LỜI NÓI ĐẦU PAGE 1 Học viện Ngân Hàng Đề án Kinh tế chính trị LỜI NÓI ĐẦU Trong các vấn đề của nền kinh tế, lạm phát luôn là một vấn đề mà các nhà chính trị, các nhà kinh tế và tất cả tác nhân trong n[.]
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong các vấn đề của nền kinh tế, lạm phát luôn là một vấn đề mà các nhà chính trị, các nhà kinh tế và tất cả tác nhân trong nền kinh tế quan tâm Lạm phát không phải một vấn đề xa lạ mà nó là một đặc điểm của nền kinh tế hàng hóa, ở đâu còn tồn tại nền kinh tế hàng hóa thì ở đó lạm phát luôn là một vấn đề Chính vì vậy lạm phát là vấn đề được đề cập rất nhiều trong nghiên cứu của các nhà kinh tế, là đối tượng của rất nhiều chính sách kinh tế vĩ mô
Lạm phát ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế xã hội, cho nên
nó ảnh hưởng tới tất cả thành viên trong nền kinh tế, lạm phát ảnh hưởng tới hoạt động của nền kinh tế, hạn chế sự tăng trưởng của nền kinh tế, lạm phát khiến giá cả tăng cao làm đời sống của nhân dân bị giảm sút… Chính vì những tác hại to lớn do lạm phát gây ra cho nền kinh tế và đời sống xã hội
mà việc nghiên cứu lạm phát là một vấn đề cần thiết và cấp bách đối với nền kinh tế đặc biệt là nền kinh tế thị trường còn non nớt như nước ta hiện nay, khi vấn đề lạm phát đang là một vấn đề nóng, gây ảnh hưởng lớn tới sự tăng trưởng của nền kinh tế, chúng ta cần phải tìm hiều xem lạm phát là gì ?
Do đâu mà có lạm phát? Vì sao chúng ta phải quan tâm tới lạm phát? Muốn giữ lạm phát ở mức thấp mà ít làm ảnh hưởng tới sự tăng trưởng của nền kinh tế cần thực hiện những giải pháp gì? Đó chính là những lí do khiến em chọn đề tài: “Lạm phát và các giải pháp chống lạm phát ở nước ta hiện nay”
Dù đã rất cố gắng nhưng do khả năng và tài liệu còn hạn chế nên bài viết của em không tránh khỏi sai sót, rất mong được thầy cô nhận xét và góp ý Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2Phần 1: Lí luận về lạm phát
1 Thế nào lạm phát?
- Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về lạm phát Tuy nhiên các nhà kinh tế thường sử dụng khái niệm chung về lạm phát: “ Lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá trung bình theo thời gian”
- Mức giá trung bình được hiểu là mức giá chung của tất cả các hàng hoá dịch vụ Nó được biểu thị bằng chỉ số giá
- Chỉ số giá là chỉ tiêu phản ánh biến động của mức giá chung kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc (có thể gốc là lien hoàn hoặc định gốc) Thời kỳ nghiên cứu có thể là tháng, quý, năm
2 Cách tính
% 100
1
1
t
t t
P
P P
P = ( P1Q1 + P2Q2 + … + PnQn) / ( Q1 + Q2 + …+ Qn) Trong đó: Pt, Pt-1 là giá thời kỳ t và t-1
Q1, Q2…Qn là lượng hàng hóa dịch vụ từ 1,2…n
3 Phân loại lạm phát
Căn cứ vào qui mô của lạm phát người ta chia lạm phát thành 3 loại
- Lạm phát vừa phải: chỉ số lạm phát có 1 chữ số Đây là lạm phát có thể dự đoán được và người dân sẵn lòng giữ lượng tiền nhiều để thực hiện các giao dịch mang tính dài hạn
- Lạm phát phi mã: chỉ số lạm phát trong phạm vi 2 chữ số hoặc 3 chữ số Thời kì đồng tiền mất giá nhanh, mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu để giao dịch hàng ngày, có xu hướng tích trữ hàng hoá, vàng, bất động sản
- Siêu lạm phát: lạm phát đặc biệt cao, lạm phát hàng tháng từ 50% trở lên
Sự gia tăng quá mức cung tiền và thâm hụt ngan sách không thể kiểm soát nổi
4 Tác động của lạm phát
