1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ kinh tế thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ

211 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thu Hút Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Trong Chuyển Dịch Cơ Cấu Kinh Tế Ở Vùng Kinh Tế Trọng Điểm Bắc Bộ
Tác giả Phạm Đức Minh
Người hướng dẫn PGS, TS. Phạm Quốc Trung
Trường học Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 211
Dung lượng 4,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang 1 PHẠM ĐỨC MINH THU HÖT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH Trang 2 PHẠM ĐỨC MINH THU HÖT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH Trang 3 LỜI CAM ĐOAN T

Trang 1

PHẠM ĐỨC MINH

THU HÖT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP

NƯỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH

CƠ CẤU KINH TẾ Ở VÙNG KINH TẾ

Trang 2

PHẠM ĐỨC MINH

THU HÖT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP

NƯỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH

CƠ CẤU KINH TẾ Ở VÙNG KINH TẾ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án với đề tài: “Thu hút vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm

Bắc Bộ”:

- Đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của cá nhân;

- Các tài liệu tham khảo, số liệu, thông tin đƣợc sử dụng là trung thực,

có căn cứ và đƣợc trích dẫn theo đúng quy định

Hà Nội, Ngày 15 tháng 04 năm 2016

Trang 4

MỤC LỤC

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

ĐẾN THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG

ĐIỂM BẮC BỘ

6

1.3 Đánh giá khái quát kết quả các công trình đã công bố và vấn đề

đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

24

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT VỐN

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ

CẤU KINH TẾ Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM

26

2.1 Bản chất và vai trò của thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong

chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm

26

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá thu hút vốn đầu tư

trực tiếp nước ngoài trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế

trọng điểm

44

2.3 Kinh nghiệm và bài học từ nước ngoài về thu hút vốn đầu tư

trực tiếp nước ngoài trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế đối với vùng kinh

tế trọng điểm Bắc Bộ

55

Chương 3 THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP

NƯỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở VÙNG

KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ

66

3.1 Tiềm năng, lợi thế và khó khăn, thách thức đối với thu hút vốn

đầu tư trực tiếp nước ngoài trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh

tế trọng điểm Bắc Bộ

66

3.2 Thực trạng thu hút và tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

75

3.3 Đánh giá thực trạng về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong

chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

103

Chương 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ

TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH

TẾ Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ

114

4.1 Định hướng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong chuyển dịch

cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

114

4.2 Giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Industrial zone (IZ)/Export Procesing zone (EPZ)

Khu công nghiệp

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ PHỤ LỤC

1 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc đã qua đào tạo 72

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ các dự án phân theo VKTTĐ và các địa phương (1988-2007) 82

Biểu đồ 3.3 Vốn đầu tư và đăng ký của các địa phương trong VKTTĐBB

Biểu đồ 3.7 Vốn FDI đăng ký và thực hiện ở VKTTĐBB (2005-2014) 85

Biểu đồ 3.8 Cơ cấu số dự án và vốn FDI ở Việt Nam và VKTTTĐB phân theo

ngành kinh tế tính đến 31/12/2014

85

Biểu đồ 3.9 Cơ cấu số lượng dự án và vốn đăng ký FDI ở các địa phương

VKTTTĐB phân theo ngành kinh tế tính đến 31/12/2014

86

Biểu đồ 3.10 Qui mô dự án FDI tại 3 VKTTĐ của Việt Nam giai đoạn 2000-7/2012 87

Biểu đồ 3.11 Vốn đầu tư của khu vực FDI trong tổng vốn đầu tư xã hội ở

VKTTĐBB giai đoạn 2000 -2014

87

Biểu đồ 3.12 Tốc độ tăng GDP của FDI và vùng KTTĐBB giai đoạn 2005 – 20114 88

Biểu đồ 3.14 GO công nghiệp của FDI và toàn vùng giai đoạn 2000-2014 89

Biểu đồ 3.15 Tỷ lệ GDP của các TPKT so với GDP VKTTĐBB giai đoạn 2000-2014 91

Biểu đồ 3.16 Cơ cấu vốn đầu tư phân theo khu vực kinh tế VKTTĐBB giai đoạn

Biểu đồ 3.18 Thu nhập bình quân của người lao động trong các loại hình DN 95

Biểu đồ 3.19 Giá trị và tỷ trọng giá trị xuất khẩu của các nhóm hàng hóa ở

Trang 7

2 DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục1 Các giai đoạn phát triển của W Rostow và Tatyana

P.Soubbotina

174

Phụ lục 3 Cơ cấu của nền kinh tế (yếu tố hình thành và hình thức cơ cấu) 177

Phụ lục 4 Các hình thức thức FDI theo Luật năm 2005 và năm 2014 177

Phụ lục 5 Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội phân theo TPKT(giá thực tế) 180

Phụ lục 6 GDP của Việt Nam qua các năm theo TPKT (giá thực tế) 180

Phụ lục 8 Số dự án và lượng vốn FDI ở các địa phương (tính đến

31/12/2014)

181

Phụ lục 9 FDI tại Việt Nam theo lĩnh vực (tính đến tháng 31/12/2014) 183

Phụ lục 10 FDI tại Việt Nam tính theo đối tác (lũy kế các dự án còn hiệu

lực tính đến ngày 31/12/2014)

183

Phụ lục 12 Một số biện pháp tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại 186

Phụ lục 13 Những thay đổi chủ yếu trong chính sách thu hút FDI trong

các thời kỳ sửa đổi Luật ĐTNN tại Việt Nam

186

Phụ lục 15 Kết nối vùng sông Mê-Kông mở rộng năm 1998 và 2006 189

Phụ lục 16 Tiềm năng rừng, biển, đảo ở Quảng Ninh, Hải Phòng 189

Phụ lục 18 Thứ hạng về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (CPI) của các địa

phương ở VKTTĐBB qua các năm

190

Phụ lục 19 Hệ thống chính sách cho thu hút FDI trong CDCCKT ở

VKTTĐBB

191

Phụ lục 21 Thu hút vốn FDI của VKTTĐBB 1988 - 31/12/2007 trong

tương quan với các VKTTĐ khác

Phụ lục 25 NSLĐ của Việt Nam và VKTTĐBB giai đoạn 2008-2014 195

Phụ lục 26 Đóng góp vào cơ cấu các yếu tố đầu vào cho tăng trưởng kinh tế 195

Phụ lục 27 Mức trang bị TSCĐ và đầu tư dài hạn cho một lao động và FIES

ở một số địa phương VKTTĐBB giai đoạn 2003-2010

196

Phụ lục 29 Chỉ số về lợi thế cạnh tranh thu hút vốn FDI của các quốc gia 199

Phụ lục 29 Giải pháp thu hút vốn FDI của một số địa phương trong

VKTTĐBB (qua ý kiến các chuyên gia và nhà quản lý)

199

Trang 8

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước luôn đặt mục tiêu phát triển

KT-XH lên hàng đầu và với định hướng đến năm 2020 Việt Nam sẽ cơ bản trở thành một

nước công nghiệp theo hướng hiện đại Để đạt được mục tiêu đó, Việt Nam cần phải

tận dụng hiệu quả nhất các nguồn lực, đồng thời phải tăng cường hội nhập KTQT

Lý luận và thực tiễn cho thấy nguồn vốn FDI là một trong các nhân tố và nguồn

lực rất quan trọng đối với sự phát triển KT-XH của Việt Nam Thông qua FDI sẽ bổ

sung được nguồn vốn, thúc đẩy CDCCKT theo hướng CNH, HĐH Từ việc phát triển

các ngành trong nền kinh tế sẽ tạo điều kiện phát triển và tăng trưởng toàn bộ nền kinh

tế với tốc độ tăng trưởng cao hơn, tái cơ cấu nền kinh tế, tạo nhiều công ăn việc làm, cải

thiện chất lượng nguồn lao động, cơ sở hạ tầng, nâng cao trình độ công nghệ

Chuyển dịch CCKT gắn với phát triển KT-XH của các vùng lãnh thổ, đặc biệt

là các VKTTĐ theo hướng phát huy thế mạnh của từng vùng, tạo tính chất động lực,

có tác động lan tỏa và bứt phá; tăng cường tính liên kết để làm thay đổi bộ mặt

KT-XH của các địa phương, các vùng, lôi cuốn các vùng khác cùng phát triển [63] Tuy

nhiên, CDCCKT là một vấn đề đòi hỏi có tính lâu dài và cần phải huy động tổng thể

các nguồn lực Vùng KTTĐBB muốn thực hiện thành công quá trình CDCCKT thì

không chỉ phụ thuộc vào nguồn nội lực, mà cần phải có một “cú huých” mạnh từ

nước ngoài thông qua ĐTNN, trong đó có FDI

Vùng KTTĐBB là vùng giữ vị trí quan trọng chiến lược của Việt Nam, có thủ đô

Hà Nội - trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá và quan hệ quốc tế của cả nước Có sự

hội tụ các lợi thế so sánh về vị trí địa kinh tế - chính trị; hạ tầng kỹ thuật; nguồn nhân

lực Do đó, thu hút vốn FDI, phát huy vai trò của FDI trong CDCCKT, qua đó thúc

đẩy VKTTĐBB phát triển bền vững là yêu cầu khách quan Với những lợi thế đặc biệt,

trong những năm qua, VKTTĐBB là một trong hai VKTTĐ của cả nước luôn dẫn đầu

về thu hút vốn FDI cả về số lượng dự án và qui mô vốn đầu tư Khu vực FIE ở vùng đã

có những đóng góp tích cực vào CDCCKT và phát triển KT-XH của vùng Tuy nhiên,

việc thu hút vốn FDI và hoạt động của khu vực FIE ở VKTTĐBB chưa tương xứng với

Trang 9

tiềm năng và đã, đang xuất hiện có những biểu hiện tiêu cực, ảnh hưởng không nhỏ đến

sự phát triển, vai trò của vốn FDI trong CDCCKT còn hạn chế

Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn trên đây, việc làm rõ cơ sở lý luận về thu

hút vốn FDI trong CDCCKT; đánh giá đúng đắn, khách quan thực trạng và tìm kiếm

các giải pháp thu hút vốn FDI nhằm CDCCKT cho VKTTĐBB là yêu cầu cấp bách

Vì vậy, đề tài: “Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong chuyển dịch cơ cấu

kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ” được chọn làm luận án tiến sĩ kinh tế,

chuyên ngành kinh tế chính trị - mã số 62 31 01 02

2 Mục đích, nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về thu hút vốn FDI trong

CDCCKT ở VKTTĐBB Phân tích, đánh giá thực trạng thu hút vốn FDI và tác động

của nó tới CDCCKT ở VKTTĐBB Đề xuất định hướng và các giải pháp cơ bản

nhằm tăng cường thu hút vốn FDI trong CDCCKT ở VKTTĐBB đến năm 2020 và

tầm nhìn đến năm 2030

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá và làm rõ lý luận về FDI trong CDCCKT ở VKTTĐ theo

hướng CNH, HĐH như: khái niệm và nội hàm của FDI, CDCCKT, VKTTĐ; Mối

quan hệ giữa FDI và CDCCKT; Vai trò của FDI trong CDCCKT…

- Phân tích, đánh giá thực trạng thu hút vốn FDI, tình hình CDCCKT và tác

động của FDI trong CDCCKT ở VKTTĐBB từ năm 2000 đến nay (đặc biệt là sau

khi có Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH của Quốc hội ngày 29 tháng 5 năm 2008 với

7 tỉnh như hiện nay) Bao gồm: kết quả, hạn chế và nguyên nhân

- Đề xuất định hướng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn FDI trong

CDCCKT ở VKTTĐBB giai đoạn đến 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án lấy vấn đề thu hút vốn FDI ở VKTTĐBB làm đối tượng nghiên cứu

chính Trên cở sở đó, nghiên cứu mối quan hệ giữa thu hút vốn FDI trong CDCCKT

ở VKTTĐBB mà trọng tâm là tác động của FDI tới CDCCKT của vùng

Trang 10

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Luận án đặt trọng tâm vào nghiên cứu thực tiễn và đề xuất

giải pháp thu hút vốn FDI trong CDCCKT ở VKTTĐBB

- Về thời gian: Phạm vi nghiên cứu phân tích đánh giá thực trạng: từ năm

2000, 2003 Trọng tâm là từ năm 2008 đến nay (7 tỉnh, thành phố) Phạm vi nghiên

cứu đề xuất định hướng và giải pháp thu hút FDI trong CDCCKT đến năm 2020 -

mốc phấn đấu để Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại

- Về nội dung: Luận án tập trung vào các vấn đề:

+ Trong mối quan hệ giữa FDI và CDCCKT, luận án chủ yếu nghiên cứu tác

động của thu hút vốn đối với CDCCKT;

+ Luận án không tập trung nghiên cứu hoạt động nội tại của khu vực FIE, mà

nghiên cứu thu hút vốn FDI hướng vào CDCCKT;

+ Thực trạng thu hút vốn FDI và tác động của nó trong CDCCKT được tiếp

cận chủ yếu theo ngành cấp 1 ở vùng KTTĐBB

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án dựa vào những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, quan điểm và chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam về hội nhập

KTQT, Về huy động vốn nước ngoài qua các văn kiện của Đảng; Chiến lược phát triển

KT-XH; chính sách thu hút vốn FDI của VKTTĐBB; đồng thời tham khảo một số lý

thuyết kinh tế, những nghiên cứu của các tổ chức, học giả trong nước và quốc tế về FDI

và tác động của FDI tới CDCCKT, về vấn đề quy hoạch phát triển VKTTĐ…

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận trong nghiên cứu: Luận án lấy chủ nghĩa duy vật biện

chứng, duy vật lịch sử làm cơ sơ phương pháp luận trong nghiên cứu Những nguyên

lý cơ bản có tác dụng hướng dẫn, gợi mở cách thức xem xét các vấn đề Cung cấp thế

giới quan khoa học, yêu cầu xem xét sự vật, hiện tượng theo quan điểm phát triển toàn

diện, liên hệ phổ biến, lịch sử cụ thể… Do vậy, nó sẽ là phương pháp luận khoa học

cho các phương pháp cụ thể sẽ được ứng dụng trong luận án để giải quyết các vấn đề

liên quan đến FDI trong CDCCKT với không gian VKTTĐBB

Trang 11

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận án sử dụng chủ yếu các phương

pháp: trừu tượng hóa khoa học; nghiên cứu hệ thống; tổng hợp, phân tích, thống kê,

so sánh, kết hợp sử dụng các phương pháp tổng kết thực tiễn để tìm ra những đặc

trưng của vấn đề nghiên cứu và tính quy luật của đối tượng nghiên cứu Cụ thể:

