Thôngthường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trongphạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu làlạm phát của một lo
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
(Đối tượng đào tạo: Cao học)
Đề tài: Bàn về nhóm các giải pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ Việt
Nam năm 2008
Học viên: Trần Thị Thu Hà Lớp: 902 – Khoá 9
Hà Nội, tháng 12 năm 2008
LỜI NÓI ĐẦU
Trang 2Lạm phát là mối quan tâm của tất cả mọi người, từ Chính phủ, các tổchức kinh tế cho tới dân cư Biểu hiện của lạm phát là chỉ số giá tiêu dùng ngàycàng cao Ở Việt nam, từ cuối năm 2007, lạm phát đã trở thành vấn đề thời sựnóng bỏng
Lạm phát bên cạnh việc làm méo mó giá cả, nó còn làm xói mòn tiết kiệm
và không khuyến khích đầu tư, hạn chế tăng trưởng kinh tế, gây ra những bất ổnchính trị và xã hội Người có thu nhập thấp và trung bình thì gặp nhiều khó khăntrong đời sống hàng ngày Các nhà doanh nghiệp thì lo lắng giá đầu vào tăng caolàm cho giá thành sản phẩm dịch vụ, hàng hóa tăng theo, nếu không bán đượcthì phải ngừng sản xuất Các nhà thầu xây dựng lo thua lỗ với những hợp đồng
đã ký, nếu không được bù giá thì sẽ phá sản Chính vì vậy, lạm phát được xemnhư một căn bệnh nguy hiểm buộc Chính phủ các nước phải chấm dứt nó bằngmọi biện pháp
Với mong muốn có thể nhận thức một cách rõ nét và đầy đủ hơn về lạmphát, về các giải pháp kiềm chế lạm phát, em lựa chọn đề tài tiểu luận của mình
là Bàn về 08 nhóm giải pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ năm 2008.
Ngoài lời nói đầu, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, tiểu luận được chialàm 03 phần:
Phần I: Lý luận chung về Lạm phát
Phần II: Thực trạng lạm phát ở Việt Nam hiện Nay
Phần III: Các giải pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ, kết quả đạt được và những vấn đề cần xem xét.
Trong phạm vi bài viết của mình, mặc dù em đã cố gắng tìm hiểu nhữngvấn đề chung nhất về lạm phát, đặc biệt là lạm phát ở Việt Nam năm 2008nhưng chắc chắn vẫn còn những hạn chế nhất định Em rất mong cô xem xét,góp ý cho em Em xin trân trọng cảm ơn
Học viên: Trần Thị Thu Hà
Phần I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT
1 KHÁI NIỆM VỀ LẠM PHÁT, CÁC LOẠI LẠM PHÁT:
Trang 31.1 Khái niệm:
Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giáchung của nền kinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá thị trườnghay giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạmphát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác Thôngthường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trongphạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu làlạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu
1.2 Phân loại lạm phát:
Căn cứ vào tốc độ lạm phát, người ta chia ra làm 03 loại lạm phát:
- Lạm phát vừa phải: Lạm phát vừa phải xảy ra khi tốc độ tăng giá chậm, ở
mức một con số Hiện ở phần lớn các nước phát triển, lạm phát được duy trì ởmức vừa phải, tỷ lệ bao nhiêu tùy thuộc vào tình trạng phát triển của nền kinh tế
và mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ Trong điều kiện lạm phát vừaphải, giá cả tăng chậm, thường xấp xỉ mức tăng tiền lương hoặc cao hơn chút ít,đời sống của người lao động ổn định, tạo thuận lợi cho môi trường kinh tế xãhội Có thể nói lạm phát vừa phải tạo tâm lý an tâm cho người lao động và cáchãng kinh doanh có khoản thu nhập ổn định, ít rủi ro nên sẵn sàng đầu tư chosản xuất, kinh doanh
- Lạm phát phi mã: lạm phát xẩy ra khi giá cả bắt đầu tăng ở mức hai, ba
con số như 20%, 100% hoặc 200%/năm Ở mức phi mã, lạm phát làm cho giá cảchung tăng lên nhanh chóng, gây biến động lớn về kinh tế , các hợp đồng đượcchỉ số hoá Lúc này người dân tích trữ hàng hoá, vàng bạc, bất động sản vàkhông bao giờ cho vay tiền ở mức lãi suất bình thường Trong thời kỳ lạm phátphi mã, sản xuất không phát triển, hệ thống tín dụng bị tàn lụi Loại lạm phátnày khi đã trở nên vững chắc sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng
Trang 4- Siêu lạm phát: Xảy ra khi tốc độ tăng giá vượt xa mức lạm phát phi mã,
tốc độ lưu thông tiền tệ tăng đột biến, giá cả tăng nhanh không ổn định, tiềnlương thực tế bị giảm mạnh, tiền tệ mất giá nhanh chóng, thông tin không cònchính xác, các yếu tố thị trường biến dạng và hoạt động kinh doanh lâm vào tìnhtrạng rối loạn Các cuộc siêu lạm phát có các đặc trưng:
+ Siêu lạm phát có sức phá hủy mạnh toàn bộ hoạt động của nền kinh tế vàthường đi kèm với suy thoái kinh tế nghiêm trọng
+ Siêu lạm phát thường xảy ra do các biến cố lớn dẫn đến đảo lộn trật tự xãhội như chiến tranh, khủng hoảng chính trị
+ Nguyễn nhân duy nhất của mức tăng giá khủng khiếp là do phát hành tiềngiấy không hạn chế nhằm bù đắp thiếu hụt Ngân sách Nhà nước
2 NGUYÊN NHÂN LẠM PHÁT:
2.1 Lạm phát do cầu kéo:
Đây là nguyên nhân do tổng cầu (AD) tăng lên vượt quá mức cung ứnghàng hóa của xã hội dẫn đến áp lực làm tăng giá cả Nói cách khác, bất kỳ lý donào làm cho tổng cầu tăng lên đều dẫn đến lạm phát về mặt ngắn hạn Tổng cầuphản ánh nhu cầu có khả năng thanh toán về dịch vụ, hàng hóa của xã hội Nóbao gồm hàng hóa, dịch vụ của các hộ gia đình, nhu cầu hàng hóa đầu tư của cácdoanh nghiệp, nhu cầu hàng hóa dịch vụ của Chính phủ và nhu cầu hàng hóaxuất khẩu ròng của thị trường nước ngoài Khi nhu cầu này tăng lên, chi tiêunhiều hơn, giá cả chung tăng lên và lạm phát xảy ra Tuy nhiên, nguyên nhândẫn đến lạm phát cao, kéo dài lại thuộc về chính sách tiền tệ mở rộng, bởi khi
MB, MS tăng lên sẽ làm cho tất cả các yếu tố thuộc tổng cầu tăng lên trong dàihạn
2.2 Lạm phát do chi phí đẩy:
Trang 5Xuất phát từ sự gia tăng chi phí sản xuất kinh doanh vượt quá mức tăngcua năng xuất lao động làm giảm mức cung ứng hàng hóa dịch vụ dẫn đến mứcgiá cả chung tăng lên ngay cả khi nền kinh tế chưa đạt giá trị sản lượng tiềmnăng, lạm phát cao kèm theo thất nghiệp và suy thoái kinh tế Những nguyênnhân cụ thể thuộc vấn đề tiền lương và chi phí ngoài lương như giá cả nguyênvất liệu, sự tăng lên lề thuế của Chính phủ cũng như sự tăng lên về lợi nhuậnròng của doanh nghiệp Mức giá cả chung có thể bị đẩy lên trong ngắn hạn donhững cú sốc về cung hoặc đột biến từ phía cầu, duy nhất chỉ có lý do thuộc vềchính sách tiền tệ mới làm tăng khối lượng tiền cung ứng mới làm cho giá cảtăng liên tục trong thời gian dài.
