Mục tiêu của luận án nhằm xác định sự khác biệt trong tác động của các yếu tố mang tính chất hệ thống như mức độ rủi ro quốc gia, mức độ rủi ro ngành ngân hàng nơi các NHTM có trụ sở
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-
LÂM THANH PHI QUỲNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Trang 4MỤC LỤC
&&&
Trang Trang phụ bìa LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU ix
TÓM TẮT xii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh nghiên cứu 1
1.2 Vấn đề nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.5 Đối tượng, phạm vi, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 4
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 5
1.6.1 Ý nghĩa khoa học 5
1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn 5
1.7 Những đóng góp của luận án 6
1.8 Kết cấu của luận án 6
CHƯƠNG 2: XẾP HẠNG TÍN NHIỆM NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI CÁC NỀN KINH TẾ PHÁT TRIỂN VÀ CÁC NỀN KINH TẾ MỚI NỔI 2.1 Tổng quan về MXHTN của NHTM 8
2.1.1 Khái niệm về MXHTN của NHTM 8
2.1.2 Phương pháp đánh giá MXHTN của NHTM 11
2.1.2.1 Hệ thống thống nhất đánh giá các tổ chức tài chính (The Uniform Financial Institutions Rating System - UFIRS) 11
2.1.2.2 Phương pháp đánh giá MXHTN NHTM của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm
quốc tế 12
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 52.2 Đặc điểm kinh tế và đặc điểm của các NHTM tại các nền kinh tế phát triển
và các nền kinh tế mới nổi 14
2.2.1 Một số đặc điểm kinh tế của các nền kinh tế phát triển 14
2.2.2 Một số đặc điểm của các NHTM tại các nền kinh tế phát triển 14
2.2.3 Một số đặc điểm kinh tế của các nền kinh tế mới nổi 16
2.2.4 Một số đặc điểm của các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi 18
2.3 Cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến MXHTN của NHTM 20
2.3.1 Sự tác động của các yếu tố vĩ mô đến MXHTN của NHTM 22
2.3.2 Sự tác động của yếu tố hỗ trợ từ chính phủ hay tập đoàn mẹ đến MXHTN của các NHTM 23
2.3.3 Sự tác động của các yếu tố đặc thù của NHTM đến MXHTN 24
2.4 Cơ sở lý thuyết về sự khác biệt trong tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế mới nổi so với các nền kinh tế phát triển 25
2.4.1 Khái niệm về bất cân xứng thông tin 25
2.4.2 Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt trong tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế mới nổi so với các nền kinh tế phát triển 25
2.4.3 Bất cân xứng thông tin tạo ra sự khác biệt trong tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế mới nổi so với các nền kinh tế phát triển 30
2.5 Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan 33
2.5.1 Mức độ tin cậy và tính thống nhất trong các đánh giá MXHTN của NHTM 35
2.5.2 Xây dựng mô hình dự báo MXHTN 38
2.5.2.1 Các nghiên cứu sử dụng phương pháp phân loại bằng các mô hình hồi quy thống kê 38
2.5.2.2 Các nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân loại trí tuệ nhân tạo 39
2.6 Khe hổng nghiên cứu và khung phân tích của luận án 43
2.6.1 Khe hổng nghiên cứu 43
2.6.2 Khung phân tích của luận án 44
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 47
3.1.1 Mô hình hồi quy Ordered Logit 47
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 63.1.2 Xác định và đo lường biến phụ thuộc 51
3.1.3 Xác định và đo lường các biến giải thích 51
3.2 Dữ liệu nghiên cứu 59
3.3 Các giả thuyết nghiên cứu 63
3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 66
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Phân tích phương sai một yếu tố các chỉ tiêu tài chính NHTM theo từng MXHTN 72
4.2 Kết quả phương pháp lựa chọn biến giải thích và đánh giá mức độ phù hợp của mô hình hồi quy Ordered logit 82
4.2.1 Kết quả phương pháp lựa chọn biến giải thích trong mô hình hồi quy Ordered logit 82
4.2.2 Kết quả đánh giá mức độ phù hợp của mô hình 89
4.3 Kiểm định các giả định trong mô hình Ordered logit 93
4.3.1 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình (Multicollinearity) 93
4.3.2 Kiểm tra hiện tượng phương sai thay đổi trong mô hình (heteroskedasticity) 94
4.3.3 Kiểm tra việc thiếu biến giải thích cần thiết trong mô hình 96
4.4 Đánh giá tác động biên của một số biến giải thích trong mô hình 98
4.5 Xác định sự khác biệt trong tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế phát triển so với các nền kinh tế mới nổi 100
4.6 Thảo luận kết quả nghiên cứu 106
4.6.1 Thảo luận các kết quả nghiên cứu từ mô hình dự đoán MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế mới nổi 106
4.6.1.1 Tác động của các yếu tố mang tính chất hệ thống đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế mới nổi 106
4.6.1.2 Tác động của yếu tố sở hữu đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế mới nổi 108
4.6.1.3 Tác động của yếu tố quy mô đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế mới nổi 109
4.6.1.4 Tác động của các chỉ tiêu tài chính đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế mới nổi 111
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 74.6.2 Thảo luận các kết quả nghiên cứu từ mô hình dự đoán MXHTN của NHTM
tại các nền kinh tế phát triển 116
4.6.2.1 Tác động của các yếu tố mang tính chất hệ thống đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế phát triển 116
4.6.2.2 Tác động của yếu tố sở hữu đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế phát triển 117
4.6.2.3 Tác động của yếu tố quy mô đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế phát triển 118
4.6.2.4 Tác động của các chỉ tiêu tài chính đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế phát triển 119
4.6.3 Thảo luận kết quả xác định sự khác biệt trong tác động của các yếu tố
ảnh hưởng đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế phát triển so với các nền kinh tế mới nổi 125
4.6.3.1 Sự khác biệt trong tác động của các yếu tố mang tính chất hệ thống đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế phát triển so với các nền kinh tế mới nổi 125
4.6.3.2 Sự khác biệt trong tác động của yếu tố sở hữu đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế phát triển so với các nền kinh tế mới nổi 126
4.6.3.3 Sự khác biệt trong tác động của yếu tố quy mô và các chỉ tiêu tài chính đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế phát triển so với các nền kinh tế mới nổi 128
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 5.1 Kết luận 134
5.2 Gợi ý chính sách 137
5.2.1 Các gợi ý chính sách cho các cơ quan quản lý hoạt động ngân hàng 137
5.2.2 Các gợi ý chính sách cho các NHTM 139
5.3 Hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 141
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC Phụ lục 1a i
Phụ lục 1b ii
Phụ lục 2 iii
Phụ lục 3 v
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 8Phụ lục 4 vii
Phụ lục 5 xvii
Phụ lục 6a xix
Phụ lục 6b xx
Phụ lục 7 xxi
Phụ lục 8 xxii
Phụ lục 9 xxiii
Phụ lục 10 xxiv
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
&&&
Ký hiệu Tiếng Anh Tiếng Việt
ANOVA Analysis of variance Phân tích phương sai
FFIEC Federal Financial Instutions
IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ quốc tế
MDA Multiple discriminant analysis Phân tích đa biệt thức
MXHTN Mức xếp hạng tín nhiệm
NIM Net Interest Margin Tỷ lệ lãi cận biên
NHTM Ngân hàng thương mại
OBS Observations Các quan sát
OECD Organization for Economic
Co-operation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OLS Ordinary Least Squares Bình phương nhỏ nhất
ROAA Return on average assets Tỷ số lợi nhuận trên tổng
tài sản bình quân ROAE Return on average equity Tỷ số lợi nhuận trên tổng
vốn chủ sở hữu bình quân VIF Variance inflation factor Hệ số khuếch đại phương
sai
WB World Bank Ngân hàng thế giới
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 10DANH MỤC ĐỒ THỊ VÀ SƠ ĐỒ
&&&
Đồ thị 2.1: Mức độ tập trung trong lĩnh vực ngân hàng tại các nền kinh tế phát triển và các nền kinh tế mới nổi giai đoạn 1999 – 2008 15
Đồ thị 2.1: ROAA của các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi và các nền kinh tế phát triển giai đoạn 1999-2008 19
Đồ thị 3.1: Minh họa xác suất trong mô hình Ordered Logit 51
Đồ thị 4.1: Tác động của biến Coutry_Rating đến xác suất phân loại NHTM vào các MXHTN khác nhau tại các nền kinh tế mới nổi 107