+ Chương 1: Sử dụng các phương pháp hệ thống hóa, tổng hợp, phân tích để

đánh giá về quan điểm của các học giả và trường phái lý luận về vấn đề nghiên cứu,

từ đó có các đánh giá và rút ra những vấn đề cần nghiên cứu bổ sung

+ Chương 2: Sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học để rút ra những

khái niệm cơ bản và luận giải những vấn đề lý luận cơ bản về thu hút vốn FDI và tác

động của nó tới CDCCKT Đồng thời sử dụng phương pháp nghiên cứu đánh giá

thực tiễn thu hút, phát huy tác động tích cực của FDI tại một số quốc gia, vùng và

địa phương trong nước để rút ra bài học cho VKTTĐBB

+ Chương 3: Sử dụng các phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, nhằm

làm rõ thực trạng thu hút và tác động của vốn FDI trong CDCCKT ở VKTTĐBB,

rút ra những kết quả tích cực, tác động tiêu cực và nguyên nhân

+ Chương 4: Sử dụng phương pháp khái quát hóa những vấn đề đã nghiên

cứu ở chương 2, 3 cùng với các đánh giá dự báo về bối cảnh và nhu cầu về vốn FDI

cho CDCCKT ở vùng để rút ra những quan điểm, định hướng và giải pháp nâng cao

hiệu quả việc thu hút và tác động của FDI trong CDCCKT ở VKTTĐBB

4.3 Nguồn dữ liệu

Nguồn dữ liệu luận án sử dụng chủ yếu từ nguồn dữ liệu thứ cấp gồm:

- Số liệu thống kê từ các bộ, ngành Đặc biệt là từ Tổng cục Thống kê và Cục

Thống kê các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ở VKTTĐBB;

- Số liệu của UBND các tỉnh, thành phố; Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Lao động

-Thương binh và Xã hội; Sở Tài nguyên và Môi trường của các tỉnh, thành phố;

- Các kết quả nghiên cứu đã được công bố trên các tạp chí chuyên ngành…

5 Những đóng góp mới của luận án

Trang 12

- Góp phần làm rõ một số khái niệm có liên quan để từ đó đưa ra khái niệm

thu hút FDI trong CDCCKT ở VKTTĐ; Xác định đặc điểm; Làm rõ vai trò của việc

thu hút vốn FDI và tác động của FDI trong CDCCKT ở VKTTĐ

- Làm rõ các yếu tố ảnh hưởng tới thu hút vốn FDI trong CDCCKT ở VTTĐBB

- Hệ thống hóa các lý thuyết và đúc rút kinh nghiệm về thu hút vốn FDI ở một

số quốc gia để bổ sung lý luận về FDI trong CDCCKT ở VKTTĐBB;

5.2 Về thực tiễn

- Trên cơ sở phân tích thực trạng thu hút vốn FDI ở VKTTĐBB, luận án đánh

giá những thành công, hạn chế và nguyên nhân;

- Đánh giá tác động của FDI trong CDCCKT ở VKTTĐBB, mà trọng tâm là

cơ cấu ngành kinh tế;

- Đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh thu hút vốn FDI

nhằm thúc đẩy CDCCKT ở VKTTĐBB trong thời gian tới

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho các

đơn vị cơ quan nghiên cứu và hoạch định chính sách về FDI, có thể sử dụng tham

khảo để giảng dạy các chuyên đề kinh tế về FDI trong các cơ sở đào tạo

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo Nội

dung chính của luận án kết cấu thành 4 chương 11 tiết

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THU HÖT

VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ

CẤU KINH TẾ Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ

1.1 CÁC NGHIÊN CỨU CỦA NƯỚC NGOÀI LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN

1.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài và các yếu tố ảnh hưởng

- Các nhà kinh tế cho rằng nguyên nhân của sự gia tăng dòng vốn ra nước

ngoài và diễn ra các chiều khác nhau, các nhà đầu tư đã tìm thấy lợi nhuận ở nước

ngoài lớn hơn lợi nhuận ở nội địa để thúc đẩy các hoạt động đầu tư

Mac-Dougall đưa ra mô hình lí thuyết dựa trên các điều kiện giả định [164]:

1) Thế giới chỉ có hai quốc gia; 2) Thị trường cạnh tranh hoàn hảo, quốc gia có

lượng vốn đầu tư lớn (thừa vốn) nhưng tỷ suất sinh lời của đồng vốn thấp (quốc gia

1- QG1), quốc gia có lượng vốn nhỏ (thiếu vốn) nhưng tỷ suất sinh lời của đồng vốn

cao (quốc gia 2- QG2) Dòng vốn đầu tư di chuyển từ QG1 sang QG2; 3) Vốn di

chuyển tự do giữa các quốc gia; 4) Thông tin hoàn hảo, nhập khẩu và xuất khẩu vốn

đều có thông tin đầy đủ về các hoạt động đầu tư Việc xuất, nhập khẩu vốn sẽ được

thực hiện cho đến khi lợi nhuận biên bằng tỷ suất lợi nhuận bình quân của thế giới;

5) Không có rủi ro và môi trường đầu tư được giữ ổn định

Từ quan điểm coi thế giới là một tổng thể gồm hai quốc gia cấu thành, đầu tư

quốc tế (trong đó có FDI) làm cho tổng sản phẩm ở từng ngành tăng dẫn đến GDP

của nơi tiếp nhận vốn FDI cũng tăng - đây chính là hiệu quả phúc lợi của FDI FDI

đã làm tăng khả năng phân phối tiềm lực KTQT và làm tăng phúc lợi và sản phẩm

quốc tế Hoạt động di chuyển vốn quốc tế trong thập kỷ 50-60 đã khẳng định những

xu hướng mà giả định của Mac - Dougall đưa ra Sau đó các số liệu thống kê, thực

nghiệm đã không đưa ra được những bằng chứng rõ rệt để kiểm chứng Nhược điểm

của mô hình này là không giải thích được sự vận động nhiều chiều của FDI và sự

sụp đổ của hệ thống tiền tệ Bretton Woods vào đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX trở đi

với những biến động và rủi ro, khía cạnh thể chế tác động tới FDI Không giải thích

được các yếu tố chi phối tình trạng một nước vừa có dòng vốn di chuyển vào, vừa có

dòng vốn di chuyển ra, nghĩa là nó không đưa ra được sự giải thích đầy đủ về FDI

- Dunning đã đưa ra “lí thuyết chiết trung” hay mô hình OLI về FDI, theo

Dunning hoạt động FDI cần hội tụ đủ ba lợi thế đó là: lợi thế về sở hữu (O - Ownership

advantages), về địa điểm (L - Locational advantages) và lợi thế về nội vi hoá (I -

Trang 14

Internalisation advantages) Những lợi thế đó cho thấy những gì mà nước đầu tư thực

hiện FDI, những gì mà địa phương tiếp nhận vốn FDI và sự kết hợp giữa hai thứ đó có

được hay không tuỳ thuộc vào lợi thế thứ ba Dunning đã kiểm định lí thuyết dựa trên

số liệu của các công ty của Mỹ trong 14 ngành công nghiệp tại một số nước [158]

Những nhân tố “đẩy” bắt nguồn từ lợi thế sở hữu và nội vi hoá, còn lợi thế địa

điểm tạo ra các nhân tố “kéo” đối với thu hút FDI nhằm CDCCKT Lợi thế này không

cố định mà biến đổi theo thời gian, không gian và sự phát triển Lợi thế địa điểm và

nhân tố “kéo” đã giải thích vì sao luồng vào FDI ở từng nước, từng thời kì là khác nhau

và phụ thuộc vào sự chủ động đối với việc thu hút nguồn vốn FDI Sự khác nhau này

bắt nguồn từ việc các nước này đang ở giai đoạn nào của quá trình phát triển

Lý thuyết này đã định hướng về mặt lý luận là cần xác định rõ những nhân tố

“kéo” và nhân tố “đẩy” trong thu hút FDI hướng vào CDCCKT của VKTTĐBB, từ

đó phân tích nguyên nhân để có những định hướng và giải pháp Tuy nhiên, theo tác

giả lí thuyết này chưa giải thích được vì sao có luồng FDI từ các nước đang phát

triển (nghèo vốn) vào các nước phát triển (vốn dồi dào)?

- I.A.Moosa [165] đã phân tích mô hình “chiết trung” của Dunning và đưa ra

các điều kiện ảnh hưởng đến FDI, với giả định đã có cầu về một loại hàng hóa cụ thể

mà một hãng ở trong nước có lợi thế (O), lúc đó chỉ còn yếu tố ảnh hưởng là (L) và

(I): Nếu không đạt được lợi thế (I) thì hãng sẽ cho phép lợi thế (O) của mình cho một

hãng khác, đặc biệt là khi yếu tố địa điểm tạo thuận lợi cho việc mở rộng ra nước

ngoài; Nếu có lợi thế (I) và yếu tố địa điểm là thuận lợi cho việc mở rộng trong nước

(nội địa hóa) thì hãng sẽ mở rộng trong nước và xuất khẩu; Nếu đạt được lợi thế (I) và

yếu tố địa điểm là thuận lợi cho việc mở rộng ra nước ngoài thì FDI sẽ xảy ra

Có thể nói, trường phái “lý thuyết chiết trung” là mô hình lý thuyết tiêu biểu

với sự giải thích tương đối đầy đủ về FDI

- Lý thuyết về các bước phát triển đầu tư (Investment Development Path - IDP)

Đầu tư trực tiếp nước ngoài không tự nhiên chảy vào một nước hay địa phương

mà nó phải dựa trên khả năng hấp thụ nguồn vốn FDI của nền kinh tế sở tại Nhiều yếu

tố đầu vào không thể lấy được từ bên ngoài mà các nước sở tại phải cung cấp như: các

yếu tố hạ tầng như điện, nước, kĩ năng chuyên môn người lao động Vì vậy, những địa

phương tiếp nhận vốn FDI phải phát triển trước nhiều lĩnh vực để có thể thu hút FDI

“Các bước phát triển đầu tư”[158] đã bàn về khả năng, định hướng, cơ cấu,

những điều kiện cần và đủ của việc tiếp nhận và hình thái đầu tư theo sự phát triển

của địa phương tiếp nhận vốn FDI Có năm giai đoạn hay những bước mà dòng FDI

Trang 15

vào một địa phương phải đi với những nỗ lực của địa phương sở tại nhằm hấp thụ

được vốn đầu tư Các địa phương cũng phải giải quyết các vấn đề: đảm bảo công ăn,

việc làm trong nước, phải bảo vệ các DN và thị trường nội địa Thu hút vốn FDI

hướng vào CDCCKT không thể được hình thành một cách tuỳ tiện mà cần phải có

định hướng Thúc đẩy CDCCKT trên cơ sở tiếp nhận vốn FDI trong quá trình phát

triển kinh tế của địa phương sở tại với cơ cấu ngành, nghề trong quan hệ đáp ứng

những nhu cầu nội tại và hướng ra bên ngoài theo từng bước phát triển đầu tư

Lí thuyết “các bước phát triển đầu tư” và “mô hình OLI” cho rằng: các quốc

gia, địa phương có lợi thế về địa điểm và các điều kiện thuận lợi khác là nhân tố

quan trọng và dễ dàng thu hút vốn đầu tư FDI có ảnh hưởng tới CCKT trong từng

giai đoạn phát triển khác nhau của các địa phương ở nước sở tại Trong giai đoạn

đầu, FDI chủ yếu tập trung vào các ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên và các

ngành công nghiệp sản xuất thay thế nhập khẩu Tiếp theo đó, FDI mới chuyển sang

các ngành khác Đây được coi là cơ sở lý luận quan trọng cho việc hoạch định chính

sách để thu hút vốn FDI nhằm CDCCKT ở VKTTĐBB

- Alan A.Bevan and Saul Estrin đã nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố như:

rủi ro của nước sở tại, chi phí đơn vị của lao động, quy mô thị trường và các yếu tố

hấp dẫn FDI khác tại các nền kinh tế chuyển đổi ở khu vực Trung và Tây Âu Kết

quả của việc sử dụng mô hình kiểm định là FDI chịu ảnh hưởng lớn bởi các yếu tố

trên, trong đó rủi ro của nước sở tại gồm cả kinh tế và chính trị [152]

- Maitena Duce, Banco de Espana tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng

đến FDI ở các nước vùng Đông Nam Tây Âu và khẳng định FDI phụ thuộc vào các

yếu tố như: chính sách của nước nhận đầu tư, mức độ hấp dẫn, quy mô của nền kinh

tế, nguồn lực quốc gia, mức độ mở cửa đối với thương mại và tiếp cận thị trường

quốc tế, chất lượng tài chính và cơ sở hạ tầng của nước sở tại [157]

- Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản – JICA trong “Nghiên cứu về chiến lược

xúc tiến FDI tại nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” đã nghiên cứu xu hướng vận động

của dòng FDI trên thế giới và khu vực Đông Nam Á Báo cáo đã tập trung nghiên cứu

đánh giá năng lực cạnh tranh môi trường đầu tư của Việt Nam trên cơ sở xem xét một

số chính sách đối với một số ngành công nghiệp và đưa ra một số khuyến nghị nhằm

nâng cao hiệu quả của hoạt động FDI là chính sách về “xúc tiến đầu tư””[38]

- Shaukat Ali, Wei Guo đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến FDI vào Trung