3 HẬU QUẢ CỦA LẠM PHÁT:
Hạu quả của lạm phát đối với nền kinh tế tùy thuộc vào nguyên nhân,mức độ của lạm phát cũng như khả năng dự đoán lạm phát Nếu lạm phát có thể
dự tính được lại xảy ra ở mức độ thì tác động của lạm phát đối với nền kinh tếkhông nhiều, lạm phát không gây ảnh hưởng đến sản lượng, hiệu quả và phânphối thu nhập Điều nguy hiểm của lạm phát đem lại cho nền kinh tế không chỉxảy ra ở mức độ cao mà còn ở sự xuất hiện bất ngờ ngoài khả năng dự đoán, lạmphát sẽ tạo nên sự bất ổn định cho môi trường kinh tế xã hội, phân phối lại thunhập quốc dân và của cải, ảnh hưởng tới lãi xuất, tỷ lệ thất nghiệp và tác độngxấu đến cán cân thanh toán quốc tế Trong môi trường lạm phát cao, không ổnđịnh và kéo dài, hoạt động của nền kinh tế không hiệu quả, tăng trưởng kinh tếkhông bền vững, thậm chí thất nghiệp cao và suy thoái kinh tế
4 GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT:
Các giải pháp kiềm chế lạm phát và liều lượng can thiệp sẽ được Chínhphủ và NHTW lựa chọn thích hợp trong từng thời kỳ để tránh phải trả giá đắtcho một cuộc chống lạm phát cũng như đem lại hiệu quả tối ưu cho nền kinh tế.Nhóm các giải pháp tác động vào tổng cầu như thực hiện một chính sách tiền tệkhan hiếm, kiểm soát chi tiêu của Ngân sách Nhà nước, thực hiện chính sáchkhuyến khích tiết kiệm, giảm tiêu dung Nhóm các giải pháp tác động vào tổng
Trang 6cung nhằm điều chỉnh mối quan hệ tốc độ tăng tiền lương với tốc độ tăng năngsuất lao động Hoặc nhóm giải pháp nhằm mở rộng khả năng cung ứng hàng hóanhư tăng khả năng sản xuất hàng hóa ở trong nước, phát huy tiềm năng, thếmạnh của mỗi địa phương, của các thành phần kinh tế, các lĩnh vực kinh tế hoặcnhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài để bổ sung quỹ hàng hóa trong nước Cácgiải pháp ngắn hạn trong từng thời kỳ hoặc các giải pháp mang tính chiến lượcdài hạn phải được sử dụng một cách hợp lý, vừa kiềm chế được lạm phát mà vẫnđảm bảo được mục tiêu tăng trưởng.
Phần II: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 7Năm 2007, GDP nước ta tăng 8,44% là năm đạt tốc độ tăng cao nhấttrong vòng 10 năm trở lại đây, nhưng lại là năm lạm phát đến mức hai con số12,63%, cao hơn mức Quốc hội và Chính phủ đặt ra là: dưới mức tăng GDP.Nếu so sánh với mức lạm phát của một số nước trong khu vực và trên thế giớinhư Trung Quốc: 6,5%; Indonesia: 6,59%; Mỹ: 4,08%, Thái Lan: 3,21%, Khuvực đồng Euro: 3,07%, Nhật Bản: 0,7% thì lạm phát của Việt Nam có phần caohơn Bước sang Quý I/08 tỷ lệ lạm phát của Việt Nam là 9,19%, vẫn cao hơn sovới mức 3,02% của Quý I/07 và bằng khoảng trên 70% so với mức tăng của cảnăm 2007 và đến hết tháng 10/2008, tỷ lệ lạm phát vẫn ở mức rất cao (trên21%) Đây là mức tăng cao trong vòng 12 năm trở lại đây
Để hiểu một cỏch tương đối đầy đủ các nguyên nhân gây ra lạm phát cũngkhông phải dễ dàng, đây là một vấn đề kinh tế xã hội rất phức tạp, có liên quantới nhiều sự tác động trong nước, ngoài nước, từ thiên nhiên và từ tâm lý trongmỗi người dân Theo dõi diễn biến giá cả thị trường và tổng hợp từ các nguồnthông tin, nguyên nhân gây ra lạm phát ở nước ta hiện nay là:
1 Nguyên nhân từ các nhân tố tác động bên ngoài:
Một là, giá dầu và giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào của sản xuất liên tục
gia tăng Trong 5 năm qua, kinh tế toàn cầu liên tục tăng trưởng cao, đặc biệt lànhóm các nước “mới nổi” ở khu vực Châu Á, nhất là Trung Quốc đã đẩy nhucầu năng lượng toàn cầu tăng cao đột biến, cùng với những bất ổn và xung độtchính trị quân sự tại khu vực Trung Đông là các nguyên nhân trực tiếp đẩy giádầu lên cao chưa từng có trong lịch sử, đồng thời giá các nguyên vật liệu đầuvào khác như sắt thép, phân bón, xi măng cũng liên tục gia tăng và cũng là mứctăng cao nhất từ trước tới nay
