế quản lý kinh tế hoàn chỉnh tuyệt đối.Chính trong quá trình quản lý mà chủ thể tự hoàn thiện dần nội dung và bộ máyquản lý, khắc phục những yếu tố lỗi thời, mâu thuẫn, thiếu thống nhất, phối hợp

và tác động qua lại để đổi mới và hoàn thiện không ngừng cơ chế Vì vậy để

quản lý và điều hành kinh tế có hiệu quả thì phải thường xuyên đổi mới cơ chếquản lý nhà nước về kinh tế

Ở nước ta đang từng bước khắc phục cơ chế quản lý tập trung, quan liêubao cấp chuyển sang áp dụng cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.Thực tiễn những năm qua đã chứng tỏ bước chuyển đổi cơ chế là rất cần thiết vàđúng hướng

Tuy nhiên, cơ chế cũ vẫn chưa được thanh toán triệt để, cơ chế mới đanghình thành, Nhà nước ta đang trong qua trình làm quen với cơ chế thị trường.trong bước chuyển cơ chế, những sơ hở, bất cập trong quản lý kinh tế của Nhànước thể hiện ở rất nhiều khâu, nhiều lĩnh vực như sau:

- Tham nhung gia tăng, đặc biệt khu vực doanh nghiệp nhà nước Nguyênnhân của nó có nhiều, những gốc rễ là do sự đồng nhất sở hữu toàn dân với sởhữu nhà nước và tình trạng làm chủ chung chung, không có người chủ đích thựccủa các xí nghiệp Vì vậy, cán bộ quản lý các xí nghiệp quốc doanh có thể bằng

đủ mọi cách biến tài sản và tiền vốn của Nhà nước thành của riêng, phục vụ lợiích riêng Điều đó bắt nguồn từ những qui định rách ròi, chính xác, cụ thể giữachủ sở hữu là Nhà nước với các doanh nghiệp là người được chủ sở hữu giaoquyền sản xuất, kinh doanh Nội dung của các quyền chiếm hữu, sử dụng, địnhđoạt không được qui định rõ ràng giữa hai loại chủ thể khác nhau là Nhà nước

và các doanh nghiệp nhà nước Trong các qui định pháp lý cũng như trên thực tế,doanh nghiệp nhà nước còn được ưu đãi hơn các doanh nghiệp thuộc các thànhphần sở hữu khác trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước Nguyên tắc bìnhđẳng trong sản xuất, kinh doanh trong mọi loại hình doanh nghiệp chưa đượcquán triệt trong nhận thức cũng như trong thực tiễn

- Việc chuyển các doanh nghiệp nhà nước sang chế độ tự chủ sản xuất,kinh doanh là cần thiết Song, đi liền với việc đó là hoàn thiện qui chế tráchnhiệm pháp lý của giám đốc Nhưng quyền tự chủ rộng rãi mà trách nhiệm lạikhông rõ ràng đã tạo ra khả năng các giám đốc xí nghiệp nhân danh quyền tựchủ để hoạt động không thể kiểm soát nổi Trong điều kiện cơ chế thị trường,các loại giá đều là giá thị trường, Nhà nước không cung cấp vật tư, nguyên liệu,

Trang 20

không qui định giá sản phẩm , giám đốc xí nghiệp toàn quyền định đoạt Vớiquyền năng rộng rãi của mình chỉ cần móc ngoặc, thông đồng với bên bán vật tưhay bên mua sản phẩm, lãnh đạo xí nghiệp đã dược hưởng khoản chênh lệch rấtlớn, còn Nhà nước và người lao động chẳng những không thu được gì qua cácphi vụ “móc ngoặc” mà còn không tài nào thanh tra, kiểm tra được hoạt độngcủa giám đốc.

