1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lạm phát và các giải pháp chống lạm phát ở nước ta hiện nay 1

35 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lạm phát và các giải pháp chống lạm phát ở nước ta hiện nay 1
Tác giả Nguyễn Thị Loan
Người hướng dẫn Th.s. Phạm Thị Nguyệt
Trường học Học viện Ngân hàng - Ngân hàng Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế Chính trị
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 322,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I,phÇn më ®Çu NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HỌC VIỆN NGÂN HµNG KINH TẾ CHÍNH TRỊ ĐỀ TÀI LẠM PHÁT VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG LẠM PHÁT Ở NƯỚC TA HIỆN NAY Người hướng dẫn Th s Phạm Thị Nguyệt Người thực hiện N[.]

Trang 1

Người thực hiện: Nguyễn Thị Loan

II.PHẦN NỘI DUNG

1 Lạm phát là gì?Lạm phát đượcđo lường nh thế nào?

2 Tình hình lạm phát và những tác động của lạm phát tới nền kinh tế

và đời sống nhân dân

3.Nguyên nhân lạm phát

3.1.Lạm phát cao chủ yếu do tăng tiền

Trang 2

3.2.Lạm phát do cầu kéo và chi phí đẩy

3.3.Lạm phát do cơ cấu rổ hàng hoá tiêu dùng của nước ta còn những nhân tố bất hợp lý

3.4.Vốn tín dụng bất động sản: một thủ phạm gây lạm phát

3.5 Lạm phát ngoại nhập do tăng giá của thị trường thế giới bên ngoài

3.6 Vai trò điều hành tỷ giá trong kinh tế thị trường của Nhà nước và việc phát huy vai trò của các tổng công ty Nhà nước còn nhiều hạn chế

3.6.1.Lạm phát nhìn từ góc độ thu chi ngân sách

3.6.2.Lạm phát cao do cơ chế phân cấp

3.6.3.Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước nhằm quản lý, điều hành giá cả chưa sát với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong điều kiện chuyển mạnh sang kinh doanh theo cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế

3.6.4.Khả năng dự báo dự phòng để sẵn sàng đối phó với các tình huống biến động thất thường về giá cả trên thị trường thế giới của Chính phủ và các cơ quan chức năng còn nhiều hạn chế

3.6.5 Các doanh nghiệp Nhà Nước hoạt động chưa thực sự có hiệu quả

3.7 Một số nguyên nhân khác

4 Trong bối cảnh lạm phát cao, Chính phủ đã làm gì để kiềm chế lạm phát Những kết quả đạt được và những tác động của các chính sách này tới nền kinh tế

5 Vẫn còn đó những vướng mắc & bài học rót ra từ công cuộc chống lạm phát lần này

5.1 Bài học: chất lượng tăng trưởng

5.2 Về cắt giảm đầu tư công

5.3 Về các biện pháp kiểm soát giá cả hay giảm thuế nhập khẩu

5.4 Hạn chế vốn đầu tư bất động sản cho hợp lý

5.5 Về các chính sách chống lạm phát khác

6 Tiếp tục tập trung kiềm chế lạm phát trong năm 2009

7 Những giải pháp, kiến nghị cho chống lạm phát

Trang 3

I PHẦN MỞ ĐẦU

Trong thời kì kinh tế hiện đại ,nền kinh tế được phát triển với tốc độ cao,nếu lạm phát ở mức thấp,một vài phần trăm mỗi năm được xem là bình thường Lạm phát với tỉ lệ vừa phải còn là điều kiện kích thích tái sản xuất mở rộng Nhưng hiện nay lạm phát đang là vấn đề nóng của toàn cầu Giá cảnhiều loại vật tư hàng hoá tăng cao ,dầu thô vượt quá

100USD/thùng ,giá vàng trên 900USD/oz,bạc trên 19USD/oz,bạch kim2245USD/oz.Giá thuốc chữa bệnh ,lương thực ,thực phẩm tăng cao Giá dịch vụ cũng tăng cao tương ứng

Tỷ lệ lạm phát ở Trung Quốc thể hiện qua CPI năm 2007 đã tăng 7,5%, Indônêsia tăng 6,3%, Hàn Quốc 3,4% Thái Lan 3%, Singapore 2,7% Tỷ lệ lạm phát dola ở Mỹ năm 2007 tăng 4,1%, mức cao nhất của 17 năm qua lạm phát tại khu vục Eurozone gồm 15 quốc gia trong tháng 1 năm 2008 tăng 3,2% cao nhất trong 14 năm qua Xét cả châu Á về tổng thể cho tới tháng 4 lạm phát giá tiêu dùng đã lên tới 7.5% gần đạt mức cao nhất trong 9 năm rưỡi

và “ nuốt chửng tỷ lệ lạm phát khiêm tốn 3,6% mới chỉ năm ngoái Tốc độ gia tăng lên tới chóng mặt Phải nói ngay là vấn đề lạm phát không chỉ đánh vào một mình các quốc gia châu

Âu, nó phải lần đến mọi ngóc ngách của nền kinh tế toàn cầu

Ở Việt Nam, chỉ số CPI tháng 11 năm 2007 tăng 10,1%, tháng 12 năm 2007 tăng 12,63%, tháng 1 năm 2008 tăng 14,1%, tính gộp hai tháng đầu năm tăng 6.02%, bằng 70% mục tiêu

cả năm Lạm phát với tốc độ cao đang là “điểm nóng” và chống lạm phát đang là nhiệm ưu tiên số một của Chính phủ trong quản lý nền kinh tế quốc dân Vậy nhận dạng lạm phát ở

Trang 4

Việt Nam hiện nay như thế nào? Những nguyên nhân khách quan và chủ quan nào dẫn tới lạm phát? Các cân đối vĩ mô ra sao? Có thể chống được lạm phát hay không? Chống lạm phát bằng cách nào? Đó là những vấn đề nhức nhối cần tìm câu trả lời.

II, PHẦN NỘI DUNG

Lạm phát là hiện tượng kinh tế-xã hội, căn bệnh cố hữu của nền kinh tế và diễn ra ở mọi quốc gia, chỉ có điều nó diễn ra ở đâu và tác động của nó đên nền kinh tế và đời sống dân cư như thế nào Những biện phát cơ bản chống tăng lạm phát ở mỗi quốc gia thì không khác nhau nhiều, nhưng còn tuỳ thuộc và nhiều yếu tố, trong đó yếu tố kinh tế và tiền tệ được coi

là chủ yếu

Ở nước ta trong thời kỳ bao cấp, có lạm phát và lạm phát luôn ở mức cao nhưng do điều hành vĩ mô bằng công cụ kế hoạch hoá nên lạm phát không biểu hiện rõ, và do đó chống lạm phát không được coi trọng Từ khi thực hiện đổi mới và chuyển dịch nền kinh tế sang cơ chế thị trường, thì từ nhận thức cho đến điều hành vĩ mô đã quan tâm đến việc chống lạm phát Điển hình là thời kỳ 1986-1988 lạm phát ở nước ta đã lên tới ba chữ số ( năm cao nhất là

1986 lên tới 774%,chỉ số giá tiêu dùng tăng 874,7%) Sau một thời gian dài bị lãng quên, tỷ

lệ lạm phát 2004 lại ở mức cao và cuối năm 2007 và đặc biệt là những tháng đầu năm 2008 đang là vấn đề nóng của nền kinh tế

1, Lạm phát là gì ? Lạm phát được đo lường nh thế nào ?

Lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng Lạm phát tồn tại rất lâu, cùng với nền kinh tế thị trường ở Anh, kể từ thế kỷ XIII đã có lạm phát Lạm phát gồm có: lạm phát vừa phải, lạm phát phi mã và siêu lạm phát Lạm phát vừa phải xảy ra khi giá cả tăng chậm thường là một con số ( dưới 10% ) trong điều kiện lạm phát vừa phải và ổn định, giá cả tương đối không khác mức bình thường nhiều Lạm phát phi mã la lạm phát xảy ra khi giá cả hàng hoá tăng hai hoặc ba con sè trong một năm Siêu lạm phát là giá cả tăng gấp nhiều lần mỗi tháng

Ngày nay, người ta tính lạm phát bằng chỉ số giá cả - mức trung bình giá cả của hàng ngànsản phẩm riêng biệt Đó là chỉ số giá tiêu dùng CPI, chỉ số sản xuất PPI, chỉ số điều chỉnh GDP ( GDP deflator )

CPI là chỉ số kinh tế phản ánh sự biến động của giá tiêu dùng, là chỉ số phản ánh giá cả của rổ hàng hoá trong nhiều năm khác nhau so với giá của cùng rổ hàng hoá đó trong năm gốc GDP deflator là loại chỉ số có mức bao phủ rộng nhất Nó bao gồm tất cả các hàng hoá

và dịch vụ được sản xuất trong nền kinh tế Đây là chỉ số đại diện tốt hơn cho viêc tính toán

tỷ lệ lạm phát Song chỉ số này không phản ánh trực tiếp sự biến động của giá hàng nhập khấu và sự biến động của tỷ giá hối đoái Chỉ số này cũng không thể hiện của sự thay đổi chất lượng háng hoá khi tính toán tỷ lệ lạm phát và không phản ánh được sự biến động giá cả trong từng tháng

Việt Nam sử dụng chỉ số CPI để đo lường lạm phát chung ( headline ) của nền kinh tế

2, Tình hình lạm phát và những tác động của lạm phát tới nền kinh tế và đời sống nhân dân.