Hai là, giá lương thực, thực phẩm liên tục gia tăng Xuất phát từ quá trình
biến đổi khí hậu toàn cầu, thiên tai dịch bệnh diễn ra liên tiếp, cùng với nhữngnăm tăng trưởng kinh tế mạnh trên thế giới - là những năm quá trình côngnghiệp hoá được đẩy mạnh khiến diện tích đất sử dụng cho trồng trọt, chăn nuôi
Trang 8bị thu hẹp Tất cả những điều trên làm sản lượng lương thực, thực phẩm ngàycàng giảm mạnh Ngoài ra, giá năng lượng tăng cao đã khiến nhiều nước sửdụng một sản lượng lớn ngũ cốc chuyển sang sản xuất nhiên liệu sinh học cànglàm cho nguồn cung lương thực đã giảm càng giảm sút
Ba là, một khối lượng tiền lớn được đưa ra nền kinh tế toàn cầu: Trước
việc giá dầu và giá lương thực, thực phẩm liên tục leo thang đã tạo nên cú sốccung rất lớn đẩy lạm phát toàn cầu tăng cao, tình hình này đã buộc các Ngânhàng Trung ương phải tăng các mức lãi suất chủ chốt để kiềm chế lạm phát
Việc các nước thực hiện thắt chặt tiền tệ thông qua tăng lãi suất chủ đạocùng với việc giá dầu, giá lương thực - thực phẩm tiếp tục tăng cao chính lànguyên nhân cơ bản đã đẩy nền kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái mà biểu hiện
là cuộc khủng hoảng cho vay dưới tiêu chuẩn của Mỹ bắt đầu từ tháng 7/2007.Trước bối cảnh lạm phát gia tăng và kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái, cácNHTW không còn cách nào khác là phải bơm một lượng tiền khổng lồ để cứuvãn nền kinh tế, trong đó riêng Mỹ từ tháng 8/2007 đến nay đã phải đưa ra nềnkinh tế trên 2.300 tỷ USD, trong đó có 800 tỷ USD tiền mặt để cứu vãn hệ thốngngân hàng, NHTW Châu Âu, Nhật Bản, Anh cũng phải đưa một lượng tiền lớn
để cứu vãn nền kinh tế cũng như hệ thống ngân hàng; cùng với việc một sốNHTW phải thực hiện cắt giảm lãi suất từ tháng 8/2007 trở lại đây như Mỹ,Anh, Canada Việc cứu vãn nền kinh tế thế giới rơi vào suy thoái bằng biện phápđưa hàng nghìn tỷ USD ra nền kinh tế lại càng đẩy lạm phát toàn cầu tiếp tụctăng cao
2 Các nguyên nhân trong nước:
a Nguyên nhân về tiền tệ:
Vài năm nay do tình hình chính trị của nước ta ổn định, vị thế nước ta trêntrường quốc tế ngày càng tăng cao, nhất là từ khi ta được vào WTO và được bầuvào ghế Uỷ viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc, các nhàđầu tư ồ ạt đổ vốn vào Việt Nam (tổng hợp các nguồn có thể lên tới vài chục tỉ
Trang 9USD/năm) Chỉ trong năm 2007, Ngân hàng Nhà nước đã phải tung ra thị trườngtrên 160 nghìn tỉ đồng để mua 10 tỉ USD Số tiền này tuy đã được thu về mộtphần, song vẫn còn một phần khá lớn trôi nổi trên thị trường làm phương tiệnthanh toán thay tiền đồng mà Ngân hàng Nhà nước chưa kiểm soát được.
Tín dụng ngân hàng cho nền kinh tế tăng mạnh trong một thời gian dàinhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế là một nguyên nhân quan trọng làmgia tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế Các ngân hàng cũ mởrộng tín dụng bằng việc nới lỏng điều kiện cho vay, cạnh tranh nhau bằng giảmlãi suất cho vay, tăng lãi suất huy động để tìm kiếm nguồn vốn cho vay,chuyểnđổi mô hình, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp, tập đoàn để tăng vốn điều
lệ, mở rộng mạng lưới nhanh chóng vượt quá khả năng quản trị, cho thành lậpthêm các ngân hàng mới và tất cả các ngân hàng chủ yếu đua nhau tìm kiếm lợinhuận từ nghiệp vụ cho vay nên càng làm cho tín dụng của hệ thống ngân hàngtăng cao trong suốt năm 2007 và 3 tháng đầu năm 2008, đó là nguyên nhân rấtquan trong gây sức ép rất lớn làm gia tăng lạm phát trong thời gian qua
Luồng vốn nước ngoài vào Việt Nam gia tăng mạnh: bắt đầu từ cuối năm
2006 khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thếgiới (WTO), cùng với những cải cách về cơ chế chính sách và môi trường đầu tư
