QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, tài chính tiền tệ là điều kiện tiền đề của mọi hoạt động trong đời sống KTXH. Nó trực tiếp chi phối đến các hoạt động trong nền kinh tế: từ sản xuất, đời sống đến quản lý nhà nước. Để tài chính tiền tệ tác động đến các hoạt động trong đời sống kinh tế xã hội theo mục tiêu và bản chất của chế độ, đòi hỏi nhà nước cần chủ động tác động vào hoạt động tài chính tiền tệ như là một trong những công cụ chủ yếu để quản lý xã hội. Đó là đòi hỏi khách quan của bất kỳ chế độ xã hội nào, đặc biệt là trong điều kiện đổi mới ở nước ta. Vai trò quản lý nhà nước đối với tài chính tiền tệ là một tất yếu khách quan được thể hiện như sau:
Trang 1QU ẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ
TRƯỜNG NGHIỆP VỤ THUẾ VIETNAMESE TAX COLLEGE
Trang 2Sự cần thiết quản lý nhà nước về
tài chính tiền tệ
Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà
nước theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, tài chính tiền tệ là điều kiện tiền đề của mọi hoạt động
trong đời sống KT-XH Nó trực tiếp chi phối đến các hoạt động trong nền kinh tế: từ sản xuất, đời sống đến quản lý nhà nước
Để tài chính tiền tệ tác động đến các hoạt động trong đời sống kinh tế xã hội theo mục tiêu và bản chất của chế độ, đòi hỏi nhà nước cần chủ động tác động vào hoạt động tài chính tiền tệ như là một trong những
công cụ chủ yếu để quản lý xã hội
Đó là đòi hỏi khách quan của bất kỳ chế độ xã hội nào, đặc biệt là trong điều kiện đổi mới ở nước ta
Vai trò quản lý nhà nước đối với tài chính tiền tệ là
một tất yếu khách quan được thể hiện như sau:
Trang 3Sự cần thiết quản lý nhà nước về tài
chính tiền tệ
1/ Thứ nhất, xuất phát từ vai trò của tài chính tiền tệ đối với mọi hoạt động trong đời sống kinh tế xã hội
Tài chính tiền tệ có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh
tế Nó tác động và chi phối mọi mặt hoạt động trong xã hội;
quan hệ tài chính tiền tệ, thuộc phạm trù quan hệ sản xuất, thể hiện bản chất của Nhà nước, của chế độ và phục vụ nhà nước
Do vây, đòi hỏi nhà nước phải trực tiếp can thiệp, chi phối các quan hệ tài chính tiền tệ nhằm làm cho các quan hệ tài chính trong nền kinh tế: một mặt được thực hiện theo yêu cầu của
quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ và tín dụng ngân
hàng… phù hợp với điều kiện của đất nước; mặt khác phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của Nhà nước trong
từng thời kỳ Đó là yêu cầu mang tính khách quan xuất phát từ chức năng nhiệm vụ quản lý của Nhà nước.
Trang 4Sự cần thiết quản lý nhà nước về tài
chính tiền tệ
2/ Thứ hai, xuất phát từ vai trò tài chính của Nhà nước
Điều này được thể hiện: Nhà nước sử dụng tài chính tiền tệ là công cụ quan trọng trong quản lý xã hội nói chung và quản lý nền kinh tế nói riêng
Nhà nước là người tổ chức và quản lý mọi hoạt động của xã
hội, của nền kinh tế quốc dân Một trong những công cụ quản
lý kinh tế vĩ mô quan trọng nhất của Nhà nước là tài chính tiền
tệ Vai trò to lớn của Nhà nước về tài chính tiền tệ được thể
hiện qua các điếm sau:
- Một là: Nhà nước định ra các luật, pháp lệnh, nghị định, quyết
định về tài chính, chính sách về ngân sách, về thuế, về tín dụng, tiền tệ… Các luật, chính sách này không những bắt buộc các doanh nghiệp và dân cư phải tuân thủ, phải theo, mà còn tạo điều kiện, môi trường để các doanh nghiệp hoạt động.