Hiện nay, nước ta đang phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường theo định hướng

xã hội chủ nghĩa nên nhìn nhận lạm phát đã theo xu hướng tích cực, tức là thực trạng nền kinh tế hàng hoá, do đó phải tính đến quan hệ tiền-hàng, tính đến quy luật giá trị và tính đến vấn đề lạm phát để vừa đối phó với chúng vừa sử dụng chúng một cách có lợi nhất cho phát triển kinh tế Để giải quyết nạn thừa, thiếu hàng hoá,xét trên góc độ lạm phát ,một số các nhà kinh tế học (đại diện là J.M.Keynes) về cơ bản đă thống nhất cách giải quyết hai trường hợp trên nh sau:

-Trường hợp khủng hoảng thiếu:chủ động lạm phát để mở rộng đầu tư,tạo công ăn việc làm Khi đó chi tiêu tăng lên,tiền phải phát hành thêm ,giá cả tăng lên.Sau một thời gian các công trình đầu tư tạo ra sản phẩm sẽ cân bằng với số tiền phát hành thêm,tạo nên sự thăng bằng về giá.Nhiều nước đă áp dụng biện pháp này, nhưng thực tiễn cho thấy chỉ áp

Trang 5

dụng thành công với công trình quy mô nhỏ ,nhanh đưa vào sản xuất ,nhanh thu hồi

vốn ,thường hay phù hợp với xí nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng

-Trường hợp khủng hoảng thừa:chủ động lạm phát tín dụng để cho vay nhiều ,nâng cao sức mua của tầng líp dân cư,giống nh hình thức bán chịu Điều này giúp cho các nhà sản xuất tiêu thụ được hàng hoá thừa,để giảm bớt cung,hoặc giảm giá hàng hay tăng lương để

mở rộng cầu và cách nào cũng gây thiệt hại cho nhà sản xuất

Sau khi học thuyết Keynes ra đời, nhiều nước trên thế giới đã bàn bạc đến cái gọi là

“chính sách lạm phát và chống lạm phát” Cơ sở để giải thích cho lập luận này là dựa trên một quan niệm cho rằng quá trình phát triển kinh tế là quá trình đảm bảo thế cân bằng động cho nền kinh tế,tức là từng thời kỳ phải thay đổi trạng thái cân bằng ở thời kỳ sau phải có chất lượng cao hơn ở thời kỳ trước Vậy phải chủ động lạm phát để phá vỡ cân bằng ,tạo ra thế phát triển và sau đó, chủ động chống lạm phát để tạo ra thế cân bằng mới

Nếu các công cụ của ta không bị bí, có thể sử dụng chúng bất cứ lúc nào để xử lý lạm phát thì lạm phát trong chõng mực nào đó sẽ góp phần vào tăng trưởng Muốn thế tăng trưởng phải đảm bảo kiểm soát được cân đối vĩ mô, phải luôn đảm bảo được các cân đối vĩ

mô ổn định

Lạm phát là một yếu tố kích thích tăng trưởng nhưng nếu sử dụng không tốt thì đây là con giao hai lưỡi, nó có thể vô hiệu khả năng tăng trưởng, gây bất ổn và sớm muộn cũng sẽ dẫn tới kìm hãm tăng trưởng, chưa nói đến phát triển

Hiện nay, ở nước ta, tình hình lạm phát đang ở mức báo động, tác động tới mọi lĩnh vực, đời sống nhân dân đặc biệt là người có thu nhập thấp, hoạt động sản xuất kinh doanh và một phần nào đó tác động tới tăng trưởng

Về kinh tế, lạm phát làm (1) sai lệch các số liệu thống kê đưa đến mọi dự báo khó chính xác, mọi dự phóng trở nên nguy hại dẫn đến lệch hướng chỉ đạo và lãnh đạo, (2) làm kích hoạt khuynh hướng thâm dụng lao động thay vì thâm dụng tư bản, đổi mới công nghệ, thay thế trang thiết bị lạc hậu, sẽ dẫn đến chi phí sản xuất cao, giá thành cao, năng suất kém, sản phẩmkém cạnh tranh, (3) làm suy yếu năng lực cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế (ngoại trừ

tỷ lệ lạm phát của nước cạnh tranh cao hơn)

Về xã hội, lạm phát khiến (1) đại bộ phận xã hội phải gánh chịu tác hại của lạm phát, chủyếu là giảm mức sống (những người làm công ăn lương, người nghỉ hưu, người thuộc diện chính sách ), bên cạnh một bộ phận nhỏ được hưởng lợi (những người mắc nợ, người có thunhập tăng theo lạm phát ), (2) nguồn tiết kiệm trong dân bị giảm nhanh chóng dẫn đến lạm phát càng tăng triệt tiêu tiết kiệm, và cứ thế tiếp tục (3) áp lực của cơn sốt giá cả làm gia tăngmua góp, tích trữ hàng hoá chưa hoặc không cần thiết của dân chúng khiến lạm phát càng giatăng, bất ổn xã hội

Tính từ 2004 đến nay,tức là trong vòng 4 năm trở lại đây ,lạm phát đă tăng 35,3% và trongvòng 2 năm nay ,lạm phát đă tăng 15,5%(tính tới tháng 7 năm 2007).Như vậy,thu nhập của

22 triệu người ăn lương đă mất đi sức mua cùng 1 tỷ lệ tương đương

Khi lạm phát càng cao, để bảo vệ mình, người lao động sẽ tích cực đòi tăng lương, kể cả đình công Thí dụ trong 3 tháng đầu năm 2006, có 193 cuộc đình công, cao hơn 119 cuộc đình công cả năm 2003 Việc tăng lương không do tăng năng suất lại tạo ra vũng xoỏy tăng giá

Khi lạm phát cao, dân chúng phải tự bảo vệ mình bằng nhiều cách Chẳng hạn năm nay, giỏ đó tăng 8,3% mà lãi suất tiền gửi ngân hàng (NH) chỉ có 3,9%/năm Ai cũng thấy bỏ tiền vào NH là thiệt Có thể họ sẽ mua vàng

So với năm 2005, giá vàng đã tăng 53%, lợi hơn nhiều so với 16,5% lãi NH nếu tính dựa vào lãi suất hiện nay Còn không ít người giàu sẽ mua bất động sản Chỉ có người dân sống bằng đồng lương là chịu ảnh hưởng nhiều nhất

Lạm phát cao như hiện nay cũng không giỳp gỡ cho phát triển dài hạn, nhất là khi nó tạo

ra thiếu vốn đầu tư, tăng đầu cơ vàng bạc và thị trường nhà đất Ngoại trừ một số Cty lớn có

Trang 6

khả năng điều chỉnh giá bằng hợp đồng để tự bảo vệ mỡnh, cũn hầu hết các nhà buôn bán vừa

và nhỏ sẽ chịu thiệt hại vỡ giỏ tăng và dễ dàng phá sản

Lạm phát đã “lồng lờn” mức 12,63% trong năm 2007, “phi mó” lờn mức 6,02% trong hai tháng đầu năm 2008, bằng gần một nửa mức cả năm 2007 và bằng 70% mục tiêu cả năm nay.Nếu tính theo năm (so cùng kỳ năm trước), năm 2007 tăng 8,3%, tháng 1/2008 tăng 14,11%, tháng 2/2008 tăng 15,67%, tính bình quân 2 tháng đầu năm 2008 so với bình quân 2 thỏng cựng kỳ năm trước đã lên tới 14,89% NÕu tính theo năm (so với cùng kì năm trước ) năm 2007 tăng 8,3%,tháng 1 năm 2008 tăng 14,11%,tháng 2 năm 2008 tăng 15,67%,tính bình quân 2 tháng đầu năm 2008 so với bình quân 2 tháng cùng kì năm trước

tăng14,89%.Chỉ số lạm phát 6 tháng đầu năm là 18,44%.Trong năm 2007 ,lương thực tăng sovới cùng kì là 15,4%,thực phẩm tăng21,16% và nhóm IV tăng 17,12%.Ngoài ra các nhóm hàng khác cũng đều tăng cao trên dưới 10%(ngoại trừ giá bưu chính viễn thông là giảm ).Nếuloại bá nhóm hàng hoá lương thực ,thực phẩm ra khỏi rổ hàng hoá tính CPI ,thì mức tăng giá của nhóm hàng hoá phi lương thực ,thực năm 2007 so với cùng kì là 7,8%

Hiện nay lạm phát tỷ lệ cao đă gây nên hậu quả :hạn chế tức thời mức tăng tín dụng,dẫn đến các ngân hàng &doanh nghiệp khó khăn về vốn& hạn chế khả năng tăng trưởng kinh

tế Khi các ngân hàng muốn huy động vốn được vốn ,phải nâng lãi suất huy động & lãi suất cho vay, làm tăng chi phí xã hội ,giảm hiệu quả nền kinh tế

Nền kinh tế phát triển quá nóng cũng gây ra tình trạng lo ngại về cán cân thanh toán ,với khoản thâm hụt cán cân thanh toán ,với khoản thâm hụt cán cân thưong mại khổng lồ do nhậpkhẩu gia tăng.Trong 2 tháng đầu năm 2008,cán cân thương mại của Việt Nam đă thâm hụt tới4,2tỷ USD trong cả năm 2007

-Nền kinh tế nước ta chịu sự tác động mạnh mẽ &chịu hậu quả nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á 1997-1999

