- Chính vì vậy khi tính mức độ lạm phát, các nhà kinh tế sử dụng chỉ số giá cả CPI consumer price index chỉ số này phản ánh mức độ thay đổi giá cả của một giỏ hàng hóa tiêu dùng và dịch
Trang 1Trường đại học kinh tế quốc dân Hà Nội
Bài tập môn tài chính tiền tệ
Chủ đề:
LẠM PHÁT VÀ CÁC GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY
Trang 2CHƯƠNG I KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM VÀ NGUYÊN
NHÂN LẠM PHÁT
I Khái niệm.
- Lạm phát là một phạm trù kinh tế khách quan phát sinh từ chế độ lưu thông tiền giấy Điều này xuất phát từ chỗ tiền giấy chỉ là một loại dấu hiệu giá trị được phát hành vào lưu thông để thay thế cho tiền đủ giá nhằm thực hiện vai trò trung gian trao đổi Bản thân tiền giấy không có giá trị nội tại mà chỉ mang giá trị danh nghĩa
- Do đó khi có hiện tượng thừa tiền giấy trong lưu thông thì người ta không
có xu hướng giữ lại trong tay mình những đồng tiền bị mất giá và lượng tiền thừa sẽ ảnh hưởng đến sản xuất và lưu thông hàng hóa
- Có nhiều nhà kinh tế đã đi tìm một định nghĩa đúng cho thuật ngữ lạm phát nhưng chưa có một sự thống nhất hoàn toàn
- Có người cho rằng lạm phát xảy ra khi số tiền lưu hành vượt quá trữ lượng vàng làm đảm bảo của ngân hàng phát hành
- Quan điểm khác lại cho rằng lạm phát là sự mất cân đối giữa tiền và hàngtrong nền kinh tế
- Lại có quan điểm khác nói lạm phát là sự tăng giá của các loại hàng hóa (tư liệu tiêu dùng, tư liệu sản xuất và hàng hóa sức lao động)
Vậy lạm phát là gì? Lạm phát là hiện tượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng bị mất giá, giá cả của hầu hết các loại hàng hóa tăng lên đồng loạt
- Lạm phát có những đặc trưng là: hiện tượng tăng giá quá mức lượng tiền trong lưu thông dẫn đến đồng tiền bị mất giá, mức giá cả chung tăng lên
- Chính vì vậy khi tính mức độ lạm phát, các nhà kinh tế sử dụng chỉ số giá
cả CPI (consumer price index) chỉ số này phản ánh mức độ thay đổi giá
cả của một giỏ hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ trên thị trường
Nếu lấy thời điểm nào đó trước năm t làm gốc gọi là thì ta sẽ xác định được tỷ lệ lạm phát theo công thức:
Trong đó:
Trang 3: là chỉ số giá cả của rổ hàng hóa tại thời điểm t.
: là chỉ số giá cả của rổ hàng hóa tại thời điểm gốc
- Chỉ số thứ 2 cũng thường được sử dụng là chỉ số giá cả sản suất (PPI), đây là chỉ số giá bán buôn PPI được xây dựng để tính giá cả trong lần bán đầu tiên do người sản xuất ấn định Chỉ số này rất có ích vì nó được tính hi tiết sát với những thay đổi của thực tế
- Ngoài hai chỉ số nói trên, chỉ số giảm phát GNP cũng được sử dụng Chỉ
số giảm phát GNP là chỉ số giá cả cho toàn bộ GNP, nó được tính như sau:
Chỉ số giảm phát GNP =
Chỉ số này toàn diện hơn CPI vì nó bao gồm giá của tất cả các loại hàng hóa và dịch vụ trong GNP
II Phân loại lạm phát
Do biểu hiện đặc trưng của lạm phát là sự tăng lên của giá cả hàng hóa, nên các nhà kinh tế thường dựa vào tỷ lệ tăng giá làm căn cứ phân loại lạm phát
ra thành 3 mức độ khác nhau (mặt định lượng):
- Lạm phát vừa phải: loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng
chậm ở mức độ một con số hàng năm (dưới 10% một năm) Đây là mức lạm phát mà nền KT chấp nhận được vì với mức lạm phát này thì những tác động kém hiệu quả của nó là không đáng kể
- Lạm phát cao: loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng ở mức
độ hai con số hàng năm (từ 10% - 100% hàng năm) Tuy nhiên, ở mức lạm phát hai con số thấp mỗi năm (11-13%/năm) nói chung những tác động tiêu cực của
