Trong những năm gần đây, đặc biệt là trong 2 năm 2007 và 2008,đứng trước tình hình suy thoái dây chuyền của nền kinh tế thế giới, nềnkinh tế của nước ta cũng đã bị ảnh hưởng không nhỏ, l
Trang 1MỤC LỤC
Lời nói đầu 3
I Lý luận chung về lạm phát 4
1 Khái niệm và phân loại lạm phát 4
a) Các khái niệm 4
b) Phân loại lạm phát 4
2 Nguyên nhân lạm phát 5
a) Lạm phát theo thuyết tiền tệ 5
b) Lạm phát theo thuyết Keynes (lạm phát cầu kéo) 6
c) Lạm phát theo thuyết chi phí đẩy 6
d) Lạm phát dự kiến 8
e) Các nguyên nhân khác 8
3 Những tác động của lạm phát 9
a) Đối với lĩnh vực sản xuất 9
b) Đối với lĩnh vực lưu thông 9
c) Đối với lĩnh vực tiền tệ, tín dụng 9
d) Đối với chính sách kinh tế tài chính của nhà nước 10
II Thực trạng lạm phát ở Việt Nam 10
1 Lịch sử của lạm phát 10
2 Đặc trưng lạm phát ở nước ta 11
3 Thực trạng 13
4 Nguyên nhân dẫn đến lạm phát ở Việt Nam tăng nhanh trong 2 năm 2007- 2008 18
a Nguyên nhân sâu xa 18
b Nguyên nhân trực tiếp 19
III Các giải pháp hạn chế lạm phát ở nước ta hiện nay 21
1 Những bài học về kiềm chế lạm phát ở Trung Quốc 21
2 Giải pháp chống lạm phát ở nước ta 22
2.1 Những giải pháp cơ bản 22
a Giải pháp đầu tiên 22
b Các biện pháp về tiền tệ, tín dụng, thanh toán và ngân hàng trong việc chống lạm phát 23
c Nhà nước thực hiện thả nổi giá cả 24
d Thứ tư: Tạo điều kiện phát triển nền kinh tế ngoài quốc doanh 25
Trang 2e Thứ năm: Nhà nước mở rộng quyền xuất nhập khẩu mở cửa biên giới
25
2.2 Nhóm giải pháp của chính phủ kiềm chế lạm phát trong ngắn hạn
25
2.2.1 Chín nhóm giải pháp cho doanh nghiệp 26
2.2.2 Tám nhóm giải pháp của chính phủ 28
Kết luận 32
Tài liệu tham khảo 33
LỜI MỞ ĐẦU
Trang 3Cơ chế thị trường rung lên hồi chuông cảnh báo về sự thay đổi nềnkinh tế Việt Nam trong những thập niên gần đây Trong nền kinh tế thịtrường hoạt động đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt để thu được lợi nhuậncao và đứng vững trên thương trường, các nhà kinh tế cũng như các doanhnghiệp phải nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền kinh tếmới Bên cạnh bao vấn đề cần có để kinh doanh còn là những vấn đề nổicộm khác trong kinh tế Một trong những vấn đề nổi cộm đấy chính là lạmphát Lạm phát như một căn bệnh của nền kinh tế thị trường, nó là một vấn
đề phức tạp đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian và trí tuệ mới có thể mongmuốn đạt được kết quả khả quan Chống lạm phát không chỉ là việc của cácdoanh nghiệp mà còn là nhiệm vụ của chính phủ và của tất cả chúng ta
Trong những năm gần đây, đặc biệt là trong 2 năm 2007 và 2008,đứng trước tình hình suy thoái dây chuyền của nền kinh tế thế giới, nềnkinh tế của nước ta cũng đã bị ảnh hưởng không nhỏ, lạm phát diễn biếnmột cách hết sức phức tạp và khó lường, giá cả của hầu hết các hàng hoáđều tăng vọt và sức mua của đồng tiền ngày càng giảm nhanh Xuất phát từvấn đề nghiên cứu lạm phát là cần thiết, cấp bách, đặc biệt thấy được tầmquan trọng của lạm phát, qua quá trình tìm hiểu cùng với sự giúp đỡ, chỉ
VIỆT NAM QUA HAI NĂM 2007- 2008, NGUYÊN NHÂN - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP”
Với lượng kiến thức còn hạn chế cũng như thời gian có hạn, cho nênbài viết không tránh khỏi một số thiếu sót Chính vì vậy, em rất mong nhậnđược sự đóng góp ý kiến của cô giáo để đề tài có thể hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2008
Sinh viên Nguyễn Ngọc Sơn
I/ Lý luận chung về lạm phát:
Trang 41 Khái niệm và phân loại lạm phát:
a) Các khái niệm:
- Lạm phát là một phạm trù vốn có của nền kinh tế thị trường, nó xuấthiện khi các yêu cầu của quy luật kinh tế hàng hoá không được tôn trọng,nhất là quy luật lưu thông tiền tệ Ở đâu còn sản xuất hàng hoá,còn tồn tạinhững quan hệ hàng hoá tiền tệ thì ở đó còn ẩn náu khả năng lạm phát vàlạm phát chỉ xuất hiện khi các quy luật lưu thông tiền tệ bị vi phạm
- Trong bộ "Tư bản" nổi tiếng của mình C Mác viết: "Việc phát hànhtiền giấy phải được giới hạn ở số lượng vàng hoặc bạc thực sự lưu thôngnhờ các đại diện tiền giấy của mình" Điều này có nghĩa là khi khối lượngtiền giấy do nhà nước phát hành vào lưu thông vượt quá số lượng vàng mà
nó đại diện thì giá trị của tiền giấy giảm xuống và tình trạng lạm phát xuấthiện
- Một định nghĩa nữa về lạm phát do các nhà kinh tế học hiện đại đưa
ra và nó được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường : "Lạmphát là sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian"
- Lạm phát được đặc trưng bởi chỉ số lạm phát Nó chính là GNP danhnghĩa/ GNP thực tế Trong thực tế nó được thay thế bằng tỷ số giá tiêudùng hoặc chỉ số giá bán buôn Ip = ip.d
ip: chỉ số giá cả của từng loại nhóm hàng
d: tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại hàng
b) Phân loại lạm phát:
- Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát
dưới 10% một năm Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tươngđối Trong thời kỳ này nền kinh tế hoạt động bình thường, đời sống củangười lao động ổn định Sự ổn định đó được biểu hiện: giá cả tăng lênchậm, lãi suất tiền gửi không cao, không xẩy ra với tình trạng mua bán vàtích trữ hàng hoá với số lượng lớn
Có thể nói lạm phát vừa phải tạo tâm lý an tâm cho người lao động chỉtrông chờ vào thu nhập Trong thời gian này các hãng kinh doanh có khoảnthu nhập ổn định, ít rủi ro nên sẵn sàng đầu tư cho sản xuất, kinh doanh
- Lạm phát phi mã: lạm phát xẩy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh
với tỷ lệ 2 hoặc 3 con số một năm ở mức phi mã, lạm phát làm cho giá cảchung tăng lên nhanh chóng, gây biến động lớn về kinh tế , các hợp đồngđược chỉ số hoá Lúc này người dân tích trữ hàng hoá, vàng bạc, bất động
Trang 5sản và không bao giờ cho vay tiền ở mức lãi suất bình thường Loại này khi
đã trở nên vững chắc sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng
- Siêu lạm phát: xẩy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao
vượt xa lạm phát phi mã, nó như một căn bệnh chết người, tốc độ lưu thôngtiền tệ tăng kinh khủng, giá cả tăng nhanh không ổn định, tiền lương thực
tế bị giảm mạnh, tiền tệ mất giá nhanh chóng, thông tin không còn chínhxác, các yếu tố thị trường biến dạng và hoạt động kinh doanh lâm vào tìnhtrạng rối loạn Tuy nhiên, siêu lạm phát rất ít khi xẩy ra
Lịch sử của lạm phát cũng chỉ ra rằng, lạm phát ở các nước đangphát triển thường diễn ra trong thời gian dài, vì vậy hiệu quả của nó phứctạp và trầm trọng hơn Vì vậy các nhà kinh tế đã chia lạm phát thành 3 loại.Lạm phát kinh niên kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát dướ 50% mộtnăm; lạm phát nghiêm trọng thường kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát trên50%; siêu lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạm phát trên 200% mộtnăm
2 Nguyên nhân lạm phát:
a) Lạm phát theo thuyết tiền tệ: kinh tế đi vào lạm phát, đồng tiền
