1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng về tình hình lạm phát ở việt nam thời gian qua và các giải pháp kiềm chế lạm phát

77 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Về Tình Hình Lạm Phát Ở Việt Nam Thời Gian Qua Và Các Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát
Người hướng dẫn TH.S Lê Phương Vy
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 585,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng 1.1: Tóm tắt các thành phần tác động chủ yếu đối với các mặt hàng trong CPIGiálươngthực Giáphânbón Giáthép Tỷ giáhối đoái Giáthuốc Giá xăngdầu GiáđấtTác động Chính sách tài chính tá

Trang 1

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM TRONG

2.1 Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế của VN trong thời gian vừa qua 28

2.3.1 Việc áp dụng phương pháp tính chỉ số CPI ở Việt Nam 33

Trang 2

2.3.3 Thất thoát, lãng phí trong đầu tư công 37 2.3.4 Tổng phương tiện thanh toán và dư nợ tín dụng của các ngân hàng tăng mạnh 38

2.4.1 Tác động của lạm phát đến người tiêu dùng 47

2.4.3 Tác động của lạm phát đến thị trường chứng khoán 49 2.4.4 Tác động của lạm phát đến tín dụng ngân hàng 50 2.4.5 Tác động của lạm phát tới hoạt động sản xuất kinh doanh 50 2.4.6 Tác động của lạm phát tới tài chính nhà nước 51

2.5 Các chính sách kiềm chế lạm phát của chính phủ trong thời gian qua 51

CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁP Ở VIỆT NAM 58

Mục lục biểu đồ

Đồ thị 1: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2003-2008 28

Đồ thị 2:Lạm phát Việt Nam giai đoạn 2003-2007 30

Đồ thị 3: Thể hiện CPI, USD, Vàng 2007-2008 35

Đồ thị 4 : so sánh mức cung tiền của việt Nam so với Trung Quốc và Thái Lan 36

Đồ thị 5: tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán 39

Đồ thị 6: tăng trưởng dư nợ cho vay ngành ngân hàng 2004-2007 40

Trang 3

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan về lạm phát

1.1.1 Khái niệm về lạm phát

Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung củanền kinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sứcmua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền

tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác Thông thường theo nghĩa đầu tiên thìngười ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia,còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vithị trường toàn cầu Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một chủ đề gâytranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô Ngược lại với lạm phát là giảm phát Một chỉ

số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự ổn định giácả

Một khái niệm khác về lạm phát là khối lượng tiền được lưu hành trong dânchúng tăng lên do nhà nước in và phát hành thêm tiền vì những nhu cầu cấp thiết(chiến tranh, nội chiến, thâm thủng ngân sách v.v ) Trong khi đó, số lượng hàng hoákhông tăng khiến dân chúng cầm trong tay nhiều tiền quá sẽ tranh mua khiến giá cảtăng vọt có khi đưa đến siêu lạm phát

1.1.2 Phân loại lạm phát

Lạm phát do cầu kéo:

Kinh tế học Keynes cho rằng nếu tổng cầu cao hơn tổng cung ở mức toàn dụng laođộng, thì sẽ sinh ra lạm phát Điều này có thể giải thích qua sơ đồ AD-AS Đường ADdịch sang phải trong khi đường AS giữ nguyên sẽ khiến cho mức giá và sản lượng cùngtăng.Trong khi đó, chủ nghĩa tiền tệ giải thích rằng do tổng cầu cao hơn tổng cung,

Trang 4

người ta có cầu về tiền mặt cao hơn, dẫn tới cung tiền phải tăng lên để đáp ứng Do đó

có lạm phát

Nguyên nhân dẫn đến cầu kéo: do hàng hóa ngày càng trở nên khan hiếm trong khi nhucầu ko tăng hay do nhu cầu ngày càng tăng trong khi hàng hóa ko tăng hoặc tăng chậmhay do cả nhu cầu tăng trong khi hàng hóa thì có xu hướng ngày càng khan hiếm (cácgiả sử chỉ là tương đối) Do các nguyên nhân trên tất yếu làm cho giá cả thị trường tăngcao chúng ta đã tìm ra nguyên nhân gây tăng giá do cầu kéo và để giải quyết nó cầntìm ra các biện pháp tăng lượng hàng hóa đáp ứng nhu cầu trên thị trường, có rất nhiềucách trong đó phần lớn nhờ cách giải quyết của chính phủ về các chính sách về đầu

tư nhằm tăng hiệu quả sx nhằm đưa sp vào thị trường Ngoài chính phủ tất cả cácyếu tố khác trên thị trường cạnh tranh tự do đều góp phần làm giảm tăng giá trên thịtrường như làm thế nào để thay đổi thói quen tiêu dùng hay nhu cầu ngày càng tăngcủa người tiêu dùng,

Lạm phát do cầu thay đổi

Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặt hàng kháclại tăng lên Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứngnhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm

Trang 5

vẫn không giảm giá Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá Kết quả

là mức giá chung tăng lên, nghĩa là lạm phát

Lạm phát do chi phí đẩy

Nếu tiền công danh nghĩa tăng lên, thì chi phí sản xuất của các xí nghiệp tăng Các xínghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thành sản phẩm Mức giáchung của toàn thể nền kinh tế cũng tăng

Nguyên nhân dẫn đến chi phí đẩy: Trong hàng loạt các yếu tố tác động đến chi phí đầuvào của một sản phẩm như giá cả nguyên vật liệu, chi phí lao động, chi phí mua sắm tàisản cố định, cho đến các chính sách của nhà nước đều ảnh hưởng trực tiếp đến giá cảcủa sản phẩm; mà khi các yếu tố này cao đương nhiên sẽ đẩy chi phí đầu vào tăng vàlàm tăng giá sản phẩm Để giải quyết chúng cần đặc biệt chú ý tới các chính sáchkinh tế vĩ mô của nhà nước mà đặc biệt là các chính sách về thuế chúng ta đã biết cácnguyên nhân dẫn đến chi phí tăng từ đó sẽ biết biện pháp giải quyết, bản thân từng dnsản xuất hàng hóa tự tìm cách hạ bớt chi phí đầu vào như tìm mua các yếu tố đầu vàothuận tiện để giảm thiểu chi phí phát sinh, tính toán hao phí nguyên vật liệu chính xác

để dự trữ cho phù hợp tránh chi phí sử dụng vốn tăng tận dụng giảm thiểu lãng phí do

sử dụng nguyên vật liệu, tận dụng nguồn lao động sẵn có tăng năng suất tối đa, tránhlãng phí những chi tiêu ko cần thiết hay tinh giảm hệ thống quản lý cồng kềnh ko hiệuquả Hay các chính sách vĩ mô của nhà nước như giảm các loại thuế đầu vào, giảm thuếthu nhập

Lạm phát do cơ cấu

Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho người lao động Ngànhkinh doanh không hiệu quả, vì thế, không thể không tăng tiền công cho người lao độngtrong ngành mình Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu quả

sẽ tăng giá thành sản phẩm Lạm phát nảy sinh vì điều đó

Trang 6

Lạm phát do xuất khẩu

Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩm được huyđộng cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiếntổng cung thấp hơn tổng cầu Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cânbằng

Lạm phát do nhập khẩu

Sản phẩm không tự sản xuất trong nước được mà phải nhập khẩu Khi giá nhập khẩutăng (do nhà cung cấp nước ngoài tăng giá như trong trường OPEC quyết định tăng giádầu, hay do đồng tiền trong nước xuống giá) thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũngtăng Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên

Lạm phát tiền tệ

Cung tiền tăng (chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồngtiền ngoại tệ khỏi mất giá so với trong nước; hay chẳng hạn do ngân hàng trung ươngmua công trái theo yêu cầu của nhà nước) khiến cho lượng tiền trong lưu thông tănglên là nguyên nhân gây ra lạm phát

Lạm phát sinh ra lạm phát

Khi nhận thấy có lạm phát, cá nhân với dự tính duy lý sẽ cho rằng tới đây giá cả hànghóa sẽ còn tăng, nên đẩy mạnh tiêu dùng hiện tại Tổng cầu trở nên cao hơn tổng cung,gây ra lạm phát

1.2 Cách tính lạm phát

Lạm phát được đo lường bằng tỷ lệ lạm phát , là suất tăng của mức giá tổng quáttheo thời gian Và mức giá tổng quát được tính toán bằng thước đo chỉ số giá tiêu dùngCPI Chỉ số giá tiêu dùng CPI là một chỉ tiêu thống kê phản ánh xu hướng và mức độbiến động giá cả chung của một số lượng cố định các loại hàng hóa dịch vụ ( Được gọi

là rổ hàng hóa) đã được chọn đại diện cho tiêu dùng , phục vụ đời sống bình thườngcủa người dân , qua thời gian

Trang 7

Bảng 1.1: Tóm tắt các thành phần tác động chủ yếu đối với các mặt hàng trong CPI

Giálươngthực

Giáphânbón

Giáthép

Tỷ giáhối đoái

Giáthuốc

Giá xăngdầu

GiáđấtTác động

Chính sách tài chính tác động tới tổng cầu khi chính phủ nới nỏng hay thắt chặt chi tiêucông cộng, tiền lương, tăng hay giảm các loại thuế gián thu, thay đổi giá của khu vựckinh tế công( giá điện, nước, cước điện thoại, viễn thông,…), các khoản trợ giá, phụthu, bảo hiểm thất nghiệp, phát hành trái phiếu chính phủ hay dùng nguồn ngân sáchnhà nước mua dự trữ để nâng đỡ giá cả….Các biện pháp này tác động trực tiếp tới tổngcầu qua đó tác động đến CPI

Theo thông thường, tỷ lệ lạm phát tháng hay quý có thể so sánh với các kỳ gốc khácnhau

Trang 8

Chẳng hạn gọi :i , k t = k -1 * ( Pi,t – P i,t-k ) / Pi,t-k ; với :

 ) và các sốc đối với giá mặt hàng thứ i (Vi,t ), ta có :

 = CPI t + 1/k  Vi,t (II)

