Nghiên cứu đề tài “ Nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp” để thấy rõ vai trò của nguồn vốn đầu tư phát triển và cụ thể hơn là xem xét và đánh giá thực trạng sử dụng nguồn vốn đó
Trang 1Nguồn vốn đầu tư phát triển
trong doanh nghiệp.
1.1.1.Khái niệm nguồn vốn đầu tư
1.1.2.Bản chất của nguồn vốn đầu tư
1.1.3.Vai trò của nguồn vốn đầu tư trong các doanh nghiệp
1.1.3.1 Điều kiện tiên quyết để thành lập doanh nghiệp
1.1.3.2 Cơ sở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.3.3.Cơ sở cho việc mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh
1.2.4.Cơ sở huy động nguồn vốn đầu tư phát triển trong các DNNN
II.NỘI DUNG NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1 Nguồn vồn tự có
1.2.1.1 Quĩ khấu hao
1 2.1.2 Lợi nhuận không chia
Trang 21 2.1.3 Phát hành cổ phiếu, cổ phần
1.2.2 Nguồn vốn đi vay
1.2.2.1 Vay Ngân hàng thương mại
1.2.2.2 Phát hành cổ phiếu , trái phiếu
1.3.2 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
IV.CÁC CÔNG CỤ VÀ PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG VỐN
1.4.1.1 vốn góp ban đầu
1.4.1.2 phát hành cổ phiếu
1.4.1.3 lợi nhuận không chia
1.4.2 huy động vốn nợ
1.4.2.1 tin dụng thương mai
1.4.2.2 vay ngân hàng thương mại
1.4.2.3 phát hành trái phiếu
1.4.2.4 tín dụng thuê mua
1.4.2.5 nguồn vốn khác(bất dộng sản,vay người thân )
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG DOANH NGHIỆP.
I.TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN
2.1.1.Quĩ khấu hao
2.1.2 Lợi nhận giữ lại
2.1.3 tin dung thue mua
2.1.4 Nguồn vốn từ ngân hàng thương mại
2.1.5.Tín dụng thuê mua
2.1.6.Phát hành cổ phiếu trái phiếu
II.THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
2.2.1.vốn đầu tư xây dựng cơ bản
2.2.2 vốn dầu tư vào tài sản
2.2.3 Nghiên cứu và đổi mới khoa học công nghệ
2.2.4 Đầu tư phát triển nguồn vốn nhân lực
2.2.5 vốn đầu tư vào Marketing
2.2.6 vốn dầu tư vào các yếu tố khác
III.ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN
2.3.1 khả năng huy động chưa cao
2.3.2.đầu tư dàn trãi,lảng phí
2.3.2.sự dụng nguồn vốn đầu tư hợp lý
Trang 3CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHO VIỆC HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP
I Giải pháp cho việc huy động vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp
3.1.1.đa dạng hoá hình thức huy động vốn
3.1.2.khai thac triệt để nguồn vốn bên trong của dn
3.1.3 tăng cường quan sát,quản lý vốn
3.1.4 Thực hiện sát nhập các doanh nghiệp: tích tụ và tập trung vốn
3.1 5 Xây dựng chiến lược đầu tư đúng hướng, sử dụng vốn tiết kiệm có hiệu quả
3.1.6 Xây dựng một cơ cấu nguồn vốn hợp lý, tối đa hóa giá trị DN
II.KIẾN NGHỊ CỦA DOANH NGHIEP
3.2.1 phát triển thi trường tài chính
3.2.3.tái cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp
3.2.4 hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp
Trang 4DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Tài chính Việt Nam 2001-2010, nhà xuất bản tài chính
2 Dn sử dụng vốn vay kém hiệu quả, thời báo kinh tế Việt Nam, 27/01/2008
3 Đổi mới phương thức quản lý phần vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp, hội nghị quốc tế quản trị doanh nghiệp, 6/12/2004
4 Giáo trình Kinh tế đầu tư-PGS,TS Nguyễn Bạch Nguyệt;PGS,TS Từ Quang Phương
5 Giáo trình Quản trị doanh nghiệp-Nguyễn Hải Sơn
6 Thị trường BĐS,những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam-PGS.TS Thái Bá Cần; TS-Trần Nguyên Nam
7 Tạp chí cộng sản số 6(150) năm 2008
8 Báo thương mại 27/1/2008
9 Tạp chí Tài chính Doanh Nghiệp,số 4/2006, số 12/2007
14 Nghiên cứu: Đổi mới cơ cấu vốn của các DN Việt Nam hiện nay
15 Kết quả nghiên cứu các đề án của Việt Nam - Hà Lan VNPR 2001
16 Bảo toàn và phát triển vốn NXB Thống Kê
17 Hướng đến tầm cao mới – Báo cáo phát triển Việt Nam 2007
18 Tổng kết kinh tế Việt Nam giai đoạn 2001-2005 - lý luận và thực tiễn
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn 20 năm kể từ bước ngoặt năm 1986, cùng với công cuộc đổi mới đất nước làquá trình đổi mới doanh nghiệp Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế có nhiều bên tham gia một cách hiệu quả voi nen khinh te thi truong dinh huong xa hoi chu nghia Từ chỗ hoàntoàn do doanh nghiệp nhà nước chi phối đến lúc bắt đầu tiến hành đổi mới, sản xuất hàng hoá và dịch vụ ngày càng chuyển dần sang tay các doanh nghiệp với các cơ cấu sở hữu và quản trị đa dạng
Nguồn vốn đầu tư phát triển chiếm vị trí quan trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp, chính vì vậy việc huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn này là yêu cầu cấp thiết để doanh nghiệp tồn tại và phát triển, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập đầy cạnh tranh hiện nay Nghiên cứu đề tài “ Nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp” để thấy rõ vai trò của nguồn vốn đầu tư phát triển và cụ thể hơn là xem xét và đánh giá thực trạng sử dụng nguồn vốn đó hiện nay của các doanh nghiệp, đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp
Nhóm 12 xin gửi lời cảm ơn chan thanh tới thầy giáo hướng dẫn Từ Quang Phương
đã giúp chúng em thực hiện đề tài này Trong quá trình hoàn thành đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót mong thầy giáo và các bạn đóng góp ý kiến
Trang 6
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
I KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƯ TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1.Khái niệm nguồn vốn đầu tư
Nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích luỹ được thể hiện dưới dạng giá trịđược chuyển hoá thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội
1.1.2.Bản chất của nguồn vốn đầu tư
Về bản chất nguồn vốn đầu tư là phần tiết kiệm hay tích lũy mà nền kinhn tế có thểhuy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội
Theo lý thuyết tư bản của Adamsmith, một đại diện của trường phái kinh tế học cổđiển coi tư bản là điều kiện vật chất cần thiết cho sản xuất của mọi xã hội Điều quý giátrong lý thuyết tư bản của ông là quan điểm về tiết kiệm Ông cho rằng muốn có tư bản thìphải có tiết kiệm,nhà tư bản phải dành một phần thu nhập của mình để mở rộng sản sảnxuất , tạo thêm công việc cho công nhân Điều này xét đến cùng sẽ làm tăng xủa cải của quốdân Ông ca ngợi tiết kiệm và lên án sự lãng phí, ông nói : “Mỗi kẻ hoang phí là kẻ thù của
sự giàu có của xã hội, còn mỗi người tiết kiệm là người làm giàu cho xã hội “ Trong tácphẩm “Của cải của các dân tộc” (1776),Adasmith nói rằng: “Tiết kiệm là nguyên nhân trựctiếp làm gia tăng vốn Lao động tạo ra sản phẩm để tích luỹ cho quá trình tiết kiệm Nhưng
dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa,nhưng không có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên”
Sang thế kỷ XIX,khi nghiên cứu về cân đối kinh tế, về các mối quan hệ giữa các khu vực của nền sản xuất xã hội, về các vấn đề có liên quan đến tích luỹ, C.Mac đã chứng minh rằng :Trong một nền kinh tế với hai khu vực ,khu vực I sản xuất tư liệu sản xuất và khu vực
II sản xuất tư liệu tiêu dùng Cơ cấu tổng giá trị của từng khu vựcđều bao gồm (c+v+m), trong đó c là tiêu hao vật chất,(v+m) là giá trị mới sáng tạo ra Khi đó điều kiện đảm bảo tái sản xuất mở rộng không ngừng thì nền sản xuất xã hội phải đảm bảo (v+m)của khu vực Ilớn hơn tiêu hao vật chất ở khu vực II :
( v+m )I >cII
Hay: (c+v+m )I > cII+cI
Vậy tư liệu sản xuất được tạo ra ở khu vực I không chỉ bù đắp tiêu hao vất chất của toàn bộ nền kinh tếmà còn phải dư thừa để đầu tư làm tăng quy mô tư liệu ản xuất trong quá trình sản xuất tiếp theo
Đối với khu vực II ,yêu cầu phải đảm bảo :
(c+v+m )II > (v+m)I +(v+m)II
Tức là toàn bộ giá trị mới của cả hai khu vực phải lớn hơn giá trị sản phẩm sản xuất ra của khu vực II Chỉ khi điều kiện này được thoả mãn , nền kinh tế mới dành một phần thu nhập
để tái sản xuất mở rộng Từ đó quy mô đầu tư cũng sẽ tăng
Như vậy , để đảm bảo gia tăng nguồn lực cho sản xuất ,gia tăng quy mô đầu tư ,một mặt phải tăng cường sản xuất tư liệu sản xuất ở khu vực I, đồng thời phải sử dụng tư liệu sản
Trang 7xuất tiết kiệm ở cả hai khu vực Mặt khác, phải tăng cường sản xuất tư liệu tiêu dùng ở khu vực II,thực hiện tiết kiệm tiêu dùng ở cả hai khu vực.
Vậy theo quan điểm của Mac để tái sản xuất mở rộng lâu dài thì phải phát triển sản xuất và tiến hành tiết kiệmở cả trong sản xuất và tiêu dùng
Trong tác phẩm nổi tiếng “Lý thuyết tổng quát về việc làm lãi suất và tiền tệ” của Jonh Maynard Keynes, một nhà kinh tế học hiện đại đã chứng minh rằng: Đầu tư chính là phần thu nhập mà không chuyển vào tiêu dùng Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng :
Ta có
Thu nhập = Tiêu dùng +Đầu tư
Tiết kiệm = Thu nhập –Tiêu dùng
Tuy nhiên điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong nền kinh tế đóng Đầu tư và tiết kiệm
là hai đại lượng quan trọng Việc điều tiết vĩ mô nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập đòi hỏi phải khuyến khích tăng đầu tư và tiết kiệm, từ đó giải quyết khủng hoảng và thất nghiệp
1.2.3.Vai trò của nguồn vốn đầu tư trong các doanh nghiệp
Vốn có vai trò hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp Vốn là điều
kiện không thể thiếu được để thành lập một doanh nghiệp & tiến hành các
hoạt động sản xuất kinh doanh Trong mọi loại hình doanh nghiệp, vốn
phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh Trong
quản lý tài chính, các doanh nghiệp cần chú ý quản lý việc huy động & sự
luân chuyển của vốn, sự ảnh hưởng qua lại của các hình thái khác nhau của tài sản & hiệu quả tài chính
1.2.3.1 Điều kiện tiên quyết để thành lập doanh nghiệp.
Vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập một doanh nghiệp Về
mặt pháp lý, mỗi doanh nghiệp khi thành lập đều phải có một lượng vốn
nhất định và phải lớn hơn hoặc bằng mức vốn pháp định do Nhà nước quy
Trang 8định đối với lĩnh vực kinh doanh đó Như vậy vốn lúc này có vai trò đảm bảo sự hình thành
và tồn tại của doanh nghiệp trước pháp luật
Giá trị vốn ban đầu có thể ít hoặc nhiều tuỳ theo quy mô, ngành nghề, loại hình doanh
nghiệp Vốn pháp định ở Việt Nam chỉ quy định cho một số ngành nghề có liên quan đến tài chính như Chứng khoán, Bảo hiểm,Kinh doanh vàng và Kinh doanh tiền tệ
Đối với các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác mà Nhà nước không quy định giá trị vốn ban đầu tối thiểu thì giá trị vốn khi thành lập có thể dao động từ hàng triệu đến hàng tỷ đồng tuỳ khả năng của người thành lập doanh nghiệp
* Tư vấn đầu tư chứng khoán: 3 tỷ đồng
Kinh doanh vàng (Theo Nghị định số 174/NĐ-CP):
* Sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ: Đối với các doanh nghiệp hoạt
động tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, có vốn pháp định
tối thiểu là 5 tỷ đồng Việt Nam Đối với các doanh nghiệp hoạtđộng tại
các tỉnh và thành phố khác, có vốn pháp định tối thiểu là 1 tỷ đồng Việt
Nam
* Sản xuất vàng miếng: 50 tỷ đồng
Kinh doanh bảo hiểm (Theo Nghị định số 42-43/NĐ-CP):
* Bảo hiểm phi nhân thọ: 70 tỷ đồng
* Bảo hiểm nhân thọ: 140 tỷ đồng
* Môi giới : 4 tỷ đồng
1.2.3.2 Cơ sở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Vốn là điều kiện cơ bản và thiết yếu để tiến hành bất kỳ quá trình và loại hình sản xuất kinh doanh nào Điều này thể hiện rõ trong hàm sản xuất
cơ bản P= F(K, L, T), vốn (K) chính là 1 trong 3 yếu tố cơ bản của hàm sản
xuất, bên cạnh các yếu tố lao động (L) và công nghệ (T) Hơn nữa, trong
hàm sản xuất này thì vốn có thể coi là yếu tố quan trọng nhất bởi vì lao động và công nghệ cóthể mua được khi có vốn
Trang 9Sau khi thành lập, doanh nghiệp phải tiến hành sản xuất kinh doanh.
Hoạt động thực tế hàng ngày đòi hỏi phải có tiền để chi tiêu, mua sắm
nguyên vật liệu, máy móc; trả lương Số tiền này không thể lấy ở đâu khác ngoài nguồn vốncủa doanh nghiệp Khi nguồn vốn tạm thời không đáp ứng đủ nhu cầu của hoạt động sản xuấtkinh doanh thì doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng khó khăn về ngân quỹ Các hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp tạm thời bị đình trệ, suy giảm Nếu tình hình này không được khắc phục kịp thời, doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng khó khăn tài chính triền miên; hoạt động sản xuất kinh doanh bị gián đoạn; tâm lý cán bộ công nhân viên hoang mang; mất uy tín với bạn hàng, chủ nợ và Ngân hàng Những khó khăn này có thể nhanh chóng đưa công tyđến kết cục cuối cũng là phá sản, giải thể hoặc bị sát nhập với công ty khác
1.2.3.3.Cơ sở cho việc mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh.
Vốn không chỉ giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất kinh
doanh mà còn giúp doanh nghiệp mở rộng và phát triển Trong quá trình
phát triển của mình, doanh nghiệp luôn mong muốn mở rộng sản xuất kinh
doanh, giữ vững và vươn lên trong thị trường Để làm được điều đó, đòihỏi
doanh nghiệp phải liên tục đổi mới, đầu tư, tái đầu tư, cải tến máy móc,
thiết bị, công nghệ, hệ thống phân phối sản phẩm Kỷ nguyên của công
nghệ và sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ càng tạo sức ép cho doanh nghiệp;
buộc phải liên tục làm mới mình, đổi mới không ngừng nếu không muốn
giẫm chân tại chỗ hay bị tụt hậu Để làm được tất cả những công việc đó
doanh nghiệp không thể không cần đến nguồn vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh Thực tế cho thấy nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh trong
các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay là rất lớn Nhiều doanh nghiệp do
không có nguồn vốn bổ sung kịp thời, đủ lớn nên đã bị mất đi vị trí của mình trên thị trường.Vốn còn là nhân tố cực kỳ quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao
khả năng cạnh tranh trên thị trường Vốn không những là cơ sở để doanh
nghiệp có thể nâng cao khả năng sản xuất, tăng cường mạng lưới phân phối
mà còn có thể giúp doanh nghiệp vượt qua các đối thủ cạnh tranh hay hơn
nữa là loại bỏ họ bằng các chính sách marketing hiệu quả (tăng cường quảng cáo, giảm giá, khuyến mại )
Như vậy, vốn có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp cần phải nhận thức vấn đề này một
cách rõ ràng, từ đó phải có một chính sách huy động vốn nhanh chóng,hiệu
Trang 10quả để có thể tồn tại và không ngừng phát triển trên thương trường
Trong điều kiện kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn của các doanhnghiệp được đa dạng hoá Tùy theo điều kiện phát triển của
thị trường tài chính của một quốc gia, tùy theo loại hình của doanh nghiệp
và các đặc điểm hoạt động kinh doanh cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có thể
có các phuơng thức tạo vốn và huy động vốn khác nhau
II NỘI DUNG NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ CỦA DOANH NHIỆP
2.1 Huy động vốn chủ sở hữu (Equity).
Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp: bao gồmphần vốn chủ doanh nghiệp bỏ vào đầu tư kinh doanh và phần hình thành từ kếtquả trong hoạt động kinh doanh
Do vốn chủ sở hữu là vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp nên doanhnghiệp không có trách nhiệm phải trả vốn đó cho người khác Số liệu về vốnchủ sở hữu giúp cho thấy trong số giá trị tài sản của doanh nghiệp có bao nhiêuđược dùng để đảm bảo trả nợ
2.1.1 Vốn góp ban đầu.
Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ doanh nghiệp cũng phải có một sốvốn ban đầu nhất định do cổ đông - chủ sở hữu góp Khi nói đến nguồn vốn chủ sởhữu của doanh nghiệp bao giờ cũng phải xem xét hình thức sở hữu của doanh nghiệp
đó Vì hình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của bản thândoanh nghiệp
- Đối với doanh nghiệp Nhà nuớc, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu
tư của Nhà nước, chủ sở hữu doanh nghiệp Nhà nước là Nhà nước
- Đối với các doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp, chủ doanh nghiệpphải có một số vốn ban đầu cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp.Chẳng hạn, đối với công ty cổ phần, vốn góp của các cổ đông đóng góp là yếu
tố quyết định để hình thành công ty Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty vàchịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị cổ phần mà họ nắm giữ
- Trong các loại hình doanh nghiệp khác như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nguồn vốn cũng tương tụ như trên; tức là vốn có thể do chủ nhân bỏ ra, do các bên tham gia, các đối tác góp
Trang 112.1.1.1Quỹ khấu hao cơ bản
Đây là một nguồn tự tài trợ có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp,bởi quỹ này phản ánh độ lớn các khoản khấu hao tài sản cố định và gián tiếp phản ánh tốc độ đổi mới doanh nghiệp
Khi doanh nghiệp muốn nâng cao vị thế trên thương trường thì một yếu tố cực kỳ quan trọng có thể giúp doanh nghiệp thắng được các đối thủ cạnh tranh là yếu tố công nghệ.Do
đó, nếu tốc độ khấu hao chậm ,các doanh nghiệp sẽ không the bat kịp tốc độ phát triện cua cong nghe boi tai san cu chua khau hao het,nguon tich luy tu khau hao thap se không đủ mua máy móc thiết bị mới
2.1.1.2 Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia.
Khái ni ệ m : Nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận không chia là một phần lợi nhuận dùng để tái đầu tư
Quy mô vốn góp ban đầu của chủ doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng, tuynhiên, thông thường, số vốn này cần được tăng theo quy mô phát triển của doanhnghiệp Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp hoạt động
có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận lợi để tăng trưởngnguồn vốn
- Đối với doanh nghiệp Nhà nước thì việc tái đầu tư phụ thuộc không
chỉ vào khả năng sinh lời của bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào chính sách tái đầu tư của Nhà nước
- Đối với công ty cổ phần: khi công ty để lại một phần lợi nhuận vào
tái đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần, các cổ đông không được nhận tiền lãi cổ phần nhưng bù lại, họ có quyền sở hữu
số vốn cổ phần tăng lên của công ty Điều này một mặt, khuyến khích các
cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài, nhưng mặt khác, dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kỳ trước mắt do cổ đông chỉ nhận được một phần
cổ tức nhỏ hơn
Vốn góp ban đầu và lợi nhuận không chia được gọi là hình thức tự
tài trợ của doanh nghiệp Hình thức này có một số ưu nhược điềm sau
a) Ưu điểm:
- Doanh nghiệp không bị phụ thuộc vào bên ngoài (Ngân hàng )
- Tăng khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp
Trang 12- Giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong các quan hệ tín dụng tại các ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc với các cổ đông.
- Nguồn lợi nhuận để lại có tác động rất lớn đến nguồn vốn kinh doanh, tạo
cơ hội cho công ty thu được lợi nhuận cao hơn trong các năm tiếp theo
b) Nhược điểm:
- Khi doanh nghiệp không trả cổ tức cho cổ đông mà giữ lại lợi nhuận có
thể làm cho giá cổ phiếu trên thị trường giảm, ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệp
2.1.1.3 Phát hành cổ phiếu mới.
2.1.1.3.1 Khái niệm
Cổ phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền và lợi ích
sở hữu hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với vốn của tổ chức phát hành
2.1.1.3.2 Phân loại cổ phiếu.
Doanh nghiệp có thể phát hành các loại cổ phiếu sau:
- C ổ phiếu th ường : là loại cổ phiếu được phát hành bằng nguồn lợi nhuận đểlại hoặc các nguồn vốn chủ sở hữu hợp pháp khác của công ty cổ phần và không có sự
ưu tiên đặc biệt nào trong việc chi trả cổ tức hay thanh
lý tài sản khi công ty phá sản
- C ổ phiếu ưu đ ãi : là loại cổ phiếu được phát hành bằng nguồn lợi nhuận đểlại hoặc các nguồn vốn chủ sở hữu hợp pháp khác của công ty cổ phần nhưng có sự ưutiên đặc biệt trong việc chi trả cổ tức hay thanh lý tài sản khi công ty phá sản
Khi phát hành cổ phiếu ưu đãi, doanh nghiệp vừa tăng được vốn chủ
sở hữu nhưng lại không bị san sẻ quyền lãnh đạo, việc phát hành vẫn hấp dẫn ngườiđầu tư bởi tỷ lệ cổ tức được đảm bảo tương đối ổn định Thông thường cổ phiếu ưuđãi chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong vốn cổ phần của công ty
2.1.1.3.3 Đặc điểm của nguồn vốn do phát hành cổ phiếu.