Quốc là quy mô của thị trường (yếu tố tác động mạnh đến dòng FDI, nhất là đối với các

hãng của Mỹ) và giá nhân công rẻ (yếu tố hấp dẫn các hãng đầu tư Trung Quốc) [168]

Trang 16

- Công trình nghiên cứu: “Implementing industrial ecology? Planning for

eco-industrial parks in the USA” của D Gibbs và P Deutz [156] đã cho rằng mặc

dù nhận được sự đồng thuận rộng rãi của vấn đề phát triển bền vững trong các diễn

đàn quốc tế nhưng trên thực tế, việc đạt mục tiêu về kịch bản “win – win – win”

(cùng thắng) về các mặt phát triển KT-XH và môi trường vẫn là một vấn đề nan giải

Các tác giả đề cập tới vấn đề trên trong giai đoạn phát triển các KCN ở Mỹ

Hiện nay, mặc dù tỷ trọng vốn cũng như các dự án FDI vào các KCN lớn hơn

các FIEs ở ngoài KCN và có xu hướng tăng Nhưng tiếp cận đối với toàn bộ FIE thì

vẫn cần phải nghiên cứu tiếp, hơn nữa nếu chỉ lấy nghiên cứu đó làm căn cứ để đánh

giá tác động tới CDCCKT đối với VKTTĐBB, với các dự án trong và ngoài các

KCN ở các địa phương thì các nghiên cứu trên chưa thỏa đáng

- Nghiên cứu của Nick J.Feeman: “20 năm ĐTNN tại Việt Nam: Một chặng

đường nhìn lại và hướng tới tương lai” đã phân tích dưới góc nhìn đa chiều về khu

vực kinh tế năng động - FIE của Việt Nam Nghiên cứu đã xem xét, phân tích các

chính sách của Chính phủ Việt Nam trong suốt 20 năm để tạo dựng nên một môi

trường đầu tư lành mạnh, bình đẳng và hấp dẫn Đồng thời, cũng chỉ ra một số vấn

đề bất cập của chính sách đối với FIE cần phải giải quyết, để có thể đạt được những

thành công hơn trong tương lai [89]

- Nghiên cứu của UNCTAD:“Báo cáo đánh giá chính sách đầu tư Việt Nam”

[59] Từ cách tiếp cận FDI là nguồn lực đầu tư phát triển để phân tích các xu hướng

về FDI và tác động của nó tới nền kinh tế Việt Nam; một số chính sách về sở hữu

nhà nước và các chức năng điều tiết của Nhà nước, việc hợp lý hóa và đơn giản hóa

về lợi ích khuyến khích tài chính đối với các loại thuế DN; đề xuất 13 nhóm chính

sách Tuy nhiên, báo cáo cũng mới chỉ đưa ra một số khuyến nghị về giải pháp chủ

quan từ tổng kết thực tế, chưa luận giải trên cơ sở khoa học

- Báo cáo đầu tư thế giới năm 2012 và 2013 - Towards A New Generation Of

Investment Policies (Định hướng một mô hình các chính sách mới trong đầu tư)

[170], Global Value Chains: Investment And Trade For Development (Chuỗi giá trị

toàn cầu: Phát triển đầu tư và thương mại) [171] đã chỉ ra những đóng góp tích cực

trong sự hợp tác giữa các DN nước ngoài và các nền kinh tế nước chủ nhà (Châu

Phi, Châu Á) trong điều kiện các VA thêm như: việc làm, thu nhập, thuế thu nhập,

xuất khẩu Gần 1/3 thu nhập từ FDI được tái đầu tư tại các nước chủ nhà, 2/3 còn

lại được mang về nước đầu tư Phần tái đầu tư tại các quốc gia đang phát triển là một

nguồn tài chính quan trọng Vấn đề nằm trong tối ưu hóa tác động tích cực và giảm

Trang 17

thiểu các tác động tiêu cực của FDI rất cần những khung pháp lý và chính sách của

nhà nước Tính hiệu quả của các chính sách thể hiện ở việc tối ưu hóa lợi ích và

giảm thiểu rủi ro giữa các bên

Nhiều quốc gia đã không ngừng tự do hóa và thúc đẩy FDI Nhưng xu hướng

dòng chảy FDI tiếp tục đổ vào các quốc gia có thu nhập thấp như Campuchia, Myanma

và Việt Nam…là vấn đề cần được quan tâm Nền kinh tế toàn cầu hiện nay được định

hình bởi các chuỗi giá trị, mà các loại hàng hóa, dịch vụ cơ bản được buôn bán theo quy

trình sản xuất phân tán trên toàn cầu Các chuỗi giá trị này được phối hợp bởi TNCs

Tuy nhiên, hoạt động của các chuỗi giá trị cũng không tránh khỏi những rủi ro và

những rủi ro này có thể được hạn chế bằng việc tạo ra nhiều hơn các giá trị

Do vậy, các nhà hoạch định chính sách cần tạo được một khung pháp lý vừa

thu hút FDI, bảo vệ được nhà đầu tư, người lao động và các bên liên quan, vừa giảm

thiểu được những rủi ro thông qua việc không ngừng đổi mới và cải tiến khoa học

kỹ thuật, chất lượng lao động và một thị trường cởi mở Trên hết, định hướng phát

triển bền vững luôn đi kèm với các mục tiêu trong các hoạt động FDI

1.1.2 Vai trò và tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với chuyển

dịch cơ cấu kinh tế

- Caves [154] khi nghiên cứu tổng hợp về các vấn đề thương mại quốc tế, đầu

tư quốc tế và thị trường hoàn hảo để nghiên cứu tác động tràn trong các ngành công

nghiệp chế tác ở Ô-xtrây-li-a chỉ ra rằng thị phần nước ngoài có tác động dương lên

năng suất các DN địa phương Sau đó, có rất nhiều các nghiên cứu tương tự về FDI

ở các nước đang phát triển gồm cả châu Á, Mỹ Latinh Blomstom và Worff với

nghiên cứu: “MNCS và hội tụ năng suất ở Mê-xi-cô” đã sử dụng phương pháp của

Caves và áp dụng cho ngành chế tác ở Mê- xi-cô và chỉ ra các tác động tích cực và

chỉ ra sự hội tụ năng suất giữa DN địa phương với FIES [153]

Aitken và Harrison, với câu hỏi: “Liệu các DN nội địa có thu được lợi ích từ

FDI?” đã sử dụng dữ liệu ở Venezuelea trong giai đoạn 1975-1989 và kiểm tra mối

quan hệ giữa thị phần và năng suất trong cả DN địa phương và FIES [151] Kết quả

chỉ ra rằng, các DN nội địa có mức năng suất, xuất khẩu, tiền lương thấp hơn các

FIES FDI có tác động âm lên năng suất các DN nội địa trong khi đó có tác động tích

cực lên các DN có sự tham gia của phía nước ngoài Hiệu ứng tác động lên các DN

địa phương không đáp ứng được kỳ vọng của nước chủ nhà

Kokko, sử dụng dữ liệu Mê-xi-cô để phân tích “các đặc tính về công nghệ, thị

trường và hiệu ứng tràn”, đã phát hiện sự hấp thụ công nghệ, tăng trưởng năng suất

Trang 18

trong các DN địa phương phụ thuộc vào đặc tính của từng ngành Ngành nào mà thị

phần nước ngoài quá lớn, nơi mà khả năng của DN địa phương yếu thì sẽ không có

hoặc rất khó tạo ra các hiệu ứng tràn về năng suất [163]

Các nghiên cứu về tác động của FDI ở các quốc gia đang phát triển chỉ ra

rằng: đây là một vấn đề quan trọng và thu hút được sự quan tâm rất lớn của các học

giả Nhập khẩu và chuyển giao công nghệ tạo ra tác động nhất định lên R&D và

năng suất của các địa phương Điều này hàm ý rằng, có thể có hiệu ứng tràn lên nền

kinh tế địa phương Tuy nhiên, mức độ của tác động tràn là không rõ ràng và kết

luận về đánh giá mức độ của hiệu ứng này là khác nhau trong các trường hợp

- Khi dòng vốn FDI vào một đất nước sẽ hình thành nên các FIES, trong quá

trình SX-KD sẽ có sự tương tác và nảy sinh các mối quan hệ và sự liên kết giữa các

DN địa phương và FIES Cohen[155] trong nghiên cứu: “MNCS và xuất khẩu của

các nước châu Á” ở Hàn Quốc, Đài Loan và Xin-ga-po, và Riedel [167] khi nghiên

cứu về các nhân tố quyết định của ĐTNN định hướng xuất khẩu ở Đài Loan đã phát

hiện rằng các FIES có tỷ lệ nhập khẩu đầu vào nhiều hơn các DN địa phương Kellar

[162] khi nghiên cứu về tác động của đầu tư tư nhân nước ngoài ở Ấn Độ đã chỉ ra

rằng, các FIES tập trung vào thị trường nội địa được phát hiện là phụ thuộc vào nhập

khẩu nhiều hơn các DN địa phương Subrahmanian và Pillai [169] khi nghiên cứu về

các MNCS và xuất khẩu ở Ấn Độ đưa ra kết luận tương tự Giải thích việc các FIES

có tỷ lệ nhập khẩu nguyên vật liệu cao hơn các DN địa phương, Jo [161khi nghiên

cứu về lĩnh vực ĐTNN ở Hàn Quốc, Newfarmer và Marsh [166], khi nghiên cứu sở

hữu nước ngoài, cấu trúc thị trường ở ngành công nghiệp điện tử Bra-xin cho rằng

đó là do các FIES thân thiết với nhà cung cấp nước ngoài và một điều rất quan trọng

là các nhà cung cấp địa phương không đáp ứng được yêu cầu của FIES

Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa chỉ rõ mức độ liên kết ở mức nào thì

hiệu quả để tận dụng triệt để lợi ích mà vốn FDI mang lại Với Việt Nam, các nghiên

cứu sắp tới cần tập trung hơn vào làm rõ mối liên kết giữa các DN nội địa và FIES

như cơ chế hình thành các mối liên kết, mức độ liên kết, hiệu quả của các mối liên

kết Đưa ra các chính sách phát triển các ngành một cách đồng bộ, có sự phối hợp

chặt chẽ và hiệu quả của DN và giữa các ngành trong CDCCKT

1.1.3 Mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Lý luận kinh tế học Mác xít:

+ Theo tác giả Mai Ngọc Cường [56]: Chuyển dịch CCKT được C.Mác đề cập

chủ yếu trong học thuyết về phân công lao động và tái sản xuất xã hội C.Mác cho

Trang 19

rằng: cơ cấu chuyển hóa giá trị thặng dư thành lợi nhuận bình quân, sự cạnh tranh

trong nội bộ và các ngành sẽ dẫn tới sự dịch chuyển các nguồn lực đầu tư (tư bản) vào

các ngành theo quan hệ cung cầu và việc tối đa hóa lợi nhuận Sự khác nhau về tốc độ

tăng trưởng của các ngành dẫn đến sự khác nhau về tỷ trọng, thị phần và nguồn lực sử

dụng Quá trình điều chỉnh theo cơ cấu mới quyết định hiệu quả sử dụng nguồn lực và

khả năng cạnh tranh của ngành Mô hình điều chỉnh cơ cấu cũng được xem xét trong

sơ đồ tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng của xã hội Trong đó, theo các

ngành sản xuất tư liệu sản xuất phải tăng nhanh hơn các ngành sản xuất để sản xuất

hàng tiêu dùng và các ngành sản xuất tư tiệu sản xuất để sản xuất tư liệu tiêu dùng

phải tăng nhanh hơn các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng Quá trình tiêu dùng đến

lượt nó, lại tạo ra thị trường và động lực để thúc đẩy sự phát triển của sản xuất

Quá trình biến đổi cấu trúc bên trong của nền kinh tế dưới góc độ sản xuất,

dẫn đến sự phân bổ nguồn lực và sự di chuyển nguồn lao động xã hội từ khu vực có

NSLĐ thấp, VA thấp sang các ngành có NSLĐ cao và những khâu có VA cao

+ V.I Lê nin với quan điểm nền KT-XH dựa trên chế độ công hữu về tư liệu

sản xuất được đề cập trong “Chính sách kinh tế mới” với chủ trương phát triển kinh

tế hàng hóa nhiều thành phần, trong đó sử dụng rộng rãi các hình thức kinh tế quá

độ Tuy nhiên sau này các nước XHCN thường áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch

hóa tập trung, phủ nhận KTTT Điều này đã làm giảm sút động lực cạnh tranh và

giảm hiệu quả của CDCKT [dẫn theo 67]

Với kinh tế học Mác xít, quá trình CDCCKT đạt hiệu quả khi có sự chín muồi

của các tiền đề: sự hình thành của khu vực thành thị và nông thôn có mối quan hệ

khăng khít, trong đó nông thôn chủ yếu sản xuất nông nghiệp và thành thị có các

hoạt động chủ yếu về công nghiệp, thương mại và dịch vụ Số lượng và mật độ dân

cư cần phù hợp, nếu không sẽ làm mất cân đối sự phát triển; NSLĐ xã hội phải được

nâng cao Ngoài ra, cần quan tâm tới các vấn đề như: thể chế kinh tế phải rõ ràng,

minh bạch chế độ sở hữu, khả năng toàn dụng lao động

- Lý luận kinh tế học trào lưu chính: Trong những năm 1960-1970, đã diễn ra

sự xích lại gần nhau của trường phái “Keynes chính thống”, “Keynes mới” và “Cổ

điển mới” để hình thành “kinh tế học của trường phái chính” Mặc dù, CDCCKT

không phải là trọng tâm nghiên cứu, nhưng để duy trì hiệu quả của nền kinh tế cần

sự ổn định của kinh tế vĩ mô và vai trò của nhà nước Những phân tích về xu hướng

CDCCKT của nền kinh tế chịu sự tác động của cách mạng khoa học, công nghệ và

xu hướng toàn cầu hóa Biện pháp can thiệp của nhà nước thông qua các chương

Trang 20

trình điều chỉnh CCKT Các công cụ phân tích động thái tăng trưởng và CDCCKT

được trường phái này sử dụng một cách phổ biến trong lý thuyết phát triển

- Lý luận về các giai đoạn phát triển:

+ Theo tác giả Ngô Doãn Vịnh [150]: nhà kinh tế học người Mỹ W.Rostow

đã đưa ra lý thuyết cất cánh nhằm nhấn mạnh các giai đoạn tăng trưởng kinh tế, với

5 giai đoạn: xã hội truyền thống, chuẩn bị cất cánh, cất cánh, tăng trưởng và mức

tiêu dùng cao Quan điểm này cho rằng: nền kinh tế phát triển theo xu hướng chuyển

dịch từ thời kỳ nông nghiệp truyền thống sang thời kỳ nông - công nghiệp, công -

nông nghiệp và dịch vụ và thời kỳ công nghiệp phát triển mạnh Một nước muốn

chuyển sang nước công nghiệp phát triển, trong đó tỷ trọng nông nghiệp chiếm

khoảng 10-15%, công nghiệp 35-40%, dịch vụ 50-60% (xem phụ lục 1.1)

+ D.Bell trong “Sự xuất hiện của xã hội hậu công nghiệp: hướng đến một dự

đoán xã hội”, cho rằng: “chủ nghĩa phong kiến”, “tư bản chủ nghĩa” là sơ đồ khái

niệm tiến hóa trong hệ thống chủ nghĩa Mark, sơ đồ xoay quanh cái lõi là quan hệ sở

hữu “Xã hội tiền công nghiệp”, “xã hội công nghiệp” và “xã hội hậu công nghiệp”

là sơ đồ xoay quanh cái lõi là sản xuất và hình thức sử dụng tri thức [dẫn theo 56]

+ Tatyana P.Soubbotina đã làm sáng tỏ thêm lý thuyết các giai đoạn phát triển

và cho rằng: tất cả các nền kinh tế đều phải trải qua 3 giai đoạn phát triển: nông

nghiệp, công nghiệp và hậu công nghiệp (xem phụ lục 1.2)

+ Ngân hàng Thế giới: quá trình phát triển kinh tế có thể chia thành các giai đoạn:

đói nghèo, CNH, phát triển tiêu thụ CDCCKT là một nội dung trụ cột phản ánh mức độ

phát triển của nền kinh tế Đằng sau các mối quan hệ là phản ánh giữa CDCCKT và ô

nhiễm môi trường CCKT các ngành ảnh hưởng đến nhịp tăng trưởng kinh tế và nhịp

tăng trưởng của các ngành cũng ảnh hưởng tới nhịp độ tăng trưởng chung của GDP[1]

Chất lượng và cơ cấu đầu tư là nội dung quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và chất

lượng của CDCCKT Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế cao sẽ có khả năng tăng mức tích

lũy để đầu tư cải tạo CCKT theo hướng hiện đại và hiệu quả Sự hợp lý của CCKT bảo

đảm cho tăng trưởng nhanh và bền vững [dẫn theo, 107, tr.33-35]

Nói tóm lại, các nghiên cứu trên đã đem lại cái nhìn khái quát về FDI; về FDI

với CCKT trong từng giai đoạn khác nhau của các địa phương ở nước sở tại Trong

giai đoạn đầu, FDI tập trung chủ yếu vào các ngành khai thác tài nguyên, sản xuất

1 Mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và CDCCKT được thể hiện qua công thức: YR=∑SY1 * YR i

(I = i….I) Trong đó: YR: nhịp độ tăng trưởng của GDP; YR i : Nhịp tăng trưởng của ngành I;

SY : Tỷ trọng của ngành I trong ∑ GDP

Trang 21

thay thế nhập khẩu nhưng càng về sau có sự dịch chuyển sang các ngành khác đặc

biệt là các ngành công nghệ cao, ngành, lĩnh vực mà địa phương có lợi thế xuất khẩu

với VA cao; các yếu tố tác động tới FDI với một tập hợp phức tạp, đòi hỏi các nước

thu hút đầu tư cần nghiên cứu để có chính sách phù hợp, phát huy hiệu quả tối đa

FDI phục vụ cho tăng trưởng, cho CDCCKT và phát triển theo hướng bền vững

trong tình hình cạnh tranh gay gắt về FDI và những biến đổi trong dòng chảy FDI

1.2 CÁC NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC CÓ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN

1.2.1 Chính sách và giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

- “Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút FDI ở Việt Nam” do Mai Ngọc

Cường (chủ biên) [49] từ cách tiếp cận dưới góc độ tổ chức và quản lý, tác giả đã

nghiên cứu tổng quát về hoạt động FDI của Việt Nam từ khi có Luật ĐTNN với

những đánh giá bước đầu Trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện chính

sách và tổ chức thu hút FDI ở Việt Nam Tuy nhiên, nghiên cứu mới tập trung vào vai

trò, tác động của FDI đối với nền kinh tế “đóng” Việt Nam Những đề xuất, kiến nghị

như: thực hiện phân cấp việc cấp phép đầu tư, giải quyết những vấn đề sở hữu, sử

dụng đất đai, những ưu đãi về tài chính, về chính sách tiền lương của người lao động

trong các FIES tăng cường thu hút FDI ở mức độ giản đơn Hơn nữa, việc nghiên

cứu ở phạm vi cả nước, với thời gian ngắn, một số vấn đề không còn phù hợp Nó chỉ

có ý nghĩ tham khảo cho việc việc thu hút vốn FDI ở VKTTĐBB hiện nay

- Đề tài:“Chiến lược đổi mới chính sách huy động các nguồn vốn nước ngoài

phục vụ sự nghiệp phát triển KT-XH giai đoạn 2001-2010” do Trương Thái Phiên

làm chủ nhiệm [93] đã đưa ra các giải pháp chủ yếu thu hút nguồn vốn FDI như: đổi

mới cơ cấu FDI nhằm CDCCKT, nâng cao chất lượng xây dựng quy hoạch đối với

FDI; hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách quản lý nhằm cải thiện môi

trường ĐTNN, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải tiến công tác tổ chức bộ

máy quản lý, phân cấp và cơ chế thu hút vốn, nâng cấp cơ sở hạ tầng, thúc đẩy hoạt

động hỗ trợ, xúc tiến FDI, tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, nâng cao chất

lượng đào tạo nguồn nhân lực FDI

- Đề tài “Xây dựng lộ trình thu hút vốn FDI vào Việt Nam giai đoạn 2003-

2010”(2000), do Nguyễn Ngọc Định làm chủ nhiệm [64] Vấn đề cơ bản được phân

tích là các nguyên nhân gây ra sự giảm sút vốn FDI tại Việt Nam trong thời gian qua,

qua đó đề ra các giải pháp tăng cường thu hút vốn FDI theo những lộ trình được xây

dựng từ 2003-2010 Giai đoạn 1, xây dựng pháp luật đầu tư thống nhất và đồng bộ,

ban hành luật chống phá giá, chống độc quyền, điều chỉnh những văn bản có liên quan

Trang 22

đến hoạt động quản lý nhà ĐTNN Tiến hành cổ phần hóa các FIES tại Việt Nam, cải

tiến thủ tục hành chính, xây dựng hệ thống thông tin Giai đoạn 2, với những giải

pháp như xây dựng những khu kinh tế tập trung, kinh tế mở, định hướng và nâng cao

hiệu quả sử dụng vốn FDI Giai đoạn 3, những giải pháp như: cơ sở hạ tầng, môi

trường đầu tư ổn định, tiếp tục duy trì và phát triển những chính sách ưu đãi đối với

hoạt động đầu tư, có chính sách trong tiếp cận vào thị trường vốn quốc tế…

- Nguyễn Thị Kim Nhã “Giải pháp tăng cường thu hút FDI ở Việt Nam” [91]

đã phân tích bức tranh về thu hút FDI ở Việt Nam giai đoạn 1998-2005; chỉ ra các

nguyên nhân ảnh hưởng tới các mặt thành công và hạn chế hoạt động thu hút FDI

tại Việt Nam Nêu rõ các vấn đề cần tiếp tục xử lý để tăng cường thu hút FDI Điểm

mới của luận án là khi tính lượng vốn FDI chỉ tính phần vốn đưa vào từ bên ngoài

vào và luận giải một cách khoa học khái niệm “Hiệu quả các dự án FDI đã triển

khai” - một nhân tố tác động đến thu hút FDI của một quốc gia

- “Về chính sách khuyến khích đầu tư ở Việt Nam” do Trần Thị Minh Châu -

chủ biên, đã phân tích “tổng thể chính sách khuyến khích đầu tư trong và ngoài

nước của Nhà nước”[53] Nghiên cứu tập trung làm rõ: cơ sở lý luận của chính sách

khuyến khích đầu tư của Nhà nước trong nền kinh tế ở Việt Nam; phân tích đánh giá

thực trạng chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà nước; đề xuất một số định

hướng và giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách khuyến khích đầu tư

Tuy nhiên, những nghiên cứu cũng chưa đưa ra và làm rõ cơ sở khoa học để hoàn

thiện hệ thống chính sách, ít đi sâu với những đặc thù riêng biệt của FIE; nội hàm

nghiên cứu về chính sách vẫn thiên về nhằm “thu hút đầu tư” là chủ yếu

- Vương Đức Tuấn trong “Hoàn thiện cơ chế chính sách thu hút FDI ở thủ

đô Hà Nội trong giai đoạn 2001-2010” đã hệ thống hoá và phân tích những vấn đề

lý luận và thực tiễn, trên cơ sở phân tích thực trạng từ đó chỉ ra những hạn chế tồn

tại cần phải hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút FDI của Việt Nam và Hà Nội Đặc

biệt là đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tăng

cường thu hút FDI vào Hà Nội đến năm 2020…[114]

- Hà Thanh Việt trong “Thu hút vốn FDI trên địa bàn Duyên hải miền Trung”

đã phân tích luận giải về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút và sử dụng

hiệu quả vốn FDI trên một vùng kinh tế; khái quát được bối cảnh KT-XH của vùng

Duyên hải miền Trung và nhấn mạnh đến tầm quan trọng của vốn FDI trên cơ sở

phân tích đánh giá thực trạng về hiệu quả thu hút và sử dụng vốn FDI tại vùng và

Trang 23

những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên Từ đó, đề ra các nhóm giải

pháp chung và đặc thù áp dụng riêng cho vùng Duyên hải miền Trung [142]

- Đinh Văn Ân và Nguyễn Thị Tuệ Anh với nghiên cứu “Thực hiện FDI sau

khi Việt Nam gia nhập WTO Kết quả điều tra 140 FIEs”[3] đã nghiên cứu về “FDI

sau khi Việt Nam gia nhập WTO – Những yếu tố ảnh hưởng thực hiện dự án” trong

năm 2007 Tiếp cận FIE từ hoạt động của các dự án đầu tư, nhận dạng một số yếu tố

ảnh hưởng đến triển khai thực hiện của dự án đầu tư sau khi Việt Nam gia nhập

WTO Nghiên cứu mới chỉ tập trung vào nhận dạng 2 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến

việc thực hiện dự án FDI là: 1) nhóm yếu tố đến từ việc thực hiện cam kết WTO và

2) Một số yếu tố nội tại của nền kinh tế, ảnh hưởng đến triển khai thực hiện dự án và

thực hiện SX-KD của FIEs Một số kiến nghị chính sách mà nghiên cứu đưa ra chỉ

trên cơ sở nghiên cứu ở một số ngành cụ thể sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp khi Việt

Nam thực hiện cam kết WTO và thực hiện dự án đầu tư của các FIEs

- Đề tài “Thu hút vốn nước ngoài ở các nước đang phát triển và bài học cho

Việt Nam”[133] do Nguyễn Thị Thư làm nhiệm đã chỉ ra rằng: Dòng vốn nước

ngoài vào các nước đang phát triển theo xu hướng tăng lên là do cải cách kinh tế tại

các nước đó, do kinh tế thế giới tăng trưởng cao hơn thời kỳ trước, giá nguyên liệu

thế giới tăng, lãi suất ở các nước đang phát triển tăng… Cơ cấu dòng vốn FDI vào

các nước đang phát triển đã và đang thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng của khu vực

dịch vụ (bao gồm cả các hoạt động nghiên cứu và triển khai) Kiến nghị Việt Nam

cần đổi mới chính sách thu hút vốn FDI theo mục tiêu tập trung, phát triển cơ sở hạ

tầng, tăng cường thể chế, đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN, cải thiện môi trường kinh

doanh, hoàn thiện thị trường chứng khoán, đổi mới hệ thống các tổ chức tín dụng trong

nước, giám sát chặt và điều tiết thận trọng các dòng vốn ngắn hạn nước ngoài Tuy

nhiên, đề tài chỉ xoay quanh vấn đề làm thế nào để thu hút vốn FDI, còn thu hút để làm

gì? hiệu quả như thế nào cần được tiếp tục nghiên cứu

- Ngô Thu Hà trong luận án “Chính sách thu hút vốn ĐTNN vào Trung Quốc và

khả năng vận dụng tại Việt Nam”[67] đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận về

ĐTNN và chính sách thu hút vốn ĐTNN, phân tích thực trạng chính sách thu hút vốn

ĐTNN của Trung Quốc và rút ra bài học góp phần vào sự lựa chọn bước đi ngắn nhất

và đề xuất một số giải pháp cho chính sách thu hút vốn ĐTNN của Việt Nam

- Trần Quang Nam trong “Cơ sở khoa học hoàn thiện chính sách Nhà nước

đối với FIE ở Việt Nam” [84] đã tập trung đi sâu phân tích chính sách đối với FIE và

tiếp cận chính sách nhà nước với tư cách là công cụ quản lý kinh tế vĩ mô nhằm thực

Trang 24

hiện mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững Cụ thể: làm rõ cơ sở của việc hoàn

thiện chính sách của Nhà nước trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tổng kết kinh

nghiệm của một số nước trong khu vực; đánh giá thực trạng chính sách đối với FIE

ở Việt Nam, chỉ ra những thành tựu và hạn chế cùng nguyên nhân; đề xuất phương

hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện chính sách để phát triển FIE