Từ (II) có thể thấy K càng lớn thì độ biến thiên của tỷ lệ lạm phát càng bé, do các phầnnhiễu sẽ khử trừ nhau.Vì vậy việc công bố phân tích lạm phát tháng bình quân quý(K=3), bình quân năm (K=12) sẽ cho thấy rõ xu thế lạm phát và ít bị nhiễu hơn so với(K=1), cách tính lạm phát này tương đương tỷ lệ lạm phát so với tháng cùng kỳ chiacho 12 hoặc 3

Tính lạm phát theo tỷ lệ phần trăm giữa bình quân CPI 12 tháng liên tục đến tháng hiệntại và tỷ lệ lạm phát tính bình quân CPI các tháng cùng kỳ trừ đi 100 Các chỉ số nàyphải là chỉ số định gốc hay chung gốc so sánh (1995=100) Cách tính này có ý nghĩa vềmặt thống kê

Trang 9

Theo một cách tính khác : tỷ lệ lạm phát trung bình chung ( IICPIt) có thể phân tích haicấu phần tác động xu thế lâu dài hay thường trực, thường xuyên, ổn định (t P) và tácđộng nhiễu nhất thời, tức thời ( Tt) là :

CPI t

đó giá trị trung bình là ước lượng không chêch với phương sai bé nhất

Khi CPI bị nhiễu nhiều nhất thời đến chừng mực mà ( Pi,t – Pi,t-k) /Pi,t-k khơng còntuân theo phân bố chuẩn Khi đó CPI sẽ không còn là ước lượng tốt nhất và sẽ phảnánh sai lệch xu thế lâu dài của lạm phát

Để hoạch định chính sách tiền tệ, ngân hàng nhà nước cần một thước đo phảnánh xu thế lâu dài của lạm phát Chỉ tiêu này được gọi là lạm phát cơ bản hay lạm pháttiền tệ Lạm phát cơ bản là chỉ tiêu phản ảnh tác động của chính sách tiền tệ, đo lườngđược các tác động hay áp lực lâu dài ổn định của cầu đến sự biến động của giá cả.Vìvậy chỉ tiêu này cần được tính toán sao cho loại trừ được tác động của các sốc cungnhất thời, điều chỉnh giá không đều, thuế gián thu hay việc gán “giá không đổi “khihàng hóa tạm thời vắng…

1.3.1 Khái niệm lạm phát cơ bản

Lạm phát cơ bản (Core Inflation): là tỷ lệ lạm phát thể hiện sự thay đổi mức giámang tính chất lâu dài mà loại bỏ những thay đổi mang tính tạm thời nên lạm phát cơbản chính là lạm phát xuất phát từ nguyên nhân tiền tệ (hay chính lạm phát theo quan

Trang 10

niệm của Friedman) Do đó không phải là CPI mà Lạm phát cơ bản là một công cụ đắclực giúp Ngân hàng trung ương có con mắt đánh giá đúng đắn về lạm phát, qua đó mới

có thể chỉ dẫn cho mục tiêu chính sách tiền tệ trong tương lai và một khi giá cả ổn định

sẽ là tiền đề cho các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác ổn định và phát triển Tuy nhiên, cũngcần phải lưu ý rằng các tác động của chính sách tiền tệ sau một độ trễ thời gian mới cóhiệu lực, do đó sẽ là quá muộn nếu các ngân hàng trung ương đợi cho đến khi tỷ lệLạm phát cơ bản bắt đầu tăng thì mới bắt đầu cố gắng làm giảm sức ép lạm phát Tùy vào các phương pháp đo lường khác nhau, các nước công nghiệp tiên tiến có phânbiệt rõ ràng giữa tỷ lệ lạm phát được công bố rộng rãi theo thông lệ (thường là CPI, chỉ

số giảm phát GDP) và tỷ lệ Lạm phát cơ bản (có thể công bố hoặc không công bố màchỉ để sử dụng nội bộ tuỳ từng quốc gia)

Điểm khác nhau giữa CPI, chỉ số giảm phát GDP và tỷ lệ Lạm phát cơ bản làCPI và chỉ số giảm phát GDP đều do tổng hợp tất cả các nhân tố tác động lên Mức giábao gồm cả sức ép về cầu, cung cùng với những trông chờ kỳ vọng vào tương lai cònLạm phát thực chất chính là tỷ lệ lạm phát đã được điều hoà theo các yếu tố sức ép bêncầu cùng với những trông chờ kỳ vọng vào tương lai và loại bỏ những biến động lớngây sốc bên cung Ví dụ đối với một số loại giá được coi là biến động lớn, khá ngẫunhiên mà không theo bất kỳ một hướng nào như trường hợp của các loại lương thựcthực phẩm biến động theo thời vụ và theo chất lượng mùa màng, sự gia tăng của giádầu thô cũng thường xuyên chịu tác động bởi nhân tố tạm thời, chẳng hạn như thời tiết;những thay đổi về giá các mặt hàng do nhà nước quản lý, thay đổi các mức thuế giánthu, Tất cả những cái đó chỉ gây ra thay đổi tạm thời mức giá và sẽ biến mất sau đó

mà không đưa ra được xu hướng của lạm phát về cơ bản và lâu dài Do những biếnđộng này đều là những biến động nhất thời về giá cả và làm méo mó việc đo lường xuhướng lạm phát nên đều phải loại trừ

Trên thực tế, sẽ rất khó khăn trong việc xác định liệu những biến động về giá cảchỉ là tạm thời hay chúng kéo dài trong một thời gian lâu hơn Chẳng hạn như giá cả

Trang 11

dầu thô Sự tăng giá của dầu thô ngoài sự biến động mùa vụ do thời tiết còn phụ thuộcchủ yếu vào nhu cầu trung hạn về dầu thô trên thị trường quốc tế và do đó lại phụ thuộcvào các nhân tố tăng trưởng kinh tế Theo quan điểm của các nước nhập khẩu dầu,những thay đổi về tỷ giá của đồng bản tệ so với đồng USD cũng đóng một vai trò quantrọng đối với sự biến động giá dầu Đối với các loại thực phẩm theo thời vụ lại có vấn

đề là: Trong khi có những biến động lớn mang tính đột biến thì giá cả của các mặt hàngnày vẫn theo xu hướng giá cả chung Điều này đặc biệt quan trọng trong trường hợpnếu ta loại hẳn các loại giá cả này ra khỏi CPI thì sẽ loại bỏ cả phần biến động mangtính chất lâu dài của các nhóm này nên sẽ tách hẳn chúng khỏi xu hướng chung và do

đó có thể sẽ làm thay đổi xu hướng Chính vì vậy nếu loại bỏ hoàn toàn và thườngxuyên các cấu phần giá cả nhiên liệu và lương thực thực phẩm thời vụ thì xu hướnglạm phát không bao giờ được phản ánh đầy đủ

Hơn nữa việc tách hẳn nhân tố tạm thời ra khỏi nhân tố lâu dài cũng rất khó khăn

Do đó, để khắc phục nhược điểm này nhiều ngân hàng trung ương đang tăng cường sửdụng mô hình hoá tỷ lệ lạm phát cơ bản ở nước mình theo hai cách chủ yếu: một là xácđịnh các thành phần giá cả dễ biến động và quy định một quyền số thấp trong tính toán,như vậy những thông tin về loại giá cả này không hoàn toàn mất đi Hai là chia tách sựbiến động chỉ số giá cả tiêu dùng, hoặc các nhóm hàng hoá riêng lẻ cấu thành CPIthành những phần mang tính tạm thời và phần mang tính thường xuyên và lâu dài,trong đó phần có tính lâu dài sẽ biểu thị xu hướng lạm phát và tỉ lệ lạm phát khi đó sẽđược xác định tương ứng cho kỳ hạn dài hơn 1 năm

Trang 12

Đầu thập niên 70, nhiều nước bắt đầu áp dụng tính lạm phát cơ bản theo phương pháploại trừ một số nhóm hàng, mặt hàng dễ bị sốc bởi cung như hàng hóa thuộc loại lươngthực thực phẩm, nhiên liệu năng lượng, điện năng thuế gián thu Cách tính này chỉ cầnloại bỏ một số mặt hàng thuộc loại lương thực thực phẩm, nhiên liệu năng lượng, thuếgián thu sau đó tính lại quyền số rồi tính bình quân gia quyền Tuy nhiên việc xác địnhmặt hàng loại trừ trên khá máy móc, không có kiểm định Hiện phương pháp loại trừchủ quan (CPI-FET) vẫn được áp dụng ở nhiều nước.

Phương pháp tinh theo trung vị gia quyền (WM-CPI)

Là ước lượng thô nhất khi trung bình gia quyền không còn là ước lượng tốt nhất cho xuthế trọng tâm.Trung vị là ước lượng tốt hơn ước lượng trung bình do nó không chịuảnh hưởng của các sốc tăng giá tạm thời Đây cũng là ước lượng khoa học không tùytiện như phương pháp CPI-FET

Phương pháp trung bình lược bỏ (TM-CPI)

Cuối thập kỷ 80 trở lại đây, phương pháp tính giá trị trung bình lược bỏ ngày càngđược sử dụng rộng rãi Khi phân bố xác suất của phần nhiễu của biến động giá củanhóm ngành hàng có chung kỳ vọng  nhưng lại có phương sai khác nhau ( I2 

2

J

 ) thi trung bình mẫu ( CPI) là ước lượng không chệch đối với phương sai không bénhất Khi đó cần loại trừ các nhóm hàng rơi lệch hẳn về hai phía của đồ thị phân bố tầnsuất của biến động giá của các nhóm hàng Tỷ lệ phần trăm số nhóm lược bỏ ( ) đượcchia đều hoặc không chia đều cho cả 2 phía Khi loại trừ xong trung bình mẫu đượctính cho các quan sát còn lại TM-CPI có thể là bình quân giản đơn hay gia quyền

Phương pháp bình quân gia quyền nghịch đảo độ lệch chuẩn và phương sai

Ngoài ba phương pháp trên còn có : Phương pháp bình quân gia quyền nghịch đảo độlệch chuẩn hoặc phương sai, phương sai ở đây được tính riêng cho từng nhóm hàng

Trang 13

theo thời gian Mô hình kinh tế lượng : tự hồi quy vecto VAR hay mô hình tính toánlạm phát Quah-Vahey…cũng đã được tính thử tại một số nước Mô hình này có ưu thế

là dựa trên lý thuyết tiền tệ nhưng các giả thuyết xây dựng mô hình lại không sát vớithực tế