-NÒn kinh tế nước ta có quy mô không lớn, sức cạnh tranh thấp nhưng đã hội nhập khá sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới

Cùng một lúc chúng ta không đủ sức khắc phục tất cả các nguyên nhân &nếu thực hiện các giải pháp một cách dàn trải thì không thể chống được lạm phát Do vậy cần đặt ta câu hỏiđâu là nguyên nhân chính để tập trung giải pháp vào đó là rất cần thiết

Trường phái tiền tệ mà điển hình là Milton Fried đã nhận định “lạm phát là một hiện tượng tiền tệ” Nhận định này được rót ra trên cơ sở các chứng cứ thực nghiệm nghiên cứu về

sự tăng trưởng tiền tệ kéo dài với sự gia tăng lạm phát

3.1.Lạm phát cao chủ yếu do tăng tiền

Lạm phát ở đâu và bất cứ khi nào cũng là vấn đề tiền tệ Một sè ý kiến cho rằng do giá

xăng dầu,giá nguyên vật liệu, giá thực phẩm tăng dẫn đến lạm phát (kiểu chi phí đẩy).Tuy nhiên chi phí có đẩy khiến cho toàn bộ mặt bằng giá cả tăng lên(lạm phát )nhưng cũng phải nhờ tổng cầu tăng(tiền tăng) hoặc tổng cung giảm (GDP giảm) Tại sao lại in nhiều tiền? Vì chi tiêu ngân sách nhiều hơn số thuế thu được.Nếu Chính phủ phát hành trái phiếu và bán chodân để mượn tiền chi tiêu thì không có vấn đề gì Nhưng khi Ngân hàng Nhà nước(NHNN) cũng phải đứng ra mua trái phiếu Chính phủ ,đồng nghĩa với việc NHNNphải in thêm

tiền ,bơm thêm tiền vào lưu thông Tiền nhiều hơn hàng thì tất yếu phải lạm phát Hai thập kỷtrước sự mất cân đối giữa thu và chi ngân sách nghiêm trọng hơn nhiều Năm 1986 thu chỉ

Trang 7

đảm bảo 75% chi ,trong đó phần chi bù lỗ cho sản xuất rất cao, do đó, một trong những biện pháp chống lạm phát lúc bấy giờ là thu hẹp mạnh mẽ khoản bao cấp này ,kể cả bao cấp qua giá Một trong những bài học thành công trong chống lạm phát phi mã lúc bấy giờ là thực hiện nghiêm ngặt chủ trương “Ngõn sỏch thu lấy mà chi Ngân hàng vay lấy mà cho vay” Nói như vậy có nghĩa là trước đó chúng ta đã sử dụng máy in tiền để bù đắp các mất cân đối trong thu chi ngân sách, trong tín dụng, mà điều này chẳng khác nào “uống thuốc độc trong lúc khát nước” Bài học ấy đến nay không phải không còn giá trị

Giờ chúng ta thuận lợi hơn xưa nhiều Nói lạm phát do giá hàng hóa, dầu mỏ thế giới tăng; do nhu cầu và sức mua trong nước tăng (phải hiểu là nhu cầu có khả năng thanh toán);

do thiên tai dịch bệnh đều đúng cả, nhưng đó chỉ là bề nổi, còn thực chất nếu chúng ta không đổ thêm tiền ra, nhiều hơn mức cần thiết thì cũng không làm tăng giỏ trờn diện rộng Xem cấu thành tăng trưởng GDP trong những năm qua cho thấy yếu tố đóng góp vào tăng trưởng nhiều là do tiêu dùng; trong năm 2007, tiêu dùng đóng góp vào GDP chiếm tỷ trọng 74,63%, đầu tư đóng góp 50,47%, xuất khẩu ròng không đóng góp vào tăng trưởng

(-42,56%).Tăng trưởng năm 2007 đạt mức 8,48% cho thấy chủ yếu là do tiêu dùng, mức đóng góp vào GDP tăng hơn 8% so với năm 2006 ,và xuất khẩu ròng giảm mạnh

Điều này phản ánh mức tăng trưởng kinh tế năm 2007 là do chính sách điều chỉnh tăng cung tiền để hỗ trợ tăng trưởng ,chẳng hạn như tăng lương làm tăng cung tiền (Kết quả khảo sát tiền lương năm 2007 của Navigos Group, với mẫu điều tra 28000 nhân viên của 156 công ty cho thấy ,tốc độ tăng lương năm 2004 là 8%, năm 2005 là 9,5%,năm 2006 là 12,3%)và tăng giá thành sản phẩm ,giảm thuế cũng làm tăng cung tiền ; tăng năng lực tài chính cho NHTM Nhà nước và doanh nghiệp Nhà nước cũng làm tăng cung tiền ; thành lập Ngân hàng mới vàtăng vốn điều lệ cũng tạo năng lực mở rộng tín dụng của các Ngân hàng thương mại cho nền kinh tế: sự phát triển nhanh của thị trường chứng khoán cũng làm tăng cung tiền

Số liệu thống kê của cơ quan chức năng cho thấy lượng cung ứng tiền trong 3 năm

2005-2007 tăng 135%vượt quá khả năng dung nạp của nền kinh tế đang tạo sức Ðp căng thẳng đối với hàng hoá dịch vụ

Trong những năm gần đây, do có tình trạng lạm phát gia tăng nên chính sách lãi suất như

đã và đang thực hiện thì lãi suất thực dương quá nhỏ ,thậm chí âm(năm 2007 âm 4,35%) làm giảm khả năng thu hút tiền vào hệ thống Ngân hàng Tỷ lệ dự trữ bắt buộc thấp trong một thời gian dài đă tạo điều kiện để các Ngân hàng tăng lượng tiền cho vay Những yếu tố này lam tăng lượng tiền nằm lại trong các khu vực dân cư Lượng tiền nằm ngoài hệ thống Ngân hàng tăng cao cũng làm gia tăng lạm phát

Từ đầu năm 2007, Ngân hàng Nhà nước đáng lẽ thu tiền đồng về trước rồi mới mua USD, nhưng đã đưa hàng trăm nghìn tỷ đồng ra mua USD, sau đó hút tiền về không kịp (với lãi suất thấp, đã vậy nhiều ngân hàng thương mại còn hạ lãi suất huy động), một lượng lớn tiền còn bị kẹt lại trong lưu thông gây áp lực lạm phát.

3.2.Lạm phát do cầu kéo và chi phí đẩy

Từ năm 2004 đến nay,tổng mức giá tiêu dùng của nước ta tăng lên khoảng 8%/năm,riêng năm 2007 tăng tới 12,63% và 3 tháng đầu năm 2008 tăng 9,19%,6 tháng đầu năm tăng 18,44% trong đó, hàng lương thực, thực phẩm có mức tăng rất cao và chiếm tỷ trọng lớn nhất

Nguyên nhân chính làm cho giá lương thực tăng cao là do tăng nhu cầu và tăng giá gạo xuất khẩu nhờ liên tục trúng nhiều hợp đồng cung cấp gạp quốc tế khá lớn Mặt khác, do cung về lương thực tuy có tăng,nhưng không tăng tương ứng với cầu vì thu hẹp diện tích trồng lương thực và nhiều vùng, miền bị hạn hán liên tục xảy ra làm giảm sản lượng

Giá thực phẩm tăng cao hơn cả giá lương thực là do ảnh hưởng của dịch bệnh đối với giasócvà dịch cúm gia cầm Đặc biệt là dịch cúm gia cầm xảy ra trên diện rộng và liên tục đã làm thay đổi cơ cấu nhu cầu thực phẩm của người tiêu dùng Bên cạnh đó do rét đậm kéo dài gây thiệt hại lớn cho cả chăn nuôi và trồng trọt Riêng đợt rét năm 2008, hơn107000 con trâu

Trang 8

bò bị chết Diện tích lớn rau, hoa quả, mạ mới gieo, lúa mới cấy bị chết và thiệt hại do nhiệt độ xuống quá thấp Cung về gia cầm giảm, cầu về thực phẩm không phải là gia cầm tăng,nhưng thực phẩm không phải gia cầm cũng bị dịch bệnh làm sụt giảm, tạo cơ hội cho những người trục lợi, “đục nước béo cò”, lợi dụng khó khăn để tăng giá bán lên một cách bất hợp lý.