1.2.2 Vai trò đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế

- Đề tài KX 01.05 “Khu vực FIE: Vị trí vai trò của nó trong nền KTTT định

hướng XHCN ở Việt Nam”, do Nguyễn Bích Đạt làm chủ nhiệm đã tiếp cận FIE với

tư cách là TPKT Tổng kết, đánh giá thực tiễn của Việt Nam để làm rõ bản chất, vị

trí, vai trò của FIE và mối quan hệ của nó với các TPKT khác; đưa ra kiến nghị

chính sách và giải pháp phát huy vị trí, vai trò của khu vực FIE phục vụ cho quá

trình CNH, HĐH phù hợp với yêu cầu phát triển KTTT định hướng XHCN ở Việt

nam Nghiên cứu chưa xem xét chính sách đối với FIE một cách hệ thống, toàn diện,

và xác định đây là “nguồn lực quan trọng” trong phát triển KT-XH [62]

- Công trình: “FIE trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay:

thực trạng và triển vọng” đề tài cấp bộ do Trần Quang Lâm làm chủ nhiệm đề tài

[79] hay “FIE ở Việt nam hiện nay” của Trần Quang Lâm và An Như Hải đồng chủ

biên [80] Có thể coi đây là các công trình nghiên cứu toàn diện đánh giá về tầm

quan trọng của FDI với tư cách đây là một TPKT, khu vực kinh tế trong nền KTTT

định hướng XHCN ở Việt Nam; phân tích thực trạng hình thành, phát triển và vai trò

của các FIES; khái quát về mặt lý luận về FIE, chỉ ra xu hướng vận động phát triển

của nó Tuy nhiên, các phân tích đi tương đối sâu về “kinh tế vi mô”; các quan điểm,

giải pháp nhằm phát triển và sử dụng có hiệu quả FIE thiên về những giải pháp

mang tính kỹ thuật ít liên quan tới chính sách

- Nghiên cứu của Lê Xuân Bá và Nguyễn Thị Tuệ Anh về “Tác động của FDI

tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” đã sử dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá

tác động của FDI đến một số ngành kinh tế ở Việt Nam và đã phát hiện ra một số

vấn đề về tác động tràn của FDI Đề tài đã đưa ra những kiến nghị quan trọng là tạo

cơ hội cho việc xuất hiện tác động tràn và tăng khả năng hấp thụ của các tác động

tràn tích cực của FDI đối với các DN trong nước Tuy nhiên, vai trò và tác động của

FDI đến CDCCKT chưa được nghiên cứu sâu, đầy đủ và có tính hệ thống, đặc biệt

chưa đề cập đến vấn đề này đối với VKTTĐBB [4]

- Vũ Văn Hưởng trong“Tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế: Nhìn từ

mô hình kinh tế lượng” [74] đã sử dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá tác động

Trang 25

của FDI đến GDP bình quân đầu người và đến xuất khẩu Công trình đã đưa ra kết

luận rằng, tỷ lệ vốn FDI trên tổng số vốn đầu tư toàn xã hội có tác động tích cực đến

GDP/người và vốn FDI cũng tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu ở nước ta

- Nguyễn Quang Hồng cho rằng: đóng góp lớn nhất của FDI đối với các quốc

gia đang phát triển, bởi công nghệ và kỹ năng quản lý hiện đại không chỉ nằm lại

trong các FIES mà còn có tác động lan toả sang các DN nội địa thông qua chuyển

giao công nghệ, di chuyển lao động, quá trình cạnh tranh và đặc biệt là thông qua

quá trình liên kết sản xuất công nghiệp phụ trợ Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam mối

liên kết giữa các FIES và các DN nội địa chưa được như mong đợi [73]

- Trần Minh Tuấn trong “Tác động của FDI đối với kinh tế Việt Nam trong

những năm qua” đã thừa nhận tính hai mặt của FDI đối với phát triển kinh tế: một

mặt, FDI có đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy CDCCKT, tăng

vốn đầu tư, tăng thu ngân sách nhà nước; năng lực sản xuất, tăng kim ngạch xuất

khẩu; tạo việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; thúc đẩy chuyển giao công

nghệ Bên cạnh đó, FDI cũng gây ra không ít tác động tiêu cực như: hiện tượng

chuyển giá; nhiều FIES không thực hiện cam kết xuất khẩu hàng hoá, chuyển sang tiêu

thụ nội địa dẫn đến tình trạng thâm hụt thương mại; nhiều dự án FDI có trình độ công

nghệ trung bình thậm chí thấp, không thực hiện được mục tiêu chuyển giao công nghệ

và FDI đang có nguy cơ làm trầm trọng hơn tình trạng ô nhiễm môi trường [113]

- Nguyễn Phú Tụ và Huỳnh Công Minh trong “Mối quan hệ giữa FDI với tăng

trưởng kinh tế của Việt Nam” [109] đã kiểm định mối quan hệ hai chiều giữa vốn FDI

và tăng trưởng kinh tế tại các tỉnh với nguồn dữ liệu chéo, với các biến được lấy giá trị

trung bình từ năm 2003-2007 Mối quan hệ này được kiểm định thông qua ước lượng

một mô hình kinh tế lượng với hai phương trình tăng trưởng kinh tế và vốn FDI, với

việc sử dụng đồng thời cả ba phương pháp là OLS, TSLS và GMM Kết quả ước lượng

đã cho thấy, FDI và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ và đây là dấu hiệu tích cực để

tăng cường thu hút ĐTNN Tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế lại phụ thuộc vào

khả năng hấp thụ của nền kinh tế Để nâng cao năng lực thu hút FDI, cần tiếp tục đổi

mới chính sách, cải thiện môi trường kinh doanh, pháp lý… tạo sức hấp dẫn trước làn

sóng cạnh tranh thu hút FDI của các quốc gia thời kỳ hậu khủng hoảng

- Đỗ Đức Bình trong “Tái cơ cấu FDI tại Việt Nam” đã phân tích thực trạng

FDI của Việt Nam từ 2007-2009 và đề xuất nhằm tái cơ cấu FDI tại Việt Nam Theo

tác giả, cơ cấu FDI tại Việt Nam phải phù hợp với sự phát triển, hạn chế khai thác

tài nguyên, nhất là những loại tài nguyên không thể tái tạo; cần hướng mạnh FDI

Trang 26

vào lĩnh vực nông nghiệp; thu hút FDI phải gắn với hiệu quả FDI, với bảo vệ môi

trường; tái cơ cấu FDI phải gắn với yêu cầu nâng cao mức độ và hiệu quả tham gia

của Việt Nam vào mạng lưới sản xuất, phân phối và giá trị toàn cầu; tái cơ cấu FDI

phải gắn với việc điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH [10]

- Các nghiên cứu bàn về đời sống, việc làm của người lao động, các chính

sách, pháp luật lao động hiện hành, từ đó, đề xuất kiến nghị các giải pháp nhằm điều

chỉnh, bổ sung cho phù hợp như: “Một số vấn đề về việc tham gia bảo hiểm xã hội

của các DN ở Việt Nam” của Mạc văn Tiến [124], hay “Việc làm và đời sống của

người lao động trong các FIE S ”, của Nguyễn Tiệp [125]…

- Các nghiên cứu về “Tác động của FDI tới môi trường nước ta: Những điều

rút ra từ một cuộc điều tra”, của Đặng Thị Thu Hoài và Vũ Xuân Nguyệt Hồng [72],

hay các bài như: “Chống chuyển giá và một số vấn đề tài chính liên quan đến FDI”

của Vũ Đình Ánh [3], hoặc “Chống chuyển giá đối với các FIE S ” của Nguyễn Đình

Tài [103]… đã chỉ ra hành vi chuyển giá của các FIES là do xuất phát từ động cơ tối

đa hóa lợi nhuận của DN; quyền tự do quyết định giá trong các giao dịch của các DN;

sự khác biệt về môi trường đầu tư, về chính sách, pháp luật, thể chế giữa các quốc

gia, Thủ thuật chuyển giá điển hình của các FIES là: 1) Bóp méo giá đầu vào bằng

cách nâng các chi phí như tiền lương, quản lý, khấu hao tài sản, lãi tiền vay, giá nhiên

nguyên vật liệu, chi phí bán hàng, quảng cáo gây ra tình trạng “lỗ giả, lãi thật”, để

không phải thực hiện nghĩa vụ thuế; 2) Bóp méo đầu ra bằng cách bán hàng hóa cho

DN cùng nhóm lợi ích với giá thấp hơn thị trường, thậm chí bán dưới giá thành khi

DN mua hàng hóa được hưởng chính sách ưu đãi về thuế… Đã gây tác động xấu về

nhiều mặt như: thất thu cho ngân sách nhà nước; méo mó môi trường kinh doanh; gây

bất lợi, thậm chí thôn tính các DN trong nước; hay tình trạng nhập siêu tăng cao do số

lượng ngoại tệ dùng để nhập khẩu nguyên vật liệu luôn lớn hơn số ngoại tệ thu về khi

xuất khẩu sản phẩm, vì giá bán ra thấp hơn giá đầu vào Do vậy, vấn đề đặt ra là phải

kiểm soát và hạn chế hiện tượng chuyển giá và trốn thuế của các FIES tại Việt Nam

1.2.3 Đánh giá hiệu quả và định hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Nghiên cứu của Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thường Lạng, về “Những vấn đề

KT-XH nảy sinh trong FDI: kinh nghiệm Trung Quốc và thực tiễn Việt Nam”[10]

Từ cách tiếp cận FIE với tư cách là hình thức đầu tư quốc tế đã phân tích một số vấn

đề KT-XH nảy sinh trong thu hút FDI ở Việt Nam Các tác giả đã đưa ra một số giải

pháp nhằm làm tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư tại Việt Nam Tuy nhiên,

nghiên cứu này mới dừng lại ở việc đưa ra các giải pháp xử lý một số vấn đề

Trang 27

XH nảy sinh trong giai đoạn trước khi Việt Nam gia nhập WTO Những vấn đề phát

sinh sau khi gia nhập WTO mà các chính sách phải can thiệp giải quyết như: môi

trường, quyền của người lao động phải được đảm bảo theo tiêu chí WTO, điều tiết

FDI…ít được đề cập tới Nghiên cứu mới chỉ dựa trên kinh nghiệm của Trung Quốc,

do vậy phạm vi nghiên cứu có thể chưa đủ để có tính đại diện trong so sánh

- Nguyễn Trọng Hải trong luận án“Vận dụng một số phương pháp thống kê

phân tích hiệu quả kinh tế FDI tại Việt Nam” đã hệ thống hoá và hoàn thiện hệ

thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế FDI, phương pháp tính cho một số chỉ tiêu hiệu quả

toàn bộ và hiệu quả gia tăng của FDI, từ đó đề xuất các kiến nghị có tính khả thi

nhằm nâng cao chất lượng công tác thống kê phân tích hiệu quả kinh tế FDI và tăng

cường hiệu quả kinh tế FDI tại Việt nam [69]

- Lê Quốc Hội trong “Lan tỏa công nghệ từ FDI ở Việt Nam: Ước lượng và

kiểm định ngành công nghiệp chế biến” đã sử dụng mô hình phân tích định lượng để

kiểm định sự lan toả công nghệ từ FDI ở ngành công nghiệp chế biến Việt Nam Kết

quả cho thấy sự tham gia của các FIES có tác động tích cực, lan toả theo chiều dọc

tới các DN trong ngành…Tuy nhiên, kết quả ước lượng lại cho thấy không có tác

động của lan toả theo chiều ngang, mà ngược lại, sự có mặt của FIES lại gây tác

động tiêu cực tới DN trong nước ở cùng một ngành Giữa FIES và DN trong nước

muốn có sự lan toả cần liên kết sản xuất và mức độ của sự lan toả và khả năng hấp

thụ công nghệ của các DN trong nước [73]

- Nguyễn Minh Tuấn trong“Tác động ngược của hoạt động ĐTNN tới sự phát

triển bền vững ở Việt Nam”[130], hay nghiên cứu “Đánh giá chính sách khuyến

khích FDI trên quan điểm phát triển bền vững ở Việt Nam” được thực hiện trong

khuôn khổ dự án hỗ trợ xây dựng và thực hiện Chương trình VIE/01/021[22] đã thừa

nhận những đóng góp tích cực của FDI đối với KT-XH Tuy nhiên cũng có những

tác động ngược hay các xung đột nhất là về xã hội và môi trường, dù là trực tiếp hay

gián tiếp các vấn đề này không phải là cái giá phải trả để thu hút FDI Nguyên nhân

chủ yếu do trong thời gian qua chưa được các cơ quan quản lý nhà nước và nhà đầu

tư quan tâm một cách đúng mức, lợi ích ngắn hạn còn được coi trọng hơn lợi ích dài

hạn Vì vậy, để phát huy hiệu quả của FDI và không phải trả giá đắt về lâu dài cần

phải có cách tiếp cận FDI theo hướng phát triển bền vững

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư với đề tài:“Đánh giá thực trạng FDI ở Việt Nam và

định hướng đến năm 2020”[23] đã cho rằng sau 25 năm Luật ĐTNN đi vào hoạt

động, bên cạnh những vai trò tích cực, luật này đã bộc lộ nhiều bất cập, đòi hỏi phải

Trang 28

có sự điều chỉnh về chính sách sao cho phù hợp với xu thế phát triển Trên cơ sở đánh

giá thực trạng thu hút và quản lý hoạt động FDI của Việt Nam trong những năm qua,

đề án đã đề xuất những định hướng FDI đến năm 2020: Về thu hút FDI, định hướng

trong thời gian tới sẽ coi trọng hơn đến cơ cấu và chất lượng, hướng tới sự bền vững;

Về mặt quản lý FDI, đề xuất thành lập một Ban chỉ đạo nhà nước về FDI

- Nguyễn Xuân Trung với “Nâng cao chất lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài

tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020” đã phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng

FDI của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2010, theo tiêu chí phát triển bền vững,

công trình đã đưa ra những quan điểm chiến lược về FDI, những yêu cầu và những

giải pháp nâng cao chất lượng FDI tại Việt Nam và cho rằng: cần có FDI có chất

lượng và đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững của nước tiếp nhận đầu tư

theo hướng hiện đại, phù hợp với trình độ phát triển và mục tiêu cụ thể [134]