Nhiều nghiên cứu, đặc biệt là các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy sự tác động của lạm phát có cả tích cực và tiêu cực theo những cách thức khác
Trang 3nhau tùy thuộc vào cấu trúc của nền kinh tế, khả năng thích ứng với sự thay đổi liên tục của lạm phát và mức độ tiên liệu một cách toàn diện về lạm phát Lạm phát cao có xu hướng làm thay đổi các cân bằng thực của nền kinh tế làm chệch hướng các nguồn lực khi thực hiện các giao dịch; giảm tín hiệu thông tin về giá tương đối vì vậy dẫn đến tình trạng phân bổ nguồn lực không hiệu quả Khi lạm phát tăng làm giá trị của tiền giảm khiến chức năng
là đơn vị hạch toán của tiền thay đổi, điều này làm cho việc hạch toán chi phí-lợi nhuận của doanh nghiệp trở nên khó khăn; tác hại của lạm phát không dự kiến được gia tăng sự bất ổn định, dẫn đến tình trạng tái phân phối của cải một cách tùy tiện
Ngay trong thời kì xảy ra lạm phát, giá cả của hàng hóa thay đổi không cung một tỷ lệ, vì vậy mà những nghành có giá tăng nhanh sẽ nâng tỷ trọng của nghành trong tổng sản lượng, thay đổi vị thế kinh doanh của nghành mình Khi lạm phát tăng nhanh cùng với sự thay đổi mạnh mẽ của giá cả tương đối, có những doanh nghiệp, nghành nghề phất lên được nhưng cũng
có những doanh nghiệp, nghành nghề láiuy sụp phá sản, thậm chí còn chuyển hướng kinh doanh khác, dẫn đến cơ cấu kinh tế thay đổi
Vì vậy, dự báo lạm phát không chỉ có ý nghĩa trong việc cung cấp các thông tin đối với những nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô mà còn đối với cả các nhà kinh doanh trong việc điều chỉnh các chiến lược kinh doanh
Trang 4Phần 2: Thực trạng và nguyên nhân gây lạm phát ở nước ta hiện nay
1 Thực trạng
Năm 2007 đánh dấu là năm có tỷ lệ lạm phát cao nhất trong 12 năm trở lại đây – lạm phát phi mã: 12.63%Lạm phát, sau 2 năm liên tục ở mức cao (9,5% năm 2004 và 8,4% năm 2005) tưởng chừng như đã có dấu hiệu suy giảm khi chỉ còn 6,6% trong năm 2006 Tuy nhiên áp lực lạm phát lại bùng phát ngay từ đầu năm 2007 Trong 6 tháng đầu năm chỉ số giá tiêu dùng đã tăng 5,2%.Nếu so với tháng 6 năm 2006, thì chỉ số giá tiêu dùng tăng 7,8
%.Theo Tổng cục Thống kê,giá tiêu dùng tháng 12 tăng tới 2,91%, không những cao nhất so với các tháng trong năm nay (kể cả tháng 2 là tháng có Tết Nguyên Đán cũng chỉ tăng 2,17 %), mà còn tăng cao nhất so với tốc độ tăng trong tháng 12 của mười mấy năm qua! Do giá tháng 12 tăng cao như vậy, nên tính chung 12 tháng (tháng 12.2007 so với tháng 12.2006), giá tiêu dùng tăng 12,63% cao nhất trong 11 năm qua
Trong 11 nhóm hàng hóa, dịch vụ, nhóm thực phẩm (chiếm tỷ trọng lớn nhất trong "rổ" hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng) giá tăng cao nhất (tháng 12 tăng tới 4,69%, cả năm tăng tới 21,16%) Nhóm lương thực (nhóm chiếm tỷ trọng lớn thứ hai trong "rổ" hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng) có giá tăng cao thứ ba (tháng 12 tăng 2,98%, cả năm tăng 15,4%) Tình hình này tưởng rằng sẽ làm cho nông dân có lợi, nhưng đó chỉ là "được mùa thì mất giá, được giá thì mất mùa" - điệp khúc lặp đi lặp lại đối với người nông dân, một bộ phận đi trước nhất nhưng lại yếu thế nhất trong kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập Giá nhà ở và vật liệu xây dựng (gồm tiền thuê nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng) tháng 12 tăng 3,28%, cả năm tăng tới 17,12% (cao thứ hai sau nhóm thực phẩm) Thế là nhiều gia đình nếu trước đây sớm "tiến lên" đun nấu gas, dùng điện nhiều hơn thì nay "lùi lại" để đun than tổ ong, còn không khí có ô nhiễm hơn hay không thì đâu có ai nhìn thấy Giá vật liệu xây dựng tăng cao đã làm cho giá bất động sản tăng kép (tăng do giá đất tăng, tăng do giá xây dựng tăng), khác với các lần sốt trước chỉ có giá đất