Việc xây dựng tiêu chí để so sánh tìm ra trong số các phương pháp có thể thựchiện để lựa chọn phương pháp tối ưu là rất cần thiết Tiêu chí để lựa chọn và so sánh:

từ lạm phát CPI, xây dựng trung bình trượt cân giữa / trung bình trượt tiến 6,9,12,18…quan sát liền kề quan sát hiện tại do trung bình trượt phản ánh xu thế lâu dài , lọc đượcnhiễu nhất thời tốt nhất Tỷ lệ phần trăm số nhóm lược bỏ ( ) được lựa chọn tối ưukhi TM-CPI có căn bậc 2 của sai số bình phương trung bình giữa các dãy kết quả TM-CPI với từng  và dãy bình quân trượt tương ứng là nhỏ nhất

Việc tính TM-CPI có thể tiến hành theo 2 trình tự ngược nhau Có thể lấy tỷ lệ bìnhquân 3 của biến động giá hay chỉ số giá rồi mới tính TM-CPI Ngược lại có thể tínhTM-CPI ngay từ số liệu thô rồi mới tính lạm phát bình quân 3 tháng

Khi tính toán đo lường và lựa chọn ứng cử viên là lạm phát cơ bản cần đảm bảonhững tiêu chí : (i) tính kịp thời - ứng cử lựa chọn là lạm phát cơ bản phải được tínhtoán, dự báo và được sử dụng và công bố cùng thời điểm với CPI ,(ii) đáng tin cậy kếtquả tính toán lạm phát cơ bản có độ tin cậy cao, khi công bố nội dung, phương pháptính toán phải dễ hiểu, có thể xác minh được (iii) không thiên lệch chiều hướng của lạmphát cơ bản diễn biến cùng chiều với CPI (iv) trong tính toán lạm phát cơ bản phải tínhđược tất cả các sốc xảy ra ; (v) phương pháp tính lạm phát cơ bản chứa đựng nhữngthông tin có thể dự báo được về lạm phát cơ bản và cả CPI Trên thực tế không thể tìm

ra 1 phương pháp nào thỏa mãn yêu cầu trên , mỗi phương pháp có những ưu điểmriêng Do vậy trong tính toán , dự báo và sử dụng lạm phát cơ bản cần phải lựa chọn sửdụng hệ thống một số phương pháp khác nhau, bổ sung cho nhau

Thông thường ngân hàng trung ương cần những thông tin phản ánh đúng xuhướng của giá cả để phục vụ cho lập chính sách, thực hiện và điều hành chính sách tiền

Trang 14

tệ Trong đó những thay đổi của giá cả tiêu dùng được sử dụng như một tín hiệu đểxây dựng , hoạch định và thực hiện chính sách tiền tệ Điều này đặc biệt đúng đối vớinhững nước theo đuổi “lạm phát mục tiêu” khi sử dụng lạm phát cơ bản như một chỉbáo định hướng trong điều hành chính sách tiền tệ Tại một số nước ngân hàng đưa ramục tiêu kiểm soát lạm phát ở mức ổn định, chẳng hạn ở 3%/năm, khi đó việc tínhđược lạm phát cơ bản nhằm phản ánh những tác động của chính sách tiền tệ và dự báođược lạm phát đó là nhiệm vụ quan trọng.

Trong những năm gần đây đã xuất hiện xu thế trái chiều giữa sự gia tăng mứccung tiền và lạm phát CPI cho thấy tính cấp thiết của việc tính toán, dự báo và sử dụnglạm phát cơ bản Việc xem xét các nhân tố tác động đến lạm phát CPI cần thận trọnghơn khi lý giải biến động lạm phát CPI trong ngắn hạn như thời gian vừa qua , hay một

sự tăng hoặc giảm lạm phát CPI trong một vài tháng chưa thể phản ánh được gì nhiều.Lạm phát xu thế lâu dài do áp lực thực sự có ý nghĩa đáng kể

Để đảm bảo tính khách quan trong tính toán, trong thời gian tới, cần xúc tiến sựphối hợp giữa ngân hàng nhà nước và tổng cục thống kê để tính toán, kiểm nghiệm kếtquả và công bố lạm phát cơ bản hàng tháng , quý , năm Phương pháp tính lạm phát cơbản cũng cần tính thử, kiểm nghiệm bằng dự báo ngắn hạn và trung hạn cho cácphương pháp như :

 Phương pháp điều chỉnh cụ thể : điều chỉnh thời vụ, thuế gián thu và các mặthàng nhà nước quản lý, ngoài ra có thể áp dụng kết hợp với phương pháp loại trừ mặthàng do nhà nước quản lý giá, lương thực phẩm, nhiện liệu , năng lượng ra khỏi rổ tínhhàng hóa CPI ( phương pháp này thường dùng để công bố);

 Một số phương pháp thống kê thuần túy bao gồm : tính trung vị , trung bìnhlược bỏ có quyền số/không có quyền số hay phương pháp tính lại quyền số mới hayphương pháp bình quân gia quyền nghịch đảo độ lệch chuẩn hoặc phương sai ( nhữngphương pháp này thường sử dụng nội bộ để nghiên cứu và phân tích);Phương pháp sử

Trang 15

dụng mô hình kinh tế lượng trong phân tích, tính toán và dự báo lạm phát cơ bản cũngnên tính thử nghiệm sử dụng nội bộ để nghiên cứu và phân tích.

 Khi tính toán, lựa chọn , dự báo được lạm phát cơ bản thì ngân hàng nhà nước

có thể chủ động tiến hành lượng hóa mục tiêu ổn định lạm phát gắn liền với thực thichính sách tiền tệ

1.4 Những ảnh hưởng của lạm phát đến nền kinh tế

Đối với các quốc gia đang phát triển,:

Tác hại dễ thấy nhất là lạm phát phủ định (negate) tăng trưởng kinh tế nếu bằng haycao hơn tăng trưởng kinh tế Ví dụ theo World Factbook, nếu một nền kinh tế tăngtrưởng kinh tế ở mức 8.4% nhưng tỉ lệ lạm phát lên tới 8.3% Như vậy, trung bìnhngười dân có thu nhập cao hơn 8.4% nhưng đời sống sinh hoạt mắc hơn 8.3% cùngthời kỳ thì coi như cũng không tích lũy được gì Tiêu chuẩn đời sống không được cảithiện bao nhiêu Nếu không có biện pháp ngăn chận, lạm phát sẽ làm tê liệt dần bộ máykinh tế vì doanh nhân sẽ không thiết tha hoạt động sản xuất nữa vì không có lợi nhuận.Tâm lý chung sẽ chỉ mua bán “chụp giựt” và chuyển tài sản thành kim loại quý hayngoại tệ mạnh để tránh lạm phát Điều này rõ ràng không có lợi cho sự xoay vòng củađồng tiền để phát triển nền kinh tế

Đối với các quốc gia công nghiệp (industrialized countries) mà xã hội đã chuyển quadạng xã hội tiêu thụ rồi thì lạm phát tác hại theo một qui trình ba bước:

Lạm phát (inflation) - Giảm phát (deflation) – Suy thoái kinh tế (economic recession).Lạm phát không kiểm soát nổi sẽ đưa đến tình trạng giá thành các mặt hàng tăng cao.Giá hàng hóa lên cao sẽ làm giảm nhu cầu tiêu thụ Hàng hoá trở nên dư thừa và ế ẩm

Để sống còn, công ty sản xuất phải chịu lỗ, hạ giá bán và thu nhỏ hoạt động lại Một sốhãng xưởng sẽ phải đóng cửa và công nhân bị sa thải ra làm nhu cầu chung về tiêu thụlại càng giảm nữa Đến đây bắt đầu giai đoạn giảm phát Hàng hoá sẽ xuống giá cho

Trang 16

đến khi nào tìm được một sự quân bình mới giữa cung cầu Lúc đó kinh tế đi vào giaiđoạn suy thoái và tiêu chuẩn sống (standards of livings) của người dân bị giảm sút.

Sự tác hại của lạm phát đối với kinh tế sau một thời gian âm ỉ có tính cách bùng

nổ như một cơn bệnh cấp tính Điển hình nhất là cơn đại khủng hoảng kinh tế 1929 tại

Mỹ Chỉ trong một một ngày, giá trị thị trường chứng khoán Mỹ bị mất đi gần một nửa

và kinh tế Mỹ bước vào một giai đoạn suy thoái thảm não kéo dài gần hai thập niên sau

đó

1.5 Các bài học trên thế giới về kiểm soát lạm phát

Lạm phát là hiện tượng vốn có của nền kinh tế sử sụng tiền tệ.Ngày nay không

có một nền kinh tế nào không dùng tiền, và do đó cũng không có một nền kinh tế nào

có thể nói là không có lạm phát Lạm phát trong không ít trường hợp đã là một biệnpháp phát triển kinh tế , làm tăng nhu cầu, thúc đẩy các hướng đầu tư có lợi Song khilạm phát vượt quá một giới hạn nhất định, vượt quá mức tăng thu nhập quốc dân thì nótrở thành một căn bệnh gây nhiều tác hại cho sự phát triển kinh tế- xã hội

Ở các nước Tư Bản Chủ nghĩa phát triển, mức tăng thu nhập quốc dân trungbình hàng năm tuỳ theo từng nước trong những năm 1970 vào khoảng 3-3.5%, mứclạm phát vào khoảng trên dưới 10%, có nước đã tới trên 20% Vào những năm 80 này,mức lạm phát ở các nước Tư Bản Chủ Nghĩa phát triển nói chung đã giảm xuống trêndưới 3-4%, nghĩa là chỉ cao hơn mức tăng thu nhập quốc dân một chút ( khoảng trêndưới 3%) Lạm phát hai chữ số là hiện tượng cá biệt ở các nước này Có thể nói nhữngnước Tư Bản chủ nghĩa phát triển đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc chốnglạm phát

Ở các nước đang phát triển tình hình lạm phát nghiêm trọng hơn, ở nhiều nướcChâu Phi thường xuyên lạm phát ở mức hai con số, ở Châu Mỹ La Tinh – ba con số, ởChâu Á mức độ lạm phát thấp hơn thường là ở một chữ số

