Ông chorằng lạm phát là "bạn đường" của Chủ nghĩa Tư bản, ngoài việc bóc lột ngườilao động bằng giá trị thặng dư, Chủ nghĩa Tư bản còn gây ra lạm phát để bóclột người lao động một lần nữ
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
ĐỀ ÁN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Tên đề tài: Lạm phát và các giải pháp chống lạm phát
ở nước ta hiện nay
Người hướng dẫn: Cô Phạm Thị Nguyệt
Người thực hiện: Bùi Thị Phương Quỳnh
Lớp: Thanh toán quốc tế B, khóa 9
Khoa: Ngân hàng
Hà Nội, tháng 08 năm 2007
Kinh tế chính trị
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
PHẦN NỘI DUNG 4
Chương 1: Lý luận chung về lạm phát 4
1.1 Khái niệm lạm phát 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Đo lường 4
1.1.3 Các quan điểm giải thích về lạm phát 5
1.2 Phân loại lạm phát 6
1.2.1 Căn cứ vào tốc độ lạm phát 6
1.2.2 Căn cứ vào tính chủ động, bị độn từ phía Chính phủ đối phó với lạm phát 6
1.3 Nguyên nhân gây ra lạm phát 6
1.3.1 Lạm phát do tăng cung ứng tiền tệ 7
1.3.2 Chỉ tiêu công ăn việc làm cao
7 1.3.2.1 Lạm phát do chi phí đẩy 8
1.3.2.2 Lạm phát do cầu kéo 9
1.3.3 Lạm phát theo tỉ giá hối đoái 9
1.3.4 Lạm phát do thâm hụt ngân sách 10
1.3.5 Lạm phát do yếu tố tâm lý 10
1.4 Tác động của lạm phát 10
1.4.1 Lạm phát và lãi suất 10
1.4.2 Lạm phát và thu nhập thực tế 11
1.4.3 Lạm phát và phân phối thu nhập không bình đẳng 11
1.4.4 Lạm phát và nợ quốc gia 11
Chương 2: Thực tiễn lạm phát ở Việt Nam thời kì đổi mới 12
2.1 Diễn biến lạm phát ở Việt Nam qua các thời kì phát triển đất nước 12
2.2 Lạm phát cao trong 6 tháng đầu năm 2007 ở Việt Nam 14
Chương 3: Giải pháp kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế nước ta hiện nay.16 3.1 Những giải pháp chung 16
3.1.1 Tham gia vào hợp tác quốc tế 16
3.1.2 Cân đối Ngân sách Nhà nước 16
3.1.2.1 Bịt chặt lỗ hổng thất thu, thất thoát Ngân sách Nhà nước qua mọi kênh, hình thức 16
3.1.2.2 Bù đắp thiếu hụt Ngân sách Nhà nước 16
3.1.3 Cải cách khu vực kinh tế Nhà nước 16
3.1.4 Thiết lập một hệ thống Ngân hàng lành mạnh, hiện đại và thị trường vốn phát triển 17
31 5 Chống tham nhũng 17
3.1.6 Giải quyết các vấn đề về nhân lực và xã hội 18
3.2 Những giải pháp cụ thể trong 6 tháng đầu năm 2007 18
Trang 33.2.1 Tạm thời hi sinh một phần thu Ngân sách 183.2.2 Kiểm soát "chi phí" chống lạm phát không quá cao 19
tế đối nội và đối ngoại của quốc gia Mặt khác, thực tiễn lạm phát thế giớiluôn diễn tiến không ngừng với nhiều đặc tính mới mẻ chưa được phân tíchthấu đáo Vì vậy, nghiên cứu lạm phát luôn luôn có ý nghĩa thời sự cả về lýthuyết lẫn thực tiễn
Ở Việt Nam, trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạchhoá tập trung sang nền kinh tế thị trường, hiện tượng lạm phát xảy ra là điềukhó tránh khỏi Bởi lẽ trong thời kỳ quá độ này, cơ chế cũ bị phá vỡ nhưngchưa xoá bỏ hết được ngay, còn cơ chế mới bắt đầu hình thành nhưng lại chưahoàn chỉnh Vì thế, việc tìm kiếm một giải pháp để chống lạm phát và đi đếnkiểm soát lạm phát phù hợp với thực tế Việt Nam đồng thời thích ứng với giaiđoạn quá độ này đòi hỏi chúng ta phải cân nhắc, lựa chọn một cách kỹ càng.Với mong muốn tìm hiểu thêm về vấn đề lạm phát cũng như những biệnpháp nhằm kiềm chế lạm phát, em đã lựa chọn: "Lạm phát và những giải phápkiềm chế lạm phát trong nền kinh tế nước ta hiện nay" để làm đề tài cho mônKinh tế chính trị
Trong quá trình nghiên cứu, do tiếp cận với nhiều nguồn tài liệu khácnhau, nên không tránh khỏi những hạn chế về độ chính xác Em rất mongnhận được sự góp ý của cô giáo và các bạn
Trang 4Theo Các Mác trong bộ tư bản: "Lạm phát là việc tràn đầy các kênh, cácluồng lưu thông những tờ giấy bạc thừa, dẫn đến giá cả tăng vọt" Ông chorằng lạm phát là "bạn đường" của Chủ nghĩa Tư bản, ngoài việc bóc lột ngườilao động bằng giá trị thặng dư, Chủ nghĩa Tư bản còn gây ra lạm phát để bóclột người lao động một lần nữa, do lạm phát làm tiền lương thực tế của ngườilao động giảm xuống.