nó là không đáng kể, nền kinh tế vẫn có thể chấp nhận được nhưng nếu tỷ lệ tăng giá ở mức hai con số bậc cao mỗi năm (30%, 40%, 50% , 90% ) thì lạm phát trở thành kẻ thù của sản xuất và đời sống vì những tác động tiêu cực của nólúc này là không nhỏ, lạm phát hai con số bậc cao trở thành mối đe dọa đến sự
ổn định của nền kinh tế
- Siêu lạm phát: xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng ở cấp độ ba con số hàng
năm trở lên vì nó có tỷ lệ lạm phát rất cao và tốc độ tăng giá rất nhanh Với siêu lạm phát, những tác động tiêu cực của nó với đời sống và nền kinh tế là vô cũngnghiêm trọng Nền kinh tế suy sụp một cách nhanh chóng và thu nhập của ngườilao động giảm mạnh
Trang 4Về mặt định tính:
- Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng:
Lạm phát cân bằng: khi nó tăng tương ứng với thu nhập, do vậy lạm phát không ảnh hưởng đến đời sống của người lao động
Lạm phát không cân bằng: tỷ lệ lạm phát tăng không tương ứng với thu nhập Trên thực tế lạm phát không cân bằng thường xảy ra nhất
- Lạm phát dự đoán trước và lạm phát bất thường:
Lạm phát dự đoán trước: lạm phát xảy ra trong một thời gian tương đối dài với tỷ lệ lạm phát hàng năm khá đều dặn, ổn định do đó người ta có thể dự đoán được trước cho những năm tiếp theo và cề mặt tâm lý mà nói người dân đã quen với tình hình lạm phát dó và chuẩn bị sẵn tâm lí đón nhận
Lạm phát bất thường: lạm phát xảy ra có tính đột biến mà trước đó chưa hề xuất hiện, về mặt tâm lí, cuộc sống và thói quen của người dân chưa chuẩn bị và thích nghi, do đó nó gây ra cú sốc với nền kinh tế và gây ra sự thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của chính phủ.Ngoài ra, người ta còn phân loại lạm phát dựa vào việc so sánh hai chỉ tiêu
là tỷ lệ tăng giá và tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ, bao gồm 2 giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1: Ở giai đoạn này tỷ lệ tăng giá nhỏ hơn tỷ lệ tăng trưởng tiền
tệ, ở giai đoạn này lạm phát có thể chấp nhận được và thậm chí còn cho rằng lạm phát khi đó còn là liều thuốc để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
- Giai đoạn 2: Ở giai đoạn này tỷ lệ tăng giá lớn hơn tỷ lệ tăng trưởng tiền
tệ Ở giai đoạn này lạm phát gây nguy hiểm cho nền kinh tế
III Nguyên nhân gây ra lạm phát
1 Cung ứng tiền tệ và lạm phát
Theo quan điểm của các nhà kinh tế thuộc phái tiền tệ, khi cung tiền tệ tăng lên kéo dài sẽ làm cho mức giá cả tăng kéo dài và gây ra lạm phát
Trang 5Ban đầu nền kinh tế ở điểm 1 – điểm giao nhau của đường tổng cung AS1 và tổng cầu AD1 - sản lương đạt mức tự nhiên Yn – tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên – mứcgiá cả P1
Cung tiền tệ tăng tổng cầu AD dịch sang phải thành AD2 nền kinh tế chuyển tới điểm 1’ sản phẩm tăng lên trên mức sản phẩm tự nhiên tỉ lệ thất nghiệp giảm xuống thấp hơn tự nhiên Lương tăng và giảm tổng cung Đường tổng cung dịch vào AS2 nền kinh tế quay lại mức tỉ lệ (sản lương, thất nghiệp) tự nhiên nhưng ở điểm cân bằng mới là điểm 2 và mức giá tăng lên thành P2
Cung tiền tệ tiếp tục tăng và thêm 1 vòng nữa mức giá lại tăng lên P3
Theo quan điểm của phái KeynesTác động của việc tăng chi tiêu chính phủ hoặc cắt giảm thuế cũng làm tăng tổng cầu giá tăng Đơn giản hơn, việc gia tăng nhu cầu 1 dạng hàng hóa / dịch vụ nào đó sẽ gây ra sức ép hơn về tổng cung về hàng hóa/dịch vụ đó trong thị trường Va giá cả của hàng hóa/dịch vụ đó tăng lên