Những nguyên nhân trên đây đã gây ra lạm phát tăng giá tiêu dùng do cầu kéo về lương thực, thực phẩm ở nước ta từ năm 2004 tới nay chưa được ngăn chặn một cách hữu hiệu Đặcbiệt là giá xăng dầu thế giới tăng cao nhất trong lịch sử ,giá bán lẻ trong nước Chính phủ chủ trương không bù lỗ, nên các công ty đã điều chỉnh tăng giá bán cho người tiêu dùng

Mét trong những mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế –xã hội (2001-2010) là quyết tâm đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt bình quân 8% đến 8,5%/năm.Để thực hiện được mục tiêu đó ,đă đẩy mạnh đầu tư nhưng chưa có những biện pháp giải phóng sức sản xuất tăng cao Cải cách hành chính diễn tiến chậm chạp, còn gây phiền hà, làm mất thời gian và tăng chi phí Cơ chế chính sách còn chưa theo kịp đòi hỏi của thực tiễn đổi mới kinh tế và tốc độ

mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế cũng là những yếu tố góp phần làm tăng giá hàng hoá, dịch vụ

Do đẩy mạnh xuất khẩu nên phải tăng nhập khẩu nguyên liệu, vật liệu , năng lượng, nhưng giá nhiều mặt hàng trong nhóm hàng nhập khẩu này trong những năm gần đây đều tăng khá cao,thêm vào đó là sử dụng còn lãng phí làm cho chi phí đầu vào của sản xuất trong nước tăng, kéo theo giá bán tăng lên Chẳng hạn, do giá thép, xăng dầu, nguyên liệu

nhựa tăng làm cho chi phí đầu vào của các ngành xây dựng và hàng nhựa tăng theo Giá xăng dầu tăng kéo theo giá vận chuyển hàng hoá và chi phí đi lại gia tăng.Giá vận chuyển hàng hoá và chi phí đi lại tăng đẩy chi phí sản xuất, kinh doanh, cung ứng hàng hoá và dịch

vụ tăng Đó vừa là lạm phát du nhập do sự tăng giá từ bên ngoài vào, vừa là lạm phát chi phí đẩy ở nước ta trong những năm gần đây và đang diễn ra hiện nay

3.3.Lạm phát do cơ cấu rổ hàng hoá tiêu dùng của nước ta còn những nhân tố bất hợp lý

Từ đặc điểm của nền kinh tế như đă nêu trên làm cho lạm phát cầu kéo và chi phí đẩy trở thành nguyên nhân cuả lạm phát tăng giá tiêu dùng ở nước ta.Điều đó có nguyên nhân là các yếu tố cấu thành rổ hàng hóa và dịch vụ dùng để tính toán chỉ số giá tiêu dùng ở nước ta còn Èn chứa những nhân tố bất hợp lý Phân tích giá của các yếu tố này cho thấy có sự biến động giá quá mạnh của nhóm hàng lương thực, thực phẩm Đây là một trong những nhân tố chính làm cho chỉ số giá tiêu dùng của năm 2007 tăng tới 12,63%và 9,19%trong 3 tháng đầu năm 2008 Nhóm hàng này vừa chiếm tỷ trọng quá lớn so với những năm trước ,tuy đã giảm thấp hơn nhưng vẫn còn chiếm tới 42%(năm 2004 chiếm 47,9%),vừa có mức giá tăng nhiều

và liên tục, tăng cao hơn so với mức giá chung Những tháng đầu năm tăng mạnh, những tháng tiếp theo tuy không tăng nhiều nhưng vẫn giữ ở mức cao đặc biệt là trong năm 2007,

từ khi công bố chủ trương tăng lương tối thiểu vào tháng 1/2008 thì giá hàng lương thực, thực phẩm liên tục tăng cao

Nhóm hàng dược phẩm và dịch vụ y tế cũng có tốc độ tăng giá khá cao, chỉ đứng sau lương thực, thực phẩm Cá biệt có những loại dược phẩm và dịch vụ y tế tăng khá mạnh và tăng liên tục không kém gì giá lương thực, thực phẩm Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăngmạnh từ giữa năm 2007 đến nay với mức khá cao và đang tiếp tục tăng

Phân tích sự biến động của chỉ số giá tiêu dùng từ năm 2004 đến nay cho thấy kết cấu rổ hàng hoá tiêu dùng hiện tại có sự bất hợp lý Do vậy cần sớm được sửa đổi để chỉ số giá tiêu dùng phản ánh đúng diễn biến thị trường

Trang 9

của VND đang là - 4,35% Lãi suất âm khiến tín dụng tăng trưởng nóng do các nhà đầu tư tăng vay vốn ngân hàng để đầu tư hoặc đầu cơ vào nhà đất, chứng khoán, tạo ra cơn sốt về tín dụng Theo thống kê tốc độ tăng tín dụng của năm 2007 đã lên tới 46,4% trong khi tăng trưởng chỉ có 8,5% Như vậy, một phần tín dụng không tạo ra giá trị tăng thêm đã tạo ra những cơn sốt bất thường trên hai thị trường bất động sản và chứng khoán đã góp phần kích hoạt giá cả tăng theo

Vốn tín dụng ngân hàng nếu như được đầu tư cho sản xuất kinh doanh, xuất khẩu… sẽ gópphần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Song nếu được đầu tư quá nhiều cho thị trường bất động sản (BĐS) và các lĩnh vực phi sản xuất khỏc thỡ lại là một trong những thủ phạm tiềm ẩn gâynên lạm phát

Thực tế là vốn tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế tăng trưởng nhanh nếu như được đầu

tư cho sản xuất kinh doanh, tạo ra số đông việc làm mới, nhất là thúc đẩy sản xuất công nghiệp, nông lâm ngư nghiệp, sản xuất hàng xuất khẩu phát triển,… thì rõ ràng là tạo ra tăng trưởng kinh tế bền vững và ít gây ra lạm phát Song nếu như số vốn đó đầu tư quá nhiều cho thị trường BĐS và các lĩnh vực phi sản xuất khỏc thỡ lại là thủ phạm tiềm ẩn gây nên lạm phát

Vốn tín dụng đầu tư BĐS: Cán cân lệch!

Năm 2007 và gần 2 tháng đầu năm 2008, thị trường BĐS lên cơn sốt, giá nhà đất tăng cao,một số nơi tăng gấp 2-3 lần Một khối lượng không nhỏ vốn tín dụng ngân hàng được đầu tư vào bất động sản

Trong tháng 1/2008, một số thông tin từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã được công bố cho thấy, tính đến hết năm 2007, hệ thống Ngân hàng thương mại và Tổ chức tín dụng trong

cả nước có tổng dư nợ cho vay và đầu tư vốn đối với nền kinh tế tăng tới 37,8% so với cuối năm 2006 và tăng gấp khoảng 2 lần so với mức dự kiến từ đầu năm là 17-22%

Song trong ý kiến trả lời chất vấn tại phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày

28/3/2008 Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh lại nói rằng tăng trưởng tín dụng lúc đầu dự báo

là 43%, thì nay đã tăng lên hơn 53%

Trong cơ cấu dư nợ cho vay tính đến hết năm 2007 theo báo cáo ban đầu của NHNN đượctổng hợp từ báo cáo của các địa phương, ước tính 87% là dư nợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp, thuỷ hải sản, sản xuất công nghiệp, xây dựng cơ bản, thương mại và dịch vụ, trong đúriêng lĩnh vực nông nghiệp và thuỷ hải sản, chế biến nông sản chiếm tới 29%, còn lại 13% là

dư nợ cho vay lĩnh vực khác

Tỷ trọng 87% nói trên bao nhiêu là đầu tư cho nông nghiệp, thuỷ hải sản,… và bao nhiêu

là đầu tư cho xây dựng cơ bản Đồng thời trong tỷ trọng 13% cho vay khác là những lĩnh vực

gỡ, cú phải là đầu tư bất động sản hay không?

Nhiều hợp đồng tín dụng của doanh nghiệp, của hộ gia đình được thể hiện là đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, cho tiờu dựng,… nhưng thực chất là đầu tư cho BĐS Nhưng khi các NHTM tổng hợp báo cáo phân loại dư nợ theo đối tượng đầu tư gửi chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố thì lại dựa trên hợp đồng tín dụng Bởi vậy thực tế vốn đầu tư cho BĐS có khoảng cách nhất định so với báo cMột số nguồn tài liệu cho hay chỉ riêng năm 2007 diện tích đất nông nghiệp bị giảm do các nhu cầu nói trên lên tới trên 14.000 ha Kèm theo đó là hàng nghìn, thậm chí là hàng chục nghìn người nông dân thiếu việc làm do mất đất canh tác nhưngbỗng nhiờn cú trong tay một lượng tiền rất lớn, nên việc chi tiêu tiền của họ không thể khụng tác động đến lạm phát

BĐS quay vòng: tác động đến lạm phát như thế nào?

Một là vốn tín dụng ngân hàng mà chủ dự án vay hoặc chủ dự án thu trước của người muađất dự án trở thành nguồn thu cho ngân sách, rõ ràng tạo ra nguy cơ gây nên lạm phát

Hai là đất đền bù giải phóng mặt bằng, hỗ trợ di dời các công trình trên đất và đền bù thiệthại hoa màu Các hộ gia đình đú có điều kiện mua sắm phương tiện sinh hoạt đắt tiền, làm nhà, sửa sang nhà ở, chi tiờu,… đương nhiên là không thể khụng tác động đến lạm phát

Trang 10

Ba là số diện tích rất lớn đất đai nông nghiệp được chuyển thành đất đô thị, đất công nghiệp và phi nông nghiệp