Nhà kinh tế học Samuelson thì cho rằng: "Lạm phát biểu thị một sự tănglên trong mức giá cả chung" Theo ông: "Lạm phát xảy ra khi mức chung củagiá cả và chi phí tăng - giá bánh mì, dầu xăng, xe ôtô , tiền lương, giá đất, tiềnthuê tư liệu sản xuất tăng"
Còn Milton Friedman thì quan niệm: "Lạm phát là việc giá cả tăng nhanh
và kéo dài" Ông cho rằng: "Lạm phát luôn luôn và bao giờ cũng là một hiệntượng tiền tệ" Ý kiến đó của ông đã được đa số các nhà kinh tế thuộc pháitiền tệ và Keynes tán thành
Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giáchung của nền kinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thịtrường hay giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khácthì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền so với các loại tiền tệ khác.Thông thường khi nói tới theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu nó là lạm phátcủa đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn khi hiểutheo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu nó như là lạm phát của một loại tiền tệtrong phạm vi thị trường toàn cầu Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần nàyvẫn là một chủ đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô Ngược lại vớilạm phát là giảm phát Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏthì được người ta gọi là một sự ổn định giá cả
Trang 5- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): đo giá cả của một sự lựa chọn các hàng hoá
hay được mua bởi "người tiêu dùng thông thường", nó được sử dụng rộng rãinhất Trong nhiều quốc gia công nghiệp, những sự thay đổi theo phần trămhàng năm trong các chỉ số này là con số lạm phát thông thường hay đượcnhắc tới CPI tính chi phí của một giỏ hàng tiêu dùng và dịch vụ trên thịtrường, các nhóm đo là hàng lương thực, thực phẩm, quần áo, nhà cửa, chấtđốt, vật tư y tế
- Chỉ số giá sản xuất (PPI): đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được.
Chỉ số này rất có ích vì nó được tính chi tiết sát với những thay đổi của thực
tế
- Chỉ số giảm phát GDP: Đây là chỉ số giá cả cho toàn bộ GNP, nó được
xác định như sau: Chỉ số giảm phát GNP=GNP danh nghĩa / GNP thực tế.Chỉ số này toàn diện hơn CPI vì nó bao hàm giá của tất cả các loại hànghóa và dịch vụ trong GNP
1.1.3 Các quan điểm giải thích về lạm phát
- Quan điểm "Trữ kim":
Quan điểm này cho rằng sẽ xảy ra hiện tượng lạm phát nếu số lượng tiềngiấy phát hành lớn hơn lượng vàng đảm bảo trong kho Tuy nhiên, trongtrường hợp lượng vàng trong kho lớn hơn lượng tiền giấy phát hành nhiều khivẫn xảy ra lạm phát, quan điểm này đã không giải thích được hiện tượng đó
- Quan điểm tĩnh về lạm phát:
Tiêu biểu cho quan điểm này là nhà kinh tế học Hoa Kỳ Iring Fisher, ôngcho rằng trong nền kinh tế khối hàng hóa dịch vụ cân bằng với khối tiền tệ.Theo ông: M × V = P × Y
Trong đó: M: mức cung tiền tệ
V: tốc độ lưu thông tiền tệP: Mặt bằng chung của giá cả hàng hóaY: Khối lượng giao dịch phải đảm bảoPhương trình trên cho thấy mối quan hệ nhân quả: Nếu giả định tốc độlưu thông tiền tệ là ổn định trong thời gian xác định và số lượng tiền tệ cũngnhư tổng giá cả đều không ảnh hưởng đến mặt bằng trao đổi, thì rõ ràng tổnggiá cả biến thiên cùng chiều với số lượng tiền tệ đang lưu thông Do đó ôngcho rằng mức cung tiền tệ tăng lên sẽ là nguyên nhân gây ra lạm phát
- Quan điểm động về lạm phát
Tiêu biểu cho quan điểm này là nhà kinh tế học J.M.Keynes và ông đượcmệnh danh là tổng công trình sư của CNTB Quan điểm này của Keynes đãchỉ ra cách xử lý mâu thuẫn của CNTB như thế nào để tiến lên tầm cao mới.Ông chia nền kinh tế làm hai trường hợp:
+ Nền kinh tế chưa toàn dụng: Các nhà đầu tư cho rằng càng mở rộngsản xuất thì càng thua lỗ, họ chọn giải pháp lỗ thấp nhất là đóng cửa các nhàmáy, xí nghiệp, dẫn đến tình trạng thất nghiệp tăng cao Trong trường hợpnày, theo ông cần phải tăng mức cung tiền tệ để làm cho lãi suất hạ xuống.Lãi suất hạ xuống sẽ làm cho nguồn vốn đầu tư tăng lên, lúc này các nhà máy,
xí nghiệp sẽ mở cửa hoạt động trở lại dẫn đến công ăn việc làm tăng lên, sảnlượng hàng hóa sản xuất ra đó cũng tăng lên cân bằng với mức cung tiền tệ
Trang 6Ông quan niệm trước khi có toàn dụng nhân công và năng lực sản xuất trongtoàn xã hội thì mọi khoản tài trợ làm tăng cầu xã hội đó không nhưng cầnthiết mà còn chưa gây ra lạm phát hay chỉ tạo ra loại lạm phát lành mạnh.+ Nền kinh tế toàn dụng: Trong nền kinh tế toàn dụng, các nhà máy, xínghiệp sẽ hoạt động hết công suất vì họ thấy rằng càng mở rộng sản xuất cànglãi, khi đó chắc chắn sẽ dẫn đến một số bệnh tắc nghẽn trong lưu thông nhưthiếu năng lượng, nguyên liệu, lao động
Trong trường hợp này, cung tiền tiếp tục tăng cho đến khi sản lượngkhông thể tăng được nữa, khi đó buộc giá cả phải tăng thêm và xảy ra lạmphát Theo Keynes, lạm phát tuyệt đối trong giai đoạn toàn dụng vẫn có ích,
vì nó làm hưng thịnh nền kinh tế, cứu vãn suy thoái, thất nghiệp
1.2 Phân loại lạm phát
1.2.1 Căn cứ vào tốc độ lạm phát
- Lạm phát vừa phải: Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả tăng chậm và tỉ
lệ lạm phát dưới 10% một năm Đây là mức lạm phát mà nền kinh tế chấpnhận được, với mức lạm phát này, những tác động kém hiệu quả của nó làkhông đáng kể Loại lạm phát này phổ biến và tồn tại gần như thường xuyên,một "căn bệnh kinh niên" cố hữu và đặc trưng ở hầu hết các nền kinh tế thịtrường trên thế giới
- Lạm phát phi mã: Khi tỉ lệ tăng, giá đã bắt đầu tăng đến hai chữ số mỗi
năm Ở mức lạm phát hai chữ số thấp (11, 12, 13% một năm) nói chungnhững tiêu cực của nó là không đáng kể, nền kinh tế có thể vẫn chấp nhậnđược Nhưng khi tỉ lệ tăng giá ở mức hai chữ số cao, lạm phát sẽ trở thành kẻthù của sản xuất và thu nhập vì những tác độn tiêu cực của nó là không nhỏ.Lạm phát hai chữ số trở thành mối đe dọa đến sự ổn định của nền kinh tế
- Siêu lạm phát: là lạm phát "mất kiểm soát", một tình trạng giá cả tăngnhanh chóng khi tiền tệ mất giá trị Không có định nghĩa chính xác về siêulạm phát được chấp nhận phổ quát Một định nghĩa đơn giản là chỉ số lạmphát hàng tháng từ 50% trở lên (nghĩa là cứ 51 ngày thì giá cả lại tăng gấpđôi) Theo Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế 29, có bốn tiêu chí để xác định siêulạm phát, đó là: (1) người dân không muốn giữ tài sản của mình ở dạng tiền;(2) giá cả hàng hóa trong nước không còn tính bằng nội tệ nữa mà bằng mộtngoại tệ ổn định; (3) các khoản tín dụng sẽ tính cả mức mất giá cho dù thờigian tín dụng là rất ngắn; và (4) lãi suất, tiền công và giá cả được gắn với chỉ
số giá và tỷ lệ lạm phát cộng dồn trong ba năm lên tới 100 phần trăm
1.2.2 Căn cứ vào tính chủ động, bị động từ phía Chính phủ đối phó với lạm
phát
- Lạm phát cân bằng và có thể dự đoán trước: là lạm phát mà toàn bộ giá
cả các hàng hóa dịch vụ đều tăng với chỉ số ổn định trong sự chờ đợi có tínhmặc nhiên, có thể dự báo được và mọi tính toán thu nhập cũng tăng theotương ứng Trong thực tế, hiếm có loại lạm phát này vì lạm phát là kết quảtổng hợp của nhiều yếu tố chi phối rất khó dự báo hết trước được
- Lạm phát không cân bằng và không thể dự đoán trước: là loại lạm phát
mà giá cả các hàng hóa, dịch vụ tăng không không đều nhau và Nhà nước
Trang 7không dự báo cũng như chủ động điều tiết được Đây là hiện tượng phổ biếnnhất ở các nước đang phát triển Lạm phát này thường gây ra những cú số chonền kinh tế và sự thiếu tin tưởng của người dân vào Chính quyền đương đại.