Đồ thị 4.2: Tác động của biến Bicra đến xác suất phân loại NHTM vào các MXHTN khác nhau tại các nền kinh tế mới nổi 108
Đồ thị 4.3: Tác động của biến LnAss đến xác suất phân loại NHTM vào các MXHTN khác nhau tại các nền kinh tế mới nổi 110
Đồ thị 4.4: Tác động của biến AssGrow đến xác suất phân loại NHTM vào các MXHTN khác nhau tại các nền kinh tế mới nổi 112
Đồ thị 4.5: Tác động của biến LoanLoss_Ln đến xác suất phân loại NHTM vào các MXHTN khác nhau tại các nền kinh tế mới nổi 113
Đồ thị 4.6: Tác động của biến OthIn_Ass đến xác suất phân loại NHTM vào các MXHTN khác nhau tại các nền kinh tế mới nổi 116
Đồ thị 4.7: Tác động của biến LnAss đến xác suất phân loại NHTM vào các MXHTN khác nhau tại các nền kinh tế phát triển 118
Đồ thị 4.8: Tác động của biến LoanLoss_Ln đến xác suất phân loại NHTM vào các MXHTN khác nhau tại các nền kinh tế phát triển 119
Đồ thị 4.9: Tác động của biến NIM đến xác suất phân loại NHTM vào các MXHTN khác nhau tại các nền kinh tế phát triển 122
Đồ thị 4.10: Tác động của biến ROAE đến xác suất phân loại NHTM vào các MXHTN khác nhau tại các nền kinh tế phát triển 123
Sơ đồ 2.1: Khung phân tích MXHTN NHTM của Fitch 13
Sơ đồ 2.2: Các yếu tố tác động đến MXHTN của NHTM 21
Sơ đồ 2.3: Khung phân tích của luận án 45
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 11Sơ đồ 3.1: Trình tự thực hiện các bước phân tích của luận án 66
Sơ đồ 3.2: Xác định sự khác biệt trong tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến
MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế mới nổi so với các nền kinh tế phát triển 70
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 12DANH MỤC BẢNG BIỂU
tố các chỉ tiêu tài chính NHTM theo từng MXHTN tại các nền kinh tế mới nổi 75 Bảng 4.3: Kết quả kiểm định Kruskal - Wallis các chỉ tiêu tài chính NHTM theo từng
MXHTN tại các nền kinh tế mới nổi 76 Bảng 4.4: Giá trị trung bình các chỉ số tài chính NHTM theo từng MXHTN tại các nền
kinh tế phát triển 77 Bảng 4.5: Kết quả kiểm định phương sai đồng nhất và phân tích phương sai một yếu
tố các chỉ tiêu tài chính NHTM theo từng MXHTN tại các nền kinh tế phát triển 80 Bảng 4.6: Kết quả kiểm định Kruskal - Wallis các chỉ tiêu tài chính NHTM theo từng
MXHTN tại các nền kinh tế phát triển 81 Bảng 4.7: Mô hình Ordered logit với 5 mẫu dữ liệu con và toàn bộ mẫu dữ liệu các
NHTM tại các nền kinh tế mới nổi 82 Bảng 4.8: Tần suất xuất hiện của các biến giải thích có hệ số hồi quy có ý nghĩa thống
kê trong các mô hình Ordered logit trên các mẫu dữ liệu các NHTM tại các nền kinh
tế mới nổi 84 Bảng 4.9: Mô hình Ordered logit trên tập hợp các biến giải thích được lựa chọn và
toàn bộ mẫu dữ liệu các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi 85 Bảng 4.10: Mô hình Ordered logit với 5 mẫu dữ liệu con và toàn bộ mẫu dữ liệu các
NHTM tại các nền kinh tế phát triển 86 Bảng 4.11: Tần suất xuất hiện của các biến giải thích có hệ số hồi quy có ý nghĩa
thống kê trong các mô hình Ordered logit trên các mẫu dữ liệu các NHTM tại các nền
kinh tế phát triển 88
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 13Bảng 4.12: Mô hình Ordered logit trên tập hợp các biến được lựa chọn và toàn bộ mẫu
dữ liệu các NHTM tại các nền kinh tế phát triển 89 Bảng 4.13: Giá trị tuyệt đối chênh lệch giữa chỉ tiêu BIC1 và BIC2 để so sánh mức độ
phù hợp giữa 2 mô hình Ordered logit 90 Bảng 4.14: Hệ số BIC của các mô hình Ordered logit trên mẫu dữ liệu các NHTM tại
các nền kinh tế mới nổi 91 Bảng 4.15: Hệ số BIC của các mô hình Ordered logit trên mẫu dữ liệu các NHTM tại
các nền kinh tế phát triển 92 Bảng 4.16: Hệ số VIF của các biến giải thích trong mô hình Ordered logit trên mẫu dữ
liệu các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi 94 Bảng 4.17: Hệ số VIF của các biến giải thích trong mô hình Ordered logit trên mẫu dữ
liệu các NHTM tại các nền kinh tế phát triển 94 Bảng 4.18: Mô hình Ordered logit trên mẫu dữ liệu các NHTM tại các nền kinh tế mới
nổi với giả định phương sai thay đổi 95 Bảng 4.19: Mô hình Ordered logit trên mẫu dữ liệu các NHTM tại các nền kinh tế
phát triển với giả định phương sai thay đổi 96 Bảng 4.20: Mô hình kiểm tra đối với mô hình Ordered logit trên mẫu dữ liệu các
NHTM tại các nền kinh tế mới nổi 97 Bảng 4.21: Mô hình kiểm tra đối với mô hình Ordered logit trên mẫu dữ liệu các
NHTM tại các nền kinh tế phát triển 98 Bảng 4.22: Tác động biên của các biến giải thích lên xác suất phân loại biến phụ thuộc
vào từng MXHTN trong mô hình Ordered logit trên mẫu dữ liệu các NHTM tại các
nền kinh tế mới nổi 98 Bảng 4.23: Tác động biên của các biến giải thích lên xác suất phân loại biến phụ thuộc
vào từng MXHTN trong mô hình Ordered logit trên mẫu dữ liệu các NHTM tại các
nền kinh tế phát triển 99 Bảng 4.24: Mô hình Ordered logit trên mẫu dữ liệu gộp khi thêm biến Emer và
Country_rating_Emer 100 Bảng 4.25: Mô hình Ordered logit trên mẫu dữ liệu gộp khi thêm biến Emer và
Bicra_Emer 101 Bảng 4.26: Mô hình Ordered logit trên mẫu dữ liệu gộp khi thêm biến Emer, Government_Emer và Group_Emer 102
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 14Bảng 4.27: Các mô hình Ordered logit trên mẫu dữ liệu gộp với các biến tương tác 103
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 15TÓM TẮT
Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế như Fitch, Standard & Poor’s và Moody’s không đề cập cụ thể sự khác biệt trong tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến MXHTN của các NHTM tại các nền kinh tế phát triển so với các nền kinh tế mới nổi Tuy vậy, một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng có tồn tại sự khác biệt trong tác động của các chỉ tiêu tài chính đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế phát triển
so với các nền kinh tế mới nổi
Mục tiêu của luận án nhằm xác định sự khác biệt trong tác động của các yếu tố mang tính chất hệ thống như mức độ rủi ro quốc gia, mức độ rủi ro ngành ngân hàng nơi các NHTM có trụ sở và các yếu tố mang tính chất đặc trưng riêng cho từng NHTM như đặc điểm sở hữu, quy mô tổng tài sản và các chỉ tiêu tài chính đến MXHTN của các đơn vị này tại các nền kinh tế phát triển so với các nền kinh tế mới nổi
Trước tiên, tác giả sử dụng phương pháp phân tích phương sai một yếu tố và phương pháp lựa chọn biến giải thích trong mô hình Ordered logit để xác định các yếu
tố cụ thể tác động đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế phát triển và các nền kinh tế mới nổi Sau đó, tác giả thực hiện đánh giá tác động tổng hợp của biến đại diện cho từng yếu tố tác động và biến tương tác nhằm xác định sự khác biệt trong tác động của các yếu tố nêu trên đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế phát triển so với các nền kinh tế mới nổi
Kết quả nghiên cứu của luận án đã chỉ ra rằng các yếu tố mang tính chất hệ thống có tác động mạnh đến MXHTN của các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi hơn
so với các nền kinh tế phát triển Ngược lại, các chỉ tiêu tài chính của các NHTM lại ít ảnh hưởng đến MXHTN của các đơn vị này tại các nền kinh tế mới nổi hơn so với các nền kinh tế phát triển Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra có tồn tại sự khác biệt trong tác động của đặc điểm sở hữu đến MXHTN của NHTM giữa 2 nhóm quốc gia nêu trên
Từ những kết quả nghiên cứu của luận án, tác giả đề xuất một số gợi ý chính sách cho NHTW tại các nền kinh tế mới nổi nhằm nâng cao MXHTN của các NHTM trong phạm vi quốc gia điều hành Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số khuyến nghị
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 16đối với các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi để cải thiện MXHTN của chính các đơn vị này
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 17CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Bối cảnh nghiên cứu
Mức xếp hạng tín nhiệm của một ngân hàng thương mại được công bố bởi các
tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế được xem như là một công cụ cung cấp cho các nhà đầu tư những thông tin cơ bản về tình hình tài chính của các NHTM mà họ đang quan tâm Đó cũng là một cơ sở quan trọng để các nhà đầu tư đưa ra mức lãi suất tương ứng với mức độ rủi ro tín dụng của NHTM đang xem xét khi cung cấp vốn cho đối tượng này