Trang 13Tuỳ từng quốc gia, vùng lãnh thổ mà điều kiện và thủ tục phát hành
cổ phiếu là khác nhau
- Điều kiện phát hành: Ở Việt Nam, điều kiện phát hành cổ phiếu đượcquy định trong Điều 6 nghị định 144/2003/NĐ-CP Doanh nghiệp muốn phát hành
cổ phiếu phải có đủ các điều kiện sau:
+ Là công ty cổ phần có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký phát hành
cổ phiếu tối thiểu 5 tỷ đồng Việt Nam
+ Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành phải có lãi.+ Có phương án khả thi về việc sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành cổ phiếu
- Thủ tục phát hành: Doanh nghiệp lập hồ sơ đăng ký phát hành cổ phiếu(được quy định chi tiết trong Điều 10 nghị định 144/2003/NĐ-CP) và nộp cho Uỷ banChứng khoán Nhà nước
b) Quy mô phát hành cổ phiếu.
Doanh nghiệp chỉ được quyền phát hành một lượng cổ phiếu tối đa
và được gọi là vốn cổ phiếu được cấp phép
c) Thời hạn và lãi suất.
- Cổ phiếu không có thời gian đáo hạn
- Cổ đông được doanh nghiệp trả cổ tức nhưng doanh nghiệp không phải trả một mức cổ tức cố định và cũng không bắt buộc phải trả cổ tức cho
cổ đông mà có thể giữ lại để đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh
d) Quản lý và giám sát.
- Quyền lợi của doanh nghiệp và cổ đông gắn bó chặt chẽ với nhau
do đó doanh nghiệp phải chịu sự quản lý và giám sát chặt chẽ từ cổ đông Ngoài radoanh nghiệp cũng phải chịu sự giám sát của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
- Cổ đông có quyền tham gia biểu quyết những vấn đề quan trọng của doanh nghiệp
e) Áp lực thanh toán.
- Doanh nghiệp không phải chịu áp lực thanh toán đối với cổ đông
f) Phương thức, phương tiện thanh toán.
- Doanh nghiệp được quyền lựa chọn phương thức thanh toán 6 tháng hay
1 năm trả cổ tức một lần Phương tiện thanh toán cổ tức có thể là tiền mặt hay cổ phiếu
g) Tiết kiệm thuế.
Trang 14- Cổ tức được doanh nghiệp trả từ lợi nhuận sau thuế do đó doanh nghiệpkhông tiết kiệm được thuế Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp có cổ phiếu được niêmyết lần đầu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán sẽ được giảm 50% số thuế TNDNphải nộp trong 2 năm kể từ khi thực hiện việc niêm yết.
2.2 Huy động vốn nợ.
2.2.1 Tín dụng thương mại.
2.2.1.1 Khái niệm & đặc điểm.
Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp, đượcthực hiện dưới hình thức mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp hàng hoá Đến thờihạn đã thoả thuận doanh nghiệp mua phải hoàn trả cả vốn gốc và lãi cho doanh nghiệpbán dưới hình thức tiền tệ
- Khi doanh nghiệp mua nguyên liệu, hàng hoá chưa phải trả tiền ngay làdoanh nghiệp đã được các nhà cung cấp cho vay nên hình thức này còn được gọi là tíndụng của nhà cung cấp
- Để đảm bảo người mua chịu trả nợ khi đúng hạn, bên cạnh sự tin tưởng, người bán chịu còn đòi hỏi phải có một chứng cứ pháp lý, đó chính
là tờ giấy chứng nhận quan hệ mua bán chịu nêu trên, tờ giấy chứng nhận này có thể do chủ nợ lập để đòi tiền, hoặc do con nợ lập để cam kết trả tiền,
nó được gọi là thương phiếu Thương phiếu tồn tại dưới 2 hình thức là hối phiếu và lệnh phiếu:
° Hối phiếu là chứng chỉ có giá do người bán chịu lập, yêu cầu người mua chịutrả một số tiền xác định vào một thời gian và ở một địa điểm nhất định cho người thụhưởng
° Lệnh phiếu là chứng chỉ có giá do người mua chịu lập, cam kết trả một sốtiền xác định trong một thời gian và ở một địa điểm nhất định cho người thụ hưởng
Như vậy, hối phiếu là lệnh đòi tiền do chủ nợ lập và chỉ sử dụng trong quan hệ thương mại, còn lệnh phiếu thì do người mua chịu lập, được
sử dụng không chỉ trong quan hệ thương mại mà còn trong các quan hệ dân
sự khác
Trang 152.2.1.2 Chi phí của tín dụng thương mại.
Trong trường hợp giá mua chịu và giá mua trả tiền ngay có sự chênh lệch,thường là chênh lệch phải chịu giá cao hơn thì chi phí tín dụng thương mại chính là chênhlệch giữa giá bán chịu và giá trả tiền ngay
Thông thường, các nhà cung cấp thường có kèm theo các điều kiện chiết khấu để khuyến khích khách hàng sớm trả tiền Ví dụ, một giao dịch
tín dụng thương mại quy định điều kiện chiết khấu "2/15 net 40" trên hoá đơn, cónghĩa là người bán sẽ chiết khấu 2% trên giá trị của hoá đơn mua hàng nếu ngườimua trả tiền trong khoảng thời gian 15 ngày kể từ ngày giao hàng Ngưới mua sẽphải trả toàn bộ giá bán sau 15 ngày và được trả chậm trong vòng 40 ngày
Trong trường hợp này, chi phí của tín dụng thương mại là chi phí mà khi ngườimua không thanh toán được tiền trong thời hạn được hưởng chiết khấu Trong trườnghợp này người mua đã mất khoản chiết khấu mà có thể
coi là chi phí cơ hội mà doanh nghiệp phải trả để được sử dụng khoản tiền mua hàng trong thời gian kể từ sau ngày được hưởng chiết khấu Chi phí
này tính cho 1 năm, có thể được tính như sau:
Tỷ lệ chi phí =
Trong đó: i - tỷ lệ chiết khấu
n - số ngày mua chịu
t - thời gian hưởng chiết khấu (ngày)
Ví dụ: tín dụng thương mại với điều kiện "3/10 net 45", ta có: Tỷ lệ chiết
khấu i là 3%.Số ngày mua chịu n là 45 ngày.Thời gian hưởng chiết
khấu t là 10 ngày Do vậy: Tỷ lệ chi phí/năm = =
31,8%/năm
Như vậy chi phí cho khoản tín dụng này khá cao
Trang 16Trên thực tế, loại hình tín dụng này thường có thời hạn rất ngắn và thường cólãi suất ngầm ẩn cao hơn rất nhiều so với lãi suất có kỳ hạn tương đương củavốn vay từ ngân hàng thương mại.
2.2.1.3 Ưu và nhược điểm của việc huy động vốn tín dụng thương mại.
- Không phải chịu sự giám sát của ngân hàng cũng như các cơ quan nhà nước
- Ngoài ra, đối với doanh nghiệp làm chủ nợ: có thể vay ngân hàng thông qua hình thức chiết khấu thương phiếu (bán hoặc cầm cố)
b) Nhược điểm:
- Hạn chế về quy mô tín dụng :
+ Số lượng mua chịu
+ Khả năng của nhà cung ứng
- Hạn chế về đối tượng vay mượn
- Hạn chế về không gian vay mượn
- Hạn chế về thời gian vay mượn do chu kỳ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khác nhau và thường bị hạn chế về thời hạn vay
- Phụ thuộc vào quan hệ sản xuất kinh doanh trên thị trường
- Có thể gặp rủi ro khi buộc phải thay đổi nhà cung ứng và phụ thuộc nhiều vào sự đúng hẹn, uy tín của nhà cung ứng
- Dễ gặp rủi ro dây truyền
2.2.2 Tín dụng thuê mua.
2.2.2.1 Khái niệm chung.
Tín dụng thuê mua là một hình thức tài trợ tín dụng thông qua các loại tàisản, máy móc thiết bị Nó có lịch sử khá lâu đời, song chỉ phát triển mạnh ở những nước
có nền kinh tế phát triển Đây là một hình tức tín dụng trung và dài hạn đặc biệt rất thôngdụng trong việc tài trợ các doanh nhiệp
Ở nước ta hình thức tín dụng này mới được hình thành và phát triển
Trang 17Quan hệ tín dụng thuê mua được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa người đithuê tài sản và người cho thuê Thỏa thuận thuê mua là một hợp đồng giữa hai haynhiều bên, liên quan đến một hay nhiều tài sản Người cho thuê sẽ chuyển giao tàisản cho người đi thuê trong một khoảng thời gian nhất định Đổi lại người đi thuêphải trả một số tiền cho chủ tài sản tương ứng với quyền sử dụng.
Có hai phương thức giao dịch chủ yếu là phương thức thuê vận hành
(operating lease) & phương thức thuê tài chính (capital lease)
a) Thuê vận hành (operating lease).
Theo Điều 2 Quy chế tạm thời về hoạt động cho thuê vận hành của các công
ty cho thuê tài chính ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước,cho thuê vận hành (cho thuê hoạt động) là hình thức cho thuê tài sản, theo đó Bên thuê
sử dụng tài sản cho thuê của Bên cho thuê trong một thời gian nhất định và sẽ trả lại tàisản đó cho Bên cho thuê khi kết thúc thời hạn thuê tài sản Bên cho thuê giữ quyền sởhữu tài sản cho thuê và nhận tiền cho thuê theo hợp đồng cho thuê
b) Thuê tài chính (capital lease).
Theo Điều 1 Khoản 1 Nghị định số 16/2001/NĐ-CP quy định: Cho thuê tàichính là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy mócthiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê Bêncho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản kháctheo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê Bên thuê
sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏathuận Khi kết thúc thời hạn thuê bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản hoặctiếp tục thuê
22.2.2 Đặc điểm của nguồn vốn tín dụng thuê mua.
a) Điều kiện, thủ tục thuê.
- Điều kiện: Doanh nghiệp phải kí qũy một mức từ 15-30% giá trị tài sản thuê
- Thủ tục: Để được xem xét cho thuê tài chính, Doanh nghiệp cũng phải chuẩn
bị một bộ hố sơ đầy đủ bao gồm các tài liệu chứng minh về tư cách pháp nhân, tìnhhình tài chính và dự án đầu tư khả thi và có hiệu quả Thuê tài chính không cần tài sảnđảm bảo nhưng phải làm các thủ thục thuê như định giá, đăng kí, đăng kiểm…
Trang 18b) Chi phí thuê: Doanh nghiệp đi thuê tài sản phải chịu một mức tiền thuê mà có
thể bù đắp được hoàn toàn chi phí công ty Cho thuê tài chính (CTTC) bỏ ra để mua sắmtài sản, phí quản lí, rủi ro và khả năng tích lũy lãi Đối với các nước trên thế giới ápdụng phương pháp khấu hao nhanh, tiết kiệm về thuế sẽ được chia cho 2 bên nên phí phải
trả của Doanh nghiệp sẽ giảm đi
- Phương pháp tính tiền thuê phải trả:
+ Ph ương pháp 1 : Tổng số tiền gốc được chia đều cho số kỳ hạn thanh toán
( chỉ áp dụng cho trường hợp trả theo định kỳ )
- Số tiền trả gốc theo mỗi kỳ tính theo phương pháp này như sau:
A
M=
N Trong đó : M: Là số nợ gốc tiền thuê phải trả mỗi kỳ thanh toán.