1.3 Nguyên nhân gây ra lạm phát
Lạm phát là kết quả tổng hòa của nhiều nguyên nhân kinh tế xã hội; mỗiloại lạm phát đặc trưng cho những nhóm nguyên nhân đặc trưng của mình vàbản thân những nguyên nhân đó cũng không giống nhau Tuy nhiên dù đadạng và khác nhau đến đâu, đều có thể quy tụ về những nguyên nhân chủ yếusau:
1.3.1 Lạm phát do tăng cung ứng tiền tệ
Theo quan điểm của các nhà kinh tế thuộc phái tiền tệ, khi cung tiền tệtăng lên kéo dài sẽ làm cho mức giá cả tăng kéo dài và gây ra lạm phát
2
as
3
as
Cung ứng tiền tệ và lạm phát tiền tệ
Ban đầu, nền kinh tế ở điểm 1, có sản lượng đạt mức sản lượng tự nhiên
thất nghiệp xuống dưới tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên, tiền lương tăng lên và làm
kinh tế quay trở lại mức tỉ lệ tự nhiên của sản phẩm trên đường tổng cung dài
sự dịch chuyển của đường tổng cầu và đường tổng cung như trên lại tiếp tục
Trang 8diễn ra và nền kinh tế đạt tới mức giá cả ngày càng cao hơn, lạm phát tăngcao.
1.3.2 Chỉ tiêu công ăn việc làm cao
Một mục tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng mà đa số Chính phủ các nướctheo đuổi cũng thường gây nên lạm phát, đó là mục tiêu công ăn việc làm cao
Có 2 loại lạm phát là kết quả của chính sách ổn định năng động nhằmthúc đẩy một mức công ăn việc làm cao, đó là:
1.3.2.1 Lạm phát do chi phí đẩy
Nó xảy ra do những cú số cung tiêu cực hoặc do kết quả của những cuộcđấu tranh đòi tăng lương gây ra
p p p
p
p 1
2 1'
3 2'
p
1
ad 2 ad
as
as 2
ad 3
as 1 ( Tæng møc gi¸ )
nhien Do mong muốn có một mức sống cao hơn hoặc do cho rằng tỉ lệ lạmphát dự tính trong nền kinh tế sẽ tăng cao, những người công nhân đấu tranhđòi tăng lương Vì tỉ lệ thất nghiệp đang ở mức tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên nênnhững đòi hỏi tăng lương của công nhân dễ được giới chủ chấp nhận Ảnh
Nền kinh tế chuyển từ điểm 1 đến 1', là giao điểm của đường tổng cung
làm cao hơn hiện tại, Chính phủ sẽ thực hiện các chính sách điều chỉnh năngđộng làm tác động lên tổng cầu, làm tăng tổng cầu, lúc này, đường tổng cầu
Các công nhân đã được nhượng bộ và tăng lương vẫn có thể tiếp tục đòităng lương cáo hơn Đồng thời, những sự nhượng bộ đó đã tạo ra sự chênhlệch về mức lương trong tầng lớp công nhân, tình trạng đòi tăng lương lại tiếp
Trang 9cao hơn mức tự nhiên và Chính phủ phải thực hiện các chính sách điều chỉnh
Nếu quá trình này cứ liên tiếp thì kết quả sẽ là việc tăng liên tục của mức giá
cả, đây chính là tình trạng lạm phát chi phí đẩy
ad 3 2
ad
1
ad
2 3
định chính sách theo đuổi một tỉ lệ thất nghiệp dưới mức tỉ lệ tự nhiên
đổi điều này sẽ tác động đến tổng cầu và làm tăng tổng cầu, đường tổng cầu
nhiên đã đạt được Do đó, tiền lương tăng lên, đường tổng cung di chuyển đến
nghiệp tự nhiên nhưng giá P2>P1
Lúc này, tỉ lệ thất nghiệp lại cao hơn mục tiêu đề ra Do đó, các nhàhoạch định lại đưa ra các chính sách làm tăng tổng cầu Quá trình cứ tiếp diễn