Trang 5Sự cần thiết quản lý nhà nước về tài
chính tiền tệ
- Hai là: Nhà nước bỏ vốn đầu tư vào các DN quan trọng
của mình, các khu vực công cộng, các kết cấu hạ tầng Những nguồn tài chính to lớn đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau, không chỉ tạo môi trường, hành lang cho các DN hoạt động, mà còn tạo ra cơ sở vật chất kỹ
thuật hiện đại cho các ngành mới, khu vực mới, có
tầm quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân
- Ba là: Nhà nước cũng là nguồn cung ứng các nguồn
vốn cho đất nước, Nhà nước là người quyết định phát hành tiền tệ, kiểm soát các hoạt động tín dụng và phân phối tín dụng Trong điều kiện kinh tế thị trường, hoạt động của các DN không thể thiếu nguồn vốn tín dụng, không thể không chịu tác động của lưu thông tiền tệ, của sự cung ứng tài chính của Nhà nước Ngoài ra,
Nhà nước còn trợ giá, bù lỗ, quy định giá…
Trang 6Sự cần thiết quản lý nhà nước về tài
chính tiền tệ
- Bốn là: Nhà nước chi tiêu bằng vốn ngân sách sẽ
trở thành là người mua hàng lớn nhất của đất
nước Những khoản chi của ngân sách nhà nước tạo thành một sức mạnh bằng tiền to lớn và đòi hỏi những hàng hoá, dịch vụ đa dạng, phức tạp tạo ra thị trường to lớn cho việc tiêu thụ hàng
hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp Trong bất cứ hình thái xã hội nào, sức mua do chi tiêu ngân
sách nhà nước tạo ra là sức mua lớn nhất trên thị trường và đó là lực lượng tiêu thụ lớn nhất
Trang 7Sự cần thiết quản lý nhà nước về tài
chính tiền tệ
- Năm là: Nhà nước với tư cách là người có quyền lực,
thực hiện sự kiểm tra, kiểm soát tài chính đối với các hoạt động KT-XH, trong đó có hoạt động tài chính của các DN Những việc kinh doanh phạm pháp, bê bối về tài chính của các DN được nhà nước xử lý theo pháp luật, bảo đảm cho các DN hoạt động theo yêu cầu của nền kinh tế và đời sống của nhân dân
Các vấn đề tài chính trên tầm vĩ mô đó chỉ có Nhà
nước mới có khả năng chi phối, tác động đến mọi hoạt động trong đời sống KT-XH Qua đó, Nhà nước vừa bắt buộc vừa tạo điều kiện cho các hoạt động trong
nền kinh tế phát triển
Trang 8Chức năng tài chính
* Để thực hiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, phù hợp với các đặc điểm của đất nước trong giai đoạn hiện nay, các chức năng cơ bản của tài chính là :
1/ Chức năng tạo lập vốn: Là chức năng đầu tiên và vốn có của tài
chính Tạo lập vốn để chuyển hoá vốn thành nguồn năng lực cho các hoạt động KT-XH Trong kinh tế thị trường vốn tiền tệ
là tiền đề và là yếu tố phải có đầu tiên cho mọi hoạt động
KT-XH Bất cứ một hoạt động nào trước tiên cũng phải có một số tiền tệ thì hoạt động mới diễn ra.
Có rất nhiều cách tạo lập vốn như : từ tài nguyên, đất đai, tích
tụ quá trình sản xuất, kinh doanh liên kết, phát hành công trái, khuyến khích đầu tư trong, ngoài nước.
Nhưng vấn đề quan trọng tạo lập vốn là khi đã tạo được vốn thì phải biết sử dụng vốn đó để phát triển không để hao phí, mất vốn.