Bên cạnh đó, khi tham khảo phương pháp đánh giá và kết quả đánh giá MXHTN các NHTM do các tổ chức xếp hạng tín nhiệm công bố, ta có thể thấy được rằng MXHTN của NHTM bị tác động bởi rất nhiều yếu tố khác nhau như: rủi ro quốc gia, rủi ro ngành ngân hàng, quy mô, đặc điểm sở hữu NHTM và rất nhiều chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính của bản thân NHTM Đồng thời, mỗi yếu tố nêu trên lại chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố chi tiết khác Tuy nhiên, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế không trình bày cụ thể mức độ tác động cũng như chiều hướng tác động của các yếu tố này đến MXHTN của các NHTM cũng như không nêu cụ thể sự khác biệt trong tác động của các yếu tố này khi đánh giá MXHTN của các NHTM tại các nền kinh tế phát triển so với các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi
Mặt khác, từ những nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến MXHTN của các NHTM tác giả nhận thấy có sự không thống nhất trong việc lựa chọn các yếu tố tác động đến MXHTN của các NHTM Mỗi nhà nghiên cứu lựa chọn các yếu tố tác động đến MXHTN của NHTM một cách khác nhau căn cứ trên mẫu dữ liệu quan sát của họ Ngoài ra, các nghiên cứu này cũng có những kết quả không tương đồng nhau về ảnh hưởng của một số yếu tố tác động đến MXHTN của các NHTM Nguyên nhân của vấn đề có thể do những mô hình dự báo MXHTN của NHTM trong các nghiên cứu kể trên được xây dựng từ mẫu quan sát các NHTM từ nhiều quốc gia có đặc điểm
và trình độ phát triển kinh tế khác nhau Do vậy, những yếu tố đặc thù của các quốc gia có thể tác động dẫn đến sự khác biệt nêu trên
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 18Vì vậy, tác giả nhận thấy cần thiết phải thực hiện nghiên cứu nhằm xác định sự khác biệt trong tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế phát triển so với các nền kinh tế mới nổi
1.2 Vấn đề nghiên cứu
Việc dự báo và đánh giá tình hình tài chính của các tổ chức tài chính, đặc biệt
là các NHTM là một lãnh vực được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ những năm
1960 Theo Liu và Ferri (2001), các cơ quan quản lý hoạt động ngân hàng quan tâm MXHTN cụ thể của từng ngân hàng tại quốc gia của họ vì điều này ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn hệ thống ngân hàng tại các quốc gia này Mặt khác, các NHTM cũng rất chú ý đến MXHTN của bản thân vì đây là một yếu tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn trên thị trường tài chính quốc tế của chính các đơn vị này Ngoài ra, MXHTN của các NHTM còn được các nhà đầu tư và những người gởi tiền vào các NHTM quan tâm vì điều này ảnh hưởng rất lớn đến an toàn nguồn vốn của chính các đối tượng này (Kumar, 2007)
Tuy vậy, để có thể đánh giá được tình hình tài chính của một NHTM đòi hỏi phải thực hiện một phân tích khoa học đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính của NHTM Để giải quyết vấn đề này, Cơ quan Quản lý hoạt động NHTM tại
Mỹ đã thiết lập hệ thống đánh giá CAMELS nhằm đánh giá tình hình tài chính của các NHTM tại Mỹ định kỳ từ 12-18 tháng từ năm 1997 đến nay Ngoài ra, ba tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế lớn nhất hiện nay là Fitch, Standard & Poor’s và Moody’s cũng thường xuyên công bố thông tin về MXHTN của các NHTM ở rất nhiều quốc gia khác nhau Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm này ngày càng có tầm ảnh hưởng rộng lớn trên phạm vi thế giới xuất phát từ tầm quan trọng của các thông tin về MXHTN trong các quyết định định đầu tư trên thị trường tài chính quốc tế
Tuy nhiên, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế không thể thực hiện đánh giá thường xuyên và đầy đủ tất cả các NHTM trong một quốc gia cụ thể, đặc biệt là tại các quốc gia có quy mô nền kinh tế và hệ thống NHTM còn khiêm tốn Bên cạnh đó, như đã nêu ở trên, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế không nêu cụ thể các yếu tố
cơ bản có tác động trực tiếp đến MXHTN của NHTM cũng như chiều hướng tác động của các yếu tố này Ngoài ra, một câu hỏi luôn được các nhà nghiên cứu đặt ra đó là liệu các tổ chức xếp hạng tín nhiệm có sử dụng cùng một phương pháp để đánh giá MXHTN của các NHTM tại các nền kinh tế phát triển và các nền kinh tế mới nổi hay
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 19không? Cụ thể, một số nhà nghiên cứu như: Liu và Ferri (2001), Shen và cộng sự (2012) đã chỉ ra rằng có tồn tại sự khác biệt trong tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến MXHTN của các NHTM hay doanh nghiệp tại các nước phát triển so với các nước đang phát triển Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ mới chứng minh được có sự khác biệt trong tác động của các chỉ tiêu tài chính đến MXHTN của các NHTM tại các nền kinh tế phát triển so với các nền kinh tế mới nổi Đồng thời, các chỉ tiêu tài chính được đề cập đến trong các nghiên cứu này cũng khá hạn chế
Mặt khác, tác giả cũng nhận thấy rằng rất cần thiết phải tiến hành nghiên cứu nhằm tìm hiểu sự khác biệt trong tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến MXHTN của NHTM giữa 2 nhóm quốc gia nêu trên để các cơ quan quản lý hoạt động ngân hàng có thể nhận diện chính xác và nhanh chóng các NHTM có mức độ rủi ro cao và từ đó đưa
ra các biện pháp xử lý kịp thời Mặt khác, quá trình tự do hóa tại các nền kinh tế mới nổi đã mở ra cơ hội rất lớn để các NHTM tại các quốc gia này thu hút nguồn vốn đầu
tư nước ngoài Tuy nhiên, để tiếp cận được nguồn vốn này đòi hỏi các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi phải cải thiện MXHTN của bản thân thông qua việc tác động đến các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến MXHTN Bởi vì MXHTN có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiếp cận thị trường vốn và chi phí sử dụng vốn của các NHTM này (Manso, 2013)
Xuất phát từ bối cảnh các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến MXHTN của các NHTM, nhu cầu thực tế của các cơ quan quản lý hoạt động ngân hàng và bản thân các NHTM như đã trình bày ở trên, tác giả nhận thấy cần thực hiện luận án này nhằm giải quyết vấn đề nghiên cứu cụ thể như sau:
Xác định sự khác biệt trong tác động của các yếu tố mang tính chất hệ thống như mức độ rủi ro quốc gia, mức độ rủi ro của ngành ngân hàng và những yếu tố đặc trưng riêng NHTM bao gồm quy mô, đặc điểm sở hữu và các chỉ tiêu tài chính đến MXHTN của các NHTM tại các nền kinh tế phát triển so với các nền kinh tế mới nổi
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án này là xác định sự khác biệt trong tác động của các yếu tố có ảnh hưởng đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế phát triển so với các nền kinh tế mới nổi thông qua việc thực hiện các kiểm định kinh tế lượng và thiết lập các mô hình định lượng để phản ánh sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng nêu
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 20trên đối với MXHTN của các NHTM Trên cơ sở đó, luận án cần đạt được những mục tiêu cụ thể như sau:
(1): Phân tích và so sánh tác động của các yếu tố mang tính chất hệ thống như mức
độ rủi ro quốc gia và mức độ rủi ro ngành ngân hàng đến MXHTN của các NHTM tại các nền kinh tế phát triển và tại các nền kinh tế mới nổi
(2): Phân tích và so sánh tác động của các yếu tố thể hiện những đặc trưng riêng NHTM bao gồm quy mô, đặc điểm sở hữu và các chỉ tiêu tài chính đến MXHTN của các đơn vị này tại các nền kinh tế phát triển và tại các nền kinh tế mới nổi
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Xuất phát từ vấn đề nghiên cứu và các mục tiêu nghiên cứu cụ thể đã trình bày
ở phần trên, tác giả đưa ra một số câu hỏi nghiên cứu chi tiết như sau:
Thứ nhất, có tồn tại sự khác biệt trong tác động của các yếu tố mang tính chất
hệ thống như mức độ rủi ro quốc gia và mức độ rủi ro ngành ngân hàng đến MXHTN của các NHTM tại các nền kinh tế phát triển so với các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi hay không ?
Thứ hai, có tồn tại sự khác biệt trong tác động của các yếu tố thể hiện những
đặc trưng riêng của NHTM như quy mô, đặc điểm sở hữu và các chỉ tiêu tài chính đến MXHTN của các NHTM tại các nền kinh tế phát triển so với các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi hay không ?