mất giá có nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm phát Chẳng hạn thời tiếtkhông thuận, mất mùa, nông dân thu hoạch thấp, giá lương thực tăng lên.Giá nguyên vật liệu tăng làm cho giá cả hàng tiêu dùng tăng lên Khi tiềnlương tăng, chi phí sản xuất cũng tăng theo, dẫn đến giá các mặt hàng cũngtăng Tăng lương đẩy giá lên cao Tóm lại, lạm phát là hiện tượng tăng liêntục mức giá chung và có thể giải thích theo 3 cách
- Theo học thuyết tiền tệ, lạm phát là kết quả của việc tăng quá thừamức cung tiền
- Theo học thuyết Keynes, lạm phát xẩy ra do thừa cầu về hàng hoá vàdịch vụ trong nền kinh tế (do cầu kéo)
- Theo học thuyết chi phí đẩy, lạm phát sinh ra do tăng chi phí sảnxuất (chi phí đẩy)
Trên thực tế lạm phát là kết quả của tổng thể 3 nguyên nhân trên, mỗinguyên nhân có vai trò khác nhau ở mỗi thời điểm khác nhau
Mức cung tiền là một biến số duy nhất trong đẳng thức tỷ lệ lạm phát,
mà dựa vào đó ngân hàng Trung ương đã tạo ra ảnh hưởng trực tiếp Trongviệc chống lạm phát, các ngân hàng Trung ương luôn giảm sút việc cungtiền
Trang 6Tăng cung tiền có thể đạt được bằng hai cách:
- Ngân hàng trung ương in nhiều tiền hơn (khi lãi suất thấp và điềukiện kinh doanh tốt) hoặc
- Các ngân hàng thương mại có thể tăng tín dụng
Trong cả hai trường hợp sẵn có lượng tiền nhiều hơn cho dân cư vàchi phí Về mặt trung hạn và dài hạn, điều đó dẫn tới cầu về hàng hoá vàdịch vụ tăng Nếu cung không tăng tương ứng với cầu, thì việc dư cầu sẽđược bù đắp bằng việc tăng giá Tuy nhiên, giá cả sẽ không tăng ngaynhưng nó sẽ tăng sau đó 2-3 năm In tiền để trợ cấp cho chi tiêu công cộng
sẽ dẫn đến lạm phát nghiêm trọng
b) Lạm phát theo thuyết Keynes (lạm phát cầu kéo):
Tăng cung tiền không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến tăng cầu
về hàng hoá, dịch vụ Tăng tiêu dùng, chi phí công cộng và tăng dân số lànhững nhân tố phi tiền tệ, sẽ dẫn đến tăng cầu áp lực lạm phát sẽ tăng sau
1 đến 3 năm, nếu cầu về hàng hoá vượt quá mức cung, song sản xuất vẫnkhông được mở rộng hoặc do sử dụng máy móc với công suất tiến tới giớihạn hoặc vì nhân tố sản xuất không đáp ứng được sự gia tăng của cầu Sựmất cân đối đó sẽ được giá cả lấp đầy Lạm phát do cầu tăng lên hay lạmphát do cầu kéo được ra đời từ đó Chẳng hạn ở Mỹ, sử dụng công suấtmáy móc là một chỉ số có ích phản ánh lạm phát trong tương lai ở Mỹ, sửdụng công suất máy móc trên 83% dẫn tới lạm phát tăng
c) Lạm phát theo thuyết chi phí đẩy:
Lạm phát chi phí đẩy vừa lạm phát, vừa suy giảm sản lượng tăng thêmthất nghiệp nên còn gọi là lạm phát "đình trệ" Hình thức của lạm phát nàyphát sinh ra từ phía cung, do chi phí sản xuất cao hơn đã được chuyển sangngười tiêu dùng Điều này chỉ có thể được trong giai đoạn tăng trưởng kinh
tế khi người tiêu dùng sẵn sàng trả với giá cao hơn
Ví dụ:
Nếu tiền lương chiếm một phần đáng kể trong chi phí sản xuất và dịch
vụ Nếu tiền lương tăng nhanh hơn năng suất lao động thì tổng chi phí sảnxuất sẽ tăng lên Nếu nhà sản xuất có thể chuyển việc tăng chi phí này chongười tiêu dùng thì giá bán sẽ tăng lên, công nhân và các công đoàn sẽ yêucầu tiền lương cao hơn trước để phù hợp với chi phí sinh hoạt tăng lên,điều đó tạo thành vòng xoáy lượng giá
Trang 7Một yếu tố chi phí chính khác là giá cả nguyên vật liệu đặc biệt là dầuthô Trong năm 1972 - 1974 hầu như giá dầu quốc tế tăng 5 lần dẫn đếnlạm phát tăng từ 4,6% đến 13,5% bình quân trên toàn thế giới.