Trang 9Chức năng tài chính
2/ Chức năng phân phối vốn: Quá trình tái sản xuất xã hội đòi hỏi
có sự phân công vốn tiền tệ việc phân phối qua hai giai đoạn: Phân phối lần đầu và phân phối lại.
- Phân phối lần đầu diễn ra trong khu vực sản xuất vật chất
theo công thức của Mác : C + V + M phân phối lần đầu chỉ áp dụng yêu cầu của khu vực sản xuất chưa đáp ứng nhu cầu của
xã hội do đó đòi hỏi có sự phân phối lại.
- Phân phối lại đáp ứng nhu cầu những ngành không sản xuất vật chất: bộ máy Nhà nước, giáo dục, y tế, văn hoá….
Trong quá trình phân phối vai trò của Nhà nước rất quan
trọng, phân phối đúng đắn thì kinh tế phát triển mạnh, vững chắc, lâu bền, phân phối không đúng gây ra thâm hụt, lạm
phát, xã hội tiêu cực, kinh tế khủng hoảng.
Trang 10Chức năng tài chính
3/ Chức năng đảm bảo vốn và thúc đẩy sự vận động liên tục Sự
vận động của quá trình sản xuất, các hoạt động của Nhà nước,
xã hội, đòi hỏi phải đảm bảo sự vận động vốn đủ số lượng, kịp thời gian đúng mức độ tương ứng Các hoạt động có tiến hành liên tục thì vốn cũng phải đảm bảo đủ và vận động liên tục có như vậy mới đảm bảo cho quá trình phát triển KT-XH liên tục
Sự vận động của các hoạt động sản xuất và hoạt động khác
luôn gắn liền với sự vận động tiền vốn
4/ Chức năng kích thích: Tài chính được coi là lợi ích vật chất thể
hiện nội dung cơ bản có giá trị là hệ thống đòn bẩy kinh tế, là động lực huy động các nguồn lực, lợi ích cá nhân, là nét đặc
trưng cơ bản của con người Con người tìm nguồn tài chính
như một động lực thúc đẩy họ hành động, tiến lên tìm kiếm lợi ích lớn hơn Nó có chất kích thích, sức thu hút, sự quyến rũ to lớn Vấn đề đặt ra là phải sử dụng chức năng kích thích của tài chính theo hướng tích cực, ngăn chặn xu hướng tiêu cực.
Trang 11Chức năng tài chính
5/ Chức năng sinh lời: Tiền là của cải xã hội đúc
kết lại, là lao động xã hội đúc kết lại Sử dụng tốt của cải ấy sẽ tạo ra giá trị thặng dư, sẽ sinh lời Mọi nguồn vốn tài chính đều phải sinh lời Đồng tiền sinh lời thông qua vận động, qua
hoạt động sản xuất kinh doanh, qua hoạt động tài chính, tín dụng.
Trang 12Chức năng tiền tệ
1/ Chức năng thước đo giá trị: Tiền tệ dùng để phản ánh
và đo lường giá trị hàng hoá khác Nó phải là tiền thực chất, nhưng thực tế cần dấu hiệu của giá trị, cũng
không cần có tiền mặt thực tế mà tiền trên ý niệm Giá trị của hàng hoá được biểu hiện bằng tiền là giá cả
hàng hoá Để so sánh giá trị hàng hoá khác nhau cần phải có đơn vị tiền tệ biểu hiện tức là tiêu chuẩn giá cả của tiền do Nhà nước đặt ra
2/ Chức năng phương tiện lưu thông: Tiền tệ làm chức
năng phương tiện lưu thông khi làm môi giới trong
quan hệ trao đổi hàng hoá Khi có tiền tệ, sự trao đổi hàng hoá đã tách rời Để đảm bảo lưu thông hàng hoá bình thường đòi hỏi có khối lượng tiền tệ lưu thông
phù hợp
Trang 13Chức năng tiền tệ
3/ Chức năng phương tiện cất trữ hay dự trữ: Tiền tệ là đại biểu
cho cả xã hội, là hiện thân cho của cải xã hội, nó có thể biến
thành hàng hoá bất cứ lúc nào và bất cứ đâu Khi làm phương tiện cất trữ tiền tệ rút khỏi lưu thông Thực hiện chức năng cất trữ người ta thường dùng tiền tệ để dành, để tích luỹ vốn một cách thuận tiện Trường hợp đồng tiền bị mất giá nếu muốn sử dụng chức năng cất giữ trong huy động vốn phải bù đắp mức sụt giá đó bằng nâng mức lãi suất.