- Bước sang cơ chế thị trường, Nhà nước chưa đề ra các qui định mạng tínhpháp lý về chế độ hạch toán doanh nghiệp, trước hết là ở các doanh nghiệp nhànước Trong hạch toán, hai khâu quan trọng nhất nhưng hiện đang sơ hở, tùytiện nhất là việc đánh giá tài sản cố định và tỷ lệ khấu hao Do các xí nghiệpđược trang bị máy móc, phương tiện từ nhiều nguồn của nhiều nước trong cácthời điểm khác nhau, việc xác định trị giá còn lại của nó rất khó khăn Đây làkhâu các giám đốc xí nghiệp có thể tùy ý định đoạt, kê khai khống, làm nhiễuloạn việc hạch toán giá thành, bòn rút của công một cách tinh vi

- Từ khi áp dụng cơ chế thị trường, chế độ phân phố trong nội bộ xí nghiệpkhông theo một nguyên tắc nào Sau khi làm xong nghĩa vụ với Nhà nước, các

xí nghiệp có toàn quyền xác lập tỷ lệ phân phối nội bộ, Ngoài phần tiền lươngbằng tiền là rất nhiều khoản phân phối khác nằm ngoài sổ sách Ở những khoảnngoài sổ sách này, các giám đốc và cán bộ chủ chốt của xí nghiệp dành chomình những tài sản có giá trị lớn

Chính những kẽ hở như trên nên đã cản trở việc thực hiện mục tiêu quản

lý nhà nước về kinh tế

III Thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về kinh tế

Cùng với cự chuyển biến của cơ chế quản lý Nhà nước về kinh tế thì cơcấu tổ chức cũng có sự điều chỉnh mà thực chất là việc chuyển đổi chức năngmới để đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập Trong đó, chúng ta quan tâmnhiều đến các cơ quan hành pháp, tức là Chính phủ Trong 5-7 năm vừa qua,chúng ta cũng đã tập trung để đi vào vấn đề này; làm rõ các chức năng quản lýhành chính Nhà nước của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường như thế nào.Thay vì trước đây Chính phủ làm việc kể cả vi mô lẫn vĩ mô, thì nay Chính phủchỉ làm việc quản lý vĩ mô toàn xã hội, thông qua việc sử dụng các công cụ phápluật để điều tiết chung

Trước đây, chúng ta phải làm kiểu “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, vừa làmchính sách pháp luật, vừa tổ chức thực hiện thì bây giờ chúng ta phải tách bạch

Trang 21

chuyện này ra và đây là chính là mục tiêu của việc cải cách hành chính Yêu cầuhàng đầu hiện nay là làm rõ chức năng của từng bộ phận trong Chính phủ Nhưvậy, sắp tới, Chính phủ sẽ làm đúng bổn phận của mình Còn lại những việc cóthể giao được cho tổ chức khác thì sẽ giao, nhất là đối với các dịch vụcông Thay vì Nhà nước trực tiếp làm, thì nay chuyển giao việc đó cho các tổchức phi chính phủ, tổ chức nghề nghiệp, doanh nghiệp làm Nhà nước, cơ quanhành chính chỉ làm những việc mà xã hội không làm được nhờ đó cơ cấu chínhthức bên trong bộ máy Chính phủ sẽ nhỏ đi, gọn lại để thực hiện nguyên tắcquản lý đa ngành, đa lĩnh vực Phương hướng chung là giảm các bộ kinh tế trựctiếp, chuyên ngành để tăng các bộ kinh tế tổng hợp Tư tưởng quản lý đa ngành,

đa lĩnh vực đã được thể hiện từ Nghị quyết Trung ương VII (khoá VIII) năm

1999 Từ đó đến này chúng ta đã giảm số bộ và cơ quan ngang bộ từ 49 xuốngcòn 39 bộ, rồi 26 bộ và hiện nay là 22 bộ

Trang 22

Chuyên đề 3

Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Mai Văn Bưu

Người thực hiện: Trần Thị Hảo

Đề bài: Vai trò nhà nước đối với việc tạo dựng môi trường kinh doanh Những

căn cứ để đánh giá môi trường kinh doanh Môi trường kinh doanh ở Việt Namđược đánh giá như thế nào trong năm 2008 Nhà nước ta cần tiếp tục hoàn thiệnmôi trường kinh doanh theo hướng nào?