A: Tổng số nợ gốc tiền thuê
N: Số kỳ thanh toán.
- Phí cho thuê tài chính mỗi kỳ = Dư nợ tiền thuê * Phí cho thuê tháng * Số ngày dư nợ.
+ Ph ương pháp 2 : Xác định số tiền trả đều nhau (cả gốc và phí) cho mỗi kỳ thanh toán
- Mỗi kỳ thanh toán, bên thuê trả cho bên cho thuê một số tiền cụ thể được xác định trước, bên cho thuê sẽ tính toán cụ thể để thu gốc và phí
Tiền thuê trả mỗi kỳ tính theo phương pháp 2 như sau:
Trang 19Tiền phí = Dư nợ tiền thuê đầu kỳ * r
Tiền gốc = P - tiền phí.
c) Thời hạn thuê: Thời gian thuê tối đa đối với tài sản mới (100%) tối thiểu là 1
năm nhưng không quá thời gian khấu hao cần thiết do Bộ tài chính quy định Thời gian thuê đối với tài sản cũ đã qua sử dụng phù hợp với tình trạng kỹ thuật và công năng thực
tế của tài sản đó nhưng không vượt quá thời gian khấu hao của tài sản đó theo quy định của
Bộ Tài chính
+ Doanh nghiệp thuê TS theo phương thức thuê vận hành thì chỉ thuê trong thời hạn rấtngắn so với toàn bộ thời gian hữu ích của tài sản, thích hợp với những hoạt động cótính vụ mùa Khi Doanh nghiệp muốn chấm dứt hợp đồng chỉ cần báo trước chongưòi cho thuê một thời gian khá ngắn
+ Doanh nghiệp thuê TS theo phương thức thuê tài chính thì thời hạn thuê thuờng gồm1,2 hoặc 3 giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Thời hạn cho thuê chính thức Đây là khoảng thời gian quan trọng nhất của hợp đồng cho thuê Giai đoạn này chiếm ít nhất
là 60% thời gian khấu hao của TS
Giai đoạn 2: Cho thuê tự chọn Đây là khoảng thời gian mà Doanh nghiệp có thểtiếp tục thuê tài sản, nhưng chi phí thuê rất thấp
Giai đoạn 3: Thông thường hết giai đoạn thuê tài chính, người cho thuê ủyquyền cho doanh nghiệp thuê làm đại lý bán tài sản Nếu Doanh nghiệpquản lý sử dụng tài sản tốt thì giá trị thực tế của tài sản có thể lớn hơn rấtnhiều giá tiền còn lại dự kiến trong hợp đồng,
họ có thể mua lại và cũng có thể bán được giá cao hơn để hưởng phần chênh lệch
- Trong giai đoạn 1 Doanh nghiệp không được tự ý kết thúc hợp
đồng
d) Phương thức trả tiền: Căn cứ vào khả năng, điều kiện của bên
thuê và thời hạn cho thuê đã được thống nhất trong hợp đồng cho thuê tài
chính, bên cho thuê và Doanh nghiệp có thể thoả thuận phương thức trả tiềnnhư sau:
+ Gốc và phí cùng trả một lần trong một kỳ thanh toán
Trang 20+ Trả phí và gốc theo định kỳ.
e) Quy mô của nguồn vốn: Doanh nghiệp có thể được tài trợ 100%
vốn mà Doanh nghiệp cần Tuy nhiên quy mô này cũng bị hạn chế bởi quy định:
+ Thuê vận hành: Tổng giá trị TS sử dụng cho thuê vận hành với 1
khách hàng không được vượt quá 30% vốn tự có của công ty CTTC
+ Thuê tài chính: Tổng giá trị TS cho thuê không được vượt quá 5%
g) Phương thức hoàn trả của Doanh nghiệp khi kết thúc hợp đồng:
- Việc định kỳ hạn trả gốc tiền thuê và phí tiền thuê được thoả thuận giữa bên cho thuê và bên thuê
- Trả gốc: Căn cứ vào khả năng thu nhập định kỳ của bên thuê, thời hạn thuê để xác định kỳ trả nợ nhưng tối đa không quá 6 tháng một kỳ
- Đối với những tài sản có thời gian lắp đặt thiết bị, chạy thử, có thời gian ânhạn phù hợp với thời gian cần có để lắp đặt thiết bị Thời gian này công ty cho thuêtài chính chưa thu nợ Thời gian cụ thể để xác định kỳ trả
nợ lần đầu do hai bên thoả thuận trong hợp đồng Công ty cho thuê tài
chính
- Trả phí: Phí tiền thuê được trả theo định kỳ hàng tháng hoặc hàng
quý theo hai bên thoả thuận trong hợp đồng
h) Áp lực thanh toán:
Doanh nghiệp trả nợ không đúng hạn hoặc không thực hiện cam kết trong hợpđồng sẽ phải chịu lãi suất phạt như vay của Ngân hàng và sự phán xử của toàán
i) Tiết kiệm thuế:
Do Doanh nghiệp trích khấu hao (Thuê tài chính) hoặc phản ánh chi phí trảtiền thuê là một khoản chi phí của Doanh nghiệp nên lợi nhuận trước thuế củaDoanh nghiệp giảm, Doanh nghiệp tiêt kiệm được 1 khoản
thuế
2.2.2.3 Các loại hình cho thuê tài chính.
Trang 21a) Bán và tái thuê: Trong hoạt động kinh doanh có nhiều doanh nghiệp thiếu
vốn lưu động để khai thác tài sản hiện có nhưng lại không đu
uy tín để vay vốn ngân hàng Do đó người mua bán một tài sản của chính
họ cho người cho thuê Đồng thời ngay lập tức một hợp đồng thuê mua được kíkết với nội dung người cho thuê đồng ý cho người thuê lại chính tài sản mà họ vừabán Đôi lúc các định chế tài chính cũng sử dụng phương thức này như một phươngthức chuyển nợ quá hạn mà không cần dùng đến biện pháp thanh lý hay đề nghị tuyên
bố phá sản doanh nghiệp
Kí hợp đồng mua TS của bên thuê (1)
Bên cho - > Bên thuê
- > thuê Kí hợp đồng thuê
và cho thuê TS (2)
b) Cho thuê hợp tác ( leveragel lease): Đối với tài sản thuê có giá trị lớn, một
bên cho thuê không đủ vốn để tài trợ hoặc sợ rủi ro vì tập trung vốn quá lớn vào mộtkhách hàng nên một số bên cho thuê hợp tác với một hay nhiều bên cho vay để cùngtài trợ Trong đó bên cho thuê vẫn là trái chủ trong quan hệ cho thuê, bên cho vay làtrái chủ của bên cho thuê Vốn vay thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số tiền tài trợ,khoảng 60-80% và
khoản cho vay được đảm bảo bằng chính tài sản cho thuê và cam kết
chuyển nhượng hợp đồng cho thuê và các khoản tiền thuê Người cho vay được hoàn trả tiền cho vay từ các khoản tiền thuê Sau khi hết món nợ vay
sẽ hoàn trả cho người cho thuê
c) Thuê mua trả góp ( purchase lease): Đây là một hình thức mua trả góp tài sản
trong một thời gian nhất định, thường là từ 1-5 năm, được áp dụng đối với trườnghợp người mua có thế chấp và không có thế chấp Trong thực tế, thuê mua trảgóp là hình thức tài trợ vốn cho doanh nghiêp không có vốn thế chấp Doanh nghiệpthuê mua tài sản theo hình thức này phả tiến hành kí kết hợp đồng thuê mua với chủtải sản, thỏa thuận với số tiền phảI trả ngay (1/4-1/3 giá trị của tải sản) khi giaotài sản hay trong những kì tiếp theo Trong thời gian người mua được phép khấu haonhanh
Trang 22để đảm bảo lịch trình thanh toán với khách hàng Khi hợp đồng đáo hạn thì người muanhận quyền sở hữu tài sản Thuận lợi chính cho người đi thuê trong hình thức này là
họ có ngay tài sản sử dụng mà không phải trả ngay những khoản tiền lớn Ngoài radoanh nghiệp có thể giảm bớt được thuế TNDN do áp dụng phương pháp khấu haonhanh
d) Thuê mua giáp lưng (under lease): Thuê mua giáp lưng là phương thức tài trợ
mà trong đó được sự thỏa thuận của người cho thuê, người thuê thứ nhất cho ngườithuê thứ hai thuê lại tài sản mà người thuê thứ nhất đã thuê từ người cho thuê Hìnhthức này thường xảy ra trong trường hợp người thuê thứ nhất không còn nhu cầuđối với tài sản thuê, vì lí do nào đó, hợp đồng đã kí kết nhưng không thể hủy ngang nên
họ tìm người thuê thứ 2để chuyển giao hợp đồng Kể từ ngày chuyển giao hợp đồng,mọi quyền lợi và nghĩa vụ về tài sản được chuyển giao sang cho người thứ 2 Tuynhiên
người thuê thứ nhất vẫn chịu trách nhiệm liên đới
Tuy nhiên có rất nhiều trường hợp bên thứ nhất chỉ là bên trung gian giữa bêncho thuê và bên thứ hai (do bên thứ hai không đáp ứng được yêu cầu của bên chothuê hoặc không biết đến công ty cho thuê) Với phương thức này mặc dù doanhnghiệp không đủ tiêu chuẩn trực tiếp đi thuê với bên thuê vẫn có được tài sản để sửdụng trong sản xuất kinh doanh
2.2.3 Tín dụng ngân hàng.
2.2.3.1 Khái niệm.
Tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất đối vớicác doanh nghiệp Việt Nam hiện nay Các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng chủ yếunhằm vào 3 mục đích:
+ Đầu tư vào Tài sản cố định: máy móc thiết bị, công trình nhà xưởng…+ Bổ sung thêm vốn lưu động
+ Phục vụ các dự án
2.2.3.2 Các hình thức tín dụng ngân hàng.
Doanh nghiệp vay để đầu tư vào TSCĐ và phục vụ dự án: có thể vay
Ngân hàng theo hình thức như cầm cố, thế chấp tài sản, thông qua bên thứ
3 để bảo lãnh cho mình hoặc vay dưới hình thức trả góp…
Trang 23+ Đối với những Doanh nghiệp lớn, Doanh nghiệp có thể sử dụng uy tín của mìnhvới Ngân hàng (Thanh toán nợ đúng hẹn, khách hàng thân quen) để vay tín chấp…
+ Đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, khi mà tài sản để thế chấp cầm cố chỉ
có thể vay của Ngân hàng một lượng vốn nhỏ không đủ vốn cho hoạt động sản xuấtkinh doanh thì có thể nhờ uy tín của bên thứ 3 bảo lãnh, tham gia vào qũy bảolãnh tín dụng Doanh nghiệp vừa và nhỏ…
- Doanh nghiệp vay để bổ sung vốn lưu động: có thể vay Ngân hàng dưới hìnhthức như vay thấu chi, vay trực tiếp từng lần, cầm cố thế chấp tài sản, tín chấp (DNlớn), bảo lãnh…
2.2.3.3 Đặc điểm của nguồn vốn tín dụng ngân hàng.