4/ Chức năng phương tiện thanh toán: Tiền tệ thực hiện chức năng
thanh toán khi quá trình trao đổi hàng hoá kết thúc, khi vay
mượn đến hạn trả, thuế đến kỳ nộp Vậy quá trình vận động tiền tệ tách rời với vận động hàng hoá, dịch vụ, tạo ra sự vận động độc lập của giá trị Qua chức năng thanh toán có mặt tích cực là giảm bớt được khối lượng tiền tệ trong lưu thông, nhưng cũng tiềm ẩn khả năng thanh toán không bảo đảm của người mua, người vay, người nộp gây ra nợ nần dây dưa, dây chuyền mất khả năng chi trả.
Trang 14Chức năng tiền tệ
5/ Chức năng tiền tệ thế giới.
Tiền tệ không chỉ còn lại là vật giá ngang giá chung
đối với lưu thông trong cả nước, mà trở thành vật
ngang giá chung trong quan hệ trao đổi mua bán trên phạm vi thế giới Tiền tệ thực hiện chức năng này phải
là tiền thực không thể là dấu hiệu giá trị Trong thế
giới hiện đại, với sự phát hiện phong phú của các hình thức kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia song phương hay đa phương xuất hiện hiện tượng sử dụng đồng tiền mạnh của một số nước làm phương tiện thanh
toán thể hiện chức năng tiền tệ thế giới Sự phát triển trên thúc đẩy mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại
Trang 152/ Hình thành và đảm bảo các cân đối chủ yếu, tỷ
lệ phát triển nền kinh tế, phân phối hợp lý
quan hệ tích luỹ tiêu dùng, điều hành cơ cấu
đầu tư, cơ cấu kinh tế tạo ra cơ cấu kinh tế hợp
lý cho sự phát triển trong từng giai đoạn và sự phát triển lâu dài.
Trang 16quyền lợi.
5/ Khai thác, nuôi dưỡng, tạo lập và phát triển các
nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, thực hiện chính sách động viện thu nhập quốc dân và ngân hàng Nhà nước, quản lý chặt chẽ các nguồn chi ngân hàng cho Nhà nước đảm bảo nguồn vốn cho phát triển kinh tế
và các chức năng khác của Nhà nước
Trang 17Mục tiêu, nhiệm vụ quản lý Nhà
nước về tài chính tiền tệ
6/ Đảm bảo thực hiện các chính sách xã hội của nhà nước.
7/ Đảm bảo ổn định thị trường, giá cả, ổn định giá trị đồng tiềnlàm cơ sở cho ổn định và phát triển kinh tế.
8/ Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, đảm bảo
chính sách tài chính tiền tệ nhất quán giữ
vững trật tự kỷ cương về kinh tế, tài chính, xã hội.
Trang 18Vai trò của ngân sách Nhà nước
* Ngân sách Nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất trong nền kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân và có mối quan hệ khăng khít với tất cả các khâu của cả hệ thống tài
chính, đặc biệt là tài chính doanh nghiệp và tín dụng Nên vai trò của ngân sách được thể hiện
1/ Vai trò của ngân sách Nhà nước trong phân phối sản phẩm xã hội: Xác định một cách khoa học, đặt ra tỷ lệ huy động tổng sản phẩm xã hội vào ngân sách Nhà
nước, xác định quy định thuế trong tổng sản phẩm
đảm bảo Nhà nước có nguồn thu thường xuyên ổn
định; xác định hình thức huy động ngoài thuế trên thị trường tài chính; xác định vai trò quyền sở hữu tài sản công và tài sản quốc gia
Trang 19Vai trò của ngân sách Nhà nước
2/ Vai trò NSNN trong việc ổn định và tăng trưởng kinh tế thể hiện trên các mặt: kích thích, tạo hàng lang, môi trường và gây sức ép.