1.5 Đối tượng, phạm vi, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là MXHTN và các yếu tố tác động đến MXHTN của
các NHTM tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển bao gồm: các nước thuộc nhóm G7 và một số quốc gia khác như Australia, New Zealand, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Hà Lan, Bỉ,… ; và các NHTM tại các quốc gia được IMF đánh giá là các thị trường mới nổi như: Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Argentina, Chile, Mexico, Thái Lan, Philippinies, Việt Nam,… (chi tiết tham khảo phụ lục 1a và phụ lục 1b)
Phạm vi nghiên cứu: luận án tập trung nghiên cứu các MXHTN của NHTM
và các yếu tố tác động đến MXHTN của các NHTM thuộc hai nhóm nước nêu trên trong giai đoạn từ 2010 đến 2015
Dữ liệu nghiên cứu: dữ liệu nghiên cứu của luận án là dữ liệu chéo về
MXHTN của các NHTM, các chỉ số tài chính của các đơn vị này và các yếu tố vĩ mô liên quan đến môi trường hoạt động có tác động đến MXHTN của các NHTM Dữ
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 21liệu về MXHTN của các NHTM được lấy từ các công bố MXHTN của Fitch Dữ liệu
về các chỉ số tài chính của các NHTM được lấy từ nguồn dữ liệu Bankscope
Phương pháp nghiên cứu: luận án sử dụng phương pháp phân tích phương sai
một yếu tố kết hợp với phương pháp lựa chọn biến giải thích trong mô hình hồi quy Ordered logit để xác định các yếu tố tác động đến MXHTN của các NHTM Mặt khác, luận án sử dụng phương pháp đánh giá tác động tổng hợp của biến giải thích và biến tương tác để xác định sự khác biệt trong tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế phát triển so với các nền kinh tế mới nổi
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
1.6.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án đóng góp thêm cho lĩnh vực nghiên cứu về MXHTN của các NHTM những bằng chứng thực nghiệm về sự khác biệt trong tác động của các yếu tố mang tính chất hệ thống như mức độ rủi ro quốc gia, mức độ rủi ro của ngành ngân hàng và những yếu tố đặc trưng riêng NHTM bao gồm quy mô, đặc điểm sở hữu và các chỉ tiêu tài chính đến MXHTN của các đơn vị này tại các nền kinh tế phát triển so với các nền kinh tế mới nổi
1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thứ nhất, việc xác định được các yếu tố ảnh hưởng và mức độ tác động của các
yếu tố này đến MXHTN của các NHTM, giúp cho các cơ quan quản lý hoạt động ngân hàng tại các nền kinh tế mới nổi có thêm một công cụ hữu hiệu để nhận biết tình hình tài chính và mức độ rủi ro của các NHTM Từ đó, các cơ quan quản lý này có thể đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời nhằm hạn chế những thiệt hại do việc phá sản hay mất khả năng thanh toán của các ngân hàng gây ra cho nền kinh tế Mặt khác, kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp thêm các cơ sở tham khảo cho các cơ quan quản
lý hoạt động ngân hàng tại các nền kinh tế mới nổi khi đưa ra các quy định nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động của các NHTM và cải thiện MXHTN của NHTM tại các quốc gia này theo tiêu chuẩn đánh giá của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế
Thứ hai, việc xác định những yếu tố ảnh hưởng đến MXHTN và sự khác biệt
trong tác động của các yếu tố này đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế mới nổi so với các nền kinh tế phát triển giúp cho các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi chủ động lựa chọn các giải pháp phù hợp nhằm cải thiện được MXHTN cho bản thân
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 22Qua đó, các NHTM này có thể củng cố uy tín và nâng cao năng lực huy động vốn trên
cả thị trường trong và ngoài nước
1.7 Những đóng góp của luận án
Các nghiên cứu về xây dựng mô hình dự đoán MXHTN sử dụng mẫu quan sát bao gồm các NHTM từ nhiều quốc gia khác nhau về điều kiện và trình độ phát triển nền kinh tế (Poon và cộng sự, 1999; Matousek và Steward, 2009; Ioannidis và cộng
sự, 2010; Caporale và cộng sự, 2012) Tuy nhiên, trong luận án này, tác giả xây dựng
mô hình phản ánh tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến MXHTN của NHTM trên mẫu dữ liệu các NHTM tại các nền kinh tế phát triển và các nền kinh tế mới nổi một cách tách biệt nhau Đây là một đóng góp của luận án so với các nghiên cứu trước, nhằm mục đích để mô hình phản ánh chính xác và đầy đủ những yếu tố tác động và mức độ tác động của các yếu tố này đến MXHTN của các NHTM tại riêng các nền kinh tế phát triển và tại riêng các nền kinh tế mới nổi
Các nghiên cứu trước về sự chính xác và tính thống nhất trong các đánh giá MXHTN đối với NHTM chủ yếu nhằm chứng minh các đánh giá MXHTN được thực hiện không theo yêu cầu của đơn vị được đánh giá thấp hơn các đánh giá MXHTN được thực hiện theo yêu cầu của đơn vị được đánh giá và việc có đánh giá MXHTN theo yêu cầu hay có đánh giá MXHTN không theo yêu cầu có ảnh hưởng quan trọng đến MXHTN của NHTM (Poon và Firth, 2005; Poon và cộng sự, 2009) Ngoài ra, nghiên cứu của Shen và cộng sự (2012) nhằm chứng minh mức độ bất cân xứng thông tin tại các quốc gia khác nhau ảnh hưởng đến sự tác động của một số chỉ tiêu tài chính đến MXHTN của NHTM Do vậy, đóng góp mới của luận án so với các nghiên cứu kể trên đó là luận án giúp làm sáng tỏ sự khác biệt trong tác động của các yếu tố như: mức độ rủi ro quốc gia, mức độ rủi ro của ngành, quy mô, đặc điểm sở hữu và các chỉ
tiêu tài chính của NHTM đến MXHTN của các đơn vị này tại các nền kinh tế phát triển so với tại các nền kinh tế mới nổi
1.8 Kết cấu của luận án
Bố cục của luận án được chia thành 5 chương, chi tiết như sau:
Chương 1 “Giới thiệu” Chương này nhằm mục đích giới thiệu tổng quan về
luận án bao gồm các nội dung cơ bản như: vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn và những đóng góp của luận
án
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 23Chương 2 “Xếp hạng tín nhiệm ngân hàng thương mại tại các nền kinh tế
phát triển và các nền kinh tế mới nổi” Nội dung của chương bao gồm phần trình bày tóm lược một số vấn đề cơ bản liên quan đến MXHTN của NHTM, đặc điểm kinh tế
và đặc điểm của các NHTM tại các nền kinh tế phát triển và các nền kinh tế mới nổi Bên cạnh đó, nội dung của chương cũng trình bày cơ sở lý thuyết của luận án và tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến MXHTN của các NHTM để đúc kết thành khung phân tích phù hợp cho luận án
Chương 3 “Phương pháp nghiên cứu” Nội dung của chương bao gồm: phần
trình bày mô hình nghiên cứu, mô tả tóm tắt dữ liệu nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu của luận án Bên cạnh đó, tác giả trình bày chi tiết các phương pháp kinh tế lượng được áp dụng trong luận án để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến MXHTN của NHTM và sự khác biệt trong tác động của các yếu tố này đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế phát triển so với các nền kinh tế mới nổi
Chương 4 “Kết quả nghiên cứu và thảo luận” Chương 4 trình bày kết quả
phân tích phương sai một yếu tố các biến giải thích trong mô hình nghiên cứu theo các MXHTN khác nhau và kết quả của phương pháp lựa chọn biến giải thích trong mô hình Ordered logit để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế phát triển và tại các nền kinh tế mới nổi Mặt khác, nội dung của chương cũng bao gồm kết quả đánh giá mức độ phù hợp và kết quả kiểm định một số giả định của mô hình nghiên cứu Ngoài ra, chương này cũng trình bày kết quả phân tích nhằm xác định sự khác biệt trong tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế phát triển so với các nền kinh tế mới nổi Cuối cùng, nội dung của chương trình bày phần thảo luận các kết quả nghiên cứu của luận án và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu trong luận án đã đề ra trong chương 3
Chương 5 “Kết luận và gợi ý chính sách” Chương này tóm tắt lại một số kết
quả chính của luận án, những gợi ý chính sách cho các cơ quan quản lý hoạt động ngân hàng và bản thân các NHTM Cuối cùng, chương 5 trình bày một số hạn chế của luận án và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 24CHƯƠNG 2 XẾP HẠNG TÍN NHIỆM NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TẠI CÁC NỀN KINH TẾ PHÁT TRIỂN VÀ
CÁC NỀN KINH TẾ MỚI NỔI
Mục đích của chương này nhằm giới thiệu một cách khái quát một số vấn đề cơ bản liên quan đến MXHTN của NHTM, đặc điểm các nền kinh tế phát triển, các nền kinh tế mới nổi và đặc điểm của các NHTM tại các quốc gia này Mặt khác, Chương 2 cũng đề cập đến sự bất cân xứng thông tin trong việc đánh giá MXHTN của NHTM
và tác động của vấn đề này dẫn đến sự khác biệt trong tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến MXHTN của NHTM tại các nền kinh tế phát triển so với các nền kinh tế mới nổi Đồng thời, nội dung của chương cũng bao gồm phần lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến MXHTN của các NHTM Từ đó, tác giả đề xuất khung phân tích phù hợp cho luận án