Trang 17

1.5.1 Hàn Quốc

Trước tình hình lạm phát đầu năm 2008 tại Hàn Quốc, Chính phủ đưa ra mục tiêubình ổn giá tiêu dùng và hỗ trợ các gia đình có thu nhập thấp Một ủy ban chống tănggiá và chống đầu cơ được thành lập do thứ trưởng Choi Joong Kyung đứng đầu Chínhphủ Hàn Quốc giảm giá điện sinh hoạt và duy trì cho đến năm 2010 Chính phủ cũngquyết định miễn, giảm một số dòng thuế tiêu thụ và nhập khẩu; tiến hành hỗ trợ trên1,0 tỷ USD cho nông dân vay vốn ưu đãi nhằm tăng mức cung lương thực và thựcphẩm; giảm 50% mức phí giao thông vận tải trên các tuyến đường cao tốc trong một sốgiờ Các biện pháp tiết kiệm sử dụng năng lượng của Chính phủ, cải cách mạng lướiphân phối và dịch vụ, giảm phí dịch vụ y tế, viễn thông đã được đưa ra, nhằm giảmchi phí cho người dân

Lạm phát tăng cao vào đầu năm 2008 tại Trung Quốc, cao nhất trong 11 nămqua.Nguyên nhân chính là giá lương thực - thực phẩm tăng tới 23,3% so với mức18,2% đến hết tháng 1/2008 Để chống lạm phát, Chính phủ Trung Quốc chủ trương ưutiên thực hiện chính sách tài chính ổn định, minh bạch và siết chặt chính sách tiền tệtrong năm 2008, hạn chế cung ứng tiền Chính phủ cũng ưu tiên các lĩnh vực liên quantrực tiếp tới đời sống nhân dân, cho phép đồng nhân dân tệ biến động linh hoạt hơn.Thực ra Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (Trung ương) đã thực thi chính sách tiền tệthắt chặt ngay từ năm 2007 với các biện pháp nới lỏng quy định giao dịch ngoại tệ,tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tới 10 lần và thực hiện 6 lần tăng lãi suất tiền gửi và lãi suấtcho vay của các ngân hàng thương mại, với mức tăng không lớn, để thị trường tiền tệkhông bị tác động cũng như không gây khó khăn cho hoạt động ngân hàng

Quyết định nới rộng biên độ giao dịch của đồng Nhân Dân tệ so với Đô la Mỹnhằm kiểm soát lưu thông tiền tệ và kiềm chế tốc độ cho vay quá mạnh của các ngânhàng thương mại vào bất động sản Biện pháp này được phối hợp với quy định tăng

Trang 18

mức đặt cọc khi vay tiền mua ngôi nhà thứ hai, tăng lãi suất cho vay và tăng thuế lợitức tiền gửi ngân hàng, hạn chế tiền đầu tư vào thị trường chứng khoán Theo sau cácbiện pháp trên, Chính phủ Trung Quốc cũng phát hành tín phiếu đối với các ngân hàngthương mại nhằm thu hút tiền từ lưu thông về

Kinh nghiệm của Trung Quốc

Để kiềm chế lạm phát, Chính phủ Trung Quốc thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp cả vềtiền tệ, thị trường, sản xuất Báo cáo tại kỳ họp Quốc hội Trung Quốc đưa ra cácnhóm giải pháp cấp bách để kiềm chế chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

 Hỗ trợ thúc đẩy phát triển sản xuất, nhất là sản xuất các mặt hàng thiết yếu như:lương thực, thực phẩm, dầu thực vật, thịt,

 Kiểm soát chặt chẽ ngành công nghiệp sử dụng nguyên liệu là lương thực - thựcphẩm

 Đẩy mạnh và kiện toàn hệ thống dự trữ, điều tiết xuất nhập khẩu, bình ổn giá thịtrường trong nước

 Thực hiện tốt khâu quản lý và điều tiết, điều hành giá cả, ngăn chặn tình trạngđua nhau tăng giá

 Giám sát việc thu phí và lệ phí giáo dục, y tế, giá cả mặt hàng dược phẩm vànguyên nhiên vật liệu phục vụ nông nghiệp kiên quyết xử lý các trường hợp liên kếtđầu cơ trục lợi

 Hoàn thiện và thực hiện các biện pháp trợ cấp đối với người có thu nhập thấp

 Ngặn chặn kịp thời tình trạng giá cả nguyên nhiên vật liệu leo thang

 Kiên trì thực hiện “chế độ trách nhiệm bao gạo” đối với tỉnh trưởng và “chế độtrách nhiệm rổ rau” đối với thị trưởng

Như vậy, biện pháp thắt chặt tiền tệ phải được tiến hành có liều lượng, có lộ trình

và đồng thời với quản lý thị trường, quản lý giá cả, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp pháttriển và hỗ trợ người dân có thu nhập thấp Song đối với Việt Nam thì dường nhưnghiêng quá nhiều về tiền tệ Thiếu vốn cho sản xuất kinh doanh Sản xuất kinh doanh

Trang 19

rơi vào tình trạng khó khăn, hiệu quả thấp có thể dẫn đến tăng trưởng chậm và trì trệ,nạn thất nghiệp gia tăng Nhà đầu tư mất lòng tin vào thị trường chứng khoán Tất cảnhững điều đó đều cần được quan tâm và tìm biện pháp để phục hồi Kinh nghiệm củaTrung Quốc, một số nước khác trong khu vực nên được tham khảo tích cực trong xử lýcác bài toán về điều hành kinh tế vĩ mô hiện nay Trong bất kỳ một nền kinh tế nào, cáigốc tăng trưởng vẫn là sản xuất, kinh doanh và lưu thông phân phối, việc làm và đờisống người lao động Đó là tính quy luật không thể coi nhẹ.

1.5.3 Các nước khác trên thế giới

Các ngân hàng trung ương mỗi quốc gia như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ có thể tácđộng đến lạm phát ở một mức độ đáng kể thông qua việc thiết lập các lãi suất Các lãisuất cao (và sự tăng chậm của cung ứng tiền tệ) là cách thức truyền thống để các ngânhàng trung ương kiềm chế lạm phát, sử dụng thất nghiệp và suy giảm sản xuất để hạnchế tăng giá Tuy nhiên, các ngân hàng trung ương xem xét các phương thức kiểm soátlạm phát rất khác nhau Ví dụ, một số ngân hàng theo dõi chỉ tiêu lạm phát một cáchcân xứng trong khi các ngân hàng khác chỉ kiểm soát lạm phát khi nó ở mức cao Bêncạnh đó cần xét tới các giải pháp như giảm thuế nhằm giảm chi phí sản xuất để tăngđầu tư và đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu

So sánh Chính sách mục tiêu lạm phát của một số nước trên thế giới

Hơn một chục năm qua kể từ khi chính sách mô tả lạm phát được biết đến, đã córất nhiều quốc gia áp dụng nó Tuy có những điểm giống nhau vì cùng dựa trên những

lý thuyết cơ sở nhưng chính sách mục tiêu lạm phát của mỗi nước lại mang những mầusắc khác nhau Để có cái nhìn tương đồng cũng như cở sở so sánh về chính sách mục

Trang 20

tiêu lạm phát của các nước này, chúng ta có thể nhìn vào bảng dưới đây với những tiêuchí hết sức cơ bản tương ứng với một số vấn đề đã đặt ra

Đối tượng của họcthuyết “trách nhiệm tayđôi”

Bộ tài chính và ngânhàng trung ương phốihợp công bố

Ngân hàngtrung ươngChâu Âu ECB

Chỉ số lạm phát cơ bản CPI loại trừ tác

động của lãi suất

CPI loại trừ tác độnggiá lương thực và nănglượng

HICP loại trừtác động củathực phẩmchưa chế biếnCông bố báo cáo Hàng quý từ

3/1990 Nửa năm từ 5/1995 Hàng tháng

Về thời điểm áp dụng: Có thể coi New Zealand là quốc gia đầu tiên áp dụngchính sách mục tiêu lạm phát một cách trực tiếp vào 4/1990 (vì trước đó đã có Đức,nhưng được đánh giá là chính sách mục tiêu lạm phát một cách gián tiếp) Sau đó 1năm ngân hàng trung ương Canada cũng quyết định áp dụng chính sách này vào26/2/1991, họ đã thực thi một chính sách mục tiêu lạm phát rất linh hoạt và hết sứcthành công cho đến tận hiện nay Và gần đây, ngân hàng trung ương châu Âu ECBcũng đưa ra quyết định áp dụng chính sách mục tiêu lạm phát vào 1/1/1999 ngay thời

Trang 21

điểm ra đời Đây có thể coi là ngân hàng trung ương lớn nhất trên thế giới đã lựa chọnchính sách mục tiêu lạm phát.