Trang 5tăng Tình hình trên làm cho những người thu nhập thấp khó có khả năng
"cải thiện" nhà ở
Giá phương tiện đi lại, bưu điện tháng 12 tăng 4,38%, nhưng nếu không kể giá bưu điện giảm (- 0,77%) thì giá phương tiện đi lại còn tăng cao hơn nữa,
do giá xăng dầu tăng cao Đây mới là tháng 12 giá xăng dầu trực tiếp tăng (vào cuối tháng 11), nhưng tác động dây chuyền đến các hàng hóa và dịch
vụ khác trong thời gian tới sẽ còn rộng, lớn hơn nhiều
Tỷ lệ lạm phát ở nước ta từ năm 2000-2007
Sau Tết 2008 mặc dù khá lâu rồi nhưng hầu hêt giá các mặt hàng tiêu dùng không hề có dấu hiệu hạ nhiệt Chỉ số giá tiêu dùng tháng 1/2008 tăng 2,38% so với tháng 12/2007, trong đó tăng mạnh nhất vẫn là nhóm hàng lương thực, thực phẩm, tăng 3,76% và nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng – tăng 2,88% Một mức tăng kỉ lục trong vòng mười năm trở lại đây 3 tháng đầu năm năm 2008 tăng 9,19% Điều đó có nghĩa là đại đa số người dân, đặc biệt
là nông dân đang nghèo đi từng ngày
Giá tiêu dùng tháng 6.2008 tăng 2,14% so với tháng 5, thấp hơn so với tốc
độ tăng của các tháng trong 5 tháng đầu năm (tháng 1 tăng 2,38%, tháng 2
Trang 6tăng 3,56%, tháng 3 tăng 2,99%, tháng 4 tăng 2,20%, tháng 5 tăng 3,91% - bình quân 5 tháng tăng 3,0%)
Giá tiêu dùng tăng vẫn chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm tăng cao, còn giá phi lương thực, thực phẩm tăng thấp hơn (tháng 6 giá lương thực, thực phẩm tăng 3,29%, còn giá phi lương thực, thực phẩm tăng 1,3%) Sau những
nỗ lực kiềm chế lạm phát của chính phủ, tỷ lệ lạm phát đã chậm lại, tỷ lệ lạm phát và nhập siêu của tháng 7 ở nước ta đều giảm, đây có thể coi là tín hiệu đáng mừng
Tốc độ tăng giá tiêu dùng chậm lại là do các giải pháp kiềm chế lạm phát bước đầu đã phát huy tác dụng Chính sách thắt chặt tiền tệ, tuy có những hiệu ứng phụ, nhưng với việc nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, mua tín phiếu bắt buộc, khống chế tỷ lệ cho vay đầu tư chứng khoán, đặc biệt gần đây chỉ trong một thời gian ngắn hai lần liên tục nâng lãi suất cơ bản, đã bước đầu hãm bớt tiền từ ngân hàng ra lưu thông, hút thêm tiền từ lưu thông về ngân hàng, giảm áp lực lạm phát
Tuy đạt được kết quả như trên, nhưng chưa thể chủ quan, thỏa mãn, do tính chung 6 tháng lạm phát đã rất cao và tới đây vẫn còn nhiều yếu tố tác động Tuy nhiên, lạm phát tháng 6 vẫn cao hơn cùng kỳ năm trước và cao hơn lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại
Sau 6 tháng (tức là tháng 6.2008 so với tháng 12.2007), lạm phát đã lên đến 18,44%, cao hơn nhiều so với mức 5,21% của cùng kỳ năm trước Tính theo năm (tức là tháng 6 năm nay so với tháng 6 năm trước), lạm phát đã lên đến 26,8%, cao hơn nhiều so với con số tương ứng của các tháng trước (tháng 1
là 14,11%, tháng 2 là 15,67%, tháng 3 là 19,39%, tháng 4 là 21,42%, tháng 5
là 25,20%) Tính bình quân 6 tháng năm nay so với bình quân 6 tháng cùng
kỳ năm trước cũng đã lên tới 20,31%, vượt qua mốc 20%!