2.1 Tổng quan về MXHTN của NHTM
2.1.1 Khái niệm về MXHTN của NHTM
Theo Tổ chức Xếp hạng tín nhiệm Moody’s, MXHTN của một NHTM do Moody’s công bố thể hiện mức độ uy tín hay mức độ tin cậy của đơn vị này đối với các nghĩa vụ tài chính (MXHTN này không áp dụng riêng cho một khoản nợ hay một
loại chứng khoán cụ thể) (Moody’s, 2009)
Theo một cách khác, MXHTN của một NHTM do Standard & Poor’s công bố
là một sự đánh giá thể hiện năng lực tài chính tổng thể của NHTM để thanh toán những nghĩa vụ tài chính Sự đánh giá này tập trung vào khả năng và mức độ sẳn sàng của một NHTM trong việc thanh toán các nghĩa vụ tài chính đến hạn Sự đánh giá này không áp dụng riêng cho một nghĩa vụ tài chính cụ thể và cũng không đề cập đến đặc điểm của những khoản dự phòng cho những nghĩa vụ tài chính này Việc đánh giá MXHTN tập trung vào xác định khả năng phá sản hay khả năng thanh toán những nghĩa vụ tài chính của đơn vị được đánh giá trên phương diện nghĩa vụ pháp lý Ngoài
ra, MXHTN của NHTM cũng được xem xét một cách tách rời với MXHTN của chủ thể bảo lãnh cho các nghĩa vụ tài chính của NHTM được đánh giá (Standard & Poor’s, 2010)
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 25Tương tự, MXHTN của NHTM do Fitch công bố thể hiện khả năng thanh toán đúng hạn các nghĩa vụ tài chính của NHTM MXHTN của NHTM do Fitch công bố dựa trên việc phân tích khả năng gánh chịu, thái độ và năng lực quản trị rủi ro của NHTM kết hợp với việc đánh giá khả năng hỗ trợ tài chính của chính phủ hay tập đoàn mẹ đối với NHTM (Fitch, 2003)
Tóm lại, từ 3 khái niệm về MXHTN của NHTM của 3 tổ chức xếp hạng tín nhiệm uy tín nhất trên thế giới được trình bày ở trên, ta có thể hiểu được rằng MXHTN của NHTM là thước đo phản ánh cụ thể mức độ uy tín và khả năng thanh toán đúng hạn các nghĩa vụ tài chính của NHTM
Bên cạnh đó, các nghiên cứu thực nghiệm về MXHTN của NHTM cụ thể như nghiên cứu của Matousek và Stewart (2009), Iannotta và cộng sự (2010), Caporale và cộng sự (2012), … cũng đều thống nhất với nhau về khái niệm MXHTN của NHTM như trên Mặt khác, Bellotti và cộng sự (2011a) còn chỉ ra rằng MXHTN do các tổ chức xếp hạng tín nhiệm công bố là những thang đo thứ bậc phản ánh tình hình tài chính của các NHTM không chỉ trong hiện tại mà còn cả trong tương lai Nói một cách khác, quá trình đánh giá MXHTN của một đơn vị là một quá trình độc lập với mục đích là xác định khả năng và mức độ sẳn sàng để thanh toán những nghĩa vụ tài chính Quá trình này được thực hiện bởi các tổ chức xếp hạng tín nhiệm thông qua việc phân tích và đánh giá tổng hợp những yếu tố rủi ro có thể nhận biết được của đơn
vị được đánh giá
MXHTN của một NHTM có thể được thay đổi, tạm đình chỉ việc áp dụng hay được thu hồi lại bởi các tổ chức xếp hạng tín nhiệm do những sự thay đổi trong những thông tin tài chính của đơn vị hay tính sẳn có của các thông tin này
Việc đánh giá MXHTN của một NHTM do các tổ chức xếp hạng tín nhiệm thực hiện căn cứ trên những thông tin hiện tại được cung cấp bởi chính NHTM được đánh giá hay có thể từ những nguồn thông tin đáng tin cậy khác Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm không thực hiện kiểm toán đối với những thông tin tài chính này và đôi khi dựa trên những thông tin tài chính chưa được kiểm toán
MXHTN của một NHTM bao gồm MXHTN ngắn hạn và MXHTN dài hạn
MXHTN ngắn hạn thể hiện mức độ tin cậy của một đơn vị trong việc hoàn tất các nghĩa vụ tài chính của đơn vị này trong khoảng thời gian ngắn (Standard & Poor’s, 2010)
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 26MXHTN dài hạn của NHTM theo Standard & Poor’s được phân chia cụ thể thành 10 cấp độ khác nhau từ MXHTN tốt nhất đến MXHTN kém nhất bao gồm: AAA, AA,… , R, SD (chi tiết xem phụ lục 2)
MXHTN dài hạn của các NHTM theo tiêu chuẩn đánh giá của Moody’s được phân chia thành 9 bậc từ cao đến thấp bao gồm: Aaa, Aa, A, Baa, Ba, B, Caa, Ca, C (Moody’s, 2009) Tương tự, Fitch cũng phân MXHTN của các NHTM thành 11 bậc
từ cao đến thấp bao gồm: AAA, AA, A, BBB, BB, B, CCC, CC, C, RD, D
Mặc dù có sự khác biệt về số lượng các mức đánh giá MXHTN dài hạn của NHTM giữa 3 tổ chức xếp hạng tín nhiệm là Fitch, Standard & Poor’s và Moody’s như đã nêu nhưng tác giả nhận thấy rằng sự khác biệt này chỉ tập trung ở các MXHTN thấp nhất để phân biệt cụ thể mức độ rủi ro mất khả năng thanh toán cực kỳ cao của các NHTM Cụ thể, theo Standard & Poor’s, MXHTN R thể hiện NHTM đang trong tình trạng chịu sự kiểm soát của cơ quan quản lý do những bất ổn tài chính nghiêm trọng và chỉ có thể đáp ứng một vài nghĩa vụ tài chính, còn MXHTN SD thể hiện NHTM mất khả năng thanh toán với hầu hết các nghĩa vụ tài chính của mình Theo Fitch, MXHTN C thể hiện NHTM đang trong tình trạng khó tránh khỏi nguy cơ phá sản, MXHTN RD thể hiện NHTM đã bắt đầu mất khả năng thanh toán với các nghĩa
vụ tài chính của mình, MXHTN D thể hiện NHTM đang trong tình trạng tiến hành các thủ tục phá sản hay trong tình trạng bị kiểm soát đặc biệt chờ phá sản Còn theo Moody’s, MXHTN C thể hiện NHTM đang trong tình trạng phá sản và có rất ít cơ hội
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 27chỉnh MXHTN của họ tương đồng với các MXHTN của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm còn lại.Vì vậy, trong phạm vi luận án khái niệm MXHTN của các NHTM được hiểu là MXHTN dài hạn của NHTM do Fitch công bố Vấn đề này không làm giảm ý nghĩa khoa học và mức độ khái quát của luận án
2.1.2 Phương pháp đánh giá MXHTN các NHTM
Hiện nay, ba tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế uy tín nhất bao gồm: Fitch, Standard & Poor’s và Moody’s đều có công bố các nguyên tắc đánh giá MXHTN các NHTM Bên cạnh đó, Hội đồng Giám sát các tổ chức tài chính Liên Bang Mỹ (FFIEC) cũng đưa ra Hệ thống thống nhất đánh giá các tổ chức tài chính Tuy nhiên, những phương pháp đánh giá NHTM được trình bày bởi các đơn vị này mang tính chất hướng dẫn tổng quát mà không đưa ra các tiêu chí và thang đo cụ thể để đánh giá MXHTN của NHTM
2.1.2.1 Hệ thống thống nhất đánh giá các tổ chức tài chính (The Uniform Financial Institutions Rating System - UFIRS)
Hệ thống đánh giá này được Hội đồng giám sát các tổ chức Tài chính Liên Bang Mỹ ban hành năm 1979 Hệ thống này ban đầu được áp dụng ở Mỹ, sau đó được
áp dụng ở nhiều quốc gia khác trên thế giới bởi sự khuyến khích của Cục dự trữ Liên Bang Mỹ Hệ thống này được biết đến trên phạm vi thế giới với tên viết tắt là CAMELS, phản ánh 6 yếu tố được đánh giá của NHTM bao gồm: mức độ đầy đủ của nguồn vốn chủ sở hữu - CAPITAL ADEQUACY, chất lượng tài sản – ASSET QUALITY, năng lực điều hành – MANAGEMENT CAPABILITY, thu nhập – EARNING, hệ số thanh khoản – LIQUIDITY RATIOS, và mức độ nhạy cảm với rủi
ro thị trường – SENSITIVITY TO MARKET (Christopolous, 2011)
Theo hệ thống đánh giá này, mỗi NHTM được xếp vào một mức xếp hạng cụ thể dựa trên sự đánh giá 6 yếu tố chủ yếu phản ánh tình hình tài chính và hoạt động kể trên Sự đánh giá này cũng xem xét quy mô, đặc điểm, tính chất phức tạp của các hoạt động và danh mục rủi ro của NHTM
Hệ thống đánh giá này bao gồm 5 mức xếp hạng đánh giá và 5 mức độ đánh giá các yếu tố phản ánh tình hình tài chính và hoạt động của NHTM Các mức xếp hạng và mức độ đánh giá trên được xếp thứ tự từ 1 đến 5 Mức xếp hạng 1 phản ánh mức độ đánh giá tốt nhất, thể hiện tình hình hoạt động và năng lực quản lý rủi ro tốt
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 28nhất Mức xếp hạng 5 phản ánh mức độ đánh giá kém nhất, thể hiện tình hình hoạt động và năng lực quản trị rủi ro ở mức kém nhất
Các mức xếp hạng NHTM thường có quan hệ rất mật thiết với mức độ đánh giá các yếu tố phản ánh tình hình tài chính và hoạt động của NHTM Tuy nhiên, mức xếp hạng NHTM không phải là trung bình cộng của các mức độ đánh giá các yếu tố Việc đánh giá một yếu tố dựa trên việc phân tích định tính các thành phần cấu thành nên yếu tố đó và trong mối liên hệ với các yếu tố khác Trong quá trình xác định mức xếp hạng cho một NHTM, một số yếu tố sẽ có mức độ ảnh hưởng lớn đến mức xếp hạng hơn các yếu tố còn lại căn cứ trên điều kiện thực tế của đơn vị được đánh giá xếp hạng
2.1.2.2 Phương pháp đánh giá MXHTN NHTM của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế
Tổ chức Xếp hạng tín nhiệm Fitch thực hiện đánh giá MXHTN của NHTM qua
2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: đánh giá MXHTN độc lập của NHTM (Viability Rating – VR) trên 5 yếu tố cơ bản: môi trường hoạt động, vị thế, năng lực quản trị điều hành, thái độ đối với rủi ro và tình hình tài chính của NHTM
Giai đoạn 2: đánh giá MXHTN chung của ngân hàng trên cơ sở kết hợp MXHTN của bản thân NHTM với những yếu tố hỗ trợ của chính phủ và tập đoàn mẹ đối với MXHTN của NHTM