Ngoài ra sự suy sụp của giá dầu (1980) làm cho lạm phát giảm xuốngmức thấp chưa từng thấy
Bên cạnh những yếu tố gây nên lạm phát đó là giá nhập khẩu cao hơnđược chuyển cho người tiêu dùng nội địa Nhập khẩu càng trở nên đắt đỏkhi đồng nội tệ yếu đi hoặc mất giá so với đồng tiền khác Ngoài ra yếu tốtâm lý dân chúng, sự thay đổi chính trị, an ninh quốc phòng Song nguyênnhân trực tiếp vẫn là số lượng tiền tệ trong lưu thông vượt quá số lượnghàng hoá sản xuất ra Việc tăng đột ngột của thuế (VAT) cũng làm tăng chỉ
P1
P0
E1
ASLR AD
P
ASSR1
ASSR
2
Chi tiêu quá khả năng cung ứng
- Khi sản lượng vượt tiềm năng đường AS có độ dốc lớn nên khi cầu tăng mạnh, AD - AD1, giá cả tăng P0 - P1
Chi phí tăng đẩy giá lên cao
- Cầu không đổi, giá cả tăng sản lượng giảm xuống Y0 - Y1
AS1 - AS2
Trang 8này tăng đều một cách ổn định Mọi người thể dự kiến được trước nên còn
gọi là lạm phát dự kiến
Trong lạm phát dự kiến AS & AD dịch chuyển lên trên cùng, độ sản
lượng vẫn giữ nguyên, giá cả tăng lên theo dự kiến
e) Các nguyên nhân khác:
Giữa lạm phát và lãi suất khi tỷ lệ lạm phát tăng lên lãi suất danh
nghĩa tăng theo, tăng chi phí cơ hội của việc giữ tiền, càng giữ nhiều tiền
càng thiệt Điều này đặc biệt đúng trong các cuộc siêu lạm phát, tiền mất
giá càng nhanh, tăng mức độ tiền gửi vào ngân hàng, vào quỹ tiết kiệm
hoặc đẩy ra thị trường để mua về mọi loại hàng hoá có thể dự trữ gây thêm
mất cân bằng cung cầu trên thị trường hàng hoá và tiếp tục đẩy giá lên
cao
Giữa lạm phát và tiền tệ khi ngân sách thâm hụt lớn các chính phủ có
thể in thêm tiền để trang trại, lượng tiền danh nghĩa tăng lên là một nguyên
nhân gây ra lạm phát Và một khi giá cả đã tăng lên thì sự thâm hụt mới
nảy sinh, đòi hỏi phải in thêm một lượng tiền mới và lạm phát tiếp tục
tăng vọt Kiểu lạm phát xoáy ốc này thường xảy ra trong thời kỳ siêu lạm
phát Tuy nhiên, chính phủ có thể tài trợ thâm hụt bằng cách vay dân thông
qua bán tín phiếu Lượng tiền danh nghĩa không tăng thêm nên không có
y
y*
AD"
AD' AD E
Trang 9nguy cơ lạm phát, nhưng nếu thâm hụt tiếp tục kéo dài, số tiền phải trả chodân (cả gốc lẫn lãi) sẽ lớn đến mức cần phải in tiền để trang trải thì khảnăng có lạm phát mạnh là điều chắc chắn.
Các nguyên nhân liên quan đến chính sách của nhà nước, chính sáchthuế, chính sách cơ cấu kinh tế không hợp lý Các chủ thể kinh doanh làmtăng chi phí đầu vào, nguyên nhân do nước ngoài
3 Những tác động của lạm phát:
Lạm phát có nhiều loại, cho nên cũng có nhiều mức độ ảnh hưởngkhác nhau đối với nền kinh tế Xét trên góc độ tương quan, trong một nềnkinh tế mà lạm phát được coi là nỗi lo của toàn xã hội và người ta có thểnhìn thấy tác động của nó
a) Đối với lĩnh vực sản xuất:
Đối với nhà sản xuất, tỷ lệ lạm phát cao làm cho giá đầu vào và đầu
ra biến động không ngừng, gây ra sự ổn định giả tạo của quá trình sảnxuất Sự mất giá của đồng tiền làm vô hiệu hoá hoạt động hạch toán kinhdoanh Hiệu quả kinh doanh - sản xuất ở một vài danh nghiệp có thể thayđổi, gây ra những xáo động về kinh tế Nếu một doanh nghiệp nào đó có tỷsuất lợi nhuận thấp hơn lạm phát sẽ có nguy cơ phá sản rất lớn
b) Đối với lĩnh vực lưu thông:
Lạm phát thúc đẩy quá trình đầu cơ tích trữ dẫn đến khan hiếm hànghoá Các nhà doanh nghiệp thấy rằng việc đầu tư vốn vào lĩnh vực lưuthông Thậm chí khi lạm phát trở nên khó phán đoán thì việc đầu tư vốnvào lĩnh vực sản xuất sẽ gặp phải rủi ro cao Do có nhiều người tham giâvào lĩnh vực lưu thông nên lĩnh vực này trở nên hỗn loạn Tiền ở trong taynhững người vừa mới bán hàng xong lại nhanh chóng bị đẩy vào kênh lưuthông, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng vọt và điều này làm thúc đẩy lạm phátgia tăng
c) Đối với lĩnh vực tiền tệ, tín dụng:
Lạm phát làm cho quan hệ tín dụng, thương mại và ngân hàn bị thuhẹp Số người gửi tiền vào ngân hàng giảm đi rất nhiều Về phía hệ thốngngân hàng, do lượng tiền gửi vào giảm mạnh nên không đáp ứng được nhucầu của người đi vay, cộng với việc sụt giá của đồng tiền quá nhanh, sựđiều chỉnh lãi suất tiền gửi không làm an tâm những người hiện đang cólượng tiền mặt nhàn rỗi trong tay Về phía người đi vay, họ là những người
có lợi lớn nhờ sự mất giá đồng tiền một cách nhanh chóng Do vậy, hoạtđộng của hệ thống ngân hàng không còn bình thường nữa Chức năng kinh
Trang 10doanh tiền bị hạn chế, các chức năng của tiền tệ không còn nguyên vẹn bởikhi có lạm phát thì chẳng có ai tích trữ của cải hình thức tiền mặt.
d) Đối với chính sách kinh tế tài chính của nhà nước:
Lạm phát gây ra sự biến động lớn trong giá cả và sản lượng hàng hoá,khi lạm phát xảy ra những thông tin trong xã hội bị phá huỷ do biến độngcủa giá cả làm cho thị trường bị rối loạn Người ta khó phân biệt đượcnhững doanh nghiệp làm ăn tốt và kém Đồng thời lạm phát làm cho nhànước thiếu vốn, do đó nhà nước không còn đủ sức cung cấp tiền cho cáckhoản dành cho phúc lợi xã hội bị cắt giảm các ngành, các lĩnh vực dựđịnh đựơc chính phủ đầu tư và hỗ trợ vốn bị thu hẹp lại hoặc không có gì.Một khi ngân sách nhà nước bị thâm hụt thì các mục tiêu cải thiện và nângcao đời sống kinh tế xã hội sẽ không có điều kiện thực hiện được
II Thực trạng lạm phát ở Việt Nam
1 Lịch sử của lạm phát:
- Giai đoạn thứ nhất: Từ năm 1890 trở về trước, lạm phát được hiểu
giống hoàn toàn định nghĩa của Marx, cho nên chống lạm phát là tìm tòimọi cách hạn chế việc phát hành tiền vào lưu thông
- Thời kỳ 1938 - 1945: Ngân hàng Đông Dương cấu kết với chính
quyền thực dân Pháp đã lạm phát đồng tiền Đông Dương để vơ vét của cảinhân dân Việt Nam đem về Pháp đóng góp cho cuộc chiến tranh chốngphát xít Đức và sau đó để nuôi mấy chục vạn quân nhận bán Đông Dươnglàm chiếc cầu an toàn đánh Đông Nam á Hậu quả nặng nề của lạm phátnhân dân Việt Nam phải chịu giá sinh hoạt từ 1939 - 1945 bình quân 25lần
- Thời kỳ 1946 - 1954: Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà do
Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo đã phát hành đồng tài chínhthay đồng Đông Dương và sau đó là đồng ngân hàng để huy động sứcngười, sức của của toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến 9 năm đánh đuổiquân xâm lược Pháp, kết quả giải phòng hoàn toàn nửa đất nước
- Thời kỳ 1955 - 1965: Chính phủ tay sai Mỹ kế tiếp nhau ở miền
Nam Việt Nam liên tục lạm phát đồng tiền Miền Nam để bù đắp lại cuộcchiến tranh chống laị phong trào giải phóng dân tộc ở Miền Nam Mặc dùđược chính phủ Mỹ đổ vào miền Nam một khối lượng hàng viện trợ khổng
lồ, giá trị hàng trăm tỷ USD cũng không thể bù đắp lại chi phí
Trang 11Nguyễn Văn Thiệu - Chính phủ đã lạm phát hàng trăm tỷ đồng tiềnlưu thông ở miền Nam năm 1975 gấp 5 lần Năm 1969 lên tới 600 triệuđồng, giá sinh hoạt tăng hàng trăm lần so với năm 1965.