1.2.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tác động của đầu tư trực tiếp nước

ngoài tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Lê Du Phong và Nguyễn Thành Độ với “CDCCKT trong điều kiện hội nhập

với khu vực và thế giới”[96] đã đề cập tới luận cứ khoa học của CDCCKT theo

hướng hội nhập, thực trạng CDCCKT theo ngành ở nước ta những năm 1991-1997,

thực trạng CDCCKT một số vùng, phương hướng và giải pháp CDCCKT nước ta

theo hướng hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới Vai trò của FDI

với CDCCKT nói chung không được đề cập nhiều ở đây Giai đoạn mà các tác giả

đề cập trong điều kiện Việt Nam chưa hội nhập sâu rộng, tác động của FDI chưa

nhiều, chưa đề cập và được áp dụng đối với VKTTĐBB

- “Mấy vấn đề về CDCCKT ở Việt Nam” của Nguyễn Quang Thái [106] đã

nêu quan niệm về sự phát triển biện chứng trong tư duy kinh tế về CDCCKT với 10

điểm đánh giá CDCCKT theo ngành trong thời kỳ đổi mới; nêu ra một số vấn đề lý

luận và thực tiễn đòi hỏi tập trung sức nghiên cứu Tác giả đã chỉ ra CDCCKT theo

ngành và đánh giá rằng tốc độ CDCCKT Việt Nam qua 18 năm nhanh hơn tốc độ

CDCCKT của Đài Loan và Hàn Quốc trong thời kỳ đầu CNH Tuy nhiên, trong đề

tài không thấy tác giả đề cập đến vai trò của vốn FDI đến CDCCKT

- Tạ Đình Thi với luận án“CDCCKT trên quan điểm phát triển bền vững của

VKTTĐBB - Việt Nam”[110] đã đưa ra các quan điểm, phương pháp tiếp cận vấn đề

CDCCKT trên quan điểm phát triển bền vững của VKTTĐBB như: đã hệ thống hóa và

vận dụng vào điều kiện Việt Nam, trực tiếp là VKTTĐBB với những vấn đề về lý luận

và thực tiễn đối với CCKT và CDCCKT, phát triển bền vững; Phân tích đánh giá sự

Trang 29

phát triển bền vững của CDCCKT của VKTTĐBB trên cả 3 mặt KT-XH và môi trường

trong thời gian gần đây và dự báo tới năm 2020 Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất các

giải pháp bảo đảm CDCCKT trên quan điểm phát triển bền vững của VKTTĐBB

- Phạm Thị Khanh và các cộng sự trong“CDCCKT theo hướng phát triển bền

vững ở Việt Nam”[79] đã phân tích và khẳng định: CDCCKT theo hướng phát triển

bền vững là yêu cầu khách quan; qua việc phân tích thực trạng cuốn sách đã nhấn

mạnh các kết quả của CDCCKT là một mắt khâu cực kỳ quan trọng góp phần không

nhỏ vào thành tựu trong tăng trưởng cao, liên tục và dài hạn của Việt Nam, tạo tiền đề

vật chất trực tiếp, thực hiện cân đối vĩ mô, giảm bớt những căng thẳng trong thu - chi

ngân sách nhà nước, thực hiện được mục tiêu chiến lược phát triển theo hướng bền

vững Đồng thời, các tác giả cũng đã đưa ra những quan điểm, định hướng và các giải

pháp nhằm đẩy mạnh CDCCKT theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam Nhưng

chưa đi sâu phân tích tác động của FDI với CDCCKT để xem xét VKTTĐBB

- Bùi Thúy Vân với đề tài “FDI với việc CDCC hàng xuất khẩu ở vùng Đồng

bằng Bắc Bộ” [142] đã vận dụng lý luận để phân tích thực tiễn hiện trạng tác động

của FDI đến việc CDCC hàng xuất khẩu cả về số lượng và chất lượng của vùng; tính

toán định lượng các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cũng như mô hình để kiểm chứng

của cơ cấu hàng xuất khẩu của vùng Đồng bằng Bắc Bộ; đưa ra lộ trình CDCC hàng

xuất khẩu, định hướng thu hút FDI và các giải pháp để phát huy tốt nhất vai trò của

FDI để đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu Những vấn đề của

luận án có thể tham khảo như: vai trò của FDI, định hướng phát triển vùng…

1.2.5 Vùng kinh tế trọng điểm và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

- “Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng cơ chế phối hợp giữa các tỉnh, thành

phố trong VKTTĐBB” [87] do Lê Văn Nắp làm chủ nhiệm đề tài đã phân tích:

Thứ nhất, đánh giá vị trí, vai trò và thực trạng phát triển KT-XH của VKTTĐ

Xác định mô hình điều hành cho các VKTTĐ Từ thực tiễn của VKTTĐBB, đòi hỏi

phải xây dựng cơ chế phối hợp giữa các địa phương trong vùng như: giao thông, ô

nhiễm các dòng sông, xử lý chất thải Về lý luận thì mỗi tỉnh đều bình đẳng và

tương đương nhau trong điều phối Tổ chức điều phối không phải là một cơ quan

hành chính, do đó những quyết định chỉ là những ý kiến tham mưu Cần có một quy

chế phối hợp giữa các tỉnh/thành phố đề xuất với Chính phủ và những quyết định về

hoạt động của vùng phải mang tính pháp lý

Thứ hai, với đặc thù của các VKTTĐ, cần có một số biện pháp nhằm phát

triển các VKTTĐ để thực sự đóng vai trò đầu tàu Cơ chế phối hợp là một trong

Trang 30

những biện pháp thích hợp để thúc đẩy sự phát triển các VKTTĐ với nội dung và

phương thức phối hợp giữa các Bộ, ngành và các tỉnh/thành phố ở VKTTĐBB Đây

là cơ sở cho việc xây dựng quy chế phối hợp giữa các bộ, ngành và các địa phương

trong các VKTTĐ (Quyết định số 159/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) và

đã được các bộ, ngành các tỉnh/thành trong các VKTTĐ triển khai thực hiện

Thứ ba, đưa ra một số kiến nghị, bao gồm: Xây dựng khung cơ chế chính sách

vĩ mô, nhất là chính sách về tài chính và hỗ trợ nguồn lực cho các vùng; Kiện toàn bộ

máy Ban Chỉ đạo điều phối phát triển các VKTTĐ như tăng cường quyền hạn cho và

nguồn lực cho Tổ chức điều phối từ Trung ương đến địa phương; Phát huy tính tự chủ

và tính liên kết giữa các địa phương theo nguyên tắc đồng thuận, liên kết cùng có lợi

- Nguyễn Văn Nam và Ngô Thắng Lợi với “Phát triển VKTTĐ - Một giải pháp

cho mô hình phát triển toàn diện ở Việt Nam” [85, tr.9-15] đã khẳng định phát triển

VKTTĐ ở Việt Nam - mô hình tổ chức phân bố không gian hướng tới mục tiêu “tăng

trưởng kinh tế tập trung– xã hội tiến tới công bằng” đã xác định: VKTTĐ chính là

các đầu tầu tạo động lực thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, phát triển bền vững;

Vai trò của hệ thống chính sách phát triển VKTTĐ; Những bất cập trong phát triển

VKTTĐ; Nguyên nhân về cơ chế chính sách của những bất cập trong phát triển vùng

Đồng thời, đề xuất những định hướng hoàn thiện cơ chế chính sách phát triển VKTTĐ

ở Việt Nam nhằm thực hiện phương châm“tăng trưởng tập trung - xã hội công

bằng” Hoặc bài viết “Quan điểm chiến lược phát triển VKTTĐ Việt Nam đến 2020”

đã đề cập tới các vấn đề: Thứ nhất, chỉ ra những bất cập về thực trạng phát triển các

VKTTĐ trong phát triển lan tỏa; những bài học quốc tế về phát triển kinh tế theo lãnh

thổ và xu thế phổ biến hiện nay trên thế giới Thứ hai, đề xuất quan điểm chiến lược

VKTTĐ ở Việt Nam nhằm tạo dựng động lực tăng trưởng nhanh trong điều kiện

KTTT, hội nhập KTQT; Trở thành khu vực thể hiện tính tập trung và mức độ đậm

đặc về kinh tế; Các VKTTĐ, các khu vực tập trung kinh tế, khu đô thị phải được tổ

chức theo nguyên tắc hiệu quả, hiện đại và vững chắc, bảo đảm tính chất “ba cao, ba

lớn” - “ba cao”, đó là: nhân lực chất lượng cao, công nghệ cao, không gian cao “Ba

lớn” bao gồm: tổ chức lớn, sản xuất lớn và phải có những người bạn lớn; Các

VKTTĐ phải tạo dựng các mối liên kết vững chắc trong nội vùng và ngoại vùng; Phát

triển bền vững VKTTĐ được quán triệt bằng phương châm: “Tăng trưởng cân đối,

phát triển mang tính hòa nhập” ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế; Phải có cơ

quan chủ quản trong việc xác định các định hướng, mục tiêu phát triển, đồng thời là

địa chỉ triển khai các chính sách của Chính phủ đối với các VKTTĐ…

Trang 31

- Vũ Thành Hưởng trong“Phát triển các KCN VKTTĐBB theo hướng bền

vững” [77] đã đề cập tới các vấn đề liên quan đến phát triển các KCN trên quan điểm

phát triển bền vững, xây dựng các nhóm chỉ số đánh giá sự phát triển bền vững các

KCN Kinh nghiệm của một số nước về chính sách phát triển bền vững các KCN;

Nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng phát triển các KCN VKTTĐBB và tác

động của chính sách phát triển KCN với tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội, sử

dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; Chỉ ra các nhân tố không

bền vững trong phát triển các KCN VKTTĐBB; Xây dựng, đề xuất định hướng và các

giải pháp chủ yếu nhằm bảo đảm phát triển bền vững các KCN VKTTĐBB…

1.3 ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT KẾT QUẢ CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU TRONG LUẬN ÁN

1.3.1 Đánh giá khái quát các công trình mà tác giả đã đề cập

- Có nhiều cách tiếp cận, cách lập luận với các thuật ngữ khác nhau, đều xuất

phát từ các nguyên nhân hình thành, sự vận động của các luồng vốn FDI dưới sự tác

động có tính chủ quan của Nhà nước; Do sự vận động của các quy luật trong KTTT;

Do quá trình toàn cầu hóa Các TNCs và MNCs phát huy lợi thế độc quyền mở rộng

đầu tư, tìm kiếm lợi nhuận, đó là các nguyên nhân chính và là điều kiện cần (cung)

hình thành FDI Để huy động nguồn lực phát triển và hội nhập KTQT, các nước đi sau

trong đó có Việt Nam sẽ thay đổi chính sách đầu tư, thu hút dòng vốn từ nước ngoài,

đó là điều kiện đủ (cầu) để hình thành FDI

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động tới tăng trưởng, phát triển kinh tế,

CDCCKT nói chung hay đối với mặt hàng, ngành kinh tế, vùng kinh tế nói riêng…

- Làm thế nào thu hút được nguồn lực FDI và tối đa hóa lợi ích từ FDI ở Việt

Nam theo các mục đích khác nhau? Để giải các bài toán đó, các tác giả thường dựa

trên các lý thuyết như: lý luận Mác xít về cung - cầu vốn của các nhà tư bản quốc tế

và sự ra đời của các FIE, một số lý thuyết kinh tế học hiện đại về cung - cầu vốn quốc

tế (Mô hình của Harrod-Domar; Mô hình lý thuyết thương mại quốc tế của

Heckscher-Ohlin-Samuelson (HOS) của A.Mac Douglas; lý thuyết của Macdougall –

Kemp; lý thuyết chiết trung về sự hình thành khu vực FDI của Dunning, lý thuyết về

giai đoạn hay con đường phát triển đầu tư (Investment Development Parth – IDP), lợi

thế độc quyền trong hình thành FDI trên thế giới…) để tập trung trả lời các câu hỏi:

Đặc điểm, bản chất, vai trò của FDI? Xu hướng vận động của dòng vốn FDI? Thực

trạng thu hút vốn FDI? Những bài học kinh nghiệm rút ra và các giải pháp?

Trang 32

- Một số các công trình đã được đề cập thường dừng lại ở từng vấn đề như:

Vai trò của FDI với quá trình CDCCKT nói chung, đối với KCN, với phát triển bền

vững ở các không gian khác nhau hay các vấn đề đơn lẻ như CCKT, CDCCKT, mối

quan hệ tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững ; Nhiều công trình nghiên cứu

tiếp cận các vấn đề mang tính chất định tính, cũng có những công trình nghiên cứu

và đề xuất hệ thống các chỉ tiêu, sử dụng mô hình và sử dụng các phương pháp

thống kê, so sánh…để đo lường và đánh giá tính bền vững của CDCCKT…

1.3.2 Các vấn đề cần nghiên cứu và câu hỏi đặt ra

1.3.2.1 Khoảng trống về lý luận và thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu

- Về mặt lý luận: Cho đến nay, hiếm có công trình nào đi sâu nghiên cứu, luận

giải một cách sâu sắc, có tính hệ thống về cơ sở lý luận về thu hút vốn FDI trong

CDCCKT ở VKTTĐBB Do vậy, luận án: 1) Xác định khái niệm, đặc điểm của vốn

FDI,CDCCKT và thu hút vốn FDI ở VKTTĐ; 2) Vai trò và hình thức thu hút vốn

FDI; 3) Tác động của FDI tới CDCCKT ở VKTTĐ; 4) Làm rõ những yếu tố ảnh

hưởng đến thu hút vốn FDI đối với VKTTĐBB; 5) Kinh nghiệm thu hút FDI hướng

vào CDCCKT có thể áp dụng vào VKTTĐBB…

- Về mặt thực tiễn: Mặc dù đã có rất nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về tác

động của FDI nhiều nội dung và các cấp độ khác nhau Nhưng chưa thấy công trình

nghiên cứu vấn đề “Thu hút vốn FDI trong CDCCKT ở VKTTĐBB” Theo hướng đó và

trên cơ sở căn cứ vào những đặc điểm tự nhiên và KT-XH của vùng, luận án sẽ: 1) Làm

rõ thực trạng thu hút vốn và tác động của FDI đến CDCCKT ở VKTTĐBB; Những hạn

chế và nguyên nhân; 2) Đề xuất những định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh

thu hút vốn FDI hướng vào CDCCKT ở VKTTĐBB trong thời gian tới

1.3.2.2 Các câu hỏi nghiên cứu của luận án

- Một là, bản chất, vai trò của FDI và CDCCKT trong giai đoạn hiện nay?