Về chỉ số lạm phát mục tiêu: Từ khi bắt đầu thực hiện, New Zealand đã xác địnhkhung mục tiêu của mình là 0% - 2% và coi mức 1% là gần tương đương với ổn địnhgiá cả Nhưng sau đó nhận thấy rằng sự phát triển kinh tế ở mức lạm phát 1,9% và2,1% là như nhau nên đã quyết định mở rộng khung lạm phát lên 0% -3% cho đến nay.Trong khi đó, điểm đáng chú ý của Canada là việc có vẻ như ngân hàng trung ương của

họ đã công bố mục tiêu tại một điểm nhưng thực chất lại là một khung giá trị bởi vì họnhấn mạnh vào biên độ dao động của lạm phát xung quanh giá trị này Mặc dù ngay từđầu 2% (tương đương với biên độ 1% - 3%) được cho là hợp lý nhưng để phù hợp vớiđiều kiện kinh tế Canada lúc mới bắt đầu (lạm phát rất cao, thất nghiệp gia tăng, kinh tếtrì trệ ), ngân hàng trung ương không quyết định lựa chọn giá trị này ngay mà đặt mụctiêu là 3% (biên độ 2% -4%) rồi sau đó giảm dần theo thời gian (3% cho đến hết năm

1992, 2.5% cho đến hết năm 1994, 2% cho 18 tháng tiếp theo) Đến 2/1998, ngân hàngtrung ương Canada quyết định duy trì mục tiêu 2% đến hết năm 2001 vì thực tế đãchứng tỏ rằng đây là một khung dao động phù hợp, tạo ra những thay đổi tích cực chonền kinh tế

Đi sau các nước khác cũng đồng nghĩa với việc rút ra được nhiều bài học kinhnghiệm, Ngân hàng trung ương Châu Âu ECB công bố mức 2% là hợp lý và cho mộtbiên độ dao đông nhỏ hơn và gần 2% Họ cho rằng nếu mức lạm phát được ấn định quácao, chúng ta sẽ phải đối mặt với rủi ro là lạm phát dự tính sẽ tăng theo hình trôn ốc(khởi đầu là dự tính lạm phát tăng làm cho tiền lương tăng; tiền lương tăng dẫn đếntăng lạm phát, lạm phát tăng lại làm cho tiền lương tăng ) Tuy nhiên, nếu xác định ởmức quá thấp thì lại phải đối mặt với rủi ro thiểu phát nền kinh tế, trong đó mức giá cảchung giảm xuống Do vậy, mục tiêu lạm phát sau khi trừ đi sai số ngẫu nhiên vẫn phảiđạt mức trên 0% một chút để tránh nguy cơ thiểu phát vẫn có thể được coi là ổn địnhgiá cả Ngân hàng trung ương châu Âu ECB đã xác định rằng sai số mà họ có thể mắc

Trang 22

phải trong quá trình thống kê đo lường có thể là 1,5% nên với việc xác định mục tiêunhỏ hơn và càng gần 2% càng tốt đã loại trừ cả nguy cơ thiểu phát lẫn bao gồm những

xu hướng tăng giá hợp lý

Về tính độc lập của ngân hàng trung ương: Hoạt động của NHDT New Zealandmang tính luật định cao được quy định trong các PTA (Policy Targets Agreement –thoả ước mục tiêu chính sách) nhưng thực ra lại là tính độc lập tương đối, điều này cónghĩa là gì? Nghĩa là một mặt NHDT New Zealand độc lập trong việc thực thi chínhsách tiền tệ bằng các công cụ của nó, nhưng mặt khác nó lại không độc lập trong việchoạch định chính sách tiền tệ mà những mục tiêu phải do “Sự thoả thuận giữa Bộ Tàichính và Chính phủ”, NHDT chỉ hoạt động như một đại lý của Chính phủ mà thôi.Việc để cho mục tiêu lạm phát rời khỏi khung mục tiêu đã định đồng nghĩa với sự ra đicủa Thống đốc đương nhiệm.Trong khi đó với Canada, ngân hàng trung ương lại là đốitượng của “học thuyết trách nhiệm tay đôi”, tuy mục tiêu lạm phát được công bố là “sựphối hợp giữa Bộ Tài chính và ngân hàng trung ương” nhưng sự kiểm soát chính sáchtiền tệ cuối cùng lại được đặt dưới quyền của Bộ Tài chính, điều này có nghĩa là Bộtrưởng có thể buộc Thống đốc phải thực hiện một chính sách tiền tệ cụ thể bằng mộtchỉ thị (thường sẽ đi kèm với việc Thống đốc phải xin từ chức)

Trong khi đó, ngay từ khi ra đời trong “Hiệp ước về việc thành lập liên minhchâu Âu” đã có những điều luật quy định tính độc lập tuyệt đối cho Ngân hàng trungương Châu Âu ECB trong cả hoạch định lẫn thực thi chính sách tiền tệ Những quyếtđịnh về mục tiêu lẫn cách thức làm sao đạt được những mục tiêu đó chỉ do ngân hàngtrung ương Châu Âu ECB quyết định

Về công cụ đo lường lạm phát: Cả ba nước này đều nhất trí sử dụng chỉ số CPIbởi vì đặc tính phổ biến, dễ hiểu và được công bố một cách công khai thường xuyêncủa nó, khác biệt chỉ là ở việc Ngân hàng trung ương Châu Âu ECB sử dụng chỉ sốHICP Về bản chất, HICP tương tự CPI nhưng được tính theo phương pháp thống kêcân đối giữa các quốc gia thành viên của liên hiệp Châu Âu (EU) Nhưng bên cạnh, đó

Trang 23

cả 3 nước đều sử dụng chỉ số lạm phát cơ bản vì cho rằng chỉ số này thể hiện rõ hơnnhững xu hướng biến động trong dài hạn của lạm phát vì nó đã loại trừ các tác độngmang tính ngắn hạn và có thể nhanh chóng mất đi như New Zealand loại trừ khỏi CPItác động của lãi suất (đặc biệt là lãi suất của việc mua bán nhà đất bất động sản),Canada loại trừ tác động của giá lương thực và năng lượng, trong khi ECB loại trừ biếnđộng của thực phẩm chưa qua chế biến.

Về sự công khai minh bạch: Để thực hiện điều đó, ngoài việc thường xuyên tổchức các buổi hội thảo, những tham luận của các quan chức cao cấp của ngân hàngtrung ương và Chính phủ, những chuyến công tác của các Thống đốc, các nước nàyđều rất chú ý cho ra các báo cáo một cách thường xuyên: New Zealand phát hành bản

“Tuyên bố chính sách tiền tệ” đều đặn hàng quý, Canada nửa năm một lần cho ra “Báocáo chính sách tiền tệ” và các “Cập nhật báo cáo chính sách tiền tệ” xen giữa Trongkhi đó Ngân hàng trung ương Châu Âu ECB còn thường xuyên hơn đều đặn hàngtháng đều cho ra “Báo cáo chính sách tiền tệ” của mình đến với các chủ thể trong nềnkinh tế Những báo cáo này đều thường xuyên được cải biến sao cho ngày càng trở nênsinh động dễ hiểu bằng hàng loạt các đồ thị, biểu đồ, hình ảnh, sử dụng khá nhiềukhoảng trống nhằm thu hút hơn và bạn đọc có thể dễ dàng tiếp cận với những hoạtđộng của ngân hàng trung ương hơn

Về dự báo lạm phát: Trong ba nước được nghiên cứu thì chỉ có New Zealand là

có thực hiện công tác dự báo lạm phát từ những điều tra của mình 6 tháng một lầnthông qua chỉ số MCI (Monetary Conditions Index - Chỉ số điều kiện tiền tệ) cònCanada và Ngân hàng trung ương Châu Âu ECB đều không công bố mức lạm phát dựtính

Rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Xem xét tình hình lạm phát của các quốc gia ta thấy nguyên nhân cơ bản củalạm phát có tính chất chung nhất là nền kinh tế quốc dân hoạt động không có hiệu quả,

Trang 24

không tạo ra được thu nhập hay tạo ra với mức rất thấp, không đủ bù đắp các khoản chiphí cho các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng….của đất nước, do vậy đãphải gia tăng phát hành tiền để chi tiêu – gây ra lạm phát Đương nhiên tình trạngkhông có hiệu quả của nền kinh tế lại có các nguyên nhân chủ quan do chính sách vàchiến lược kinh tế sai lầm, hay nguyên nhân khách quan do chính sách, chiến tranh vàthiên tai ….Song sự phân tích tình hiình lạm phát ở các quốc gia đến nay cho thấy làtình trạng lạc hậu của các thể chế kinh tế - xã hội cùng với những sai lầm trong chiếnlược và chính sách kinh tế luôn là nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát

Nghiên cứu các giải pháp chống lạm phát trên thế giới ta có thể rút ra những nhận xét sau:

 Nếu là tình trạng lạm phát chỉ do mất cân đối cung cầu ,tiền hàng, còn nền kinh

tế về cơ bản vẫn làm ăn có lãi, thì các giải pháp chống lạm phát chủ yếu sẽ xoay quanhcác mục tiêu tăng thu, giảm chi, khống chế cầu, khuyến khích cung và cũng chỉ ápdụng các giải pháp đó trong một thời gian ngắn là có thể đưa tình trạng lạm phát trở vềtrạng thái bình thường

 Nhưng nếu lạm phát lại do tình trạng hoạt động không có hiệu quả của nền kinh

tế, thì các giải pháp chống lạm phát sẽ phức tạp hơn, sẽ phải bao gồm các biện phápbuộc mọi cơ sở kinh doanh phải có lãi, laọi bỏ các cơ sở thua lỗ và do vậy mới tăngđược nguồn thu giảm chi.Các biện pháp này thường đụng chạm đến lợi ích của nhiềutầng lớp trong xã hội, do đó sức phản kháng của các tầng lớp này là khá mạnh Nhưngchính phủ không đủ quyết tâm và ý chí đã từng đầu hàng trước những phản kháng đó ,cũng có nghĩa là đầu hàng lạm phát, Mêhicô và nhiều nước đang phát triển khác đang ởtình trạng như vậy

 Trong các giải pháp chống lạm phát, giải pháp nâng lãi suất dường như luôn có

vị trí chủ đạo trong tổng thể các giải pháp chống lạm phát của nhiều quốc gia kể từ Mỹ,Anh đến các nước Nam Triều Tiên, Đài Losn,…Sở dĩ như vậy, vì việc nâng lãi suất đã

có tác dụng làm phá sản hàng loạt cơ sở kinh doanh kém hiệu quả, thu hút tiền và vốn

Trang 25

vào tay các ngân hàng, khôi phục lại các chức năng của đồng tiền mặc dù nó đã mấtgiá….