Nếu 6 tháng cuối năm, giá tiêu dùng được giữ bằng mức tăng của 6 tháng cuối năm 2007 (7,06%) thì lạm phát cả năm cũng sẽ lên tới 26,8% Vì vậy, việc chống lạm phát phải được tiếp tục tiến hành đồng bộ và quyết liệt
2 Nguyên nhân lạm phát
2.1 Nguyên nhân tiền tệ
Nguyên nhân tiền tệ bắt nguồn từ việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam(NHNNVN) mua vào ngoại tệ với giá trị gần bằng đúng lượng vốn chảy vào kể từ đầu năm 2007
Về nguyên tắc khi luồng vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam tăng, VNĐ
sẽ lên giá để tạo ra điểm cân bằng Tuy nhiên, với chiến lược phát triển dựa vào xuất khẩu, NHNN Việt Nam phát hành VNĐ mua lại lượng ngoại tệ này với mục đích kìm tỉ giá của VNĐ với đồng Đô la Mỹ (USD) thấp hơn điểm
Trang 7cân bằng nhằm nâng cao tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu về giá cả Giữ VNĐ yếu có thể coi là một hình thức trợ giá cho hàng xuất khẩu và phát huy
ở trong những điều kiện kinh tế thế giới nhất định Tuy nhiên, mặt trái thứ nhất của chính sách này là do phải tung VNĐ ra mua lại lượng ngoại tệ chảy vào, lượng cung tiền của Việt Nam từ năm 2005 đến nay tăng tổng cộng 135%
Trong 6 tháng đầu năm 2007, đã có 2,2 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài được giải ngân và 5,2 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài được đổ vào thị trường chứng khoán Như vậy, đã có 7,2 tỷ USD đã chảy vào VN, chưa kể giải ngân vốn và kiều hối
Tiến sĩ Nguyễn Khánh Long - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học Thị trường Giá cả cho rằng, yếu tố cơ bản gây nên lạm phát là “tiền nhiều” Riêng kiều hối lên đến 5 tỷ USD thậm chí có thể lên đến 7,5 tỷ USD Trong khi Nhà nước lại chủ động tăng dự trữ ngoại hối lên từ 13 - 20 tuần nhập khẩu
Giáo sư Kenichi Ohno, chuyên gia Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF) ước tính, có ít nhất 15 tỷ USD đã đổ vào Việt Nam trong năm 2007 từ các nguồn: dịch vụ (du lịch) 4,6 tỷ USD; vốn FDI giải ngân 2,2 tỷ USD; vốn vay ODA 1,8 tỷ USD, cổ phiếu và trái phiếu 2,5 tỷ USD… và đây là nguyên nhân chính gây nên tình trạng lạm phát ở Việt Nam và là mức lạm phát cao nhất trong các nước mới nổi ở Đông Á Vấn đề của Việt Nam là do chính sách quản lý tài chính, tiền tệ chưa hợp lý
2.2 Nguyên nhân chi phí đẩy
2.2.1 Giá nguyên liệu nhập khẩu tăng
Trong điều kiện kinh tế nước ta phụ thuộc rất lớn vào nguyên, nhiên liệu nhập khẩu, giá nguyên, nhiên liệu nhập tăng làm tăng giá thị trường trong nước
Trước hết phải kể đến sự tăng giá xăng dầu Giá dầu đã lên tới 107.44
đô/thùng Việc tăng giá xăng dầu đã làm tăng giá hầu hết tất cả các mặt hàng, từ mặt hàng tiêu dùng đến nguyên liệu sản xuất
Tiếp theo là sự tăng giá của một số nguyên liệu như giá sắt thép tăng 21,8%, trong đó phôi thép tăng 27,7%, phân bón tăng 9,7%, chất dẻo tăng 10,9%, bông tăng 3,6%, sợi tăng 0,4%, giấy tăng 6,4%, lúa mì tăng 45%