Môi trường kinh doanh là tổng thể các yếu tố tác động trực tiếp hay giántiếp đến các quyết định hoặc hoạt động của các chủ thể kinh tế trên thị trường

Có thể chia nhóm các yếu tố tác động thành nhóm các yếu tố thuộc môi trường

vĩ mô, bao gồm: môi trường văn hoá-xã hội, môi trường kinh tế, môi trườngpháp lý, môi trường vật chất, môi trường công nghệ và nhóm các yếu tố thuộcmôi trường vi mô, bao gồm: khách hàng, nhà cung cấp, các đối thủ cạnh tranh,nhóm quyền lợi trong các cơ sở kinh tế Trong số các yếu tố thuộc môi trườngkinh tế, nhà nước có vai trò đặc biệt với các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô Vaitrò đó được thể hiện qua các nội dung: duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững

ổn định chính trị, bảo đảo ổn định xã hội

1 Duy trì ổn định kinh tế vĩ mô

Ổn định kinh tế vĩ mô hiện được chấp nhận rộng rãi là môi trường thuậnlợi để khuyến khích tiết kiệm và gia tăng đầu tư, do đó nó là điều kiện cần thiết

Trang 23

để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và vững chắc Những kinh nghiệm thànhcông nhất về phát triển kinh tế ở các quốc gia Đông á cho thấy các yếu tố quantrọng để duy trì môi trường kinh tế vĩ mô ổn định bao gồm: Mức thâm hụt ngânsách thấp, tốc độ tăng trưởng tiền tệ và tín dụng hợp lý, tỷ lệ lạm phát tương đốithấp và các khoản nợ của khu vực công cộng duy trì ở mức có thể quản lý được,lãi suất thực dương và tránh để đồng nội tệ bị đánh giá cao.

Ổn định kinh tế vĩ mô củng cố lòng tin của các chủ thể kinh tế vào tươnglai của nền kinh tế, tránh cho nền kinh tế khỏi những cuộc khủng hoảng Là điềukiện tiên quyết cho việc tính toán kinh doanh của các chủ thể kinh tế

Để đảm bảo nội dung này, nhà nước cần thực hiện hàng loạt các biệnpháp:

- Gia tăng tiết kiệm dùng để đầu tư cho phát triển

- Duy trì sự cân đối giữa thu và chi ngân sách nhằm kiểm soát lạm phát

- Duy trì tỉ giá hối đoái hợp lý

- Duy trì sự cân đối giữa tích luỹ và đầu tư để tránh lệ thuộc vào nướcngoài

- Đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực như quan liêu, tham nhũng, buôn lậu…

2 Giữ vững ổn định chính trị

Ổn định chính trị tạo ra môi trượng thuận lợi đối với các hoạt động kinhdoanh Trong một xã hội ổn định chính trị, các nhà kinh doanh được đảm bảo antoàn về đầu tư, quyền sở hữu và các loại tài sản khác Do đó các nhà kinh doanhsẵn sàng đầu tư những khoản tiền lớn vào các dự án dài hạn

Mức độ yên tâm của các nhà kinh doanh được củng cố thông qua sự đánhgiá về rủi ro chính trị Rủi ro chính trị là mức độ mà các biến cố và hoạt độngchính trị có khả năng gây ra những tác động tiêu cực đối với lợi nhuận dài hạntiềm tàng của các dự án đầu tư Các nhà kinh doanh thường đánh giá mức độ rủi

ro chính trị dựa trên 4 nhóm yếu tố chủ yếu: mất ổn định trong nước, xung độtvới nước ngoài, xu thế chính trị và khuynh hướng kinh tế

Khi xảy ra sự mất ổn định trong nước sẽ làm cho múc độ an toàn về tínhmạng, tài sản và các giao dịch kinh doanh của các doanh nhân, các doanh nghiệprất thấp

Ngày đăng: 06/09/2023, 17:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w