- Thời kỳ 1965 - 1975:
ở miền Bắc Việt Nam chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà phảitiến hành một cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, chống chiến tranh pháhoại ở Mỹ tại miền Bắc, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, đã pháthành số tiền lớn (gấp 3 lần tiền lưu thông của năm 1965 ở miền Bắc) đểhuy động lực lượng toàn dân, đánh thắng độc quân xâm lược ở Mỹ và taysai ở cả hai miền Nhưng nhờ có sự viện trợ to lớn và có hiệu quả củaLiên xô, Trung Quốc và các nước Xã Hội Chủ Nghĩa(XHCN) anh em đãhạn chế được lạm phát trong thời gian này
- Thời kỳ 1976 đến nay: Sau khi thống nhất đất nước, chúng ta thiếu
nhiều kinh nghiệm trong thời bình nên duy trì quá lâu cơ chế thời chiến tậptrung quan liêu bao cấp toàn diện, không mở rộng sản xuất hàng hoá.XHCN không tiến hành hạch toán kinh doanh nên đã tự gây cho mìnhnhiều khó khăn, sản xuất không đủ tiêu dùng, ngân sách không đủ chi tiêu,lạm phát tiền giấy liên tục và bùng nổ dữ dội tới 3 con số Nhưng kể từnăm 1999 đến nay với sự chỉ đạo đúng đắn của nhà nước thì lạm phát hiệnnay chỉ còn dừng lại ở mức độ tốt cho sự phát triển nền kinh tế tức là chỉ ởmức 15-17% có thể nói đây cũng là một thành công không nhỏ của nhànước ta
2 Đặc trưng lạm phát ở nước ta:
Lạm phát ở Việt Nam cũng có những biểu hiện chung giống với lạmphát ở các quốc gia khác như: chỉ số giá cả nói chung tăng phổ biến do vậygiá trị của đồng tiền giảm Song lạm phát ở Việt Nam có đặc trưng riêng
do điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể:
- Lạm phát của một nền kinh tế kém phát triển trong đó khu vực kinh
tế nhà nước có địa vị thống trị Nền kinh tế Việt Nam thuộc loại kém pháttriển nhất thế giới, các chỉ tiêu bình quân đầu người rất thấp Khu vực kinh
tế nhà nước ở Việt Nam chiếm 1 tỷ trọng lớn hiếm có trên thế giới Mặc dùkhu vực nhà nước chiếm phần lớn số vốn đầu tư và chất xám trong cả nướcnhưng lại chỉ có thể làm ra từ 30% - 37% tổng sản phẩm xã hội Các xínghiệp quốc doanh nhìn chung đã nộp cho ngân sách nhà nước một số tiềnthấp rất xa so với số tiền nhà nước cung cấp cho nó qua bù lỗ, bù giá, cấp
Trang 12phát tín dụng, lãi suất thấp Đúng ra khu vực kinh tế nhà nước phải đemlại nguồn thu chủ yếu cho xã hội thì ở đây lại ngược lại Khu vực kinh tế
tư nhân làm ăn có hiệu quả hơn và đóng góp một phần quan trọng trongngân sách của nhà nước Chính hoạt động của các hãng kinh tế nhà nướcvới lãi giả, lỗ thật đã đẩy nền kinh tế lạm phát, thị trường rối loạn, lỗ lãikhó kiểm tra Sự giảm sút hiệu quả sản xuất kinh doanh dẫn đến đến vòngluẩn quẩn Hiệu quả giảm sát dẫn đến thu không đủ bù chi và lạm phát, rồilạm phát làm cho hiệu quả kinh doanh tiếp tục giảm sút, cứ như vậy nólàm cho nền kinh tế Việt Nam càng lún sâu vào đói nghèo, lạc hậu
- Lạm phát của một nền kinh tế độc quyền mà nhà nước có địa vịthống trị trên mọi lĩnh vực, cơ chế kinh tế quan liêu bao cấp Trong nềnkinh tế thị trường sự cạnh tranh ắt sinh ra một công ty thắng thế chiếm vịtrí độc quyền Để đạt được điều đó, phải tiến hành cải tiến máy móc, trangthiết bị, tổ chức lao động, tập trung nguồn vốn Nhưng khi ở vị trí độcquyền công ty sẽ bóp chết các địch thủ khác và cũng ít chú ý hơn đến việc
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật dẫn đến sự suy thoái trong kinh doanh.Nếu công ty này nhỏ thì sự ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế sẽ không cónhiều hiệu quả tiêu cực nhưng nếu đó là một công ty lớn thì sự suy thoáinày sẽ kéo theo cả nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng Trên thực