 Để nhanh chóng giảm phát hành tiền , nhiều nước đã áp dụng biện pháp táchviệc phát hành tiền với ngân sách nhà nước.Ngân hàng chỉ phát hành tiền cho nhu cầulưu thông hàng hoá, chấm dứt việc phát hành tiền co chi tiêu ngân sách , nhà nước cầntiền chi tiêu

Việc nghiên cứu chính sách mục tiêu lạm phát của các nước này có thể gợi ý cho chúng ta một số vấn đề:

Lựa chọn chính sách mục tiêu lạm phát phải trên cơ sở sau một thời kỳ kiềm chếlạm phát thành công Điều này sẽ giúp tạo ra niềm tin của công chúng vào khả năngcủa ngân hàng trung ương trong việc thực thi các mục tiêu mình đã định ra cũng nhưtạo tiền đề cở sở cho việc kiểm soát lạm phát về sau Còn việc sau bao nhiêu năm thìphải phụ thuộc vào điều kiện của từng quốc gia cụ thể, khi thấy mình đã hội tụ đầy đủnhững yếu tố có thể thực hiện thành công chính sách mô tả lạm phát thì chính thứccông bố Bởi vì một khi đã công khai công bố thì phải bằng mọi cách đạt được, nếukhông sẽ gây mất niềm tin với công chúng

Chỉ số CPI và chỉ số lạm phát cơ bản – song song sử dụng Mặc dù như đã nói

ở trên chỉ số CPI có nhiều ưu điểm nhưng một nhược điểm lớn là nó lại bao gồm cảnhững yếu tố khiến giá cả biến động trong ngắn hạn mà có thể nhanh chóng mất đi sau

đó nên bên cạnh đó các ngân hàng trung ương đều sử dụng thêm chỉ số lạm phát cơ bản

vì cho rằng chỉ số này mới thể hiện bản chất xu hướng biến động của giá cả và giúpngân hàng trung ương có thể nhìn nhận về tình trạng lạm phát chính xác hơn

Chính sách mục tiêu lạm phát phải có tính linh hoạt cao Đây là một vấn đềquan trọng, bởi vì các biến cố kinh tế, chính trị, xã hội biến đổi không lường, dẫn đếnnhững phản ứng khác nhau của nền kinh tế vào từng thời kỳ, rất cần thiết phải chongân hàng trung ương những sự linh hoạt nhất định để họ có thể phản ứng lại các biếnđộng này một cách có hiệu quả Sự linh hoạt này có thể được thể hiện trên nhiều mặt:

Trang 26

 Mục tiêu được đặt trong một khung giá trị hơn là một con số cụ thể.

 Khung mục tiêu được đặt ra một cách từ từ tăng hoặc giảm theo thời gian đểtránh gây sốc cho nền kinh tế

 Mỗi mục tiêu có thời gian thực hiện tương đối dài, trong thời gian đó, vẫn có thểchấp nhận sự lệch ra khỏi mục tiêu một cách tạm thời

Chính sách mục tiêu lạm phát phải có sự công khai minh bạch và gắn liền vớitrách nhiệm cao của ngân hàng trung ương Điều này có tác dụng là khi mà các chủ thểkhác trong nền kinh tế biết được ngân hàng trung ương đang làm gì, chính sách tiền tệđang ở đâu thì những sự dự tính của họ về các nhân tố có liên quan đến lạm phát sẽ gầnhơn với những gì mà ngân hàng trung ương mong muốn và tỷ lệ lạm phát trong dài hạn

sẽ rơi vào khung mục tiêu đã đặt ra Các khía cạnh có thể đề cập đến:

 Bên cạnh các kênh thông tin chính thức phải chú ý quan tâm cả đến những kênhkhông chính thức (các bài tham luận, phát biểu, phát hành báo chí, trang web )

 Gia tăng cam kết trách nhiệm của ngân hàng trung ương trong việc thực thi cácmục tiêu đã đặt ra của chính sách tiền tệ

Chính sách mục tiêu lạm phát không được phép xung đột với các chính sáchkinh tế vĩ mô khác Ngoài chính sách tiền tệ, bất cứ quốc gia nào cũng còn phải thựchiện nhiều các chính sách kinh tế vĩ mô khác Việc đặt ra các chính sách chồng chéo vàxung đột lẫn nhau tất sẽ gây ra những khó khăn cho các cơ quan chủ quản trong việcthực thi các chính sách này Vì vậy ngay từ khi hoạch định chúng ta đã phải cố gắnglàm sao cho các chính sách này không có xung đột với nhau mới tạo ra những thuậntiện trong quá trình thực hiện sau này

Dự báo lạm phát - nhân tố góp phần trong thành công của chính sách mục tiêulạm phát Tất nhiên không phải bất cứ quốc gia nào cũng thực hiện dự báo lạm phát, vàcũng không phải bắt buộc phải dự báo lạm phát mới đem đến thành công cho chínhsách mô tả lạm phát , nhưng có thể dự báo trước được những gì có thể xẩy ra cũngkhông phải là tồi Nó sẽ góp phần giúp ngân hàng trung ương có được cái nhìn tốt hơn

Trang 27

và không bị bất ngờ trước những gì mà mình sẽ phải đối mặt và vì thế đưa ra đượcnhững biện pháp ứng phó.

Xem xét tình hình lạm phát của các quốc gia ta thấy nguyên nhân cơ bản củalạm phát có tính chất chung nhất là nền kinh tế quốc dân hoạt động không có hiệu quả,không tạo ra được thu nhập hay tạo ra với mức rất thấp, không đủ bù đắp các khoản chiphí cho các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng….của đất nước, do vậy đãphải gia tăng phát hành tiền để chi tiêu – gây ra lạm phát Đương nhiên tình trạngkhông có hiệu quả của nền kinh tế lại có các nguyên nhân chủ quan do chính sách vàchiến lược kinh tế sai lầm, hay nguyên nhân khách quan do chính sách, chiến tranh vàthiên tai ….Song sự phân tích tình hiình lạm phát ở các quốc gia đến nay cho thấy làtình trạng lạc hậu của các thể chế kinh tế - xã hội cùng với những sai lầm trong chiếnlược và chính sách kinh tế luôn là nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát

Trang 28

Chương II: THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM

TRONG THỜI GIAN QUA

2.1 Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế của VN trong thời gian

vừa qua.

Tốc độ tăng GDP có thể nói là khởi sắc Nợ nước ngoài thấp Khả năng trả nợkhông có vấn đề Việc Việt Nam gia nhập WTO đã mở rộng thêm khả năng gắn bó và

mở rộng thị trường với kinh tế thế giới mà không còn bị vấn đề chính trị ngăn cản Sự

hồ hởi của người nước ngoài với nền kinh tế Việt Nam là chưa từng thấy Điều này đãphản ánh qua luồng ngoại tệ đổ vào Việt Nam cao nhất từ xưa đến nay từ đầu tư trựctiếp đến đầu tư gián tiếp qua việc mua cổ phiếu và trái phiếu Việt Nam

Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng Việt Nam 2003-2008

Trang 29

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam luôn đạt mức cao (trung bình xấp xỉ8%/năm) và luôn là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới

Bảng 2.2 : Tốc độ tăng nguồn vốn FDI

FDI

(Tỷ USD)

-Nguồn: Ministry of Foreign Affairs (Bộ ngoại giao)

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng vọt kể từ năm 2006, năm đánh dấu sự kiệnViệt Nam gia nhập WTO, trong vòng 3 năm từ năm 2004-2007, FDI đổ vào Việt Nam

đã tăng lên gấp 8 lần Khi các hoạt động đầu tư tăng lên mạnh mẽ, trong giai đoạn đầu,hoạt động nhập khẩu nguyên vật liệu, thiết bị cần thiết cũng sẽ theo đó tăng mạnh Vàsau đó, khi giai đoạn bùng nổ đầu tư tạm lắng xuống, các kết quả (sản phẩm) phần lớn

sẽ được xuất khẩu ngược lại thị trường nước ngoài

Việc các doanh nghiệp nước ngoài đẩy mạnh đầu tư vào Việt Nam thông quaFDI là yếu tố hết sức quan trọng đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu từ đó mở ra cơhội kinh doanh khổng lồ cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực vận chuyển

Bảng 2.3 : Tình hình cán cân thương mại 2003-2008

Cán cân thương mại -4.9% -3.4% -0.9% -0.3% -3.2% -3.2%

Nguồn: Ministry of Foreign Affairs (Bộ ngoại giao)

Năm 2007 số ngoại tệ đưa vào Việt Nam mà ngân hàng nhà nước mua vào đãtrên 9 tỉ đô la Việt Nam đang cố sức tìm cách quản lý tình hình phức tạo này.Ngoại tệvào nhiều đã tạo ra hai vấn đề :

Trang 30

 Số cung ngoại tệ nhiều sẽ làm ngoại tệ mất giá , hay nói cách khác, tiền đồnglên giá đối với ngoại tệ Làm ảnh hưởng đến xuất khẩu , mất cân đối cán cân thươngmại.

 Việc phát hành tiền đồng để đổi ngoại tệ sang tiền đồng đã làm tăng số cung tiềnđồng trên thị trường dẫn đến lạm phát tăng cao, vấn đề phat hành lượng lớn tiền đồng

ra thị trường nhằm mục đích tăng chi tiêu nhà nước, nhất là vào đầu tư để chạy đua lậpthành tích đạt con số tăng GDP cao Do đó không thể đánh đồng tỷ lệ tăng GDP caovới tỷ lệ phát triển kinh tế GDP cao nhưng tình hình lạm phát con tăng cao hơn, chất

lượng xây dựng thấp kém, ô nhiễm môi trường nặng nề, tăng tỷ lệ nghèo

2.2 Tình hình lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua

Trang 31

Từ năm 2003 đến đầu năm 2006 Năm 2003-2004 tỷ lệ lạm phát nước ta 9.4%, cao hơn mức tăng trưởng kinh tế (7.3%-7.8%) Trong 6 tháng đầu năm 2004 cóthể thấy rõ được lạm phát ở nước ta là lạm phát tiền tệ hay lạm phát giá cả, cũng nhưhiểu thêm về tình hình lạm phát chung của khu vực Trong bối cảnh giá cả một số mặthàng nhạy cảm của thế giới, đặc biệt là trong khu vực tăng đáng kể trong thời gian gầnđây, như giá xăng dầu tăng cao nhất trong nhiều năm qua, giá phôi thép biến độngmạnh, giá gạo xuất khẩu tăng khá, tới mức 43% trong vòng 1 năm Giá các mặt hàngkhác, như: phân bón, nguyên liệu nhựa, bột giấy, cao su, cũng tăng lên Nhiều quốcgia trong khu vực bị ảnh hưởng của tình hình biến động của thị trường, nên lạm phátcũng gia tăng Cùng với dịch cúm gia cầm làm cho lạm phát năm 2004 vẫn cao, bướcsang năm 2005 tỷ lệ lạm phát chỉ còn 1 con số Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam (WB)công bố Báo cáo Báo cáo cho rằng việc kết thúc thành công các cuộc đàm phán gianhập Tổ chức Thương mại Thế giới của Việt Nam (WTO) là điều chủ yếu để giữ vững