Diện tích canh tác, cụ thể là đất trồng lúa, rau, hoa quả, chăn nuụi,… bị giảm đáng kể, giảm lượng cung nông sản thực phẩm ra thị trường, đương nhiên là góp phần làm tăng giỏ nhúm mặt hàng này, tác động rõ rệt lên lạm phát Do thị trường BĐS lên cơn sốt, giá tăng cao, nhiều hộ gia đình ở các vùng ven đụ bán một phần đất thổ cư, đất sử dụng lâu dài của mình lấy tiền cho các nhu cầu khác nhau, mà số tiền thanh toán của người mua có tỷ trọng không nhỏ là vay NHTM Việc sử dụng một khoản tiền lớn của người dân cũng giống như ở trên đương nhiên là tác động đến lạm phát Một số nguồn tài liệu cho hay chỉ riêng năm 2007diện tích đất nông nghiệp bị giảm do các nhu cầu nói trên lên tới trên 14.000 ha Kèm theo đó

là hàng nghìn, thậm chí là hàng chục nghìn người nông dân thiếu việc làm do mất đất canh tác nhưng bỗng nhiên có trong tay một lượng tiền rất lớn, nên việc chi tiêu tiền của họ không thể không tác động đến lạm phát Do thị trường BĐS lên cơn sốt, giá tăng cao, nhiều hộ gia đình ở các vùng ven đô bán một phần đất thổ cư, đất sử dụng lâu dài của mình lấy tiền cho các nhu cầu khác nhau, mà số tiền thanh toán của người mua có tỷ trọng không nhỏ là vay NHTM Việc sử dụng một khoản tiền lớn của người dân cũng giống như ở trên đương nhiên

là tác động đến lạm phát

TS Cao Sỹ Kiêm,nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước,chủ tịch hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ phân tích, giá BĐS tăng do đầu cơ cộng với sự cho vay dễ dãi khi vốn khảdụng ngân hàng nhiều Việc này cùng với quy hoạch quản lý giá đất đai không tốt dẫn đến cung cầu đất méo mó, có yếu tố ảo, đẩy giỏ lờn ở mức trên không Sự méo mó này gây rủi ro,

áp lực lên lạm phát, nếu không xử lý khéo, sẽ tăng lạm phát và đổ vỡ thị trường

3.5 Lạm phát ngoại nhập do tăng giá của thị trường thế giới bên ngoài

Nền kinh tế nước ta đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và phải nhập siêu, nên chịu tác động không nhỏ của những biến động của giá cả từ thị trường bên ngoài Năng lực sản xuất tăng chậm hơn so với nhu cầu nên chúng ta phải nhập khẩu rất lớn và tốc độ ngày càng cao (trung bình trong thời gian dài,đạt trên 20%/năm và 3 tháng đầu năm tăng trên 40%/năm

so với đầu năm 2007 )thâm hụt cán cân thương mại nhanh ( 3 tháng đầu năm ,nhập siêu lên7,366 tỷ USD cao bằng 1,4 lần so với cả năm 2005, cao hơn cả mức nhập siêu trong các năm 2006 trở về trước, bằng một nửa mức nhập siêu cả năm 2007 ) Với đà này, nhập siêu cả năm 2008 lên tới 20 tỷ USD Các nhu cầu nguyên,nhiên liệu của một số ngành hàng trong nước được đáp ứng bằng nguồn nhập khẩu là chính: 90% nhu cầu thép,,100% xăng dầu, 90%ure, 90%nhu cầu nguyên liệu thuốc chữa bệnh

Nhập khẩu tăng cao không chỉ làm cho nhập siêu lớn đe dọa cân đối vĩ mô, làm tăng tỷ giá ngoại hối, mà còn tác động đến lạm phát cao ở trong nước, nếu lạm phát mang tính toàn cầu, trong điều kiện Việt Nam mở cửa sâu rộng hơn sau khi gia nhập WTO “Nhập khẩu lạm phỏt” của Việt Nam thể hiện ở nhiều điểm

Nhập khẩu của Việt Nam đã gia tăng mạnh trong những năm gần đây cả về quy mô tuyệt đối,

cả về tỷ lệ so với GDP Nếu năm 1995 mới có 8.155,4 triệu USD, bằng 39,2% GDP, năm

2000 là 15.636,5 triệu USD, bằng 50,1% GDP thì năm 2007 là 62.682,2 triệu USD, bằng 88% GDP

Năm 2008 mới qua 5 tháng, nhập khẩu đã lên đến 37.817 triệu USD, tăng tới 67% so với cùng kỳ năm trước, lớn hơn mức nhập khẩu trong cả năm từ năm 2005 trở về trước

Do nhập khẩu cao hơn xuất khẩu nên nhập siêu những năm gần đây tăng mạnh: nếu năm

2000 mới có 1.153,8 triệu USD, bằng 8% tổng kim ngạch xuất khẩu và bằng 3,7% GDP thì năm 2007 đã lên đến 14.120,8 triệu USD, bằng 29,1% tổng kim ngạch xuất khẩu và bằng 19,8% GDP

Trang 11

Năm 2008 mới qua 5 tháng, nhập siêu đó lờn 14.419 triệu USD, cao gấp 3,4 lần cùng kỳ năm trước (bằng 61,6% tổng kim ngạch xuất khẩu, cao hơn nhiều so với tỷ lệ 23,1% của cùng kỳ), lớn hơn mức nhập siêu kỷ lục trong cả năm 2007

Những năm gần đây, giá nhiều mặt hàng trên thị trường thế giới tính bằng USD đã tăng mạnh, làm tăng kim ngạch nhập khẩu của nước ta

Giá hàng nhập khẩu tăng do hai yếu tố: do đơn giá tính bằng USD tăng và do tỷ giá đồng Việt Nam/USD tăng Giá USD ở Việt Nam từ mấy năm nay có xu hướng tăng thấp hơn những năm trước (năm 2001 tăng 3,8%, năm 2002 tăng 2,1%, năm 2003 tăng 2,2%, năm

2005 tăng 0,4%, năm 2005 tăng 0,9%, năm 2006 tăng 1,0%, năm 2007 giảm 0,03%, năm tháng đầu 2008 tăng 0,32%) Đồng USD trên thế giới mất giá mạnh so với các đồng tiền khác Trong khi đồng nội tệ của nhiều nước, nhất là những nước có buôn bán lớn với Việt Nam đã điều chỉnh tăng giá so với USD thì việc đồng Việt Nam mất giá so với USD, tuy có tạo thuận lợi cho xuất khẩu, nhưng cũng làm cho tình trạng nhập khẩu lạm phát bị khuếch đại lên

Do những tác động phụ của việc lên giá đồng nội tệ, lại đúng vào thời gian nhập siêu tăng mạnh, nờn giỏ USD tháng 5 đã tăng lên và trên thị trường tự do đã xuất hiện cơn sốt giá U SD

Khái niệm nhập khẩu lạm phát đang được phổ biến rộng rãi và điều này có thể khiến đưa đến một sự hiểu lầm là nếu hạn chế việc nhập khẩu hàng hóa giá cao từ nước ngoài, chúng ta có thể làm giảm bớt được tốc độ lạm phát của nền kinh tế nội địa Nhận xét này chỉ

có thể đúng với hai điều kiện sau đây: (1) Chúng ta có thể nhập khẩu được những loại hàng hóa tương tự với một giá thấp hơn và (2) Chúng ta có thể sản xuất từ trong nước những sản phẩm tương tự với một giá rẻ hơn để thay thế

Trên thực tế, hai điều kiện này không xảy ra và việc nhập khẩu xăng dầu, phân bón với giá cao là không thể tránh được Nếu không nhập khẩu các loại hàng thiết yếu này, chúng ta

sẽ tạo nên sự khan hiếm trong nước và càng khiến cho giá cao hơn Tuy nhiên, hạn chế nhập khẩu những mặt hàng xa xỉ khác để tiết kiệm ngoại tệ, giảm nhập siêu là điều nên làm, với hệquả phải chấp nhận là sự tăng giá của các mặt hàng đú trên thị trường trong nước

Điều hiển nhiên là trong khi xuất khẩu là một yếu tố góp phần gây ra lạm phát (nền kinh

tế mất đi một lượng hàng hóa và được thêm một lượng tiền) thì nhập khẩu là một công cụ hữu hiệu làm giảm bớt lạm phát (nền kinh tế cú thờm một lượng hàng hóa và giảm đi một lượng tiền) Việc giảm thuế theo cam kết WTO cũng khiến cho nhu cầu về các mặt hàng giảm thuế tăng lên làm cho nhập khẩu tăng gián tiếp đẩy giá tăng theo

Giá dầu thô trên thị trường thế giới tăng đang tạo sức Ðp tiếp tục tăng giá bán lẻ xăng dầu,giá bán gas và các sản phẩm có liên quan

Tuy nhiên còn một nguyên nhân do luồng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp sau khi ViệtNam gia nhập WTO đã tăng lên nhanh chóng, lượng kiều hối cũng tăng nhanh tạo sức Ðp tăng giá tiền đồng Nguồn đầu tư trực tiếp (FDI) 7 tháng theo đăng ký mới và bổ sung lên đến trên 7,5 tỉ USD, cao gần gấp rưỡi cùng kỳ; thực hiện đạt gần 2,3 tỉ USD, tăng 20% Nguồn đầu tư gián tiếp (FII) tính đến nay theo thị giá lên đến trên 6,2 tỉ USD Nguồn đầu tư gián tiếpđang tích cực giải ngân và khả năng cả năm sẽ vượt 2 tỉ USD, tăng ít nhất 10% so với năm trước Mặt khác do kinh tế Mỹ tăng trưởng chậm lai(4-5%xuống còn 3,7% năm 2007 và co

xu hướng tiếp tục giảm trong năm 2008,một số chuyên gia dự báo kinh tế Mỹ chỉ tăng trưởng1,5%trong năm 2008) nên dòng vốn đầu tư quốc tế có xu hướng chảy ngược về châu Á-Thái

Trang 12

Bình Dương trong đó có Việt Nam khiến lượng ngoại tệ đổ vào Việt Nam,gây nên áp lực tỷ giá và song hành lạm phát