- Nhà nước thực hiện chính sách thuế để vừa kích thích vừa
gây sức ép.
- Tạo điều kiện thuận lợi trên các mặt tài chính để khuyến
khích các thành phần kinh tế có doanh lợi trong đầu tư phát
triển.
- Đầu tư cho hạ tầng kinh tế và xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư, khai thác tài nguyên, sức lao động, thị trường…
- Đầu tư vào ngành kinh tế mũi nhọn, các công trình trọng
điểm, các cơ sở kinh tế then chốt để chuyển đổi cơ cấu kinh tế tạo cơ sở vật chất kỹ thuật, có thêm sản phẩm chủ lực làm chỗ dựa cho các ngành, các thành phần kinh tế trong phát triển.
Trang 20Vai trò của ngân sách Nhà nước
3/ Vai trò của NS trong phân phối tổng sản phẩm XH, trong ổn định, phát triển kinh tế nâng cao đời sống ND, tạo điều kiện cho ổn định chính trị thông qua NSNN bảo đảm nhu cầu và điều kiện không ngừng hoàn thiện bộ máy NN, phát huy vai trò của bộ máy NN trong quản lý mọi lĩnh vực của đất nước, đảm bảo an ninh, quốc phòng, bảo vệ và phát triển những
thành tựu đã đạt được.
4/ Vai trò kiểm tra của NSNN Thông qua NSNN, kiểm tra quá trình phát triển kinh tế quốc dân, cũng như các ngành, các đơn
vị SXKD, nhằm thúc đẩy phát triển, khai thác tiềm năng kinh
tế, kiểm tra bảo vệ tài sản quốc gia, tài sản Nhà nước, chống thất thoát lãnh phí, kiểm tra việc chấp hành luật pháp về
NSNN,kỷ luật tài chính, bảo đảm trật tự kỷ cương trong hoạt động tài chính.
Trang 21Nguyên tắc quản lý ngân sách Nhà nước
I Nguyên tắc tập trung thống nhất : Cả nước chỉ có 1
NSNN thống nhất, sự thống nhất đó thể hiện bằng
pháp luật, bằng chính sách, chế độ và bằng kế hoạch tài chính NSNN Quốc hội quy định, sửa đổi và bãi bỏ các loại thuế Chính phủ quy định thẩm quyền ban
hàng và nguyên tắc quản lý các loại phí và các khoản thu ngoài thuế khác kể cả nguyên tắc huy động và sử dụng vốn đóng góp của nhân dân
1/ Đảm bảo toàn vẹn và đầy đủ của NS: Mọi khoản
thu chi của NSNN đều tập trung đầy đủ, toàn bộ vào NSNN, không được bỏ sót hoặc để bất kỳ nguồn nào ngoài NSNN Nguyên tắc này đảm bảo tính nghiêm ngặt của NSNN, chống tham nhũng, thất thoát và lãng phí
Trang 22Nguyên tắc quản lý ngân sách Nhà nước
2/ Tính trung thực của ngân sách Nhà nước: Phản ánh
các khoản thu chi ngân sách Nhà nước diễn ra đúng thực tế Các dự toán, quyết toán phải kiểm tra, thẩm định nghiêm túc theo trình tự chặt chẽ không cho
phép các cơ quan tự ý làm sai
3/ Tính công khai: Các khoản chi phí của ngân sách
Nhà nước và ngân sách địa phương được Quốc hội và hội đồng nhân dân thảo luận và biểu quyết công khai, khi đã quyết định phải công bố cho nhân dân biết
Tính công khai của ngân sách Nhà nước là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân “ dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra”
Trang 23Nguyên tắc quản lý ngân sách Nhà nước
4/ Tính cân bằng của NSNN Cân bằng thu chi NSNN là cân
bằng giữa cung cầu vốn tiền tệ của Nhà nước trong năm: Cân bằng cung cầu vốn có vai trò đặc biệt quan trọng chi phối cung cầu tiền tệ trong nền kinh tế.