a) Điều kiện vay vốn: Doanh nghiệp muốn vay vốn Ngân hàng cần phải có một số
điều kiện sau:
+ Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
+ Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết
+ Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi,
có hiệu quả và phù hợp với quy định của pháp luật
b) Thủ tục vay vốn: Để được vay vốn ngân hàng, Doanh nghiệp phải
có bộ hồ sơ vay vốn gồm:
+ Giấy đề nghị vay vốn
+ Giấy phép kinh doanh
+ Dự án, phương án sản suất kinh doanh, kế hoạch trả nợ
+ Hồ sơ tài sản thế chấp cầm cố
+ Hồ sơ tài liệu khác theo yêu cầu của NH
c) Lãi suất vay: Khi Doanh nghiệp vay vốn NH, Doanh nghiệp phải
trả một mức lãi suất phụ thuộc vào kì hạn của khoản vay (Lãi suất của các khoản vay có
kì hạn càng cao thì càng cao), phụ thuộc vào Doanh nghiệp
có phải là đối tượng ưu đãi không,…
- Lãi suất doanh nghiệp phải trả thường là lãi suất cố định Điều đó
có nghĩa là Doanh nghiệp sẽ phải trả cho Ngân hàng lãi định kì (thường là
lãi định kì) ngay cả khi Doanh nghiệp làm ăn không có lãi
d) Thời hạn vay: Doanh nghiệp có thể vay Ngân hàng dưới hình thức ngắn hạn,
trung hạn và dài hạn
e) Quy mô nguồn vốn vay: Doanh nghiệp huy động vốn Ngân hàng với quy mô
phụ thuộc vào mục đích sử dụng vốn Tuy nhiên quy mô này có thể bị hạn chế
do quy định hạn mức tín dụng của Ngân hàng cho doanh nghiệp , do kì hạn của
Trang 24nguồn vốn, do giá trị của TS thế chấp, do tính hiệu quả và khả thi của dự án… Trong trường hợp này Doanh nghiệp có thể xin sự đồng tài trợ của nhiều Ngân hàng cho mình.
f) Quản lý và giám sát: Doanh nghiệp vay vốn Ngân hàng chịu sự giám sát của
Ngân hàng trên 2 phương diện:
+ Doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn có đúng với mục đích ghi trong hợp đồng vayvốn hay không?
+ Doanh nghiệp trả gốc và lãi có đúng hạn không?
g) Rủi ro - Áp lực thanh toán: Định kì, doanh nghiệp phải trả lãi cho ngân hàng
ngay cả khi doanh nghiệp làm ăn không có lãi, nếu không doanh nghiệp sẽ phải chịulãi suất phạt của NH Đến hạn trả gốc, nếu Doanh nghiệp mất khả năng chi trảthì tài sản bảo đảm của Doanh nghiệp bị phát mãi hoặc bên thứ ba đứng ra bảo lãnhcho Doanh nghiệp khi vay sẽ phảI chịu trách nhiệm trả hộ cho doanh nghiệp Điềunày gây ra ảnh hưởng rất xấu về uy tín của Doanh nghiệp với NH
h) Tiết kiệm thuế: Lãi vay được tính là chi phí của doanh nghiệp , làm giảm
lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp do đó doanh nghiệp tiết kiệm được một khoảnthuế TNDN
2.2.3.4 Ưu ,nhược điểm của việc vay vốn Ngân hàng.
a Ưu điểm:
- Đối với Doanh nghiệp lớn:
+ Tập trung được nguồn vốn lớn cùng một lúc do có thể có tài sản để thế chấp lớn, có uy tín với NH…
+ Mức độ rủi ro thấp hơn các Doanh nghiệp nhỏ: Đến kì thanh toán Doanh nghiệp không trả đựơc nợ sẽ được Ngân hàng gia hạn, các
DNNN sẽ được nhà nước trả hộ…
- Đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ: Ngày nay Doanh nghiệp vừa và nhỏ đangnhận được sự giúp đỡ rất nhiều từ phía nhà nước để có thể tiếp cận được nguồn vốnnày
Trang 252.2.4 Phát hành trái phiếu.
2.2.4.1 Khái niệm.
Trái phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền và lợi
ích đòi nợ hợp pháp của người sở hữu trái phiếu đối với tài sản của tổ chức phát hành
2.2.4.2 Phân loại trái phiếu.
Một doanh nghiệp có thể phát hành các loại trái phiếu sau:
a) Trái phiếu có lãi suất cố định: Là loại trái phiếu mà doanh nghiệp phải trả một
mức lãi suất cố định được quy định ngay từ thời điểm phát hành
b) Trái phiếu có lãi suất thả nổi: Là loại trái phiếu mà doanh nghiệp phải trả mức
lãi suất thả nổi theo lãi suất thị trường hoặc theo điều chỉnh của doanh nghiệp
c) Trái phiếu có thể thu hồi: Là loại trái phiếu mà doanh nghiệp được phép thu hồi
sớm hơn thời hạn
d) Trái phiếu có thể chuyển đổi: Là loại trái phiếu cho phép các trái chủ được
quyền chuyển đổi sang một số lượng cổ phiếu thường xác định ở một giá xác định vàtrong một khoảng thời gian xác định
- Đối với loại trái phiếu này chỉ có công ty cổ phần mới được phát hành, chophép công ty huy động vốn là vay nợ nhưng khi chuyển đổi trái phiếu thì nợ chuyểnsang vốn điều lệ công ty giúp cho công ty có thể tái cấu trúc vốn để giảm nợ.Việcphát hành trái phiếu loại này có một số ưu điểm là chi phí sử dụng vốn thấp do tráiphiếu chuyển đổi thường có lãi suất thấp hơn so với các trái phiếu thông thường cócùng độ rủi ro nhưng không có khả năng chuyển đổi; việc phát hành tương đối dễdàng do đây là một công cụ đầu tư rất hấp dẫn Tuy nhiên việc phát hành trái phiếuchuyển đổi có nhược điểm là doanh nghiệp khó kiểm soát được cấu trúc vốn khi đếnthời hạn chuyển đổi do quyền lựa chọn thuộc về trái chủ
e) Trái phiếu kèm quyền mua cổ phiếu: Là loại trái phiếu cho phép trái chủ
được quyền mua thêm một số lượng cổ phiếu thường ở mức giá xác định và trongkhoảng thời gian xác định
f) Trái phiếu có tài sản đảm bảo: Là loại trái phiếu được bảo đảm bằng
những tài sản của doanh nghiệp hoặc bằng tài sản của bên thứ ba Những tài sản
để bảo đảm cho các trái phiếu phát hành thường là bất động sản hoặc nhà xưởng haymáy móc thiết bị
Trang 26- Khi phát hành loại trái phiếu này, công ty hoặc bên thứ ba có trách nhiệm duy trì các tài sản đảm bảo trong tình trạng tốt nhất Một tài sản có thể làm vật bảo đảm cho nhiều lần phát hành trái phiếu nhưng, tổng giá trị trái phiếu phát hành không được vượt quá giá trị của tài sản đảm bảo
g) Trái phiếu không có tài sản đảm bảo: Là loại trái phiếu không được bảo
đảm cho việc thanh toán gốc và lãi trái phiếu bằng một tài sản cụthể nào Đây là loai trái phiếu được doanh nghiệp phát hành tương đối phổ biến Loại trái phiếu này thường đi đôi với lãi suất huy động khá cao do độ rủi ro cho trái chủ cao Thường chỉ những doanh nghiệp lớn, có uy tín mới có thể phát hành thành công các trái phiếu loại này
2.2.4.3 Đặc điểm của việc huy động vốn từ phát hành trái phiếu.