Trang 8Khi giá nguyên nhiên vật liệu tăng sẽ dẫn tới chi phí sản xuất của các doanh nghiệp tăng Khi đó đặt các DN vào hai sự lựa chọn: hoặc đóng cửa nếu giữ giá bán như cũ, hoặc tăng giá nếu muốn giữ nguyên sản lượng như cũ Việc đóng cửa sản xuất sẽ làm thiếu hụt hàng hoá so với cầu và kéo theo tăng giá chung
2.2.2 Đầu tư kém hiệu quả
Hiệu quả đầu tư được biểu hiện chủ yếu ở chỉ tiêu: một đồng vốn đầu tư đã tạo ra được bao nhiêu đồng GDP (tức là GDP/vốn đầu tư)
Trong năm qua, hiệu quả đầu tư của Việt Nam có khá nhiều những hạn chế, yếu kém
Hiệu quả đầu tư năm 2007 thấp hơn các năm từ 2003 trở về trước
Hiện nay, hệ số Icor của Việt Nam là gần 5 cho thấy đầu tư không hiệu quả
Nguyên nhân chủ yếu do thiết bị kỹ thuật - công nghệ của Việt Nam còn lạc hậu; chi phí thuê mua mặt bằng sản xuất, kinh doanh cao, chi phí xã hội còn lớn, trình độ quản lý và tay nghề còn thấp; có một lượng vốn không nhỏ bị chôn vào vàng, đất đai hoặc chạy lòng vòng trên các thị trường mà không đầu tư trực tiếp cho tăng trưởng sản xuất, kinh doanh, tăng trưởng kinh tế Hiệu quả đầu tư của khu vực nhà nước còn rất thấp, thấp hơn khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Năm 2007, một đồng vốn đầu tư của khu vực nhà nước chỉ tạo ra được 2,1 đồng GDP, trong khi tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực nhà nước năm 2007 vẫn còn chiếm tới 43,3% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Nguyên nhân chủ yếu do khu vực này còn để thất thoát, lãng phí chiếm tỷ trọng lớn; do bị co kéo nên phân tán, dàn trải, thi công chậm
Theo chỉ tiêu kế hoạch năm 2008, thì hiệu quả đầu tư còn thấp hơn năm
2007 Năm 2008, tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP đưa lên 42%, cao hơn so với
tỷ lệ 40,4% của năm 2007, nên 1 đồng vốn đầu tư chỉ tạo ra được 2,38 đồng GDP, thấp hơn mức 2,48 đồng của năm 2007
Đầu tư kém hiệu quả sẽ đẩy chi phí sản xuất tăng cao, từ đó dẫn tới tăng giá thánh sản phẩm
2.2.3.Thiên tai, dịch bệnh:
Thiên tai, dịch bệnh tràn lan, xảy ra trên địa bàn rộng như dịch cúm dịch H5N1, dịch lở mồm long móng ở gia súc, lại thêm nông nghiệp mất mùa do
Trang 9đợt rét đậm, rét hại kéo dài làm giảm năng suất, sản lượng nông sản, nguyên liệu thô trong nước, cùng với những mặt hàng thiết yếu khác trở nên khan hiếm, từ đó đẩy giá nguyên liệu và giá một số mặt hàng trong nước tăng cao 2.3 Nguyên nhân cầu kéo
Lạm phát cầu kéo, xảy ra khi tổng cầu tăng trong khi tổng cung không đổi hoặc tổng cung tăng chậm hơn tổng cầu
Tiêu dùng trong năm 2007 tăng đột biến, mặc dù quy mô thị trường chỉ khoảng 50 tỉ USD nhưng tốc độ tiêu dùng nội địa sau khi trừ đi yếu tố trượt giá vẫn tăng hơn 20% Một số nguyên nhân làm tăng tổng cầu ở Việt Nam: 2.3.1 Do đầu tư