- Hai là, sự hình thành của vùng và yêu cầu thu hút vốn FDI trong CDCCKT

ở VKTTĐBB?

- Ba là, các hoạt động thu hút vốn FDI? Những yếu tố ảnh hưởng đến thu hút

vốn FDI trong CDCCKT ở VKTTĐBB?

- Bốn là, thu hút vốn FDI và sự tác động của nó trong CDCCKT ở

VKTTĐBB? Kết quả, hạn chế và nguyên nhân?

- Năm là, định hướng thu hút vốn FDI trong CDCCKT ở VKTTĐBB hướng

tới đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030? Những giải pháp để thu hút vốn FDI

nhằm CDCCKT theo hướng CNH, HĐH ở VKTTĐBB

Trang 33

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÖT VỐN ĐẦU TƯ

TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở

VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM

2.1 BẢN CHẤT VÀ VAI TRÕ CỦA THU HÖT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC

NGOÀI TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM

2.1.1 Khái niệm và đặc điểm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm

2.1.1.1 Thu hút vốn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Khái niệm về FDI: Đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm biến các

lợi ích dự kiến thành hiện thực trong tương lai Nguồn vốn đầu tư phát triển có 2 dạng:

Vốn đầu tư trong nước; Vốn ĐTNN (Foreign Investment) thường có 2 dạng: đầu tư trực

tiếp (Foreign Direct Investment - FDI) và đầu tư gián tiếp (FII - Foreign Indirect

Investment) hay (FPI - Foreign Portfolio Investment) - khoản vốn ĐTNN thực hiện qua

định chế tài chính trung gian như các quỹ đầu tư, đầu tư trực tiếp trên thị trường chứng

khoán (đầu tư Porfolio) Hiện vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về FDI:

+ Quan niệm ở nước ngoài: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cho rằng: “FDI là đầu tư

có lợi ích lâu dài của một DN tại một nước khác (nước nhận đầu tư – hosting country)

không phải nước mà DN đang hoạt động (nước đi đầu tư – source country) với mục

đích quản lý một cách có hiệu quả DN” [137, tr.27] Hay Liên hợp quốc (UN): đây là

khoản đầu tư dài hạn và phản ánh lợi ích lâu dài có sự kiểm soát của nhà ĐTNN hoặc

công ty mẹ với các xí nghiệp khác của mình ở một nền kinh tế khác [160] Ngân hàng

thế giới (WB) cho rằng: phải “thành lập hoặc mua lại một phần đáng kể sở hữu và

quản lý ít nhất là 10% vốn của chủ sở hữu doanh nghiệp của một nước khác” [10,

tr.11] Hoạt động FDI có liên quan tới hai chủ thể là nhà đầu tư trực tiếp (Direct

Investor) và DN đầu tư trực tiếp (Enterprise Direct Investor) với các giao dịch về vốn

thông qua sự liên kết hoặc không liên kết I A.Moosa [165] có sự giải thích và làm rõ

hơn về yếu tố kiểm soát -“Control” và quyền ra quyết định của các nhà đầu tư chiến

lược phát triển kinh doanh của họ Hay Maitena Duce, Banco de Espana…[157] Các

khái niệm trên đều nhấn mạnh đến phân chia quyền kiểm soát của công ty và quyền sở

hữu công ty của nhà đầu tư, chi nhánh hay các công ty hợp tác như thế nào thì được gọi

là đầu tư trực tiếp (Direct Investor) từ đó phân biệt với hình thức đầu tư khác hay nó thể

hiện bản chất của FDI Tuy nhiên, các khái niệm trên chưa đề cập đến kết quả đầu tư

Trang 34

Với lý luận về “xuất khẩu tư bản”, V.I.Lenin cho rằng do có lượng “tư bản

thừa tương đối”, không tìm được nơi đầu tư có lợi Trong khi đó ở các nước chậm

phát triển, có nguồn tài nguyên thiên nhiên chưa được khai thác và lao động giá rẻ,

lại thiếu vốn đầu tư, hứa hẹn là nơi đầu tư thu được nhiều lợi nhuận, đã dẫn đến việc

di chuyển vốn từ các nước phát triển sang các nước chậm phát triển Việc xuất khẩu

tư bản như thế sẽ hình thành nên FIE với các hình thức như: xuất khẩu tư bản cho

vay (thu lợi tức) và xuất khẩu tư bản hoạt động (thu lợi nhuận) FIE là một bộ phận

cấu thành của nền kinh tế, các DN đó thường được hiểu là các FIEs [141]

+ Quan niệm ở Việt Nam: ĐTNN và FDI đã được đề cập trong các văn bản

pháp luật về đầu tư và đã được sửa đổi một số lần (Điều lệ ĐTNN ban hành kèm theo

Nghị định số 115/1997/NĐ-CP của Chính phủ; Luật ĐTNN năm 1987, năm 1996,

năm 2000) Luật Đầu tư năm 2005: “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu

tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” còn “Nhà ĐTNN là tổ chức,

cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam”[98, Tr.8]

Các khái niệm trên đều mạnh đối tượng của đầu tư mà nhà ĐTNN mang vào để tiến

hành hoạt động đầu tư? Hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn và tham gia quản lý?

Từ những các phân tích trên, tác giả luận án thống nhất và cho rằng: FDI là

hoạt động đầu tư do các tổ chức kinh tế, cá nhân ở quốc gia nào đó tự mình kết hợp

với các tổ chức kinh tế, cá nhân, của một nước khác tiến hành bỏ vốn bằng tiền hoặc

tài sản vào nước này dưới một hình thức đầu tư nhất định Họ tự mình hoặc cùng

chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động SX-KD cũng như kết quả

kinh doanh căn cứ vào tỷ lệ nắm giữ quyền kiểm soát và sở hữu vốn

- Khái niệm về thu hút vốn FDI: Là những hoạt động nhằm vận động, kích

thích và chuẩn bị các điều kiện để thực hiện FDI của nước hay địa phương sở tại

muốn nhận FDI Cụ thể:

+ Thu hút vốn FDI là những hoạt động nhằm vận động các nhà ĐTNN đầu tư

vào một nước hoặc một địa phương của một nước sở tại;

+ Việc thu hút vốn FDI gồm rất nhiều nội dung, biện pháp và phải có những

bước đi thích hợp cũng như đòi hỏi sự tham gia của rất nhiều chủ thể: các cá nhân,

các tổ chức, các DN và nhà nước;

+ Thu hút vốn FDI có các hình thái chủ động và bị động Hình thái chủ động là

các chủ thể ở các nước sở tại tích cực, chủ động tìm kiếm đối tác, thuyết phục họ đầu

tư vào Việt Nam và địa phương mình; tạo dựng hành lang pháp lý khuyến khích FDI

vào những ngành, lĩnh vực và các TPKT cần thu hút đầu tư Hình thái bị động là chờ

Trang 35

các đối tác đến, giới thiệu và đề xuất với nhà đầu tư để đi đến quyết định đầu tư Hiện

nay, đang xuất hiện rất nhiều phương thức cạnh tranh gay gắt trong thu hút vốn FDI

Do đó, đòi hỏi phải có sự phân tích đúng tình hình và phải có các biện pháp sáng tạo,

có những đổi mới trong xúc tiến đầu tư, phải chủ động thu hút vốn FDI… thì mới có

thể dành được những thắng lợi nhất định trong thu hút vốn FDI

- Đặc điểm của FDI:

+ Về quan hệ sở hữu: khi nói về FIE hay FDI, thường nhấn mạnh chủ đầu tư

vốn FDI là chủ sở hữu vốn, là hình thức chu chuyển vốn quốc tế trong đó vốn và chủ

đầu tư quốc tế có quốc tịch nước ngoài Vốn của nhà đầu tư bao gồm những nguồn

vốn nào? Hiện nay có 2 quan niệm khác nhau:

 Vốn của nhà đầu tư là vốn riêng, vốn điều lệ hay vốn pháp định của họ Mục

tiêu về FDI là thu hút nguồn vốn đầu tư mà nước nhận đầu tư đang còn khan hiếm

 Vốn FDI không chỉ bao gồm vốn riêng, vốn đầu tư ban đầu của chủ ĐTNN

dưới hình thức vốn điều lệ hoặc vốn pháp định, mà còn vốn vay của dân cư, và các

nhà đầu tư khác ở nước nhận vốn để cùng đầu tư triển khai, mở rộng dự án cũng như

vốn đầu tư được trích lại từ lợi nhuận sau thuế từ kết quả hoạt động SX-KD

Luận án cho rằng, quan điểm thứ 2 phù hợp hơn trong điều kiện hiện nay Tuy

nhiên, nước sở tại phải có chính sách tài chính phù hợp như cần: giới hạn tỷ lệ và có

cơ chế kiểm soát lượng vốn vay chặt chẽ… tránh trường hợp một số nhà ĐTNN lợi

dụng chỉ đưa một lượng vốn nhỏ vào còn sau đó tiến hành vay vốn ở nước sở tại để

thực hiện đầu tư, mở rộng SX-KD làm ảnh hưởng đến mục đích thu hút vốn ĐTNN

của các nước sở tại như rường hợp dự án Kenmark ở Hải Dương (xem phụ lục 2)

+ Về quan hệ quản lý: nhà ĐTNN hoạt động bằng nguồn vốn tự có hay đi vay

thì về mặt pháp lý họ phải chịu trách nhiệm bảo toàn và phát triển nguồn vốn đó Họ

là người chủ hoặc đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý điều hành FIEs Tuy

nhiên, trong điều kiện hiện nay cùng với việc tách rời chủ sở hữu DN với chủ kinh

doanh, ngày càng có nhiều nhà đầu tư thuê giám đốc điều hành tại các nước tiếp nhận

đầu tư Các nhà đầu tư vẫn bảo đảm được quyền sở hữu của họ, giám đốc điều hành

hay đội ngũ cán bộ quản lý tiếp thu được kỹ năng điều hành SX-KD hiện đại

+ Về quan hệ phân phối: phân phối trong FIEs thực hiện theo nguyên tắc của

KTTT, đó là phân phối dựa vào kết quả SX-KD và sở hữu Theo đó, nhà đầu tư có

vốn sẽ thu lợi nhuận, lợi tức, nhà nước là chủ sở hữu đất đai sẽ thu địa tô, người lao

động làm việc sẽ nhận được tiền công Nhà ĐTNN phải đóng góp một tỷ lệ nhất

định lượng vốn tùy theo quy định của mỗi nước và thay đổi theo thời gian Tỷ lệ vốn

Trang 36

đầu tư sẽ quyết định việc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ đầu tư theo

quy định của nước sở tại FDI là hình thức xuất khẩu tư bản có thể dễ gây ra những

ảnh hưởng tới lợi ích quốc gia đối với nước nhận đầu tư

+ Các đặc điểm khác:

 Chủ đầu tư thực hiện đầu tư tại các nước tiếp nhận đầu tư nên phải tuân thủ

các quy định do pháp luật của nước sở tại

 Chính phủ ngày càng có vai trò quan trọng trong ĐTNN Đối với các TNCs,

MNCs có nhiều lý do để giải thích cho hoạt động đầu tư của mình bao gồm: tìm kiếm

thị trường, tránh đầu tư vào một địa điểm để chịu nhiều rủi ro và trốn thuế…

 Đầu tư trực tiếp nước ngoài do các chủ đầu tư quyết định và tự chịu trách

nhiệm về kết quả SX-KD, nên hình thức này thường mang lại tính khả thi và hiệu

quả kinh tế cao Đây là một dự án mang tính lâu dài

 Một quốc gia vừa đồng thời là nước đi đầu tư và tiếp nhận FDI FDI gắn

liền với quá trình hội nhập và quá trình tự do hóa Do đó, chính sách nước tiếp nhận

FDI cần được thể hiện quan điểm mở cửa và hội nhập

2.1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Có nhiều quan niệm về cơ cấu của nền kinh tế hay CCKT Từ cách tiếp cận

đối tượng của luận án, tác giả đồng tình với quan niệm cho rằng: CCKT là một phạm

trù kinh tế, là tổng thể của nhiều bộ phận phức hợp và yếu tố cấu thành nền KTQD,

tạo nên một tập hợp các mối quan hệ hữu cơ, sự tác động qua lại của chúng trong

những điều kiện KT-XH và không gian, môi trường cụ thể, luôn vận động, thay đổi

thể hiện đặc điểm cơ chế của nền kinh tế và tính chất của chế độ xã hội [71,

Tr.40-44] CCKT không chỉ đề cập về mặt định lượng mà còn rất coi trọng mặt định tính

thể hiện qua mối quan hệ và tương tác giữa các bộ phận và các yếu tố hợp thành,

nhất là giữa các chủ thể kinh tế thông qua các mối liên kết theo chiều dọc và chiều

ngang Mối liên kết dọc được biểu hiện thông qua sự tác động trực tiếp của các bộ

phận cấu thành nền KTQD, đó là mối liên kết giữa trung ương, địa phương và các

ngành; giữa ngành, tập đoàn kinh tế với DN; Mối liên kết ngang là mối liên kết giữa

các DN hay ngành kinh tế với nhau… Các chủ thể kinh tế và mối liên hệ giữa chúng

giữ vai trò quan trọng, quyết định tốc độ tăng trưởng và quy mô của sự CDCCKT

- Phân loại CCKT: Từ góc nhìn của quá trình phân công lao động và tái sản

xuất xã hội, có thể phân chia CCKT xét theo các góc độ: Phân công lao động xã hội

có cơ cấu ngành; Phân công theo vùng có CCKT lãnh thổ; Góc độ quan hệ sở hữu

có cơ cấu TPKT…(xem phụ lục 3)