9.5%-đà tăng trưởng Nó giúp Việt Nam giảm thiểu khó khăn đối với ngành dệt may - vẫncòn chịu hạn ngạch xuất khẩu trong năm 2005 trong khi các đối thủ cạnh tranh khác đã

là thành viên của WTO rồi lại không phải theo hạn ngạch Cùng với việc sử dụng chínhsách thắt chặt tiền tệ hiệu quả của nhà nước và chính phủ lạm phát vào năm 2005 là8.4% , và tốc độ tăng trưởng vào năm 2005 là 9.4% cao hơn so với tỷ lệ lạm phát đó làmột dấu hiệu khởi sắc cho nền kinh tế.Vào bốn tháng đầu năm 2006 tốc độ tăng giátiêu dùng cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm ngoái dẫn đến tình trạng cảnh báo lạmphát ở nước ta , từ đó tìm những biện pháp tích cực để kiềm chế lạm phát

Cuối năm 2006 đến cuối năm 2007 đô-la Mỹ bị mất giá mạnh trên thị trường thếgiới, lãi suất của nó liên tục giảm; trong thời gian đó Việt Nam vẫn theo đuổi chínhsách duy trì tỷ giá tiền đồng thấp; đầu năm 2007 nước ta chính thức gia nhập WTO.Các quỹ đầu cơ tài chính mau chóng được thành lập và huy động vốn bằng đô-la Mỹvới lãi suất thấp để đầu cơ vào Việt Nam.Những tháng cuối 2006 đến 2007 các quỹ này

đã rót khoảng 160 ngàn tỷ đồng (tương đương với 10 tỷ đô-la Mỹ vào thị trường chứng

Trang 32

khoán, bơm giá cổ phiếu tăng đến chóng mặt, tạo ra một ma lực cuốn hút người dân đổtiền vào cổ phiếu Ước tính đã có hơn 350 ngàn tỷ đồng bị hút vào chứng khoán từnguồn tự có, vay mượn và thế chấp của người dân Giá cổ phiếu ít thì tăng vài ba lần,nhiều thì đến vài chục lần, vượt xa hoàn toàn khả năng tạo ra giá trị thực tế của nó.Vàođầu năm 2007, khi mà chứng khoán đang trong giai đoạn bị làm giá bởi các quỹ đầu cơtrục lợi, đã có ý kiến đề nghị SCIC nhanh chóng bán ra số lượng cổ phần của các công

ty niêm yết mà tổng công ty này đang nắm giữ để giảm sốt cho thị trường, tăng lượngtiền dự trữ của chính phủ để dự phòng cho người dân đang bị cơn say ma lực Là một

cổ đông lớn nhất trên thị trường, nắm giữ một lượng lớn cổ phiếu của rất nhiều cáccông ty niêm yết có trị giá vốn hóa đến gần 50 ngàn tỷ đồng vào lúc cao điểm, SCIChoàn toàn đủ sức làm đối trọng để chống những hành vi lũng đoạn thị trường, làm cho

nó phát triển lành mạnh Nhưng họ đã hoàn toàn bất động, trái hẳn với sự năng độngxông vào “cứu” chứng khoán vừa rồi

Các quỹ đầu cơ này đang kiểm soát một lượng tiền đồng khoảng 500 ngàn tỷ

và được giữ tại các ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam trong khi mức dự trữ trong dânđang dần cạn kiệt Và đây chỉ mới là khúc dạo đầu của một kế hoạch Sau giai đoạnchứng khoán bị làm giá rồi rơi tự do, sẽ đến giai đoạn tiền đồng bị làm giá Đồng tiềnquốc gia của 86 triệu dân đã bắt đầu bị lũng đoạn Để hỗ trợ cho đầu tư nước ngoàităng vọt trong năm 2007, ngân hàng Nhà nước đã được lệnh phát hành thêm tiền đồngvượt mức an toàn để mua đô-la Mỹ Lý thuyết này sẽ khả thi nếu như nền kinh tế trongnước hấp thụ được lượng vốn ngoại đưa vào đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh làm

ra thêm của cải cho xã hội, dòng vốn được lưu thông thì ngân hàng Nhà nước dễ dànghút tiền đồng về nhanh chóng để tránh lạm phát Nhưng sẽ thật là mạo hiểm và vô tráchnhiệm khi những nhà quản lý vĩ mô không nhìn ra và tiên liệu những tình huống ngượclại như thực tế đã diễn ra

Trang 33

Đầu năm 2008 do biến đổi về khí hậu ở miền đã gây thiệt hại cho cây trồng vàgia súc đẩy giá lương thực thực phẩm lên cao.Cùng lúc đó chính phủ đã tăng giá xăngdầu lên 36%.Để đối phó với áp lực lạm phát gây ra thì tiền lương của công nhân viênchức cũng đã được tăng lên vào tháng giêng 2008.Giá lương thực và nhà ở leo thang đãlàm cho lạm phát đạt tới mức 19.4% năm qua ,vào tháng 3 mức cao nhất trong hơn 1thập kỉ qua Chính sách thắt chặt tiền tệ được áp dụng để dần dần đẩy lạm phát về mức

ổn định hơn trong quý 2 năm 2008 Nhưng có lẽ lạm phát còn nằm trong phạm vi 16%vào tháng 12 Mức lạm phát trung bình được dự báo là khoảng 18.3% năm 2008 và10.2% năm 2009

2.3 Những nguyên nhân dẫn đến lạm phát

Trong những năm qua lạm phát ở Việt Nam diễn biến rất phức tạp Có thể nóilạm phát lên đến mức hai con số vào năm 2007 là cao nhất trong 12 năm qua mànguyên nhân sâu xa là do việc điề hành chính sách tài chính và tiền tệ có nhiều bất ổn,trong điều kiện kinh tế thị trường chưa phát triển đẩy đủ, có thể tóm tắt nguyên nhândẫn đến lạm phát ở Việt Nam như sau :

2.3.1 Việc áp dụng phương pháp tính chỉ số CPI ở Việt Nam

Chỉ số giá tiêu dùng là một tỷ số phản ánh giá của rổ hàng hóa trong nhiềunăm khác nhau so với gia của cùng rổ hàng hóa đó trong năm gốc Chỉ số giá này phụthuộc vào năm được chọn rổ hàng hóa tiêu dùng Nhược điểm chính của chỉ số này làmức độ bao phủ cũng như sử dụng trọng số cố định trong bài toán Mức độ bao phủcủa chỉ số giá này chỉ giới hạn đối với một số hàng hóa tiêu dùng và trọng số cố địnhdựa vào tỷ phần chi tiêu đối với một số hàng hóa cơ bản của người dân thành thị muavào năm gốc Những nhược điểm mà chỉ số này gặp phải khi phản ánh giá cả sinh hoạt

là không phản ánh sự biến động của giá hàng hóa tư bản ; không phản ánh sự biến đổitrong cơ cấu hàng tiêu dùng cuãng như sự thay đổi trong phân bổ chi tiêu của ngườitiêu dùng cho những hàng hóa khác nhau theo thời gian

Trang 34

Việt Nam trong những năm qua cũng sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để tính

tỷ lệ lạm phát và sử dụng nó cho mục đích điều hành chính sách tiền tệ Ngoài nhữngnhược điểm như đã phân tích ở trên , việc điều hành chính sách tiền tệ , chỉ số nàykhông phản ánh được tình hình lạm phát vì nó thường xuyên dao động Sự giao độngtrong ngắn hạn đôi khi không có liên quan gì đến áp lực lạm phát căn bản trong nềnkinh tế và việc sử dụng chỉ số này làm mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ có thể dẫnđến sai lệch trong chính sách

Ở Việt Nam theo phương pháp tính CPI hiện nay, giá cả của nhóm hàng lươngthực chiếm quyền số lớn nhất, tới 47.9% trong rổ hàng hóa tính CPI Trong các nămtrước đây , mặc dù nhiều nhóm mặt hàng khác có biến động tăng đáng kể, nhưng nhómmặt hàng lương thực thực phẩm , nhất là lúa gạo , giá cao su, cà phê , hạt đều , thịt heo,rau hoa quả biến động thất thường Trong các năm 1997, 1999, 2000, các mặt hànglương thực thực phẩm giảm thấp, khó tiêu thụ, nên đã làm cho chỉ số CPI ở mức thấp ,thậm chí là âm Nhưng trong năm 2007 nhóm mặt hàng lương thực phẩm tăng…đã tácđộng làm gia tăng chỉ số CPI nói chung => Do đó nếu loại bớt được sự tăng giá độtbiến gây nên những tác động lớn trong tính toán, thì rõ ràng chỉ số lạm phát không cao

như đã công bố.Ta có biểu đồ chỉ số giá tiêu dùng , chỉ số giá vàng và USD của các tháng năm 2007-2008 so với kỳ gốc 2005 (%).