Quá trình này có thể tóm tắt ngắn gọn qua sơ đồ 2.1
Sơ đồ 2.1: Khung phân tích MXHTN NHTM của Fitch
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 29tự có và thu nhập; mức độ rủi ro; cơ cấu nguồn vốn và khả năng thanh toán của NHTM
Bước 2: xác định MXHTN chung của NHTM trên cơ sở kết hợp mức độ uy tín
và năng lực của bản thân NHTM với những sự hỗ trợ của chính phủ hay tập đoàn mẹ Ở bước này, Standard & Poor’s đánh giá sự tác động của các yếu tố
hỗ trợ từ chính phủ và tập đoàn mẹ đến MXHTN của NHTM thông qua việc đánh giá mối quan hệ giữa những chủ thể này
2.2 Đặc điểm kinh tế và đặc điểm của các NHTM tại các nền kinh tế phát triển và các nền kinh tế mới nổi
MXHTN độc lập của NHTM
Các yếu tố chủ yếu để đánh giá
Môi trường hoạt động
chính phủ
Các yếu tố chủ yếu
để đánh giá
Khả năng hỗ trợ của chính phủ
Mức độ sẵn sàng hỗ trợ
Mức độ hỗ trợ của tập đoàn
Các yếu tố chủ yếu
để đánh giá
Khả năng hỗ trợ của tập đoàn
Trang 302.2.1 Một số đặc điểm kinh tế của các nền kinh tế phát triển
Các nền kinh tế phát triển là các quốc gia có nền kinh tế phát triển ở mức độ cao và có một hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ hiện đại Có rất nhiều tiêu chí khác nhau được các tổ chức quốc tế như IMF và WB sử dụng để xác định xem một quốc gia có thuộc nhóm các nền kinh tế phát triển hay không Tuy nhiên, một số đặc điểm
cơ bản giúp ta nhận biết các quốc gia có nền kinh tế phát triển đó là:
Thứ nhất, các quốc gia có nền kinh tế phát triển thường là các quốc gia có chỉ tiêu GNP bình quân đầu người cao Hiện nay, một số chuyên gia kinh tế cho rằng các quốc gia có mức GNP bình quân đầu người trên mức 12,000 USD là những quốc gia
có nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, cũng có nhiều ý kiến cho rằng các quốc gia có nền kinh tế phát triển phải có GNP bình quân đầu người trên mức 25,000 USD hay 30,000 USD (Investopedia, 2017)
Thứ hai, các quốc gia phát triển là các quốc gia trong thời kỳ hậu công nghiệp hóa Tại các quốc gia này, lĩnh vực dịch vụ hay công nghệ tri thức tạo ra nhiều của cải
xã hội hơn so với các lĩnh vực khác Ngược lại, tại các nền kinh tế mới nổi thì lĩnh vực công nghiệp sản xuất hay nông nghiệp là những lĩnh vực chủ chốt trong nền kinh tế (Nafziger, 2006)
Thứ ba, các quốc gia có nền kinh tế phát triển là những quốc gia có chất lượng cuộc sống tốt IMF thường dùng chỉ số mức độ phát triển con người (Human development index – HDI) để phản ánh chất lượng cuộc sống tại một quốc gia Chỉ số này đo lường các yếu tố như: mức độ phát triển của nền giáo dục và khả năng đáp ứng nhu cầu chăm sóc y tế của người dân tại quốc gia Chỉ số này có giá trị từ 0 đến 1 Các nền kinh tế phát triển thường là những quốc gia có chỉ số phát triển con người trên mức 0.8 (Wikipedia, 2017)
2.2.2 Một số đặc điểm của các NHTM tại các nền kinh tế phát triển
Trước hết, hệ thống NHTM tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển thường được các nhà nghiên cứu đánh giá cao về mức độ cạnh tranh Mizaei và cộng sự (2013) sử dụng mẫu dữ liệu các NHTM tại các nền kinh tế phát triển và các nền kinh
tế mới nổi trong giai đoạn 1999 – 2008 đã chỉ ra rằng các NHTM tại các nền kinh tế phát triển hoạt động trong môi trường cạnh tranh hơn so với các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi Chỉ số mức độ tập trung của các NHTM được các tác giả đo lường bằng giá trị tổng tài sản của 5 NHTM quy mô lớn nhất/tổng giá trị tài sản các NHTM
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 31tại một quốc gia Chỉ số này càng thấp thể hiện môi trường hoạt động của các NHTM càng mang tính chất cạnh tranh
Đồ thị 2.1: Mức độ tập trung trong lĩnh vực ngân hàng tại các nền kinh tế
phát triển và các nền kinh tế mới nổi giai đoạn 1999 - 2008
Nguồn: Mizaei và cộng sự (2013)
Đồ thị 2.1 thể hiện mức độ tập trung trong lĩnh vực ngân hàng tại các nền kinh
tế mới nổi luôn vượt trội so với các nền kinh tế phát triển trong cả giai đoạn từ 1999 -
2008 Do vậy, môi trường hoạt động của các NHTM tại các nền kinh tế phát triển mang tính cạnh tranh cao hơn so với các nền kinh tế mới nổi
Mặt khác, các NHTM tại các nền kinh tế phát triển thường có mức độ đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng hơn so với các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi Nguyen và cộng sự (2012) cho rằng các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi thường tập trung vào các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng truyền thống như huy động vốn và cho vay Trái lại, tại các nền kinh tế phát triển, các hoạt động dịch vụ ngân hàng đóng góp đáng kể vào trong tổng thu nhập của các NHTM Nguyên nhân là, các NHTM tại các nền kinh tế phát triển thường có ưu thế về trình độ quản lý và kỹ thuật công nghệ ngân hàng hơn so với các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi Do đó, các NHTM tại các nền kinh tế phát triển có các dịch vụ ngân hàng phong phú và đa dạng Các hoạt động này đem lại nguồn thu đáng kể cho các NHTM tại các nền kinh tế phát triển Bên cạnh đó, mức độ sử dụng các dịch vụ ngân hàng của người dân và doanh nghiệp tại các nền kinh tế phát triển cũng thường cao hơn so với các nền kinh tế mới
Năm
NHTM tại các nền kinh tế mới nổi
NHTM tại các nền kinh tế phát triển
Trang 32nổi Do vậy, việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng đã trở thành một hoạt động kinh doanh quan trọng của các NHTM tại các nền kinh tế phát triển
Cuối cùng, khung pháp lý chi phối hoạt động của các NHTM tại các nền kinh
tế phát triển cũng thường được đánh giá tốt và hoàn thiện hơn so với tại các nền kinh
tế mới nổi Theo Suarez (2001), các quy định về quản lý hoạt động ngân hàng và các chuẩn mực kế toán ngân hàng tại các nền kinh tế phát triển thường chặt chẽ và nghiêm ngặt hơn so với tại các nền kinh tế mới nổi Mặt khác, NHTM tại các nền kinh tế phát triển luôn đi trước trong việc áp dụng các tiêu chuẩn quản trị ngân hàng như Basel Nghiên cứu của Powell (2004) cho thấy tỷ lệ số lượng trung bình các NHTM trong 1 quốc gia tuân thủ các tiêu chuẩn quản trị ngân hàng Basel 2 tại các nền kinh tế phát triển là 80% so với mức 40% tại các nền kinh tế mới nổi tại thời điểm năm 2003
2.2.3 Một số đặc điểm kinh tế của các nền kinh tế mới nổi
Khái niệm các nền kinh tế mới nổi lần đầu tiên được sử dụng bởi Antoine W
Van Agtmael, chuyên gia kinh tế của World Bank, năm 1981 để chỉ các quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hóa và có tốc độ phát triển kinh tế mạnh mẽ (Economy Watch, 2010) Các nền kinh tế mới nổi thường có sự khác biệt với các nền kinh tế phát triển về các yếu tố như: chỉ tiêu GNP bình quân đầu người, mức độ đóng góp của lĩnh vực dịch vụ hay công nghệ tri thức trong tổng giá trị sản phẩm của xã hội, chất lượng cuộc sống của người dân như đã kể trên Mặt khác, ta còn có thể phân biệt giữa các nền kinh tế mới nổi và các nền kinh tế phát triển qua những đặc điểm sau:
Một là, các nền kinh tế mới nổi là những nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi từ những nền kinh tế đóng cửa và kém phát triển thành những nền kinh tế
mở cửa và phát triển Quá trình chuyển đổi này thường được thể hiện qua sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán, thị trường ngoại hối tại các quốc gia này và những thay đổi về chính sách quản lý kinh tế của chính phủ theo hướng tự do hóa và mở cửa nền kinh tế Tuy vậy, các nền kinh tế mới nổi chưa có được mức độ hiệu quả của thị trường cũng như những quy định chặt chẽ về chế độ kế toán, quản lý
và điều hành thị trường tài chính như tại các nền kinh tế phát triển (IMF, 2014)
Hai là, sự thiếu ổn định và dễ đổ vỡ của hệ thống tài chính tại các nền kinh tế mới nổi là một đặc điểm nổi bật được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến Cụ thể, theo Nilsen và Rovelli (2001) các nền kinh tế mới nổi đã chịu tác động của một chuỗi dài các cuộc khủng hoảng tài chính trong vài thập kỷ trở lại đây Trước hết là cuộc khủng
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 33hoảng tại Chile năm 1982, sau đó là Mexico năm 1994 - 1995, nối tiếp là cuộc khủng hoảng tài chính tại khu vực Đông Nam Á năm 1997 (bao gồm các quốc gia như Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines và Thái Lan), khủng hoảng tài chính tại Nga năm 1998 và Brazil 1999 Keffala (2015) cho rằng mỗi cuộc khủng hoảng tài chính tại các nền kinh tế mới nổi đều có những đặc điểm và nguyên nhân riêng biệt Tuy vậy, các cuộc khủng hoảng này cùng xuất phát từ một số nguyên nhân chung như: chính sách tài chính quốc gia thiếu bền vững, hệ thống pháp luật chi phối hoạt động của hệ thống NHTM không phù hợp, hoạt động giám sát các khoản vay của các NHTM yếu kém, hoạt động đầu tư không hiệu quả của chính phủ hay của các tổ chức kinh tế tại các quốc gia này