Một fan tích khác của Keynes đó là những cú sốc cung tiêu cực ( giá dầu mỏ tăng do cấm vận, chiến tranh hoặc công nhân đòi tăng lương) cũng se làm giá cả tăng theo lí thuyết phí đẩy
Nhưng nếu cung tiền tệ không tăng lên để tác động lên tổng cầu thì đến lúc nào
đó tổng cung lại quay trở về vị trí ban đầu, do vậy sự tăng giá trong trường hợp này cũng chỉ là 1 hiện tượng nhất thời
quan điểm của Keynes đó là “lạm phát có thể xảy ra chỉ với 1 tỉ lệ tăng trưởng tiền tệ cao”
Trang 62 Chỉ tiêu công ăn việc làm cao và lạm phát
Một trong những mục tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng mà đa số Chính phủ các nước theo đuổi thường gây nên lạm phát đó là công ăn việc làm cao
Có 2 loại lạm phát là kết quả của chính sách ổn định năng động nhằm thúc đẩy mức công ăn việc làm cao đó là:
Trang 7Ban đầu, nền kinh tế ở tại điểm 1 – giao điểm của tổng cung AS1 và tổng cầu AS1 – mức sản lượng tự nhiên – tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên
Trường hợp công nhân đòi tăng lương (do muốn mức sống cao hơn hoặc cho rằng tỉ lệ lạm phát sẽ tăng) vì tỉ lệ thất nghiệp đang ở mức tự nhiên nên giới chủ chấp nhận -> tổng cung AS1 dịch vào AS2 nền kinh tế chuyển từ điểm 1sang điểm 1’ ( giao điểm mới của tổng cung AS2 và AD1 ) sản lượng thấp hơn sản lượng tự nhiên và tỉ lệ thất nghiệp cao hơn mức tự nhiên và giá cả tăng đến P1’ vì muốn duy trì mức công ăn việc làm cao nên chính fu sẽ tác động lên tổng cầu làm cho AD1 ra AD2 nên kinh tế quay về mức cân bằng 2 tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên, sản lượng tự nhiên nhưng mức giá P2 cao hơn P1
Nhưng những sự nhượng bộ tạo ra những sự chênh lệc về mức lương của các tầng lớp công nhân và họ lại đòi tăng lương Quá trình lại tiếp diễn và giá cả tăng lên mức P3 đây chính là lạm phát phí đẩy
Theo phái Keynes thì những chính sách tài chính luôn có những giới hạn của nónên mặc dù nó gây ra những tác động làm tăng tổng cầu nhưng đó chỉ là tăng từng đợt k thể sử dụng trong thời gian dài k thể dc sử dụng đẻ liên tục di chuyển đường tổng cầu Việc di chuyển đường tổng cầu chỉ có thể là tăng cung ứng tiền tệ liên tục , do đó lạm phát phí – đẩy cũng là 1 hiện tượng tiền tệ
2’
1 p
Trang 8ở điểm 1’ vs mức giá P1’ cao hơn và mức sản lượng lớn hơn mức sản lượng tiềm năng, mục tiêu tỉ lệ thất nghiệp thấp hơn mức thất nghiệp tự nhiên đã đạt
dc tiền lương tăng lên và đưa tổng cung dịch vào AS2 nền kinh tế quay vềđiểm cân bằng 2 với mức sản lượng tiềm năng, tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên nhưng
có mức giá P2 cao hơn mức giá P1
Lúc này tỉ lệ thất nghiệp lại cao hơn chi tiêu của các nhà hoạch định chính sách nên họ lại tiếp tục các chính sách và quá trình trên tiếp diễn dẫn đến 1 mức giá
1
3
2 1’
Trang 9Một biện pháp mà chính phủ dùng để bù đắp thâm hụt nhà nước đó là phát hànhtiền tăng cơ số tiền tệ tăng cung ứng tiền đẩy tổng cầu lên cao lạm phát
Một biện pháp khác đó là phát hành trái phiếu chính Phủ ra thị trường tài chính
để vay vốn trong dân bù đắp thiếu hụt Biện pháp này k ảnh hưởng đến cơ số tiền tệ k tăng cung ứng tiền tệ và k gây lạm phát Nhưng nếu đáo hạn mà chính phủ k có tiền để thanh khoản thì cũng quay lại biện pháp in tiền
Ở 1 số nước đang phát triền thì thị trường vốn vạn chế nên việc phát hành trái phiếu Chính phủ rất khó khăn nên con đường duy nhất đối vs họ đó là in tiền !