Trước hết, có thể khẳng định rằng không chỉ nằm trong “vựng trũng” của giá cả thế giới,

mà mặt bằng giá cả của thị trường nước ta còn thuộc “rốn nước” của khu vực Bởi lẽ, trong khi GDP bình quân đầu người của nước ta đã cao hơn rất nhiều so với của ba quốc gia

Campuchia, Bangladesh và Nepal (637 USD so với 454 USD; 446 USD và 343 USD), nhưng

hệ số này vẫn cao hơn, thậm chí rất nhiều (336,67% so với 319,05%; 283,82% và 314,94%)

và chỉ kém duy nhất Lào (351,72%) với GDP bình quân đầu người cũn kộm rất xa so với nước ta (508 USD)

Nói cách khác, do mặt bằng giá cả của nước ta thấp hơn nhiều so với “thụng lệ” quốc tế, cho nên tất yếu phải dâng cao nhanh hơn một cách tương ứng theo quy luật “nước chảy chỗ trũng” Đặc biệt, với đặc thù của nền kinh tế nước ta, đây đang là thời điểm diễn ra những bước đại nhảy vọt trong quá trình “tiệm cận” mặt bằng giá cả thế giới

Bởi lẽ, cho dù vẫn còn là một nền kinh tế rất kém phát triển (GNI bình quân đầu người năm 2006 chỉ xếp thứ 169 thế giới), nhưng độ mở ở đầu vào nhập khẩu hiện đã lên tới gần 90% GDP, còn độ mở ở đầu ra xuất khẩu cũng gần 70% Đây có lẽ là những độ mở kỷ lục

mà không một quốc gia nào ở trình độ tương đương như nước ta có thể đạt được

Nói tóm lại, do trình độ phát triển của nền kinh tế nước ta hãy còn rất thấp, độ mở lại đặc biệt lớn, đang trong quá trình tăng tốc hội nhập, mặt bằng giá cả trong nước rất thấp sẽ rất nhanh chóng tiệm cận mặt bằng giá cả thế giới Trong bối cảnh như vậy, thị trường thế giới lại liên tục sốt nóng, việc lạm phát của nước ta cao ngất ngưởng so với các nước trong khu vực là điều khó tránh khỏi

3.6 Vai trò điều hành tỷ giá trong kinh tế thị trường của Nhà nước và việc phát huy vai trò của các tổng công ty Nhà nước còn nhiều hạn chế

Việt Nam không phải là nước duy nhất đang phải đối phó với sức Ðp lạm phát,song tỷ

lệ lạm phát của Việt Nam cao gần gấp đôi các nước trong khu vực.Lạm phát tại Trung Quốc chỉ ở mức 7,1%và Indônêsia là 7,4% Theo TS.Nguyễn Đại Lai,Vụ trưởng vụ chiến lược Ngân hàng cho biết :Đến hết tháng 5 năm 2008, lạm phát ở Việt Nam là15,96% so với 31/12/2007, 25%so với cùng kỳ năm trước, mức cao nhất trong 15 năm qua kể từ 1993 Lạm phát ở Việt Nam hiện nay đang cao nhất khu vực, bất chấp các nước có cùng điều kiện khách quan chung,nhưng dù cao như ở Trung Quốc cũng chỉ nhỉnh hơn 1/3 của Việt Nam(8,5%của Trung Quốc so với 25% của Việt Nam so với cùng kỳ, phần lớn các nước khác như Hàn Quốc, Thái Lan ,Singapore tính đến nay CPI của họ cũng chỉ cao bằng ẳ Việt Nam.Vì sao lạm phát ở Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực trong bối cảnh tất cả các nước đều chịu ảnh hưởng chung bởi giá dầu và giá các nguyên liệu đầu vào tăng cao như hiện

nay.Vậy lạm phát ở Việt Nam chắc chắn còn có thể tìm ra một nguyên nhân rất lớn từ công tác điều hành vĩ mô.

3.6.1.Lạm phát nhìn từ góc độ thu chi ngân sách

Trước hết xét về mặt thu ngân sách Bên cạnh những kết quả tích cực như tăng với tốc

độ khá, tỷ lệ thu ngân sỏch trờn GDP cao lên, thu ngân sỏch cũn cú những hạn chế, bất cập.Hạn chế, bất cập lớn nhất là còn thất thu ngân sách ở một số đối tượng, ở một số lĩnh vực Những đối tượng còn thất thu nhiều là buôn lậu, trốn thuế, những doanh nghiệp “ma” được lập ra để buôn bán hóa đơn, để được hoàn thuế

Trang 13

Nhiều doanh nghiệp đã hạch toán không đúng chi phí, lỗ lãi để nhằm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp Thất thu ngân sách hằng năm dẫn đến những hậu quả về nhiều mặt Mộtlượng tiền không nhỏ chưa được thu vào ngân sách nhà nước để đáp ứng chi ngân sách, làm mất cân đối thu, chi ngân sách, tức là bội chi ngân sách Bội chi ngân sách làm tăng số nợ củaChính phủ (nếu Chính phủ phải vay trong nước và vay nước ngoài để bù đắp) hoặc phải phát hành tiền Lượng tiền không nhỏ còn thất thu ở trên cộng với lượng tiền mới đưa ra lưu thông

sẽ tạo sức ép đối với lạm phát

Thất thu ngân sách còn làm cho môi trường cạnh tranh không bình đẳng, khi mà “buụn tài không bằng dài vốn, dài vốn không bằng trốn thuế” được truyền tụng như một phương châm của không ít tổ chức, cá nhân Thất thu ngân sách của năm trước không được đưa vào kế hoạch, dự toán tận thu trong năm sau nên cũng là một trong những nguyên nhân làm cho việcthực hiện bao giờ cũng vượt dự toán

Xét về góc độ chi ngân sách, có một số tiền không nhỏ đã bị lãng phí, thất thoát thông

qua việc đầu tư công, thông qua việc chi tiêu của các cơ quan nhà nước, thông qua việc làm

ăn kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước Những kết quả kiểm toán, thanh tra với số tiền bị lãng phí, thất thoát lớn mới được công bố và được đưa lên mặt báo hằng ngày là điều không thể coi thường Đầu tư, chi tiêu kém hiệu quả góp phần làm bội chi ngân sách, làm tăng nợ nần của Chính phủ và tạo sức ép lạm phát

Xét về bội chi ngân sách, tỷ lệ bội chi so với GDP hằng năm vẫn còn cao, chiếm trên

dưới 5% Việc xử lý số thu vượt dự toán cần được dành cho việc trả nợ, dành cho việc giảm bội chi ngân sách, dành cho việc tăng số dự phòng, quỹ dự trữ của quốc gia; trong khi số chi thường xuyên thường vượt dự toán cao hơn cũng tạo sức ép lạm phát

Xét về mặt quản lý, thu chi ngân sách được quản lý qua hệ thống Kho bạc Nhà nước,

tuy có những lợi ích nhất định, nhưng về tiền mặt, cần có sự kiểm soát tập trung của Ngân hàng Nhà nước, nếu không sẽ không thể tính toán được lượng tiền trong lưu thông và việc điều tiết mỗi khi xuất hiện tình hình lạm phát hay giảm lạm phát

3.6.2.Lạm phát cao do cơ chế phân cấp

Về mặt thể chế, Việt Nam đang phát triển ngân hàng Nhà nước thành một ngân hàng trung ương độc lập, và điều này cần thời gian Nhiều quốc gia khỏc đó làm việc này nhanh hơn, và đó cú ngân hàng trung ương (độc lập) từ lâu Vì vậy, những thay đổi của họ sẽ ít quan trọng hơn những thay đổi cần phải có ở Việt Nam

Việt Nam đã rất thành công với chương trình phân cấp Thách thức về mặt tài khoá là Chính phủ muốn giảm chi tiêu, kể cả các khoản chi tiêu cho địa phương Điều này sẽ tốn thờigian cho chương trình phân cấp hơn là với chương trình tập trung

3.6.3.ChÝnh sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước nhằm quản lý, điều hành giá cả chưa sát với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong điều kiện chuyển mạnh sang kinh doanh theo

cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tÕ

Trong những năm gần đây,xuất khẩu của nước ta tăng nhanh và tiếp tục tăng cao hơn trong những năm tới Từ năm 2004 đến nay, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đã đạt khoảng 130% so với tổng giá trị GDP Thực tế khách quan đó đòi hỏi Nhà nước phải có sự điều chỉnh tương thích trong nhận thức, trong hoạch định, ban hành và điều hành thực thi chính sách Nhưng thực tế co thấy yêu cầu này chưa được đáp ứng tốt.Điều đó thể hiện ở chỗ, cho đến nay ở nước ta chưa có một hệ thống công cụ và giải pháp quản lý thị trường một cách cóbài bản, có tầm chiến lược và có hiệu quả, ngay từ khâu phân tích, dự báo diễn biến giá cả thịtrường trong và ngoài nước, đến các khâu điều tiết quan hệ cung-cầu ,hỗ trợ hoạt động thị trường ; kiểm tra, thanh tra, giám sát giấ độc quyền ; xử lý các hành vi gian lận thương mại, đầu cơ,lũng đoạn giá cả Thêm vào đó, nước ta cũng còn thiếu một hệ thống phân phối gồm

Trang 14

các tập đoàn thương mại tầm cỡ và một mạng lưới chi nhánh có hệ thống, đủ sức ngăn ngừa tình huống xấu về biến động giá cả có thể xảy ra, đáp ứng các yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhànước trong nền kinh tếthị trường.