Trang 37

+Về cơ cấu ngành kinh tế: Là tổ hợp các ngành với các tương quan tỷ lệ, biểu

hiện mối quan hệ giữa các ngành của nền kinh tế và phản ánh trình độ của phân

công lao động xã hội và lực lượng sản xuất Việc nghiên cứu CCKT ngành nhằm tìm

ra những cách thức duy trì tỷ lệ hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ưu tiên

trong điều kiện nguồn lực ở mỗi thời kỳ, để thúc đẩy nhanh và hiệu quả nhất [107,

tr.32-33] CCKT ngành bị chi phối bởi các quy trình kỹ thuật, công nghệ và yêu cầu

thị trường; các yếu tố chính trị, xã hội… Để xem xét số lượng các ngành tạo nên nền

kinh tế và chất lượng các mối quan hệ giữa chúng, người ta thường chia nền kinh tế

thành các nhóm ngành để quan sát cả về định lượng và định tính với các mối quan

hệ trực tiếp và gián tiếp [149, tr.221-228]

 Cơ cấu theo nhóm ngành kinh tế lớn hay khu vực (cấp1): Nhóm ngành nông,

lâm, ngư nghiệp và thủy sản; Nhóm ngành công nghiệp, xây dựng; Nhóm ngành dịch

vụ Trong thực tế, không phải lúc nào khi tỷ trọng công nghiệp cao cũng nói lên CCKT

hiện đại hoặc có hiệu quả Đơn cử như khi tỷ trọng công nghiệp/GDP lớn và nông, thủy

sản qua chế biến/GDP tuy cao nhưng NSLĐ thấp, ngân sách thu được ít, để tạo ra 1 đơn

vị GDP cần tiêu hao điện năng lớn… thì CCKT đó không hiệu quả [150, tr.100] Hiện

nay, bảng phân ngành KTQD của Việt Nam được xây dựng trên cơ sở ISIC Rev.4 và

khung phân ngành chung của ASEAN (ACIC) Đồng thời căn cứ tình hình thực tế,

Tổng cục Thống kê đã phát triển hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam (Vietnam

Standard Industrial Classification 2007 – VSIC 2007) có 21 nhóm ngành cấp 1; 88

ngành cấp 2; 242 ngành cấp 3; 437 ngành cấp 4 và 642 ngành cấp 5

 Cơ cấu ngành dựa trên phương thức và công nghệ sản xuất: nông nghiệp

(nông, lâm, ngư nghiệp) và phi nông nghiệp (công nghiệp, xây dựng, dịch vụ)

Việc phân chia này để dễ quan sát trình độ của cơ cấu và các yếu tố thúc đẩy

tăng trưởng kinh tế trên cơ sở phương thức và công nghệ tạo ra sản phẩm Khi nhóm

ngành phi nông nghiệp ngày càng phát triển và chiếm tỷ trọng càng lớn thì nền kinh

tế càng phát triển và việc di chuyển dân cư nông thôn, nông nghiệp sang thành thị và

các ngành phi nông nghiệp là vấn đề có tính quy luật tiến tới sự hiện đại Theo nhiều

nghiên cứu xác định ngành phi nông nghiệp chiếm >85% lao động xã hội, và >80%

GDP thì được coi là nước phát triển [150, tr.100] Những DN có trình độ công nghệ

cao sẽ quyết định sự phát triển của CCKT, nhưng đối với các nước như Việt Nam

nhu cầu việc làm lớn thì việc duy trì lượng DN sử dụng nhiều lao động trong chừng

mực nào đó là cần thiết, có ý nghĩa toàn dụng lao động để tăng trưởng kinh tế;

Trang 38

Cơ cấu nhóm ngành dựa vào tính chất sản phẩm cuối cùng (vật chất và dịch

vụ) Việc phân chia này nhằm nghiên cứu sự hài hòa giữa các ngành trong nền

KTQD, nhất là trong quá trình CNH, HĐH càng cần quan sát các nhóm ngành này

Dịch vụ phát triển làm “trơn tru” các quá trình SX-KD và ngược lại Vì nếu xét theo

hành vi tăng trưởng (tham gia tăng trưởng) thì các ngành này luôn có mối qua hệ

khăng khít theo một tương quan nhất định Trong đó, các ngành dịch vụ phải tăng

nhanh hơn các ngành sản xuất vật chất

Khi xem xét CCKT, cần chú ý tới tỷ trọng hay mức độ đóng góp của các sản

phẩm chủ lực, sản phẩm hàm chứa công nghệ cao, VA lớn Nếu các sản phẩm này

càng lớn thì chất lượng nền kinh tế càng tốt và ngược lại Một nền kinh tế được coi

là phát triển thì các ngành chế tác phải chiếm >30% GDP Mặt khác, phải chú ý đến

cơ cấu nội bộ của các ngành kinh tế Tính hợp lý trong nội bộ cơ cấu ngành sẽ bảo

đảm tính hiệu quả cho sự phát triển của nền kinh tế

+ Về cơ cấu theo vùng lãnh thổ: hình thành từ phân bổ sản xuất theo không

gian, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, KT-XH Cơ cấu lãnh thổ hình thành đồng thời

với cơ cấu ngành và thống nhất trong vùng kinh tế Trong một vùng cụ thể, cơ cấu

lãnh thổ phản ánh sự biểu hiện của cơ cấu ngành trong điều kiện lãnh thổ đó [67]

Hiện nay, chính sách phát triển lãnh thổ thường là chính sách phát triển mang

tính tổng hợp, có ưu tiên một số ngành trọng điểm, gắn liền với sự hình thành và

phát triển của cộng đồng dân cư và phân bố hệ thống đô thị Sự phát triển hài hòa

giữa thành thị và nông thôn sẽ đem lại tiền đề cần thiết cho phát triển đất nước Đô

thị được coi là là nhân tố trung tâm của vùng lãnh thổ và giữ vai trò động lực Nông

thôn được coi là hậu phương của khu vực thành thị Nhiều vấn đề như việc làm,

lương thực, thực phẩm… của thành thị được nông thôn cung cấp, ngược lại những

vấn đề công nghệ, lao động có đào tạo, thị trường… của nông thôn được giải quyết

từ thành thị Tuy nhiên, khi xem xét cơ cấu lãnh thổ cần chú ý tới các góc độ: cơ cấu

lãnh thổ phát triển và chậm phát triển, cơ cấu lãnh thổ động lực … để có chính sách

phát triển hài hòa giữa các vùng lãnh thổ [149, tr.119-139]

+ Về cơ cấu theo thành phần: là việc xem có bao nhiêu quan hệ và loại hình kinh

tế trong hệ thống kinh tế dưới góc độ sở hữu Ở Việt Nam từ Đại hội VI đến nay của

Đảng, đã chỉ rõ: “Phát triển nền KTTT định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu,

nhiều TPKT, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối Các TPKT hoạt

động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng

trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”[63, tr.73]

Trang 39

Cơ cấu TPKT tiếp cận theo tinh thần Đại hội Đảng lần thứ XI gồm: Kinh tế nhà

nước (State) giữ vai trò chủ đạo; Kinh tế tập thể (Collective) không ngừng được củng

cố và phát triển Kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng

vững chắc của nền KTQD; Kinh tế tư nhân (Private) là một trong những động lực của

nền kinh tế; Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN (Foreign Invested Sector) hay kinh tế có

vốn ĐTNN (Foreign Investment Economy - FIE) được khuyến khích phát triển

Chế độ sở hữu là cơ sở căn bản hình thành cơ cấu TPKT Một cơ cấu thành

phần hợp lý phải dựa trên cơ sở hệ thống tổ chức kinh tế với chế độ sở hữu có khả

năng thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội và quan

hệ sản xuất… Trong điều kiện toàn cầu hóa, việc phân định có thể chia thành hai

loại hình kinh tế: kinh tế nhà nước và kinh tế phi nhà nước Trong kinh tế phi nhà

nước thì bộ phận FIE có ý nghĩa riêng và cần được nghiên cứu thấu đáo Sự gia tăng

của FDI tất yếu biến đổi và làm cho vai trò của TPKT có vốn ĐTNN ngày càng

chiếm giữ vị trí quan trọng

- Khái niệm và bản chất của CDCCKT: Các nghiên cứu thường có các cách tiếp

cận riêng, nhưng đều tập trung chủ yếu vào xu hướng chuyển dịch có hiệu quả nhất cho

nền KTQD Đồng thời, cố gắng tiếp cận các nhân tố tác động như CNH, HĐH; chuyển

đổi mô hình kinh tế, thể chế, hay sự chi phối bởi toàn cầu hóa và kinh tế tri thức

+ Theo cách hiểu thông thường: CDCCKT là sự thay đổi trạng thái cơ cấu của

nền kinh tế từ thời điểm này sang thời điểm khác Cách hiểu này chưa phản ánh

được bản chất (về số lượng, chất lượng của CCKT) và chưa nêu được mục đích của

quá trình chuyển dịch, sự điều khiển của con người trong quá trình chuyển dịch

+ Theo Ngô Doãn Vịnh: CDCCKT là sự thay đổi tỷ lệ thành phần trong

CCKT từ trạng thái này sang trạng thái khác nhằm có được sự phát triển tốt hơn,

hiệu quả hơn [150], hay Phạm Thị Khanh: “CDCCKT là sự biến đổi CCKT từ trạng

thái này sang trạng thái khác trong một thời kỳ nhất định trên cơ sở phù hợp với

điều kiện khách quan và chủ quan, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển” [79, tr.12]

Đây là sự biến đổi CCKT trong một thời kỳ nhất định, một cách có hướng đích và bị

chi phối bởi nhân tố chủ quan - năng lực nhận thức của con người, chi phối mục

tiêu, định hướng phát triển nền kinh tế Các quan niệm này vừa khắc phục được

những điểm yếu nêu trên, đồng thời đã đưa ra được mục tiêu của CDCCKT

+ Tiếp cận từ thực trạng và xu hướng tái cơ cấu hiện nay, cần hiểu:

“CDCCKT là sự thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với

môi trường phát triển Sự dịch chuyển này không đơn thuần là sự thay đổi về vị trí,

Trang 40

mà là sự biến đổi cả về số lượng và chất lượng trong nội bộ cơ cấu Việc CDCCKT

phải dựa trên cơ sở của một cơ cấu hiện có, do đó nội dung CDCCKT là bổ sung,

cải tạo cơ cấu cũ, không phù hợp để từng bước xây dựng một cơ cấu mới phù hợp

hơn, tiên tiến và hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH trong thời kỳ mới” Để

làm rõ bản chất của CDCCKT cần chú ý một số nội dung sau đây:

 Chuyển dịch CCKT diễn ra một cách thường xuyên, liên tục theo hai

khuynh hướng: chuyển dịch tự phát (do các yếu tố kinh tế, kỹ thuật tác động) và

chuyển dịch tự giác hay chủ động (từ nhận thức được yêu cầu khách quan) Sự tác

động làm cho quá trình CDCCKT đáp ứng các mục tiêu phát triển của nền kinh tế

 Chuyển dịch CCKT không đơn thuần là sự thay đổi vị trí, mà là quá trình

tích lũy về lượng, dẫn đến sự thay đổi về chất với yêu cầu và phương hướng tiến bộ

hơn mang tính quy luật, với sự thay đổi tỷ lệ và mối quan hệ tương quan trên nhiều

khía cạnh Trong đó có các khía cạnh căn bản: theo ngành, lãnh thổ và TPKT

 Chuyển dịch CCKT từ đơn giản đến phức tạp; phạm vi liên kết ngày càng

rộng, từ trong nước ra ngoài nước; từ trạng thái thấp sang trạng thái cao nhằm đem

lại lợi ích lớn hơn qua các thời kỳ phát triển

 Chuyển dịch CCKT phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ vai trò của từng

bộ phận và phù hợp với điều kiện thực tế

2.1.1.3 Vùng kinh tế trọng điểm

- Khái niệm vùng kinh tế: Không giống như vùng địa lý đơn thuần, vùng kinh

tế mang tính "động" do các hình thái, phương thức và các nội dung hoạt động kinh

tế của con người Các tính chất đặc trưng về vùng kinh tế bắt đầu có những biến đổi,

đặc biệt là về không gian và chức năng kinh tế của vùng

+ Vùng kinh tế gắn liền với sự phát triển của ngành địa lý kinh tế Đến những

năm 1960, lý thuyết mới về vùng kinh tế và địa lý kinh tế được xuất hiện với cuộc

cách mạng định lượng đã lý giải về vị trí đến việc giải thích về hành vi của khoa học

không gian Tiếp đó, những năm 1980, lý thuyết mới về địa lý công nghiệp với sự

phối hợp của đổi mới lý thuyết và bối cảnh kinh tế thay đổi nhanh chóng

+ Theo nhà địa kinh tế học, Alaev: vùng kinh tế là một bộ phận lãnh thổ

nguyên vẹn của nền KTQD, có những dấu hiệu chuyên môn hoá những chức năng

KTQD cơ bản; tính tổng hợp: được hiểu theo nghĩa rộng như là mối quan hệ qua lại

giữa các bộ phận cấu thành quan trọng nhất trong CCKT và cơ cấu lãnh thổ của

vùng có tổ chức trong bộ máy quản lý lãnh thổ nền KTQD [1]

Ngày đăng: 29/12/2023, 15:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức hợp đồng hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC. Quy định chi tiết về điều kiện, thủ - Luận án tiến sĩ kinh tế thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ
Hình th ức hợp đồng hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC. Quy định chi tiết về điều kiện, thủ (Trang 187)
Phụ lục 7. Sơ đồ về vai trò của vốn đầu tƣ đối với CDCCKT - Luận án tiến sĩ kinh tế thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ
h ụ lục 7. Sơ đồ về vai trò của vốn đầu tƣ đối với CDCCKT (Trang 188)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w