và đẩy giá cả lên cao
1.3.3 Lạm phát theo tỉ giá hối đoái
Tỉ giá hối đoái giữa đồng nội tệ và ngoại tệ tăng cũng là nguyên nhângây ra lạm phát
Khi tỉ giá tăng, đồng nội tệ mất giá, trước hết nó tác động lên tâm lýnhững người sản xuất trong nước, muốn kéo giá hàng lên theo mức tăng của tỉgiá hối đoái
Thứ 2, khi tỉ giá tăng, giá nguyên liệu, hàng hóa nhập khẩu cũng tăngcao, đẩy chi phí sản xuất tăng, lại quay trở về lạm phát chi phí đẩy Việc tănggiá này thường gây phản ứng dây chuyền, làm tăng giá cả của rất nhiều mặt
Trang 10hàng khác, đặc biệt là hàng hóa của các ngành có sử dụng nguyên liệu nhậpkhẩu và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
1.3.4 Lạm phát do thâm hụt ngân sách
Chính phủ có thể khắc phục tình trạng thâm hụt Ngân sách bằng biệnpháp phát hành trái phiếu Chính phủ ra thị trường tài chính để vay vốn trongdân chúng, bù đắp cho phần bị thiếu hụt Biện pháp này không ảnh hưởng đến
cơ số tiền tệ nên không làm tăng cung tiền, không gây ra lạm phát
Chính phủ cũng có thể sử dụng biện pháp phát hành tiền Nó trực tiếplàm tăng cơ số tiền tệ, làm cung tiền tăng, đẩy tổng cầu lên cao, tăng tỉ lệ lạmphát
Ở các nước đang phát triển, thị trường vốn bị hạn chế nên phát hành tráiphiếu là rất khó thực hiện Và biện pháp duy nhất là "sủ dụng máy in tiền"
Do vậy, trong mọi trường hợp, tình trạng thâm hụt Ngân sách Nhà nước cao,kéo dài sẽ là nguồn gốc tăng cung tiền và gây ra lạm phát
Tóm lại, các nguyên nhân gây ra lạm phát rất đa dạng và bao quát cảtrong lĩnh vực cung và cầu, cả sản xuất, lưu thông, phân phối và tiêu dùng, cảchính sách tài chính-tiền tệ lẫn các yếu tố tâm lý, cả các nhân tố bên trong lẫnbên ngoài, các nhân tố khách quan và chủ quan mà tùy theo các điều kiện cụthể, lạm phát nảy sinh với tư cách là kết quả trực tiếp và gián tiếp của tổ hợpcác nguyên nhan trên hoặc chỉ do một vài nguyên nhân trong số đó
1.4 Tác động của lạm phát tới nền kinh tế
Lạm phát tác động trực tiếp đến nền kinh tế, làm thay đổi mức độ vàhình thức sản lượng, đồng thời tạo ra sự phân phối thu nhập và của cải xã hội.Hơn nữa, lạm phát tác động đến nền kinh tế theo cả hướng tích cực và tiêucực
1.4.1 Lạm phát và lãi suất
Từ thực tế diễn biến lạm phát của các nước trên thế giới, các nhà kinh tếcho rằng: Lạm phát cao và triền miên có ảnh hưởng xấu đến mọi mặt của đờisống kinh tế, chính trị và xã hội của mọi quốc gia Trước tiên là lãi suất
Để duy trì và ổn định sự hoạt động của mình, hệ thống Ngân hàng phảiluôn luôn cố gắng duy trì tính hiệu quả của cả tài sản nợ và tài sản có củamình, tức là phải luôn luôn giữ cho lãi suất thực ổn định Và lãi suất thực = lãisuất danh nghĩa − tỉ lệ lạm phát Do đó, khi tỉ lệ lạm phát tăng cao, nếu muốncho lãi suất thực ổn định, lãi suất danh nghĩa phải tăng lên cùng với tỉ lệ lạm