a) Điều kiện, thủ tục phát hành Tùy từng quốc gia, vùng lãnh thổ mà điều kiện và
thủ tục phát hành trái phiếu là khác nhau
+ Điều kiện phát hành: Ở Việt Nam, điều kiện phát hành trái phiếu được quy địnhtrong Điều 8 nghị định 144/2003/NĐ-CP: Doanh nghiệp muốn phát hành cổ phiếuphải có đủ các điều kiện sau:
Là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp nhà nước cómức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký phát hành tối thiểu là 10 tỷ đồngViệt Nam
Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành phải có lãi
Có phương án khả thi về việc sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt phát hành tráiphiếu
Phải có tổ chức bảo lãnh phát hành
+ Thủ tục phát hành: Doanh nghiệp lập hồ sơ đăng ký phát hành trái phiếu (được quyđịnh chi tiết trong Điều 10 nghị định 144/2003/NĐ-CP) và nộp cho Uỷ ban Chứngkhoán Nhà nước
b) Quy mô phát hành: Doanh nghiệp chỉ được phát hành một lượng trái phiếu nhất
định dưói sự cho phép của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
Trang 27c) Thời hạn và lãi suất: Lãi suất trái phiếu thường thấp hơn lãi suất cho vay của
ngân hàng và lợi tức cổ phiếu thường
Ví
d ụ : Lãi suất Trái phiếu của Tổng công ty Sông Đà kỳ hạn 3 năm là
9,3%/năm Trong khi lãi suất ngân hàng cho vay ngắn hạn từ 9,36%/năm đến
12,06%/năm; cho vay dài hạn từ 0,9%/tháng đến 1,2%/tháng,
- Trái phiếu có thời gian đáo hạn xác định Khi đáo hạn, doanh nghiệp phải hoàn trả cho trái chủ cả phần gốc và lãi trái phiếu
d) Quản lý và giám sát: Doanh nghiệp không phải chịu sự quản lý hay giám sát
từ các trái chủ Doanh nghiệp chỉ phải chịu sự giám sát của
Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
- Trái chủ không có quyền tham gia vào các quyết định và biểu quyết những vấn đếquan trọng của doanh nghiệp
e) Áp lực thanh toán: Doanh nghiệp phải chịu áp lực thanh toán tiền lãi trái phiếu
hàng năm và trả nợ gốc khi đáo hạn
f) Phương thức thanh toán: Doanh nghiệp có thể thanh toán lãi theo phương thức
trả lãi trước hoặc trả lãi sau
g) Tiết kiệm thuế: Lãi trái phiếu được hạch toán vào chi phí hoạt động
tài chính (TK 635) để xác định lợi nhuận trước thuế do đó doanh nghiệp tiếtkiệm được một khoản thuế thu nhập doanh nghiệp
- Ngoài ra, nếu doanh nghiệp có trái phiếu được niêm yết lần đầu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán sẽ được giảm 50% số thuế TNDN phải nộp trong 2 năm kể từ khi thực hiện việc niêm yết
2.2.5 nguồn vốn huy động khác
Ngoai nhung hinh thuc huy dong von tren doanh nghiep con co the huy dong von bang cach vay muon nhung nguoi ban than thiet cua chinh nhung co dong ,thanh vien trong cong ty.vay cac to chuc tai chinh bang chu ‘tín’
III Các nhân tố ảnh hưởng tới việc huy động và sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp
1.3.1 Các nhân tố vĩ mô
Môi trường kinh tế vĩ mô
Môi trường kinh tế vĩ mô ổn định có vai trò rất lớn trong quá trình ra quyết định đầu
tư Trước khi ra quyết định, các nhà đầu tư thường cân nhắc rất kỹ các yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động và hiệu quả đầu tư như yếu tố lãi suất, lạm phát, hoạt động của ngân hàng trung ương, thu chi ngân sách nhà nước, ngoài ra các doanh nghiệp xuất khẩu còn quan tâm tới tỷ giá hối đoái
Trang 28Sự ổn định về chính trị, sự nhất quán trong chủ trương đường lối chính sách của Nhànước luôn là yếu tố tạo mối trường đầu tư kinh doanh hấp dẫn với các nhà đầu tư và doanh nghiệp trong và ngoài nước Trong một xã hội ổn định về chính trị, các nhà đầu tư và doanhnghiệp được đảm bảo an toàn về đầu tư, quyền sở hữu tài sản, mức độ yên tâm của nhà đầu
tư được củng cố thông qua việc đánh giá các yếu tố rủi ro chính trị Ngoài ra còn có một số yếu tố quan trọng trong môi trường chính trị như xu thế chính trị, là định hướng của nhà nước sẽ áp dụng trọng việc điều hành quốc gia Những chính sách đó sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến nền kinh tế và các doanh nghiệp Có thể nói môi trường chính trị là nhân tố hàng đầu, mỗi khi môi trường chính trị, xã hội bất ổn định thì mọi cơ chế chính sách đều mất đi tính hiệu lực của nó
Lãi suất là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới một dự án đầu tư trong việc huy động và
sử dụng vốn Lãi suất quá cao gây khó khăn trong quá trình huy động vốn của doanh
nghiệp, và khiến chi phí sử dụng vốn bị đội lên cao do đó lợi nhuận thực của doanh nghiệp giảm Việc Chính phủ thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt gần đây thông qua phát hành
20300 tỷ đồng tín phiếu và nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng lên 11% làm lãi suất tăng chóng mặt, điều này gây trở ngại cho các nhà đầu tư có ý định vay vốn ngân hàng trong đó có cả một số doanh nghiệp nhà nước Mặc dù được vay ưu đãi nhưng với mức lãi suất cao như hiện nay thì chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước cũng bị đẩy lên cao hơn trước
lạm phát:lạm phát đa lam cho lai suat tang cao,nguoi dan dau tu vao cac loai tai san nhu dat dai,vang,ngoai te tang len lam cho ngan hang huy dong von it div a doanh nghiep kho tiep can nguon von hon
Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu như dệt may, da giày, hải sản đặc biệt quan tâm tới tỷ giá hối đoái Sự lên xuống của đồng nội tệ luôn là mối quan tâm của các doanh nghiệp xuất khẩu Giá trị đồng nội tệ càng giảm hoặc thấp so với những ngoại tệ mạnh thì các doanh nghiệp xuất khẩu càng có lợi Lợi nhuận cao thì khả năng quay vòng vốn của các doanh nghiệp cũng nhanh hơn Tuy nhiên nguy cơ suy thoái nền kinh tế
Mỹ hiện nay đang gây nên tâm trạng lo lắng cho những người làm xuất khẩu vì đồng đô la sụt giá có thể làm giảm lượng hàng xuất khẩu sang Mỹ - thị trường nhập khẩu lớn nhất của nước ta về hàng nông sản và may mặc
Các chính sách kinh tế
Bất kỳ doanh nghiệp nào vừa ra đời hoặc đang tồn tại cũng đều thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp lý và chịu sự quản lý giám sát của cơ quan nhà nước có chức năng, do đó các mỗi chính sách kinh tế được ban hành đều có ảnh hưởng tới tình hình hoạt động của các doanh nghiệp
Nổi bật nhất là chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nhằm huy động và đadạng hoá vốn chủ sở hữu Quá trình cổ phần hóa không những huy động được nguồn vốn không nhỏ cho doanh nghiệp nhà nước mà còn tạo động lực cho các doanh nghiệp nhà nướctrước đây vốn bị coi là chậm chạp trong đổi mới phương thức kinh doanh và phương pháp quản lý, nay với sự tham gia của tư nhân đã chủ động hơn trong sử dụng vốn và đạt được những thành công nhất định trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Một ví dụ như chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát của chính phủ hai tháng đầu năm 2008 được xem như sự hi sinh thị trường chứng khoán cho tăng trưởng
Trang 29Lãi suất nâng cao cùng với việc ban hành chỉ thị 03 hạn chế các nhà đầu tư vay vốn ngân hàng để đầu tư chứng khoán đã khiến lượng vốn huy động trên thị trường chứng khoán bị khủng hoảng, quá trình phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng (IPO) của một số doanh nghiệp nhà nước lớn như Vietcombank với mục đích huy động vốn bị chậm lại do vào thời điểm đó trên thị trường chưa đủ vốn
Từ sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cùng với việc cam kết phải đi đôi với thực hiện giảm thuế theo lộ trình đối với các doanh nghiệp nước ngoài Thuế suất của các mặt hàng nhập khẩu giảm thúc đẩy nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường non trẻ Việt Nam làm gia tăng sức cạnh tranh Để tồn tại và phát triển buộc doanh nghiệp trong nước đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước phải có giải pháp sử dụngvốn thực sự hiệu quả Do đó chính sách này tác động không nhỏ tới việc sử dụng vốn của Doanh nghiệp
1.3.2 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
1.3.2.1 Ngân sách nhà nước
Ngân sách là nguồn huy động chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn của doanh
nghiệp nhà nước Nguồn huy động vốn chủ yếu của doanh nghiệp nhà nước lúc đó là từ ngân sách nhà nước nên không tạo cho doanh nghiệp tính chủ động trong huy động và tính trách nhiệm trong sử dụng sao cho có hiệu quả
Từ khi thực hiện cổ phần hoá nhằm đa dạng hoá cơ cấu chủ sở hữu vốn, đối với những doanh nghiệp nhà nước mà nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn thì hiện nay nhà nước chỉ nắm từ 51% vốn trở lên Quá trình cổ phần hoá không những giúp doanh nghiệp nhà nước huy động được nguồn vốn trong dân doanh mà còn giúp các doanh nghiệp năng động hơn trong việc quản lý việc sử dụng vốn Thông qua cổ phần hoá, nhà nước đã giảm dần chức năng quản lý sang giám sát việc huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước Các doanh nghiệp nhà nước đã chủ động hơn khi có sự tham gia góp vốn của tư nhân.Như vậy việc giảm dần nguồn vốn ngân sách cho doanh nghiệp nhà nước lại đem lại tín hiệu tích cực cho nền kinh tế
1.3.2.2 Khấu hao hàng năm
Trước năm 1986 nguồn vốn được chia thành nhiều nguồn trong đó có khấu hao tài sản cơ bản, khấu hao sửa chữa lớn Các doanh nghiệp trước đây được cấp vốn cố định để mua sắm xây dựng cơ sở vật chất (tài sản cố định ) ban đầu, khi đi vào hoạt động thì được cấp vốn lưu động để hoạt động Mục đích của việc quản lý nguồn vốn khấu hao trước đây lànhằm bảo toàn vốn cố định được cấp tại doanh nghiệp trong việc quản lý vốn của doanh nghiệp
Theo thông tư của Bộ Tài Chính quyết định về khấu hao tài sản cố định (10/5/1990): Tất cả các Tài sản cố định hiện có ở các tổ chức kinh tế, các xí nghiệp quốc doanh, hạch toán kinh tế độc lập, có tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ nghiên cứu khoa học đều phải thực hiện việc khấu hao và trích khấu hao vào giá thành sản phẩm hoặcphí lưu thông (dưới đây gọi chung là giá thành) để hình thành nguồn vốn đáp ứng nhu cầu sửa chữa lớn TSCĐ và mua sắm, đổi mới thay thế TSCĐ
Tốc độ khấu hao tài sản cố định nhanh chóng thì tốc độ sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp càng nhanh nên thời gian quay vòng vốn cũng diễn ra với chu kỳ ngắn Bên
Trang 30cạnh đó tốc độ khấu hao tài sản cố định cũng cho thấy khả năng sử dụng vốn của doanh nghiệp có hiệu quả hay không.
1.3.2.3.Lợi nhuận giữ lại
Đây là một trong những nguồn vốn bên trong đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp Các doanh nghiệp muốn tồn tại trên thương trường phải có lợi nhuậngiữ lại sau khi lấy doanh thu trừ các khoản chi phí Một số chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận của doanh nghiệp như tỷ suất lợi nhuận trên vốn, tỷ suất lợi nhuận sau thuế Thông thường mức
tỷ suất lợi nhuận trên vốn của doanh nghiệp dương nhưng một số doanh nghiệp nhà nước vẫn có tỷ suất lợi nhuận trên vốn âm Đó là những doanh nghiệp làm ăn không có lãi hoặc những doanh nghiệp không hoạt động vì mục tiêu sinh lời mà nhằm đảm bảo các mục tiêu dân sinh xã hội như giải quyết công ăn việc làm, đảm bảo cơ cấu kinh tế của ngành hoặc địaphương
Với một số doanh nghiệp nhà nước có tỷ suất lợi nhuận âm thì không có lợi nhuận giữ lại, các doanh nghiệp này hoạt động nhờ các khoản vốn ngân sách và vay nợ ngân hàng.Tuy nhiên số lượng các doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận trên vốn âm không nhiều Khá nhiều tổng công ty nhà nước làm ăn có hiệu quả như Tổng công ty xây dựng, tổng công ty công nghiệp môtô Việt Nam, Tập đoàn bưu chính viễn thông, Tập đoàn điện lực Việt
Nam Lợi nhuận giữ lại của các tổng công ty này đóng vai trò quan trọng trong nguồn vốn kinh doanh
1.3.2.4.Uy tín của doanh nghiệp trong việc cong khai tình chính minh
bạch,hoàn trả vốn dung thoi hạn.