Ba là, quá trình tự do hóa tài chính đang diễn ra mạnh mẽ tại các nền kinh tế mới nổi để khắc phục sự thiếu ổn định và dễ đổ vỡ của hệ thống tài chính tại các quốc gia này Trong đó, nổi trội nhất là quá trình tự do hóa tài chính của các nền kinh tế mới nổi tại khu vực Châu Á trong hai thập kỷ gần đây Ban đầu, tỷ lệ thâm nhập của các NHTM nước ngoài vào các nền kinh tế mới nổi rất thấp do chịu ảnh hưởng của các chính sách khắt khe trong việc cấp phép thành lập và quản lý hoạt động đối với các NHTM nước ngoài tại các quốc gia này Tuy nhiên, từ sau khủng hoảng tài chính khu vực Đông Nam Á năm 1997, các nhà đầu tư trong nước không đủ sức tham gia vào việc tái cấu trúc vốn cho các NHTM tại các quốc gia này Do vậy, chính phủ tại các nền kinh tế mới nổi đẩy mạnh việc khuyến khích các NHTM nước ngoài tham gia góp vốn vào các NHTM nội địa Cụ thể như, trong năm 2000 chính phủ Indonesia nâng tỷ lệ góp vốn của các nhà đầu tư nước ngoài vào các ngân hàng liên doanh tại quốc gia này từ 85% lên 99% Chính phủ Thái Lan nới lỏng hạn chế sở hữu nước ngoài tại các NHTM bằng việc cho phép các nhà đầu tư nước ngoài nắm tỷ lệ vốn góp chủ yếu vào các tổ chức tài chính tại Thái Lan lên đến 10 năm Kết quả là, cuối năm
2001, có 4 NHTM liên doanh với phần vốn góp chủ yếu là của các nhà đầu tư nước ngoài được thành lập tại Thái Lan (Montgomery, 2003) Năm 1999, chính phủ Trung Quốc cho phép mức lãi suất cho vay của các NHTM đối với doanh nghiệp quy mô nhỏ có thể lên 130% so với mức lãi suất cho vay quy định của NHTW Bắt đầu từ năm
2002, chính phủ Trung Quốc cho phép tự do hóa lãi suất trong hoạt động cho vay và huy động của các NHTM Từ năm 2003, các NHTM và người gởi tiền có thể tự do thương lượng lãi suất gởi ngoại tệ Đến năm 2004, tại Trung Quốc có 204 chi nhánh
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 34NHTM nước ngoài được cho phép thu đổi ngoại cho người dân Trung Quốc và người nước ngoài trên phạm vi toàn quốc (Fu và Heffernan, 2009) Mặt khác, theo Fang và cộng sự (2014) tại các nền kinh tế mới nổi ở khu vực Đông Âu, quá trình cải tổ hệ thống NHTM bắt đầu diễn ra mạnh mẽ sau sự tan rã của Liên Bang Xô Viết Quá trình này được thể hiện cụ thể qua việc tư hữu hóa các NHTM thuộc sở hữu nhà nước, thiết lập khung pháp lý chặt chẽ trong lĩnh vực ngân hàng và giải quyết vấn đề nợ quá hạn của hệ thống NHTM
Bốn là, tốc độ tăng trưởng GDP tại các nền kinh tế mới nổi thường ở mức cao hơn so với các nền kinh tế phát triển Cụ thể, trong giai đoạn 2015 - 2016, tốc độ tăng trưởng GDP tại các nền kinh tế phát triển như Mỹ, Anh, Đức và Nhật Bản đều ở dưới mức 3%/năm Trong khi đó, tại các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam, tốc độ tăng trưởng GDP đều ở mức trên 4%/năm
2.2.4 Một số đặc điểm của các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi
Mặc dù hệ thống NHTM tại các nền kinh tế mới nổi đã có nhiều thay đổi tích cực và tiếp cận dần với sự phát triển của các NHTM tại các nền kinh tế phát triển khi các chính phủ đẩy mạnh quá trình tự do hóa tài chính Tuy nhiên, các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi vẫn còn một số điểm khác biệt quan trọng so với các NHTM tại các nền kinh tế phát triển như sau:
Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng quy mô tổng tài sản và dư nợ cho vay của các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi thường khá cao Theo Mishkin (1999), tại các nền kinh tế mới nổi, các NHTM có vai trò vô cùng quan trọng và được xem là một kênh dẫn vốn chủ yếu các doanh nghiệp tại các quốc gia này Để đạt được mục tiêu kích thích nền kinh tế tăng trưởng ở mức cao, chính phủ tại các nền kinh tế mới nổi thường khuyến khích các NHTM tăng trưởng dư nợ cho vay một cách nhanh chóng Mặt khác, quá trình tự do hóa tài chính tại các quốc gia này cũng góp phần đẩy mạnh sự tăng trưởng quy mô tài sản và dư nợ cho vay của các NHTM Các nhà đầu tư nước ngoài ồ ạt đổ vốn vào các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi trong một khoảng thời gian ngắn do sự hấp dẫn của tỷ suất sinh lời cao tại các thị trường này Và kết quả là dòng vốn nước ngoài này đã tiếp sức thêm cho sự tăng trưởng mạnh mẽ của hoạt động cho vay và thúc đẩy những hoạt động kinh doanh mạo hiểm của các NHTM Tuy nhiên, năng lực đánh giá rủi ro tín dụng và kiểm soát việc sử dụng vốn vay của các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi không thể phát triển và đáp ứng kịp với tốc độ tăng
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 35trưởng quá nhanh của dư nợ cho vay Kết quả là, các NHTM phải đối mặt với tỷ lệ nợ xấu cao khi các khách hàng vay sử dụng vốn không hiệu quả và không đúng mục đích
Thứ hai, theo Suarez (2001) nguồn vốn chủ sở hữu của các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi thường không thật sự thể hiện tiềm lực tài chính của các NHTM như tại các nền kinh tế phát triển Do hệ thống quản lý hoạt động NHTM còn chưa hoàn thiện và vốn chủ sở hữu của các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi thường tập trung vào một số ít cổ đông của NHTM nên các cổ đông này dễ dàng tài trợ cho phần vốn góp của họ vào NHTM thông qua các khoản vay từ các bên liên quan
Thứ ba, khả năng sinh lời đại diện bởi tỷ lệ lợi nhuận ròng/tổng tài sản bình quân của các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi thường cao hơn so với các NHTM tại các nền kinh tế phát triển Mizaei và cộng sự (2013) với mẫu dữ liệu gồm 308 NHTM tại các nước thuộc nhóm các nền kinh tế mới nổi và 1621 NHTM tại các nền kinh tế phát triển trong giai đoạn 1999 – 2008 đã cho thấy tỷ lệ lợi nhuận ròng/tổng tài sản bình quân của các NHTM tại các nền kinh tế phát triển thường ổn định ở mức 0.5% và khá thấp khi so sánh với các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi
Đồ thị 2.2: ROAA của các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi và
các nền kinh tế phát triển giai đoạn 1999 - 2008
Nguồn: Mizaei và cộng sự (2013)
Thứ tư, Vives (2006) cho rằng tại các nền kinh tế mới nổi, chất lượng thông tin tài chính của các NHTM thường không có độ tin cậy cao Tại các quốc gia này, việc cung cấp thông tin tài chính của các NHTM còn rất nhiều vấn đề tồn tại nguyên nhân
Năm
NHTM tại các nền kinh tế mới nổi
NHTM tại các nền kinh tế phát triển Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 36chủ yếu xuất phát từ các yếu tố về thể chế Cụ thể, các cơ quan quản lý hoạt động ngân hàng tại các nền kinh tế mới nổi thường không có những quy định cụ thể để xử
lý việc các NHTM cung cấp các thông tin tài chính chậm trễ hay không đảm bảo chất lượng Mặt khác, các chuẩn mực kế toán áp dụng bởi các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi thường không tương đồng với các chuẩn mực kế toán quốc tế Chẳn hạn như quy định về phân loại và trích lập dự phòng cho hoạt động tín dụng có sự khác biệt rất lớn giữa các nền kinh tế triển và các nền kinh tế mới nổi Bên cạnh đó, việc cung cấp các thông tin tài chính có chất lượng và tuân thủ các chuẩn mực kế toán quốc tế thường đòi hỏi các NHTM tại các nền kinh tế mới nổi phải có một sự đầu tư tương đối lớn vào hệ thống quản lý và nhân sự Điều này không được các cơ quan quản lý hoạt động ngân hàng tại các nền kinh tế mới nổi quy định bắt buộc do quy mô tương đối khiêm tốn của các NHTM tại các quốc gia này Ngoài ra, Bouvard và cộng sự (2011) cho rằng có tồn tại mối quan hệ mật thiết giữa sự minh bạch và chính xác của thông tin tài chính và rủi ro thanh khoản của NHTM Đặc biệt, tại các nền kinh tế mới nổi, khi tình hình tài chính của các NHTM đang trong tình trạng bất ổn thì việc không minh bạch trong công bố thông tin tài chính của các NHTM dễ dẫn đến sự tháo chạy đồng loạt của các nhà đầu tư và người gởi tiền ra khỏi hệ thống NHTM
2.3 Cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến MXHTN của NHTM
Qua việc tham khảo Hệ thống thống nhất đánh giá các tổ chức tài chính của Hội đồng Giám sát các tổ chức tài chính Liên Bang Mỹ (FFIEC), các phương pháp đánh giá MXHTN của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế và các nghiên cứu về MXHTN của các NHTM, tác giả thấy rằng MXHTN của NHTM bị tác động bởi các yếu tố như: mức độ rủi ro chung của nền kinh tế, mức độ rủi ro ngành ngân hàng của quốc gia nơi NHTM có trụ sở, sự hỗ trợ của chính phủ hay tập đoàn mẹ và một số đặc điểm riêng của bản thân NHTM1
Bên cạnh đó, mỗi yếu tố trên lại bị tác động bởi rất nhiều các yếu tố chi tiết khác Tuy nhiên, tác giả thấy rằng tồn tại sự không thống nhất trong các yếu tố chi tiết được sử dụng bởi các tổ chức xếp hạng tín nhiệm trong việc đánh giá MXHTN của NHTM, cụ thể nhất là sự không thống nhất trong các chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính của các NHTM Mặt khác, sự khác biệt cơ bản giữa Hệ thống thống nhất đánh giá các tổ chức tài chính so với phương pháp đánh giá