tế, độc quyền ở Việt Nam cũng như ở các nước XHCN khác đã khống chếtoàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội Chế độ độc quyền nhà nước và cơchế hoạch định quan liêu, mệnh lệnh đã triệt tiêu mất các quan hệ thịtrường ở Việt Nam làm cho nền kinh tế Việt Nam xa lạ với thị trường.Đây cũng là nguyên nhân đáng chú ý trong việc góp phần tăng lạm phát
- Lạm phát của một nền kinh tế đóng, phụ thuộc một chiều vào cácnguồn tài trợ từ bên ngoài Việt Nam đóng cửa nền kinh tế, không quan hệkinh tế với các nước tư bản chủ nghĩa Chính sách này ra đời do sự thùđịch, cấm vận của Mỹ Nguyên nhân nữa dẫn đến sự đóng góp của nềnkinh tế là do sự đối đầu đông tây mà Việt Nam và các nước XHCN là 1cực Sự bó hẹp nền kinh tế này đã dẫn đến những khó khăn đáng kể chosản xuất kinh doanh
- Ngoài những đặc điểm trên thì lạm phát Việt Nam có cơ cấu của nóbao gồm những ngành kém hiệu quả có được sự ưu tiên phát triển Mọingười đều thấy sự mất cân đối khi ưu tiên phát triển công nghiệp nặng(vốn lớn, thu hồi lãi chậm)
- Lạm phát ở một nước chịu ảnh hưởng nặng nề của các cuộc chiếntranh kéo dài do đó chi phí cho lĩnh vực quốc phòng lớn, tiền trợ cấp gia
Trang 13đình chính sách Những khoản này đã làm tăng thêm thâm hụt ngân sách
và tăng lạm phát
- Việt Nam là nước nông nghiệp mà luôn chịu ảnh hưởng của thiêntai, hạn hán, mất mùa Do đó, ngân sách hụt đi do phải chi ra 1 khoản trợcấp cho các vùng thiên tai
3 Thực trạng
Năm 2007, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục đà tăng trưởng ấn tượng đạt8,48%, cao hơn mức trung bình 5 năm giai đoạn 2003- 2007, là một trongnhững nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trên thế giới.Tuy nhiên, vào những tháng cuối năm 2007 và đầu 2008, cùng với đà suythoái kinh tế thế giới, đồng USD mất giá, giá dầu thô tăng cao, giá cả lươngthực và nguyên nhiên vật liệu tăng đột biến cộng với tác động của thiên tai,dịch bệnh đã làm cho nền kinh tế Việt Nam bộc lộ những nhược điểm cốhữu của một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi
Năm 2007 là năm hội tụ của những “cơn bão” tệ hại cho nền kinh tếnước ta: thiên tai bão lụt, dịch bệnh và đặc biệt là cơn bão tăng giá kéo dài
và bất kham, lạm phát của nước ta tăng cao và rơi vào tình trạng khó kiểmsoát, tỉ lệ lạm phát cao ở mức 13%, chỉ số giá tiêu dùng tăng vọt từ hơn 6%năm 2006 lên 12,69% năm 2007 Tính chung cả năm 2007, CPI ướckhoảng trên 10,5- 11%, phần nào phản ánh tốc độ trượt giá và lạm phát củanăm nay
Theo thống kê sơ bộ của tổng cục thống kê, tính đến cuối tháng10/2007, mức tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã lên đến hơn 9.34% so vớicùng kỳ năm trước, và khoảng 8,12% so với đầu năm Bảng 1 cập nhất diễnbiến tăng giá trong thời gian vừa qua
Bảng 1: Tình hình tăng giá đến cuối tháng 10/2007
Trang 1510 Hàng hoá và dịch vụ khác 3.31 108.08
Nguồn: mức tăng giá từ Thời báo Kinh tế Việt Nam, ngày 29/10/2007,
quyền số từ Nguyễn Văn Công (2006), tr 65
Từ bảng này, chúng ta thấy mức tăng CPI bắt nguồn chủ yếu từ việcgia tăng giá lương thực và thực phẩm Đây là nguyên nhân giải thích tớihơn 60% trong tổng mức tăng CPI Kế đó là sự gia tăng của nhóm nhà ở,điện nước và vật liệu xây dựng, đóng góp 12% Các nhóm mặt hàng khác
có mức tăng trung bình khoảng 5-6%, và do tỷ trọng trong tổng tiêu dùngnhỏ (dưới 10%) nên mức đóng góp của mỗi nhóm chỉ khoảng trên dưới3% Nhưng nhìn chung, mặt bằng giá của tất cả các mặt hàng đều tăngkhoảng 5%, ngoài hai nhóm đề cập đầu tiên là tăng hơn 10%
Người tiêu dùng đang phải vật
lộn với giá cả ngày một gia tăng.