Trang 35

Đồ thị 3 : Thể hiện CPI, USD, Vàng 2007-2008

08

Mar-08

Tháng

CPI Vàng USD

2.3.2 Mức cung tiền tăng cao vào năm 2007

Năm 2007 Việt Nam gia nhập WTO gia nhập vào môi trường mới , áp dụng nhiềuchính sách mở cửa thương mại quốc tế Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào ViệtNam đẩy lượng cung ngoại tệ lên cao Để thu hồi số ngoại tệ về ngân hàng trung ươngchính quyền đã bỏ tiền Việt Nam ra mua ngoại tệ Số tiền đó quá lớn dẫn đến tìnhtrạng dư thừa nội tệ trên thị trường và là nguyên nhân dẫn đến lạm phát

Từ năm 2003-2007 số lượng tiền ở Việt Nam tăng quá nhanh so với số lượng hàng hóa

và dịch vụ Số tiền lưu hành tăng khoảng 25% mỗi năm, số tín dụng tức số tiền cho vay

Trang 36

tăng khoảng trên 35% Trong khi đó số lượng hàng hóa dịch vụ mà dân chúng có thểmua chỉ tăng dưới 10 % một năm Trong năm ngân hàng nhà nước đã bỏ một lượng lớnnội tệ để mua ngoại tệ ( đầu tư trực tiếp và đặc biệt là đầu tư vào thị trường chứngkhoán) đã làm cho mức cung tiền tăng cao Nửa đầu năm 2007 ngân hàng nhà nước đãtung ra 105 ngàn tỷ để mua vào 6.5 tỷ USD làm dự trữ ngoại tệ , do đó đã tung thêm 40ngàn tỷ để mua thêm 2.5 tỷ ngoại tệ Như vậy tổng số tiền tung ra mua 9 tỷ ngoại tệ là

145 ngàn tỷ Số tiền mà ngân hàng nhà nước rút về được là 90 ngàn tỷ như vậy tổng sốtiền in thêm cho thị trường vào đầu năm 2007 là 55 ngàn tỷ chỉ để mua ngoại tệ So vớitổng số tiền mặt có trên thị trường vào cuối năm 2006 là 159 ngàn tỷ thì tiền mặt đãtăng 34.6% để mua ngoại tệ

Đồ thị 4 : so sánh mức cung tiền của việt Nam

so với Trung Quốc và Thái Lan

(Nguồn: Số liệu Thống kê tài chính quốc tế của Tổ chức Tiền tệ Quốc tế, riêng số liệu tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm 2007 của Việt Nam và Trung Quốc lấy từ nguồn Economist Intelligent Unit.)

Trong khoảng thời gian 2 năm rưỡi, tính từ đầu năm 2005 cho đến cuối tháng 6năm 2007, GDP của Việt Nam tăng 22%, còn mức cung tiền mặt cho lưu thông và tiềngửi ngân hàng đã tăng lên đến 110% Trong cùng giai đoạn này, GDP của Trung Quốctăng 29%, nhưng mức cung tiền chỉ tăng 50% Chênh lệch giữa tăng GDP và tăng cungtiền của Thái Lan là hầu như không đáng kể

Trang 37

Việt Nam tăng trưởng kinh tế thấp hơn so với Trung Quốc, nhưng tăng cung tiềnlại cao hơn rất nhiều Đó chính là lý do chính để giải thích tại sao lạm phát ở Việt Namcao hơn hẳn những nước khác Giá gạo hay giá dầu thế giới có tăng cao bao nhiêu, thìsức ép của các yếu tố này tới lạm phát ở Việt Nam, Trung Quốc và Thái Lan không thểkhác nhau nhiều.

2.3.3 Thất thoát, lãng phí trong đầu tư công.

Đối với đầu tư công thì đây là một vấn đề lớn tồn tại hàng chục năm chưa giảiquyết được khi nói đến lạm phát người ta thường nhắc đến yếu tố tiền tệ mà không chú

ý đến vấn đề đầu tư, đặc biệt là đầu tư công, tức là đầu tư của nhà nước, sử dụng tiềnrất lớn nhưng đa số lại không phát huy hiệu quả cũng như làm thất thoát rất nhiều theo

số liệu thống kê cho thấy năm 2007 đầu tư công chiếm 200.000 tỷ trong số 461.000 tỷđồng đầu tư của toàn xã hội vì vậy một trong những nguyên nhân sâu xa của tình trạnglạm phát hiện nay là sự thất thoát và lãng phí trong đầu tư công, hàng năm các chuyêngia đều có khuyến cáo nhưng những nhà làm chính sách hình như coi nhẹ vấn đề này.Giả định rằng một phần lớn của 30% trong tổng số ngân sách đầu tư cho cơ sở hạ tầngcủa năm hoăc mười năm qua hiện đang ở đâu đó ngoài thị trường mà không được quayvòng tròn trở lại trong quan hệ tín dụng như vậy tổng lưu lượng tiền trong nền kinh tế

bị méo mó và góp phần vào cơn bệnh lạm phát Nguyên nhân tình trạng nóng và thủng

thị trường tiền tệ là bắt đầu từ ba,bốn năm trước, bội chi ngăn sách, đầu tư kém hiệuquả, xảy ra trong thời gian dài.Qua nhiều cuộc hội nghị tổng kết, chính phủ đã thừanhận thất thoát trong đầu tư công của các doanh nghiệp nhà nước là 30% đến 40%trong 80.000 tỷ được rót từ ngân sách cho xây dựng cơ sở hạ tầng Nguyên nhân thứhai là các khoảng đầu tư không hiệu quả của nhiều công ty quốc doanh lớn hoạt độngtrên nhiều lĩnh vực Nếu con số này chính xác thì tronh năm qua đã có 60.000 tỷ đồnglãng phí đang nằm trong lưu thông, làm trầm trọng thêm tình hình lạm phát Thâm hụtngân sách là 5,8% GDP trong khi theo kinh nghiệm quốc tế, thâm hụt 3% đã đáng lo

Trang 38

ngại thâm hụt thương mại ước chừng 12 tỷ USD, tức khoảng 16% GDP trong khi mức5-10% đã là đáng lo ngại đối với quốc tế.

Chưa kể những khoản đầu tư nước ngoài được rót vào những dự án mà hiệu suấtkinh tế khá thấp.Một nghiên cứu gần đây của các nhà kinh tế học harvard (mỹ) chỉ sốICOP của Việt Nam năm 2007 là 4.7 ; nghĩa là trong nền kinh tế của chúng ta muốntăng 1% GDP thì phải tăng 4.7% vốn đầu tư Đó là chỉ số quá cao so với ICOP thôngthường của nước, chỉ từ 1.2 đến 2 mà thôi Việc sử dụng vốn không hiệu quả cũng gópphần làm gia tăng lạm phát như hiện nay Vì mục tiêu phải duy trì tăng trưởng ViệtNam đã phải đầu tư nhiều hơn nước người ta và tăng cung tiền nhiều hơn.và đươngnhiên lạm phát cũng vì đó mà tăng lên Có thể nói, lạm phát hiện nay là kết quả củachính sách tìm mọi biện pháp ngắn hạn (mà chủ yếu là thông qua gia tăng chi tiêu công

và đầu tư) để kích thích tăng trưởng của nhiều năm trước trong khi ICOP không đượccải thiện

2.3.4 Tổng phương tiện thanh toán và dư nợ tín dụng của các ngân hàng

tăng mạnh.

Tổng phương tiện thanh toán tăng 20% - 30% và dư nợ cho vay nền kinh tế tăng18-22% so với năm 2006 cùng với nhiều cơ chế, chính sách đi kèm.Tổng phương tiệnthanh toán cả năm 2007 tăng cao hơn nhiều năm trước: tăng khoản 37% so với năm

2006, cao hơn mức tăng trung bình của thời kỳ 2001- 2007 (xem đồ thị 2.1.2) Nhưvậy, nếu so với chỉ tiêu đề ra đầu năm thì tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán năm

2007 quá cao, vượt 80% so với kế hoạch Đây là con số nói lên lượng cung tiền tệ tăngquá mức cần thiết của nền kinh tế.Tuy nhiên, trong vấn đề này, có thể khẳng định là cảnguyên nhân khách quan và chủ quan Nguyên nhân khách quan là do năm 2007, lượngngoại tệ vào nhiều thông qua con đường FDI, FII và kiều hối chuyển về, xuất khẩutăng… về nguyên nhân chủ quan phải thừa nhận chúng ta chưa chú trọng đúng mứcviệc thắt chặt tiền tệ ngay từ đầu năm mà đôi khi lại áp dụng chính sách có phần nới

Ngày đăng: 21/09/2023, 10:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[12] www.sggp.org.vn [13] www.tuoitre.com.vn [14] www.eps.com.vn [15] http://vietnamnet.vn [16] http://vietbao.vn [17] www.Sbv.gov.vn Link
[1] TS. Nguyễn Trọng Hoài ( Khoa kinh tế phát triển) : Ảnh hưởng của lạm phát đến sản xuất và tiêu dùng , Ổn định lạm phát Khác
[2] Báo cáo công tác của chính phủ , thủ tướng chính phủ nhiệm kỳ 2002-2007 [3] Tăng trưởng và phát triển kinh tế ; Trường đại học kinh tế quốc dân Khác
[4] PGS.TS. Trần Ngọc Thơ và TS. Nguyễn Ngọc Định ; Giáo trình sách tài chính quốc tế Khác
[5] Nguyễn Thị Thu ; Lạm phát cơ bản từ lý thuyết đến thực tiễn ở Việt Nam Khác
[6] Trương Quang Hùng & Nguyễn Hoài Bảo ; Nhìn lại lý thuyết truyền thống về lạm phát và phân tích trường hợp Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng Việt Nam 2003-2008 - Thực trạng về tình hình lạm phát ở việt nam thời gian qua và các giải pháp kiềm chế lạm phát
Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng Việt Nam 2003-2008 (Trang 28)
Bảng 2.2 :  Tốc độ tăng nguồn vốn FDI - Thực trạng về tình hình lạm phát ở việt nam thời gian qua và các giải pháp kiềm chế lạm phát
Bảng 2.2 Tốc độ tăng nguồn vốn FDI (Trang 29)
Đồ thị 3 : Thể hiện CPI, USD, Vàng 2007-2008 - Thực trạng về tình hình lạm phát ở việt nam thời gian qua và các giải pháp kiềm chế lạm phát
th ị 3 : Thể hiện CPI, USD, Vàng 2007-2008 (Trang 35)
Đồ thị 4 : so sánh mức cung tiền của việt Nam  so với Trung Quốc và Thái Lan - Thực trạng về tình hình lạm phát ở việt nam thời gian qua và các giải pháp kiềm chế lạm phát
th ị 4 : so sánh mức cung tiền của việt Nam so với Trung Quốc và Thái Lan (Trang 36)
Đồ thị 5 : tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán - Thực trạng về tình hình lạm phát ở việt nam thời gian qua và các giải pháp kiềm chế lạm phát
th ị 5 : tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán (Trang 39)
Đồ thị 6 : tăng trưởng dư nợ cho vay ngành ngân hàng 2004-2007 - Thực trạng về tình hình lạm phát ở việt nam thời gian qua và các giải pháp kiềm chế lạm phát
th ị 6 : tăng trưởng dư nợ cho vay ngành ngân hàng 2004-2007 (Trang 40)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w