Thực tế diễn ra cho thấy: giá cả một số mặt hàng tăng không phải do chi phí đầu vào tăng cao nh:dược phẩm,sắt thép,nguyên liệu nhựa … mà do công tác quản lý điều hành vĩ mô và kiểm soát giá của Nhà nước chưa tốt, để cho các doanh nghiệp kinh doanh lợi dụng, đầu cơ tăng giá, gây thiệt hai cho người tiêu dùng.Sự hạn chế của Chính phủ và các cơ quan chức năng trong quản lý, điều hành trong phát triển hệ thống phân phối quốc gia thể hiện cụ thể ở việc:không kiểm soát được những biến động về giá thép, dược phẩm để cho một số công ty độc quyền trong nhập khẩu và phân phối thuốc, nguyên liệu trong sản xuất thuốc, tạo điều kiện cho một số mối nhập khẩu lợi dụng đầu cơ nâng giá,lũng đoạn thị trường; quản lý lưu thông thép chưa tốt, bị các doanh nghiệp đầu cơ, nâng giá, gây rối thị trường làm ảnh hưởng đến điều hành vĩ mô của Nhà nước và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội đã được hoạch định

3.6.4.Khả năng dự báo dự phòng để sẵn sàng đối phó với các tình huống biến động thất thường về giá cả trên thị trường thế giới của Chính phủ và các cơ quan chức năng còn nhiều hạn chế

Chính phủ và các cơ quan chức năng của ta còn thiếu kinh nghiệm, chưa quen vận hành cơchế thị trường hội nhập quốc tế, trong khi nền kinh tế của nước ta có độ mở cao, hội nhập sâurộng vào nền kinh tế thế giới,nên chịu tác động của sự biến động của giá cả bên ngoài Nhiềuthông tin hoặc là đã được giữ bí mật, chỉ đến khi tình hình diễn biến phức tạp, mới được các

cơ quan “nhả” dần, như: việc mua ngoại tệ (lúc đầu nói là 6 - 7 tỷ sau nói là gần chục tỷ USD); tốc độ tăng dư nợ tín dụng, tốc độ tăng cung tiền (M2) từ mấy năm trước đã cao ngất ngưởng so với tốc độ tăng GDP

Việc dự báo của các cơ quan chức năng còn chưa đủ tầm hoặc còn chủ quan nên còn thiếu chính xác Tổ Điều hành thị trường trong nước đưa ra dự báo về tốc độ tăng giá tiêu dùng, nhưng thực tế thường diễn biến cao hơn nhiều Điển hình gần đây nhất là dự báo giá tiêu dùng tháng 3/2008 chỉ tăng 0,5 - 0,8%, nhưng thực tế đã tăng đến 2,99%, gấp 4 - 6 lần dự báo; cuối năm 2007 dự báo năm 2008 chỉ tăng dưới 8%, nhưng mới qua 3 thỏng đó “lồng lờn” 9,19%

Khi đưa ra quyết định tăng giá xăng dầu vào cuối tháng 2/2008, Bộ trưởng Tài chính cũng chỉ dự báo làm tăng giá tiêu dùng khoảng 0,4 - 0,5%, nhưng riờng thỏng 3 đã tăng 2,99%, rồicòn tác động chuyển sang tháng 4, tháng 5 tới?Việc điều hành còn lúng túng và chưa có sự phối hợp đồng bộ

3.6.5.Các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động chưa thực sự có hiệu quả

Các tổng công ty Nhà nước chịu trách nhiệm là đội quân chủ lực trong từng lĩnh vực được giao của thành phần kinh tế chủ đạo, nhưng chưa thể hiện được trách nhiệm đó của doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế thị trường.Trong đầu tư cụng cú ba nhúm chớnh: hiện tại đầu tư bằng tiền ngân sách nhà nước chiếm tới gần 50% tổng đầu tư toàn xã hội, tín dụng nhà nước chiếm hơn 9%, số còn lại là đầu tư cho doanh nghiệp nhà nước Chủ yếu vốn nhà nước được rót cho các Tổng công ty, tập đoàn lớn

Trong phân bổ nguồn lực, các DNNN luôn được ưu tiên Dự đó tiến hành cổ phần hóa, nhưng 20 năm qua, cơ cấu sở hữu không thay đổi bao nhiêu Chỉ 20% tài sản của các DNNN được tư nhân hóa Trong khi đó, đi đôi với thay đổi cơ cấu sơ hữu là thay đổi động cơ, quản trị, mục tiêu, trách nhiệm, những thay đổi làm cho kinh tế phát triển

Trang 15

Với vai trò đầu tàu, bản thân các DNNN cũng phải đi tiên phong trong hỗ trợ chống lạm phát DNNN là đối tượng sử dụng vốn lớn của các ngân hàng Trong tình hình hiện nay, các DNNN có thể xem xét nhượng bớt vốn ấy ra tập trung cho lĩnh vực tư nhân, tập trung cho

DN nhỏ và vừa

Vốn Nhà nước ,thất thoát nhiều

Sử dụng vốn kém hiệu quả được thể hiện rõ nhất qua kênh huy động vốn không trúng mục tiêu.Chi tiêu công thời gian qua đã tăng mạnh.Nếu nh năm 2001 chi ngân sách Nhà nước chỉ chiếm 26,5%GDP thì năm 2007 đã lên tới 40%GDP Mức bội chi ngân sách năm nay do Quốc hội thông qua cuối năm ngoái là 5%GDP, tuy nhiên theo đánh giá của IMF thì mức bộichi ngân sách năm nay là 6,6%-một tỷ lệ rất cao Đây còn là một yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy lạm phát trong nước ,một yếu tố tác động tiêu cực tới đời sống nhân dân ,nhất là những người nghèo vùng sâu vùng xa

Vốn nhà nước được cấp cho các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty Nhà nước ,tuy nhiên

số vốn này lại được sử dụng một cách tuỳ tiện, nhiều khoản không vào mục đích kinh doanh

mà lại đưa vào các thị trường chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm và bất động sản một cách bất hợp lý

Tính đến cuối năm 2007, theo số liệu của Ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp thì số tiền các tập đoàn, các tổng công ty Nhà nước đổ vào các lĩnh vực tài chính, chứng khoan,bất động sản, ngân hàng… đã lên đến 15000 tỷ đồng.Theo số liệu của Bộ Tài chính thì 28/70 tổng công ty đã đầu tư vào chứng khoán,ngân hàng và bảo hiểm một lượng vốn lên tới 23000

tỷ đồng

Riêng lượng vốn của các DNNN đã đổ vào chứng khoán lên tới nhiều nghìn tỷ đồng ,chẳngnhững khống sinh lời mà còn mất đi rất nhiều do giá cổ phiếu của hầu hết các đại gia giảm từ 30-50% trong thời gian qua Việc Nhà nước nắm giữ cổ phần trên 5% ở 10 công ty chứng khoán có lượng vốn hóa hàng đầu đã làm thất thoát vốn của Nhà nước lến đến 22000 tỷ đồng Thị trường bất động sản cũng là một kênh mà các doanh nghiệp nhà nước đã bị thất thoát nhiều nghìn tỷ đồng.Chỉ trong 4 tháng đầu năm 2008 thị trường bất động sản đã ngốn tới 80% FDI đổ vào Việt Nam

Số liệu của Bộ Tài chính cho thấy hiện nay nhiều tập đoàn kinh tế đã sử dụng vốn vay Nhànước vào các lĩnh vực dịch vụ như ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán và bất động sản với lượng vốn gấp 1-2 lần vốn chủ sở hữu Đặc biệt có những DNNN vay vốn gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu như: Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 5 có số vốn vay gấp 42 lần vốn chủ sở hữu, tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1-22,5 lần ,Vinashin -21,8 lần ,Lilama-21,5 lần

Đầu tư kém hiệu quả

Hiệu quả sử dụng đồng vốn được tính bằng chỉ số ICOR Nếu tính trong thời kỳ

1991-1997 thì chỉ số ICOR của Việt Nam là 4,86 lần so với 4 lần của Trung Quốc thời kỳ

2001-2006, 4,1 lần của Thái Lan (1981-1995 ) 4,6 lần của Malaysia( 1981-1995) 3,7 lần của Inđônêsia,3 lần của Hàn Quốc và Đài Loan2,7 lần(1961-1980) Qua đó cho thấy hiệu quả đầu

tư của chúng ta rất thấp.Với hiệu quả đầu tư thấp, năng suất lao động thấp nên nhu cầu đối với nguòn cung tiền luôn rất cao gây ra áp lực lạm phát tăng lên.Thực vậy,trong thời kỳ 2005-2007 lượng cung tiền tăng 135% trong khi GDP chỉ tăng 27%

Trang 16

Coi trọng điều hành tỷ giá

Trong 2 năm gần đây, USD đã mất giá nhiều so với các ngoại tệ mạnh khác cũng như các đồng tiền trong khu vực, ước tính khoảng 20% - 24%

Tuy nhiên ở Việt Nam thì lại để cho USD lên giá nhẹ: năm 2005 tăng 0,90%, năm 2006 tăng 0,90%, năm 2007 tăng 0,10% Thậm chí năm 2007 Ngân hàng Nhà nước đã bơm ra tới gần 150.000 tỷ đồng mua khoảng 9,9 tỷ USD để thực hiện mục tiêu tăng giá nhẹ 0,50%

Việc neo giữ tỷ giá quỏ lõu đã là nguyên nhân quan trọng góp phần gây nên lạm phát cao hiện nay Việc này cũng làm cho hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam tăng giá, thêm phần lạm phát