Xăng dầu là một trong những mặt hàng
có sự tăng giá do được "giải phóng" khỏi sự kiểm soát của Nhà nước.
Giá cả nhiều mặt hàng tăng lên,
trong đó có thực phẩm
Trang 16Nguồn: East Asia & Pacific Update (4-2008)
Bảng 2 chỉ ra rằng, gia tăng lạm phát trong thời gian gần đây chủ yếu
do tăng giá lương thực theo diễn biến chung trên thế giới Nguyên nhânlàm cho lạm phát ở Việt Nam cao hơn nước ngoài là do chế độ tỷ giá bấtlợi làm cho Việt Nam phải nhập khẩu lạm phát giá lương thực tính theoUSD, và làm khuếch đại mức tăng giá cả lương thực tương đối so với cácnước khác
Trang 17Những tháng đầu năm 2008, mức lạm phát của Việt Nam đã tăng đến25,2% trong tháng 5, cao nhất kể từ năm 1992, tạo ra thách thức cho chínhphủ khi họ cố gắng kìm chế nền kinh tế đang phát triển quá nóng Mứctăng giá, ở tháng tư là 21%, vì mức tăng 67,8% của giá gạo – nông sản chủyếu chịu trách nhiệm cho sự tăng gía 42,8% của hàng hoá và dịch vụ khichúng ta tinh toán mức lạm phát Chi phí xây dựng và tiền thuê nhà cũngtăng 22,9% so với năm ngoái.
Đến tháng bảy, tỷ lệ lạm phát lại một lần nữa tăng lên tới 27%, chínhphủ cho hay, khi giá thực phẩm và nhiên liệu đã kìm hãm nền kinh tế nơi
mà Việt Nam hiện nay đang phải đối phó với trận chiến chống lạm phát tànkhốc nhất vùng Á Châu
Con số lạm phát này chỉ cao hơn tháng 6 chút đỉnh (26,8%), nhưngngười ta tiên đoán con số này trong thực tế sẽ cao hơn rất nhiều trongtương lai gần, sau khi nhà nước Việt Nam quyết định tăng đột xuất giáxăng dầu hơn 30% và chấm dứt phụ cấp xăng dầu cho một số doanh nghiệpnhà nước Giá xăng có thời điểm đã lên mức 19.000đ/lít vào ngày21/7/2008, đã lập tức gây xáo trộn trong sinh hoạt trực tiếp của người dân.Chỉ nội trong tháng 7, giá thực phẩm tăng 44,7%, trong lúc giá lương thựcchủ yếu và ngũ cốc tăng 72,7% Giá nhà và vật liệu xây dựng tăng 24,9%,giá áo quần và giày dép tăng 10,9%, giá khám chữa bệnh và tiền thuốc mentăng 9,5% trong tháng Lần đầu tiên trong 7 tháng, chỉ số giá tiêu dùng đãtăng 21,28%
Nhưng trái ngược với dự đoán của các chuyên gia kinh tế về sự suygiảm của nền kinh tế thì chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của cả nước trong tháng
10 đã giảm 0,19% so với tháng 9, đưa chỉ số CPI 10 tháng qua tăng ở mức21,64% so với tháng 12-2007 và tăng 23,15% so với cùng kỳ năm 2007.Sở
dĩ CPI tháng 10 giảm là do 3 nhóm hàng hóa chiếm trọng số lớn nhất trong
rổ hàng hóa chung giảm rõ rệt Trong đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống(bao gồm lương thực, thực phẩm) đã giảm 0,42%; hai nhóm còn lại tiếp tục
đà giảm của tháng 9: nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm mạnh với mứcgiảm 1,08%, nhóm phương tiện đi lại và bưu điện giảm 0,94% Điểm nổibật trong CPI tháng 10 đó là mức giảm giá đáng kể của mặt hàng xăng dầu
và lương thực Trong tháng 10, mặt hàng xăng dầu đã được điều chỉnhgiảm với mức giảm tổng cộng là 1.500 đồng/lít cũng đã tác động khôngnhỏ tới CPI tháng 10 Đến đầu tháng 11, giá xăng tiếp tục giảm đứng ởmức 14.000đ/lít Nền kinh tế tuy chưa có động thái gì lớn nhưng đã có dấuhiệu hạ nhiệt