5/ Đảm bảo quỹ dự trữ tài chính: Là vấn đề có tính chiến lược
đảm bảo sử dụng ổn định tài chính và chủ động trong điều hành ngân sách Nhà nước.
6/ Đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu KTXH : kế hoạch ngân
sách phải phản ánh và phục vụ đúng mục tiêu kinh tế xã hội.
7/ Tính kỷ cương thep pháp luật: Phải chấp hành nghiêm túc
luật ngân sách Nhà nước, luật thuế, các văn bản pháp quy của Nhà nước bảo đảm kỷ cương trật tự.
Trang 24Nguyên tắc quản lý ngân sách Nhà nước
II/ Nguyên tắc cân đối ngân sách Nhà nước :
1/ Tổng số chi thường xuyên không được vượt quá tổng số thu từ thuế, lệ phí.
2/ Số bội thu ngân sách hàng năm nếu có, được dùng để tăng đầu tư phát triển.
3/ Số bội chi ngân sách hàng năm phải nhỏ hơn
số đầu tư phát triển.
Trang 25Nguyên tắc quản lý ngân sách Nhà nước
4/ Số bội chi ngân sách được bù đắp bằng
nguồn vốn đi vay trung, dài hạn trong nước và ngoài nước, có kế hoạch chủ động trả nợ vay,
không được bù đắp bằng vốn phát triển thâm hụt ngân sách Nhà nước.
5/ Ngân sách địa phương đã được bố trí cân đối theo kế hoạch giữa nguồn thu và nhiệm vụ chi 6/ Thu chi ngân sách phải thực hiện theo kế
hoạch dự toán được duyệt.
Trang 26NỘI DUNG CHỦ YẾU QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
I Quản lý và điều hành ngân sách nhà nước
- NSNN là nguồn tài chính tập trung quan trọng nhất trong hệ thống tài chính quốc gia NSNN là tiềm lực tài chính, là sức mạnh về mặt tài chính của nhà nước Quản lý và điều hành NSNN có tác dụng chi phối trực tiếp đến các hoạt động tài chính khác trong nền kinh
tế quốc dân
- NSNN được quản lý và điều hành theo Luật NSNN được Quốc hội nước CHXHCNVN thông qua ngày
30/3/1996 Theo đó, những nội dung chủ yếu về quản
lý và điều hành ngân sách nhà nước bao gồm:
Trang 27NỘI DUNG CHỦ YẾU QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
1/ NSNN được quản lý và điều hành theo chế độ kế hoạch hoá
thống nhất từ trung ương đến cơ sở Mọi sự thu chi của NSNN đều được thể hiện qua kế hoạch thống nhất từ trung ương đến
cơ sở Kế hoạch ngân sách do Quốc hội thông qua hàng năm 2/ Thực hiện phân cấp quản lý NSNN phù hợp với sự phân cấp
hành chính: cấp trung ương; cấp tỉnh (thành phố trực thuộc
trung ương); cấp huyện (quận); cấp xã (phường).
Tuy nhiên, việc phân công, phân cấp quản lý NSNN là phân công phân cấp thực hiện nhiệm vụ kế hoạch thu chi NS cho các cấp trên cơ sở chế độ thống nhất, kế hoạch thống nhất Cần
thấy rõ phân công phân cấp, không phải là phân chia NS