Ở các nước phát triển thị trường vốn phát triển thì để giảm thâm hụt Chính phủ
sẽ bán 1 số lượng lớn trái phiếu chính phủ để bù đắp thâm hụt Nhưng nếu cứ tiếp tục phát hành như thế sẽ gây ra hiện tượng cầu về vốn tăng lãi suất tăng
để hạn chế việc lãi suất tăng thì ngân hàng Trung ương lại mua vào các trái phiếu đó và lại làm cho cung tiền tệ tăng
Như vậy trong mọi trường hợp tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước cao
và kéo dài sẽ là nguồn gốc tăng cung ứng tiền và gây ra lạm phát !
4 Lạm phát theo tỷ giá hối đoái
Khi tỉ giá tăng đồng nội tệ mất giá tác động lên tâm lí của những nhà sản xuất trong nước muốn kéo giá lên theo mức tăng của tỉ giá hốiđoái
Khi tỉ giá tăng giá nguyên liệu và hàng hóa nhập khẩu cũng tăng đẩy chi phí về phía nguyên liệu tăng nên lại quay về lạm phát phí – đẩy
5 Chính phủ xác định “thủ phạm” gây lạm phát tại Việt Nam
Khẳng định có ý kiến trong Chính phủ nói rằng lạm phát tại Việt Nam cao hàng đầu thế giới, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam cho biết đã xác định được những nguyên nhân chủ yếu khiến lạm phát cao và kéo dài.Dành phần lớn thời gian buổi họp báo Chính phủ thường kỳ vào chiều 26/9 để nói về thực trạng nền kinh tế và những nỗ lực của Chính phủ trong kiềmchế lạm phát, Bộ trưởng Đam cho biết, Chính phủ đã tổng hợp và xác định các nguyên nhân chính gây ra lạm phát
Trang 10Lãnh đạo các Bộ, ngành và báo giới lắng nghe thông tin từ Bộ trưởng Vũ Đức Đam tại buổi Họp báo chính phủ thường kỳ chiều 26/9
"Trước đây, Chính phủ nhìn nhận lạm phát có nguyên nhân từ tiền tệ Còn
kỳ này, Chính phủ đã phân công 3 cơ quan là Bộ KH-ĐT, Bộ Tài chính và NHNN cùng nghiên cứu độc lập, xác định nguyên nhân lạm phát", ông Đam nói
Nguyên nhân thứ nhất được Bộ trưởng chỉ ra là do "đầu tư nhiều hơn tiết kiệm" Nghiên cứu của các cơ quan nói trên cho thấy, trong thời gian dài, tăng trưởng tín dụng của Việt Nam trung bình khoảng 30%/năm, tổng phương tiện thanh toán cũng tăng mạnh Một nguyên nhân khác là hiệu quả đầu tư chưa cao,một phần do quản lý vốn đầu tư kém hiệu quả
Tuy nhiên, người phát ngôn của Chính phủ cũng khẳng định tiền tệ là nguyên nhân chính dẫn tới lạm phát, bên cạnh việc nền kinh tế quá mở: kim ngạch nhập khẩu có lúc chiếm tới 80% GDP, gây ra nhập siêu là một căn
nguyên dẫn tới lạm phát
Đồng thời, ông Đam cho rằng việc quyền số của lương thực, thực phẩm quá cao trong rổ hàng hóa tính CPI cũng khiến con số lạm phát tăng lên "Lạm phát kéo dài, khiến đồng Việt Nam mất giá, ảnh hưởng đến niềm tin của người dân vào đồng tiền và khả năng kiềm chế lạm phát, khiến tâm lý đẩy giá xuất hiện", ông Đam phân tích về nguyên nhân lạm phát kỳ vọng
Nói về tình hình kinh tế 9 tháng đầu năm, Bộ trưởng Đam tỏ ra lạc quan khi các chỉ số vĩ mô đều có dấu hiệu tốt lên
Về triển vọng tăng trưởng GDP, ông Đam cho rằng với mức tăng trưởng 6,11% của quý 3, giả sử mức này có "đi ngang" trong quý 4 thì tăng trưởng GDP cả năm vẫn đạt xấp xỉ 6% (hiện nay là 5,76%) Tuy nhiên, đại diện Chính
Trang 11phủ thừa nhận để đạt được chỉ tiêu tăng trưởng 6%, cần tiếp tục cơ cấu lại đầu tư.