Từ đầu năm 2007, Ngân hàng Nhà nước đáng lẽ thu tiền đồng về trước rồi mới mua USD, nhưng đã đưa hàng trăm nghìn tỷ đồng ra mua USD, sau đó hút tiền về không kịp (với lãi suất thấp, đã vậy nhiều ngân hàng thương mại còn hạ lãi suất huy động), một lượng lớn tiền còn bị kẹt lại trong lưu thông gây áp lực lạm phát

Khi tốc độ tăng giá tiêu dùng tháng 8, tháng 9/2007 thấp hơn tốc độ tăng trong cỏc thỏng

5, 6, 7 theo chu kỳ trong nhiều năm thỡ đó vội cho là lạm phát đã được chặn lại;

Ngay cả khi lạm phát đã tăng cao trở lại trong tháng 10, tháng 11, thì cuối tháng 11 đã tăng giá xăng dầu làm cho giỏ thỏng 12 tăng tới 2,91%, cao nhất so với cùng kỳ trong 15 nămtrước đó; rồi cuối tháng 12, Bộ Tài chính và Bộ Công Thương lại tăng “giật cục” giá xăng dầu

Khi lạm phát cao ở trong nước, Nhà nước đã giảm thuế nhiều mặt hàng, để tăng cung, giảm lạm phát ở trong nước, nhưng kết quả chẳng được bao nhiêu, Nhà nước lại mất hàng nghìn tỷ đồng tiền thuế; đặc biệt trong đó có giảm thuế suất thuế nhập khẩu ô tô - là mặt hàngcao cấp và đáp ứng nhu cầu của những người có thu nhập cao - và đến nay lại phải tăng thuế

suất trở lại Một trong những nguyên nhân làm cho giá cả tăng có một phần là do công tác

quản lý nhà nước về giá cả chưa thật tốt, biểu hiện trên nhiều khía cạnh, đặc biệt là việc kiểmtra, thanh tra tình trạng "té nước theo mưa", tình trạng lạm dụng độc quyền nhà nước để độc quyền giá cả, tình trạng găm hàng chờ giá

3.7.Một số nguyên nhân khác

Nguyên nhân dẫn đến lạm phát còn một yếu tố chúng ta cần nhận rõ Đó là sự phát triển

của thị trường chứng khoán thất thường.Trong thị trường này, yếu tố đầu cơ lớn trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á năm 1997-1998, mét trong những yếu tố dẫn đến lạm phát, làm hàng loạt đồng tiền các nước Đông Nam á mất giá do đầu cơ trên thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán ở Việt Nam thời gian quâ,yếu tố đầu cơ cũng cao.

Sù gia tăng của tín dụng lên mức 40% trong năm qua cũng góp phần đẩy lạm phát

Điều kiện tự nhiên không thuận lợi: đợt rét lịch sử kéo dài đầu năm 2008; thiên tai dịch bệnh năm 2007, tai nạn lao động,tai nạn giao thông tới mức trở thành thảm hoạ; dịch cóm giacầm, dịch tai xanh ở lợn ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp trong nước

4.Trong bối cảnh lạm phát cao,Chính phủ đã làm gì để kiềm chế lạm phất?Những kết quả đã đạt được, những tác động của các chính sách này tới nền kinh tế

4.1Kiềm chế lạm phát là gì?

Trong thuật ngữ kinh tế tài chính, người ta không dùng từ “kỡm hóm lạm phỏt” mà chỉ dùng

từ “Lạm phát đồng nghĩa với sự rối loạn kinh tế mà biểu hiện rõ ràng nhất là giá cả gia tăng kiểm soát lạm phỏt” vỡ đến nay, chưa quốc gia nào có thể kìm hãm lạm phát một cách hữu hiệu, mà chỉ tìm cách kiểm soát nó để đem lại lợi ích kinh tế mong muốn.KiÒm chế lạm phátcòn gọi là giảm lạm phát Có một loạt các phương thức để kiềm chế lạm phát Các ngân hàng trung ương như Cục dự trữ liên bang Mỹ có thể tác động đến lạm phát ở một mức độ đáng kểthông qua việc sử dụng các chính sách tiền tệ, lãi suất cao sử dụng thất nghiệp hay suy giảm sản xuất để hạn chế tăng giá.Tuy nhiên các ngân hàng Trung ương xem xét phương thức

Trang 17

kiểm soát lạm phát rất khác nhau Ví dụ, một số ngân hàng trung ương xem xét chỉ tiêu lạm phát một cách cân xứng trong khi các ngân hàng khác chỉ kiểm soát lạm phát khi nó ở mức cao.

Những người theo trường phái tiền tệ nhấn mạnh việc tăng lãi suất bằng cách giảm cung tiền thông qua các chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát Những người theo học thuyết Keynes nhấn mạnh việc giảm cầu nói chung thông thường thông qua các chính sách tài chính

để giảm nhu cầu Họ cũng lưu ý đến vai trò của chính sách tiền tệ cụ thể là đối với khoá cơ bản là từ các công trình nghiên cứu của Robert Solow Các nhà kinh tế học trọng cung kiềm chế lạm phát bằng cách Ên định tỷ giá hối đoái giữ tiền tệ và mộtsố đơn vị tiền tệ tham chiếu như vàng, hay bằng cách giảmthuế suất giới hạn trong chế độ tỷ giá thả nổi để khuyến khích tích luỹ vốn.Tất cả các chính sách này đã được thực hiện trong thực tế thông qua các tiến trình nghiệp vụ thị trường mở Một phương pháp đã thử chỉ đơn giản thiết lập lương và kiểm soát giá cả Ví dụ, nó đã được thử tại Mỹ trong những năm đầu 1970(Nixon).Mét trong những vấn đề chính với việc kiểm soát này là nó được sử dụng vào thời gian mà các biện pháp kích cầu được áp dụng; vì thế các giới hạn phía cung(sự kiểm soát,sản xuất tiềm

năng)đã mâu thuẫn với sự tăng trưởng của”cầu” Nói chung các nhà kinh tế coi việc kiểm soát giá cả là phản tác dụng khi nó có xu hướng làm lệch lạc các hoạt động của nền kinh tế vì

nó làm gia tăng sự thiếu thốn, giảm chất lượng của sản phẩm.Tuy nhiên , cái giá phải trả này

có thể đáng giá nếu nó ngăn chặn được sự đình đốn sản xuất nghiêm trọng, là điều có thể có giá đắt hơn,hay trong trường hợp để kiểm soát lạm phát trong chiến tranh Trên thực tế việc kiểm soát có thể bổ sung cho bên đình đốn sản xuất có hiệu quả hơn như là một cách chống lạm phát(làm giảm sự cần thiết phải tăng thất nghiệp)trong khi sự đình đốn sản xuất ngăn cảncác loại hình lệch lạc mà việc kiểm soát gây ra mét khi cầu là cao

4.2.Chống lạm phát:Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế

Hàn Quốc: Biện pháp đồng bộ

Tại Hàn Quốc đến tháng 1/2008, lạm phát đã tăng 3,6%, Chính phủ đưa ra mục tiêu bình

ổn giá tiêu dùng và hỗ trợ các gia đình có thu nhập thấp Một ủy ban chống tăng giá và chốngđầu cơ được thành lập do thứ trưởng Choi Joong Kyung đứng đầu

Chính phủ Hàn Quốc giảm giá điện sinh hoạt và duy trì cho đến năm 2010 Chính phủ cũng quyết định miễn, giảm một số dòng thuế tiêu thụ và nhập khẩu; tiến hành hỗ trợ trên 1,0

tỷ USD cho nông dân vay vốn ưu đãi nhằm tăng mức cung lương thực và thực phẩm; giảm 50% mức phí giao thông vận tải trờn cỏc tuyến đường cao tốc trong một số giờ

Các biện pháp tiết kiệm sử dụng năng lượng của Chính phủ, cải cách màng lưới phân phối và dịch vụ, giảm phí dịch vụ y tế, viễn thông đã được đưa ra, nhằm giảm chi phí cho người dân

Trung Quốc: Phối hợp chính sách

Tại Trung Quốc, tỷ lệ lạm phát đến tháng 2/2008 đã lên tới 8,3%, tăng so với mức 7,1%trong tháng 1/2008, cao nhất trong 11 năm qua, trong khi mục tiêu được đề ra trong năm

2008 là kiềm chế giá tiêu dùng dưới 4,8%

Nguyên nhân chính là giá lương thực - thực phẩm tăng tới 23,3% so với mức 18,2% đến hết tháng 1/2008

Để chống lạm phát, Chính phủ chủ trương ưu tiên thực hiện chính sách tài chính ổn định, minh bạch và siết chặt chính sách tiền tệ trong năm 2008, hạn chế cung ứng tiền Chính phủ cũng ưu tiên các lĩnh vực liên quan trực tiếp tới đời sống nhân dân, cho phép đồng nhân dân tệ biến động linh hoạt hơn

Thực ra Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (Trung ương) đã thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt ngay từ năm 2007 với các biện pháp nới lỏng quy định giao dịch ngoại tệ, tăng tỷ lệ

dự trữ bắt buộc tới 10 lần và thực hiện 6 lần tăng lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại, với mức tăng không lớn, để thị trường tiền tệ không bị sốc cũng như không gây khó khăn cho hoạt động ngân hàng

Ngày đăng: 22/05/2023, 12:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w