Cũng như nguyên nhân chi phí đẩy thì đầu tư trong năm qua cũng có tác động không nhỏ tới cầu Đầu tư trong năm 2007 rất lớn bao gồm cả những
dự án chưa được giải ngân từ năm 2006 Đầu tư công và đầu tư của các doanh nghiệp tăng, làm nhu cầu về nguyên liệu, nhiên liệu và thiết bị công nghệ tăng Trong năm 2007, chúng ta nhập siêu nhưng phần lớn hàng nhập khẩu là trang thiết bị, máy móc phục vụ cho sản xuất, còn tỷ trọng hàng tiêu dùng không nhiều nên không giảm được áp lực cho việc gia tăng tổng cầu 2.3.2 Thu nhập bình quân tăng :
Thu nhập của dân cư tăng do xuất khẩu lao động và người thân từ nước ngoải gửi về không được tính vào GDP cũng tăng làm xuất hiện trong một
bộ phận dân cư những nhu cầu mới cao hơn
Mặt khác, thị trường chứng khoán bước đầu phát triển, lại phát triển quá nóng, các cá nhân và hộ gia đình thay vì gửi tiền tiết kiệm lại đầu tư vào thị trường chứng khoán Thu nhập có được lại chuyển ra lưu thông, tiêu dùng các loại hàng hóa có giá trị lớn như bất động sản, ô tô…
Những khoản tiền thưởng cuối năm và đợt tăng lương từ tháng 1/2008 cũng như nhu cầu mua sắm trong dịp cuối năm của các hộ gia đình và doanh nghiệp tăng mạnh làm đẩy cầu tăng mạnh trong hai tháng đầu 2008
Nhu cầu nhập khẩu lương thực trên thị trường thế giới tăng, làm giá xuất khẩu tăng (giá xuất khẩu gạo bình quân của nước ta năm 2007 tăng trên 15%
so với năm 2006) kéo theo cầu về lương thực trong nước cho xuất khẩu tăng
Trang 10Trong khi đó, nguồn cung trong nước do tác động của thiên tai, dịch bệnh không thể tăng kịp
Tất cả các yếu tố nói trên gây ra lạm phát cầu kéo, đẩy giá một số hàng hoá
và dịch vụ, nhất là lương thực thực phẩm tăng theo
2.3.3 Chi tiêu chính phủ:
Một nguyên nhân khác nữa đó là chi tiêu chính phủ tổng chi tiêu của Nhà nước trong năm 2006 là 321 nghìn tỷ đồng, tăng 221,8 nghìn tỷ đồng (hay 45%) so với năm 2004 Như vậy, tốc độ tăng chi tiêu hàng năm của Nhà nước trong giai đoạn 2004-2006 là 20,3% năm (tương đương với tốc độ tăng truởng bán lẻ) Khi chi tiêu của nhà nước tăng hơn nhiều so với các nguồn thu ngoài dầu mỏ thì những khoản chi tiêu này sẽ làm tăng tổng cầu Thế nhưng nếu các khoản chi tiêu này lại không được sử dụng một cách hiệu quả, chỉ đóng góp nhỏ cho sản lượng (tức là không làm cho tổng cung tăng một cách tương ứng) thì tất yếu sẽ dẫn tới lạm phát
2.4 Quản lí vĩ mô kém
Điều tiết vĩ mô của chúng ta trước những biến động bất thường cả từ trong và ngoài nước để nhằm bình ổn thị trường còn chậm, Tình trạng độc quyền, đầu cơ trục lợi vẫn còn phổ biến dẫn đến thao túng, gây rối loạn thị trường; Cũng do quản lý kém đã dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản là rất lớn Hệ quả tất yếu của việc này là làm cho thị trường rối loạn
2.5 Yếu tố tâm lí người dân