Về lạm phát, chỉ số CPI tháng 9 vừa được Tổng cục Thống kê công bố là 0,82% - thấp nhất trong vòng 13 tháng Theo ông Đam, nếu không có sự tăng mạnh của nhóm giáo dục do đầu năm học mới, mức tăng này chỉ khoảng 0,3% Chính phủ kiên định giữ chỉ tiêu lạm phát cả năm ở mức 18%, thấp hơn dự báo của ADB và IMF vừa công bố (18,7%)
Bộ trưởng Đam cũng khẳng định, so với mục tiêu hạ mức tăng trưởng tín dụng dưới 20% và tổng phương tiện thanh toán từ 15 - 16%, dư địa vẫn còn lớn nên có thể hạ chỉ tiêu Song mức chỉ tiêu mới vẫn chưa được xác định
Trang 12 CHƯƠNG II TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT VÀ THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
1 Tác động của lạm phát
2.1 Lĩnh vực sản xuất:
Ở vị trí các nhà sản xuất, khi tỷ lệ lạm phát cao sẽ làm cho giá đầu
vào và đầu ra biến động không ngừng gây ra sự ổn định giả tạo của quá trình sản xuất Sự mất giá của đồng tiền làm cho vô hiệu hoá hoạt động hoạch
toán kinh doanh Hiệu quả sản xuất – kinh doanh ở một vài doanh nghiệp cóthể thay đổi gây ra những biến động về kinh tế Nếu một doanh nghiệp nào
đó có tỷ xuất lợi nhuận thấp hơn lạm phát sẽ có nguy cơ phá sản rất lớn
Tuy nhiên, xét ở góc độ nào đó, khi tỷ lệ lạm phát thấp, không gây
ảnh hưởng đến kinh tế thì có thể sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế Từ đó sẽkhuyến khích các doanh nghiệp đi vay để mở rộng sản xuất, sản lượng sẽ
tăng lên Ngoài ra cũng khuyến khích tiêu dùng, cầu tiêu dùng tăng lên, do
đó hàng hoá bán chạy và cũng làm sản lượng tăng
Nhưng hiện nay với mức lạm phát cao, năm ngoái dự kiến năm nay tầm 7%sau đó tăng lên 9% -> 12% ->15% và hiênh nay là khoảng 17% - 18% làm các doanh nghiệp gặp khó khăn, vì trong số hơn 500 ngàn doanh nghiệp hiẹn nay có10% doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả mang lại lợi nhuận 15% - 20% 20% doanh nghiệp có lợi nhuận 10% -15%, còn lại 70% doanh nghiệp hầu như thua
lỗ Nên lạm phát càng cao càng khiến các doanh nghiệp lâm vào cảnh khốn đốn,
do vài yếu tố đầu vào như giá nguyên liệu tăng, công đoàn thì hối thúc tăng lương…
2.2 Lạm phát tác động tới lãi suất
Những nhà đầu tư thành công luôn xem xét động thái của Ngân hàng
Trung Ương đối với vấn đề lãi suất Đồng thời, họ cũng quan sát những yếu tố bên ngoài có thể tác động đến quyết định lãi suất của NHTW để đưa ra những quyết định chính xác hơn về việc NHTW sẽ làm gì
Lạm phát là chỉ số kinh tế quan trọng nhất mà NHTW xem xét khi đưa ra quyết định về lãi suất Lạm phát một cách chung nhất được hiểu là sự tăng giá của hàng hóa và dịch vụ Ví dụ, với một lít sữa hay một ổ bánh mì bạn trả ngày hôm nay sẽ mắc hơn so với cách đây 10 hay 20 năm Tất cả chúng ta đều phải đối mặt với vấn đề lạm phát
Lạm phát vừa phải được chấp nhận và xem như kết quả tự nhiên của sự phát triển kinh tế Tuy nhiên, lạm phát quá cao lại có thể làm tổn thương nền kinh tế