Trang 37MXHTN của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm là hệ thống này không đề cập đến tác động hỗ trợ của chính phủ hay tập đoàn mẹ đến MXHTN của NHTM
Ngoài ra, các nghiên cứu thực nghiệm về MXHTN của NHTM như nghiên cứu của Boyacioglu và cộng sự (2009), Matousek và Stewart (2009), Ioannidis và cộng sự (2010), Caporale và cộng sự (2012), … đều thống nhất với nhau về sự tác động của các yếu tố vĩ mô nền kinh tế nơi NHTM có trụ sở và các yếu tố đặc thù của NHTM như quy mô, chất lượng tài sản, quy mô vốn chủ sở hữu, hiệu quả hoạt động và khả năng thanh khoản đến MXHTN của NHTM Bên cạnh đó, Lang và So (2002), Iannotta và cộng sự (2010), Lassoued và cộng sự (2016) đã chỉ ra sự tác động của đặc điểm sở hữu đến mức độ rủi ro và MXHTN của các NHTM
Sơ đồ 2.2: Các yếu tố tác động đến MXHTN của NHTM
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ lược khảo lý thuyết
2.3.1 Sự tác động của các yếu tố vĩ mô đến MXHTN của NHTM
Hoạt động kinh doanh của các NHTM rất nhạy cảm với những biến động vĩ mô của nền kinh tế Đặc biệt, những thay đổi trong chính sách điều hành nền kinh tế của
Quy mô và vị thế NHTM
Chất lượng tài sản
Quy mô vốn chủ sở hữu
Khả năng sinh lời và hiệu quả hoạt động Khả năng thanh khoản
Mức xếp hạng tín nhiệm của
NHTM Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 38chính phủ hay những bất ổn trong hệ thống chính trị tại một quốc gia lập tức có ảnh hưởng đến mức độ rủi ro và MXHTN của các NHTM tại quốc gia này Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế như Fitch, Standard & Poor’s và Moody’s đều bắt đầu việc đánh giá MXHTN của các NHTM bằng việc xem xét đánh giá mức độ rủi ro chung của nền kinh tế nơi NHTM có trụ sở
Mặt khác, nghiên cứu thực nghiệm của Matousek và Stewart (2009), Bellotti và cộng sự (2011a, 2011b), Caporale và cộng sự (2012) đều cho thấy sự ảnh hưởng rất lớn của yếu tố rủi ro quốc gia nơi NHTM có trụ sở đến MXHTN của bản thân NHTM Những sự thay đổi trong chính sách điều hành nền kinh tế của chính phủ, mức độ thâm hụt ngân sách, tỷ lệ nợ công, tốc độ tăng trưởng GDP hay tỷ lệ lạm phát của quốc gia là những yếu tố ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến MXHTN của các NHTM tại quốc gia này Trên thực tế, cuộc khủng hoảng nợ công tại Châu Âu giai đoạn 2010
- 2012 đã cho thấy sự tác động mạnh mẽ của mức độ rủi ro quốc gia đến MXHTN của các NHTM tại các quốc gia này Trong giai đoạn này, khi một số các quốc gia Châu
Âu đứng trước nguy cơ mất khả năng thanh toán các khoản nợ công thì các NHTM tại các quốc gia này lập tức bị các tổ chức xếp hạng tín nhiệm hạ MXHTN
Bên cạnh đó, trong quá trình đánh giá MXHTN của NHTM, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm trên cũng thực hiện đánh giá rất chi tiết mức độ rủi ro đặc thù của ngành ngân hàng tại quốc gia nơi NHTM có trụ sở Theo Standard & Poor’s (2011 b), môi trường hoạt động ngành ngân hàng bao gồm các yếu tố như: hệ thống các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động ngân hàng, kinh nghiệm và năng lực của NHTW trong việc điều hành hệ thống NHTM, mức độ đa dạng hóa các sản phẩm tài chính và mức độ cạnh tranh trong hoạt động của các NHTM Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh, khả năng huy động vốn cũng như mức độ rủi ro thanh khoản của các NHTM
Các nghiên cứu thực nghiệm của Fang và Marton (2014), Lin và Molyneux (2014) đã chứng minh rằng việc hoàn thiện hệ thống pháp luật quản lý hoạt động của
hệ thống các NHTM và môi trường hoạt động cạnh tranh có kiểm soát của cơ quan chức năng giúp gia tăng hiệu quả hoạt động và góp phần làm giảm thiểu rủi ro hoạt động của các NHTM Nghiên cứu của Mirzaei và cộng sự (2014) cũng đã chứng minh rằng mức độ cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ rủi ro của các NHTM
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 39Từ đó ta có thể thấy rằng môi trường ngành ngân hàng tại một quốc gia có tác động rất rõ nét đến MXHTN của các NHTM tại các quốc gia này
2.3.2 Sự tác động của yếu tố hỗ trợ từ chính phủ hay tập đoàn mẹ đến MXHTN của các NHTM
Fitch (2014) cho rằng sự hỗ trợ của chính phủ đối với các NHTM thuộc sở hữu của cơ quan này có tác động làm thay đổi MXHTN của các NHTM này Các NHTM thuộc sở hữu nhà nước thường có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế hay chính trị của quốc gia Do vậy, chính phủ có xu hướng hỗ trợ về nguồn vốn và các chính sách đặc biệt cho các NHTM này khi cần thiết Mặt khác, các NHTM thuộc sở hữu của chính phủ thường có quy mô lớn trong hệ thống NHTM tại các quốc gia Sự phá sản của các NHTM này sẽ tác động tiêu cực đến sự ổn định chung của hệ thống NHTM và cả nền kinh tế Do vậy, chính phủ thường phải hỗ trợ các NHTM này khi cần thiết để đảm bảo sự ổn định chung cho toàn bộ nền kinh tế Mặt khác, nghiên cứu của Iannotta và cộng sự (2010) cũng chỉ ra rằng các NHTM thuộc sở hữu nhà nước thường được đánh giá MXHTN tốt hơn so với các NHTM thuộc sở hữu tư nhân Tuy nhiên, sự khác biệt này không phải bắt nguồn từ sự khác biệt về tình hình tài chính của NHTM nhà nước so với các NHTM tư nhân mà là kết quả của sự hỗ trợ đặc biệt của chính phủ đối với các NHTM thuộc sở hữu nhà nước
Tuy vậy, nghiên cứu của Lassoued và cộng sự (2016) lại chỉ ra rằng các NHTM thuộc sở hữu nhà nước thường có mức độ rủi ro cao hơn so với các NHTM thuộc sở hữu nước ngoài Bởi vì, các NHTM thuộc sở hữu nhà nước thường nhận được sự ưu đãi đãi về cơ chế chính sách hay sự hỗ trợ về nguồn vốn từ chính phủ khi cần thiết nên các NHTM nay thường thực hiện cho vay hay đầu tư vào các dự án có mức độ rủi ro cao
Bên cạnh đó, sự hỗ trợ của tập đoàn mẹ có quy mô lớn và uy tín có tác động rất tích cực đến MXHTN của NHTM Theo Moody’s (1999), các tập đoàn mẹ có thể sử dụng lợi thế về quy mô, khả năng phân tán rủi ro trong hoạt động và kinh nghiệm điều hành quản lý để hỗ trợ các NHTM thuộc sở hữu của các đơn vị này khi cần thiết Mặt khác, Mirzaei và cộng sự (2014) cũng chứng minh rằng các NHTM thuộc sở hữu của các tập đoàn nước ngoài tại các nền kinh tế mới nổi thường có khả năng sinh lời tốt hơn và mức độ rủi ro thấp hơn so với các NHTM khác Nguyên nhân là các đơn vị này
Luận án tiến sĩ Kinh tế
Trang 40tận dụng được lợi thế về công nghệ, năng lực quản trị điều hành và có khả năng phân tán rủi ro tốt hơn so với các NHTM nội địa
Từ những phân tích trên, ta có thể thấy được rằng có sự tác động rất lớn của yếu tố hỗ trợ từ chính phủ hay tập đoàn mẹ đến MXHTN của các NHTM thuộc sở hữu của các đối tượng này
2.3.3 Sự tác động của các yếu tố đặc thù của NHTM đến MXHTN
Theo Standard & Poor’s (2011a) các yếu tố đặc thù của NHTM tác động đến MXHTN của NHTM bao gồm: quy mô và vị thế; chất lượng tài sản; quy mô vốn chủ
sở hữu; khả năng sinh lời, hiệu quả hoạt động và khả năng thanh khoản Việc phân tích và đánh giá các yếu tố đặc thù này giúp các tổ chức xếp hạng tín nhiệm xác định MXHTN cơ sở cho các NHTM được đánh giá Sau đó, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm kết hợp phân tích đồng thời MXHTN cơ sở của NHTM với mức độ rủi ro chung của nền kinh tế nơi NHTM có trụ sở và sự hỗ trợ của chính phủ hay tập đoàn mẹ đối với NHTM để xác định MXHTN cụ thể cho NHTM được đánh giá
Khi thực hiện đánh giá các yếu tố đặc thù của các NHTM, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm thường phân tích đánh giá sự biến động của các yếu tố này trong một khoảng thời gian nhất định Mặt khác, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm cũng thực hiện
so sánh và đối chiếu các yếu tố đặc thù của NHTM đang được đánh giá với các NHTM khác
Để đánh giá quy mô và vị thế của NHTM, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm thường xem xét quy mô và mức độ ổn định thị phần, số lượng khách hàng và thu nhập của ngân hàng được đánh giá Bên cạnh đó, yếu tố quy mô mạng lưới hoạt động, mức
độ đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ và quy mô tổng tài sản cũng là những yếu được các
tổ chức xếp hạng tín nhiệm cân nhắc khi đánh giá quy mô và vị thế của các NHTM
Mặt khác, việc đánh giá các yếu tố về chất lượng tài sản; quy mô vốn chủ sở hữu; khả năng sinh lời, hiệu quả hoạt động và khả năng thanh khoản của các NHTM được các tổ chức xếp hạng tín nhiệm thực hiện thông qua việc phân tích, so sánh và đánh giá các chỉ tiêu tài chính của các NHTM Các chỉ tiêu tài chính tác động đến MXHTN của NHTM theo quan điểm của tổ chức xếp hạng tín nhiệm Fitch được trình bày chi tiết trong phụ lục 3 Mặc dù các tổ chức xếp hạng tín nhiệm trình bày rất chi tiết các chỉ tiêu tài chính tác động đến MXHTN của NHTM nhưng các tổ chức này
Luận án tiến sĩ Kinh tế