IV.CÁC CÔNG CỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ CỦA DN 1.4.1.1.vốn góp ban đầu
Khi thành lập doanh nghiệp bao giờ doanh nghiệp cung phải có số vốn ban đầu nhất định do
cổ đông –chủ sở hữu góp.khi nói đến nguồn vốn chu sở hữu của doanh nghiệp đó.vì hình thuc so huu se quyet dinh tính chất và hình thức tạo vốn của doanh nghiệp
-Đối với doanh nghiệp nhà nước,vốn ban đầu chính là vốn đầu tư của nhà nước,chủ doanh nghiệp nhà nước là nhà nước
-Đối với doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp 2005 chủ doanh nghiệp phải có một số vốn cần thiết để xin đăng kí thành lập dn.chẳng hạn đối với doanh nghiệp cổ phần vốn góp của
cổ đông đóng góp là yếu tố quyết định thành lập doanh nghiệp.mỗi cổ đông là 1 chủ sở hữu của công ty và chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị cổ phần mà họ nắm giư
-Trong các loại hình doanh nghiệp khác như công ty trách nhiện hữu hạn,công ty có vốn trực tiếp nước ngoài,các nguồn vốn cũng tương tự như trên,tức là có thể do chủ nhân bỏ ra,do các bên tham gia,các đối tác góp…
1.4.1.2.lợi nhuận không chia
Trang 31Là phần lợi nhuận được xác định qua kiểm toán của tổ chức kiểm toán độc lập sau khi đã nộp thuế và trích lập các quỹ theo quy định của pháp luật, được giữ lại để bổ sung vốn cho
tổ chức tài chính quy mô nhỏ theo quy định của pháp luật
1.4.1.3Quỹ khấu hao cơ bản
Quy khau hao la nguồn vốn hình thành bằng tiền trích khấu hao tài sản cố định QKH gồm hai phần: QKH cơ bản và QKH sửa chữa lớn QKH cơ bản dùng để mua sắm, thay thế những tài sản cố định bị đào thải bằng những tài sản cố định mới (tái sản xuất toàn bộ tài sản cố định) QKH sửa chữa lớn dùng để sửa chữa, thay thế những bộ phận, chi tiết cơ bản
bị hao mòn của tài sản cố định (tái sản xuất từng bộ phận của tài sản cố định) Dưới chủ nghĩa xã hội, việc sử dụng QKH không giới hạn trong phạm vi xí nghiệp, nhà nước có thể tập trung một bộ phận vào ngân sách, điều hoà vì lợi ích chung của toàn xã hội (những quy định cụ thể tuỳ theo từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế)
Đây là một nguồn tự tài trợ có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanhnghiệp,bởi quỹ này phản ánh độ lớn các khoản khấu hao tài sản cố định và gián tiếp phản ánh tốc độ đổi mới doanh nghiệp
Khi doanh nghiệp muốn nâng cao vị thế trên thương trường thì một yếu tố cực kỳ quan trọng có thể giúp doanh nghiệp thắng được các đối thủ cạnh tranh là yếu tố công nghệ.Do
đó, nếu tốc độ khấu hao chậm ,các doanh nghiệp sẽ không
kỳ quan trọng có thể giúp doanh nghiệp thắng được các đối thủ cạnh tranh là yếu tố công nghệ bởi tài sản cũ chưa khấu hao hết,nguồn tích luỹ từ khấu hao thấp không đủ để mua máy móc thiết bị
1.4.2.1.Nguồn vốn tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất đối với doanhnghiệp Các doanh nghiệp có thể vay dài hạn, trung hạn hoặc vay ngắn hạn ngân hàng đểđảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là đảm bảo có
đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp Tùy theo mụcđích sử dụng các doanh nghiệp có thể vay ngân hàng để đầu tư tài sản cố định, đầu tư tàisản lưu động, cho vay để thực hiện dự án
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng có rất nhiều ưu điểm: đây là nguồn vốn dồi dàotrong xã hội được ngân hàng huy động, tập hợp từ nhiều nguồn vì vậy đáp ứng tốt nhucẩu về khối lượng vốn cũng như thời hạn vốn cho các doanh nghiệp nếu doanh nghiệpđáp ứng đủ điều kiện của ngân hàng Không chỉ có các doanh nghiệp lớn mà các doanhnghiệp nhỏ cũng có thể tiếp cận được nguồn vốn này thông qua bảo lãnh
Tuy nhiên nguồn vốn này cũng có những hạn chế nhất định đó là các hạn chế vềđiều kiện tín dụng, chi phí sử dụng vốn (lãi suất) và sự kiểm soát của ngân hàng Doanhnghiệp muốn vay vốn thì phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện của ngân hàng: mục đích sửdụng vốn vay hợp pháp, có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết, có
dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh,dịch vụ khả thi, có hiệu quả và phù hợp vớiquy định của pháp luật Và thường để vay vốn thì các doanh nghiệp có tài sản thế chấp,
có bảo lãnh hoặc bị hạn chế tín dụng
Trang 32Khi vay vốn ngân hàng thì doanh nghiệp chấp nhận chi phí sử dụng vốn đóchính là lãi suất tính trên số vốn vay và thời hạn vay mà doanh nghiệp phải trả cho ngânhàng.
Đồng thời khi sử dụng vốn vay ngân hàng thì doanh nghiệp sẽ phải chịu sự kiểmsoát của ngân hàng trên hai phương diện: DN sử dụng nguồn vốn có đúng với mục đíchghi trong hợp đồng vay vốn không và DN có trả gốc và lãi đúng hạn không
1.4.2.2.Nguồn vốn tín dụng thương mại
Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các DN, được thực hiện dướihình thức mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp hàng hóa Đến thời hạn thỏathuận DN mua phải hoàn trả cả vốn gốc và lãi cho doanh nghiệp bán dưới hình thứctiền tệ
Nguồn vốn tín dụng thương mại có ảnh hưởng hết sức to lớn không chỉ với các
DN mà cả đối với toàn bộ nền kinh tế Trong một số DN, nguồn vốn tín dụng thươngmại dưới dạng các khoản phải trả có thể chiếm tới 20% tổng nguồn vốn, thậm chí cóthể chiếm tới 40% tổng nguồn vốn
Đây là một phương thức tài trợ rẻ, tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh do
DN sẽ vay trực tiếp bằng nguyên vật liệu và số lượng có thể thay đổi mỗi kỳ khi ký hợpđồng Hơn nữa, nó còn tạo khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một cáchlâu bền; giúp DN chủ động khi huy động vốn: chủ động về thời gian, số lượng, nhàcung ứng; huy động vốn một cách nhanh chóng dễ dàng; không phải chịu sự giám sátcủa ngân hàng cũng như các cơ quan nhà nước Ngoài ra, đối với DN làm chủ nợ: cóthể vay ngân hàng thông qua hình thức chiết khấu thương phiếu( bán hoặc cầm cố )
Tuy nhiên điểm hạn chế đó là về quy mô tín dụng( số lượng mua chịu lớn, khảnăng của nhà cung ứng hạn chế); hạn chế về đối tượng vay mượn; hạn chế về khônggian vay mượn; hạn chế về thời gian vay mượn do chu kỳ sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp khác nhau và thường bị hạn chế về thời hạn vay; Bị phụ thuộc vào quan
hệ sản xuất kinh doanh trên thị trường Ngoài ra, có thể gặp rủi ro khi buộc phải thayđổi nhà cung ứng và phụ thuộc nhiều vào sự đúng hẹn, uy tín của nhà cung ứng; rất dễgặp rủi ro dây chuyền
Chi phí của việc sử dụng các nguồn vốn tín dụng thể hiện qua lãi suất của khoảnvay, đó là chi phí lãi vay, sẽ được tính vào giá thành sản phẩm hay dịch vụ Khi muabán hàng hóa trả chậm, chi phí này có thể "ẩn" dưới hình thức thay đổi mức giá, tùythuộc quan hệ và thỏa thuận cụ thể giữa các bên.Trong xu hướng hiện nay ở Việt Namcũng như trên thế giới, các hình thức tín dụng ngày càng được đa dạng hóa và linh hoạthơn, với tính chất cạnh tranh hơn Do đó, các DN cũng có nhiều cơ hội để lựa chọnnguồn vốn tài trợ cho hoạt động của DN
1.4.2.4.Nguồn vốn từ thị trường tín dụng thuê mua
Một doanh nghiệp cần tiền để mua máy móc thiết bị có thể sử dụng phương pháp huy động nguồn tín dụng nguồn tín dụng trực tiếp bằng cách mua các loại tài sản cố định
Trang 33móc mà doanh nghiệp chưa đủ để tự chi trả thì có thể đi thuê của các doanh nghiệp cho thuêtài sản hoặc các quỹ cho thuê, sau khi đã khấu hao hết máy móc thiết bị đó doanh nghiệp cóthể mua lại với giá ưu đãi thậm chí là mức giá tượng trưng.
Đây là hình thức huy động vốn rất phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Thứ nhất, khi công ty tiến hành thuê mua tài sản thì họ được quyền sử dụng tài sản đó như thoả thuận Thời gian thuê có thể kéo dài thậm chí cho tới khi hết đời sống hữu ích của máy mócthiết bị đó Thứ hai, khi kết thúc hợp đồng bên đi thuê có thể mua lại với giá tượng trưng
So với hình thức mua trực tiếp thì doanh nghiệp đi thuê không phải bỏ ngay ra một số tiền lớn mà vẫn có thể thuê một đơn vị tài sản hoặc một dây chuyền và trả tiền thuê tài sản theo từng giai đoạn Hình thức huy động vốn này còn có ưu điểm hơn hình thức tài trợ bằng tiền
ở chỗ, nếu vay tiền doanh nghiệp bị giới hạn bởi năng lực tài sản phải có thế chấp, thậm chí không được vay tiền nếu số tiền doanh nghiệp muốn vay lớn hơn giá trị tài sản thế chấp Ba
là, trong trường hợp có lạm phát cao thì tài trợ bằng tài sản cũng an toàn hơn tài trợ bằng tiền Cuối cùng, trường hợp có rủi ro thì bên tài trợ cũng có thể rút lại tài sản dễ dàng Tài trợ bằng tài sản bên cho thuê không sợ bên đi thuê sử dụng khoản vay sai mục đich
Tuy nhiên hình thức huy động này cũng có một số điều kiện ràng buộc hợp đồng: chiphí sửa chữa bảo dưỡng bên đi thuê phải chịu hoàn toàn Tiền thuê tài sản có thể trả dần nhưng giá trị hiện tại của tiền phải lớn hơn chi phí có thể tạo ra hoặc mua tài sản Hình thức này cũng có bất lợi nữa là chí phí tài trợ thường cao hơn lãi suất cho vay của các hình thức tài trợ vốn khác trên thị trường vốn.Vào giai đoạn cuối của thoả thuận thuê mua, dù đã trả hết số tiền thuê, người thuê vẫn chưa được quyền sử dụng tài sản vào mục đích khác
Ở Việt Nam tuy thị trường tín dụng thuê mua chưa thực sự phát triển nhưng hình thức thuê mua tài sản là nguồn tài trợ vốn trung và dài hạn hiệu quả cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.4.2.5.Nguồn vốn từ thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán trung
và dài hạn.Tức là nơi chuyển nhượng quyền và các lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với chứng khoán
Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn, thị trường chứng khoán được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành.Trên thị trường này,vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành
Vai trò của thị trường sơ cấp :
-Chứng khoán hoá nguồn vốn huy động,vốn của công ty được huy động qua việc phát hành chứng khoán
-Thực hiện quá trình chu chuyển tài chính, trực tiếp đưa các khoản tiền nhàn rỗi tạm thời trong dân chúng vào đầu tư, chuyển sang dạng vốn dài hạn
Đặc điểm của thị trường sơ cấp:
-Thị trường sơ cấp là nơi duy nhất mà các chứng khoán đem lại vốn cho người phát hành
Trang 34-Những người bán trên thị trường sơ cấp được xác định thường là kho bạc, ngân hàng nhà nước,công ty phát hành, tập đoàn bảo lãnh phát hành…
-Giá chứng khoán trên thị trường sơ cấp do tổ chức phát hành quyết định và thường được in ngay trên chứng khoán
Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị
trường sơ cấp.Thị trường thứ cấp bảo đảm tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành
Đặc điểm của thị trường thứ cấp :
-Trên thị trường thứ cấp, các khoản tiền thu được từ việc bán chứng khoán thuộc về nhà kinh doanh và nhà đầu tư chứ không thuộc về nhà phát hành
-Giao dịch trên thị trường thứ cấp phản ánh nguyên tác cạnh tranh tự do, giá chứng khoán trên thị trường thứ cấp do cung và cầu quyết định
-Thị trường thứ cấp là thị trường hoạt động liên tục, các nhà đầu tư có thể mua và bán các chứng khoán nhiều lần trên thị trường thứ cấp
Thị trường thứ cấp là một bộ phận quan trọng của thị trường chứng khoán, gắn bó chặt chẽ với thị trường sơ cấp, về bản chất thị trường này không trực tiếp tạo vốn đối với đơn vị phát hành và cả nền kinh tế Nó chỉ dịch chuyển quyền quyền sở hữu đối với các chủthể Tuy nhiên thị trường này có ảnh hưởng đến việc tạo vốn vì nếu thị trường thứ cấp phát triển sẽ ảnh hưởng đến huy động bổ sung, phát hành mới sẽ tăng lên do đó sẽ tăng vốn huy động trên thị trường thứ cấp
Huy động vốn trên thị trường chứng khoán có ưu điểm là huy động rộng rãi
hơn( thông qua phát hành chứng khoán ra công chúng ) Bên cạnh đó, yêu cầu minh bạch, công khai cao trên thị trường chứng khoán cũng tạo điều kiện và sức ép buộc doanh nghiệp
sử dụng vốn có hiệu quả hơn Tuy nhiên tính cạnh tranh và rủi ro cũng lớn hơn
Tóm lại mỗi nguồn vốn và phương thức tài trợ vừa có ưu điểm nhưng cũng có nhượcđiểm nhất định Tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể mà doanh nghiệp cói thể lựa chọn nguồn và phương thức huy động vốn phù hợp
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ VỐN VÀ PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG
VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
1 Thực trạng về vốn và sự dụng vốn trong doanh nghiệp
1.1 Thực trạng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.
- Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, tính đến ngày 01/01/2004,cả nước có 72.012 doanh nghiệp thực tế hoạt động với tổng số vốn là1.724.558 tỷ đồng (nếu quy đổi ra đô la Mỹ (thời điểm năm 2003) thì quy mô vốn của các doanh nghiệp ở Việt Namchỉ tương đương với một tập đoàn đa quốc gia cỡ trung bình trên thế giới) Trong đó doanh nghiệp Nhà nước chiếm 59,0/% tổng vốn của doanh nghiệp cả nước (1.018.615
tỷ đồng), doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 19,55% (337.155 tỷ đồng), doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 21,44% tổng vốn các doanh nghiệp cả nước (868.788 tỷ
Trang 35đồng) Xét riêng đối với mỗi doanh nghiệp, vốn của từng doanh nghiệp rất nhỏ (năm
2004, bình quân mỗi doanh nghiệp là 23,95 tỷ đồng)
Theo Trung tâm thông tin doanh nghiệp - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, báo cáoĐăng ký kinh doanh từ 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong năm 2005,toàn quốc có 39.959 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh với tổng vốn đăng ký 108,03ngàn tỷ đồng, đạt 107,3% về số lượng và 141%về vốn đăng ký so năm trước
Ghi nhận từ các phòng đăng ký kinh doanh trong năm 2005 cho thấy,số lượng và
số vốn doanh nghiệp tư nhân vẫn ngày càng giảm trong khi các loại hình doanh nghiệpkhác tăng lên Loại hình Công ty TNHH 2 thành viên vẫn đứng đầu về số lượng và
số vốn đăng ký, nhưng tốc độ tăng không nhiều như các loại hình khác Trong số cácloại hình doanh nghiệp còn lại, công tyTNHH 1 thành viên là loại hình có số lượngdoanh nghiệp và số vốn đăng ký tăng nhiều nhất so với năm 2005
Qua 6 năm thi hành Luật Doanh nghiệp, đã có 160.752 doanh nghiệp đăng kýkinh doanh tại 64 Phòng đăng ký kinh doanh thuộc 64 Sở Kế hoạch và Đầu tư trên
cả nước, huy động 321,25 ngàn tỷ đồng vốn đăng ký ban đầu Đồng thời, các doanhnghiệp đang hoạt động cũng đã đăng ký bổ sung 103,47 ngàn tỷ đồng vốn Trong đóriêng năm 2005, số vốn đăng ký bổ sung này là 38,34 ngàn tỷ đồng Số liệu thống kê sơ
bộ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết trong quýI năm 2006, có 7.775 doanh nghiệpđăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp với số vốn đăng ký 29.063 nghìn tỷđồng Tuy giảm 8% về số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh nhưng tăng 25% về số vốnđăng ký
- Việc huy động vốn từ nguồn lợi nhuận không chia để lại thì còn khá khiêmtốn Thực tế ở Việt Nam, do TTCK được thành lập rất muộn so với các nước, nên nhàđầu tư chưa có kinh nghiệm và trình độ cao trong đầu tư, bên cạnh đó lại chủ yếu làcác nhà đầu tư ngắn hạn Nếu công ty cổ phần niêm yết không thanh toán cổ tức lậptức sẽ có sự phản ứng tức thời trên thị trường, giá cổ phiếu sẽ giảm Bởi thông thườngcác nhà đầu tư cho rằng sự sụt giảm về lợi nhuận và cổ tức là dấu hiệu xấu cho thấytương lai của công ty gặp nhiều khó khăn, khi đó đa số nhà môi giới đềukhuyên khách hàng bán cổ phiếu đi Vì thế, nguồn tài trợ từ nguồn lợi nhuận giữ lại của
Trang 36các công ty cổ phần hiện nay chưa được quan tâm xem xét đúng mức Nếu xem xéttrên TTCK Mỹ, các cổ phiếu như Microsoft từ trước đến nay không thanh toán cổ tứccho cổ đông, chỉ thanh toán vào năm 2003 với cổ tức năm (0,16 USD) tính đến30.6.2003 vốn cổ phần thường của Microsoft là 35.344.000.000 USD, lợi nhuận giữlại là 25.676.000.000 USD đạt72,65% so với vốn cổ phiếu thường Như vậy đây làmột nguồn vốn không nhỏ nếu chúng ta biết cách phát huy nó một cách có hiệu quả.
- Huy động vốn từ việc phát hành cổ phiếu mới là một biện pháp đangđược rất nhiều doanh nghiệp quan tâm hiện nay Rất nhiều doanh nghiệp nhànước trong tiến trình cổ phần hóa đã phát hành thêm cổ phiếu mới để thu hút vốnđầu từ từ bên ngoài Các doanh nghiệp cổ phần khác cũng coi đây là một nguồn vốn
vô cùng to lớn Một số doanh nghiệp đã tăng được vốn chủ sở hữu lên đáng kể khi
sử dụng biện pháp phát hành thêm cổ phiếu này Điển hình nhất phải kể đến cácngân hàng thương mại cổ phần Như Ngân hàng xuất nhập khẩu VN (Eximbank)
đã phát hành thêm 400 tỷ đồng cổ phiếu cho các cổ đông hiện hữu và nhà đầu tưchiến lược (8/2006) Đồng thời, hiện Eximbank vẫn trong thời gian tiến hànhđàm phán để hoàn thành kế hoạch bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài, đồng thờithực hiện kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 815 tỷ đồng lên 1.200 tỷ đồng vào cuối nămnay Ngoài những loại cổ phiếu mới, nhiều công ty cũ trên sàn cũng phát hành thêm
cổ phiếu như Công ty cổ phần Cơ điện lạnh (REE) phát hành thêm 10 triệu cổ phiếu(bằng 100 tỉ đồng mệnh giá), Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) chuẩn bị pháthành thêm 15,9 triệu cổ phiếu (159 tỉ đồng mệnh giá)
Thị trường chứng khoán Việt Nam còn đang ở giai đoạn phát triển ban đầu Tuy nhiên thị trường chứng khoán Việt Nam đang phát triển với tốc độ rất nhanh Khoảng một tháng gần đây, hàng loạt công ty nộp đơn lên Uỷ ban Chứng khoán nhà nước xin cấp phép niêm yết và phát hành thêm cổ phiếu Ngoài yếu tố “chạy" ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trước thời điểm tháng 1/2007, sự phục hồi khả quan của thị trường chứng khoán (TTCK) cũng tạo sức hút đáng kể
Các nhà hoạch định chính sách đã đưa ra chỉ tiêu: năm 2006 đưa tổng giá trị cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch trên TTCK đạt khoảng từ 2-3% GDP Con số này là khiêm tốn, vì theo đánh giá của Ủy ban chứng khoán Nhà nước thì năm 2005 quy mô thị trường giao dịch chứng khoán tăng với tốc độ lớn nhất
Trang 37trong 5 năm qua, 64% so với năm 2004 Giá trị thị trường của chứng khoán niêm yết và đăng ký giao dịch tăng gấp 1,6 lần, tương đương 6,5% GDP năm 2005 (năm 2004 con số này là 3,9% GDP) Mặc dù vậy, kế hoạch phát triển TTCK Việt Nam đến năm 2010 cũng chỉ đặt ra mục tiêu tổng giá trị vốn niêm yết trên thị trường chứng khoán đạt 10-15% GDP.
Kế hoạch là một chuyện, còn thực tế lại diễn ra khác xa theo ông NguyễnSơn (Phó trưởng ban phát triển thị trường, UBCK Nhà nước): kế hoạch năm 2006đạt 3% GDP, nhưng ngay quý I năm 2006 đã đạt 6,5% Đây là mức tăng trưởngnhanh Hiện có khoảng gần 50 DN đã đăng ký niêm yết với tổng giá trị vốnkhoảng 50 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 6,5% GDP Đó là còn chưa tính đến 2Doanh nghiệp mới và sắp niêm yết, với tổng giá trị vốn khoảng 20 nghìn tỷ đồngnữa Như vậy, đã có khoảng gần
70 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 8% GDP Cộng với số trái phiếu trên thị trường 52nghìn tỷ đồng, chiếm trên 12% GDP Như vậy, chúng ta đã nhanh chóng đạtđược mục tiêu trong chiến lược đến của năm 2010 là 10-
Lâu nay, các doanh nghiệp và ngân hàng đều đã sử dụng hối phiếu trongthanh toán xuất nhập khẩu và vay nợ nước ngoài Tất cả các giao dịch này đều thực