đã tạo điều kiện cho các luồng vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam tăng mạnh.Năm 2007 luồng vốn FDI tăng 20,3 tỷ USD vốn đăng ký, cao hơn nhiều so vớimức 10,2 tỷ USD của năm 2006, đặc biệt là luồng vốn đầu tư gián tiếp gia tăngmạnh mẽ khoảng trên 6 tỷ, gấp 5 lần con số của năm 2006 mà chủ yếu đổ vàothị trường chứng khoán, trái phiếu đặc biệt là đổ vào IPO các doanh nghiệp nhànước lớn Đứng trước bối cảnh này, Ngân hàng nhà nước đã phải cung ứng mộtlượng lớn tiền VND để mua ngoại tệ vào nhằm mục tiêu ổn định và phá giá nhẹ
tỷ giá để hỗ trợ xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và điều này làm chotổng phương tiện thanh toán tăng cao, tác động làm lạm phát gia tăng
b Đầu tư công kém hiệu quả:
Trang 10Mấy năm nay do yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, Nhà ước bỏ vốn đầu
tư vào các cơ sở hạ tầng: đường sá, cầu cống, chợ, trường học, bệnh viện và cáchương trình hỗ trợ người dân vùng nghèo, vùng khó khăn nhưng nhiều côngtrình, dự án kém hiệu quả, bị rút ruột làm tăng chi phí không nhỏ, chất lượngkém, thậm chí có công trình đầu tư xong không sử dụng Đặc biệt, đối với cácdoanh nghiệp nhà nước được ưu đãi đầu tư, thông qua vốn từ Ngân hàng pháttriển, các NHTMNN, làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ liên tục không thể thu hồivốn Tuy Chính phủ đã xử lý cho giãn nợ, khoanh nợ, thậm chí cho xoá nợ,nhưng những món nợ kiểu này vẫn phát sinh
c Chính sách tài khóa và quản lý yếu kém:
Bội chi ngân sách liên tục, chi tiêu hành chính không được kiểm soát chặtchẽ tình trạng chi tiêu lãng phí còn khá phổ biến Các cơ quan, tổ chức đượcngân sách cấp vốn hoạt động hàng năm cũng đã làm thất thoát vài chục nghìn tỉđồng, cộng với số tiền bội chi ngân sách hàng năm từ 40-50 nghìn tỉ là mộtlượng tiền không nhỏ ra thị trường Đây là chưa kể đến sự thất thoát tài sản côngtrong lĩnh vực quản lý đất đai, cổ phần hóa doanh nghiệp trong nội bộ Tất cảnhững sự mất mát của công này nó sẽ làm cho phát triển kinh tế chậm lại, lạmphát tăng lên
d Nguyên nhân do thiên tai, dịch bệnh:
Biến đổi khí hậu toàn cầu trên thế giới không những tác động đến nhiềuquốc gia mà Việt Nam cũng bị ảnh hưởng nặng nề Chỉ trong tháng 10/2007,miền Trung phải hứng chịu 5 cơn bão liên tiếp, trong khi đó dịch bệnh trongchăn nuôi, trồng trọt như cúm gia cầm, lợn tai xanh, lở mồm long móng ở lợn,vàng lùn ở lúa cùng với rét đậm, rét hại khiến cho nguồn cung lương thực, thựcphẩm bị sụt giảm
Mặc dù Chính phủ đã ban hành Công văn 639/BTM-XNK ngày16/8/2007 và Công văn số 266/TTg-KTTH ngày 21/2/2008 để khống chế lượnggạo xuất khẩu tối đa nhằm kiểm soát lạm phát và đảm bảo an ninh lương thực
Trang 11trong nước, nhưng việc giá lương thực, thực phẩm thế giới tăng cao đã khiến giágạo xuất khẩu và giá một số mặt hàng thực phẩm xuất khẩu khác như thuỷ hảisản gia tăng cộng với chi phí sản xuất tăng cao đã đẩy giá lương thực, thựcphẩm trong nước tăng cao ở mức 18,92% năm 2007 và 14,45% trong QI/2008,cao gấp 5 lần so với mức tăng 4,18% của quý I/2007, trong khi nhóm này cóquyền số 42,85%, lớn nhất trong rổ hàng hoá CPI, có thể nói đây là nguyên nhânchủ yếu tác động làm CPI tăng mạnh
e Nguyên nhân do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi cho việc phát triển công nghiệp và đôthị không ngừng tăng lên Diện tích canh tác giảm, lương thực, thực phẩm vànông sản cung cho thị trường cũng giảm tương ứng Quá trình công nghiệp hóa,
đô thị hóa làm cho thu nhập của các tâng lớp dân cư tăng lên, nhu cầu tiêu dùnglương thực, thực phẩm đòi hỏi ngày càng nhiều hơn và có chất lượng hơn, chonên lượng cầu lại tăng thêm Điều này cũng giải thích tại sao gần đây giá hànglương thực, thực phẩm, nông sản trên thế giới và trong nước không ngừng tănglên một cách nhanh chóng
f Nguyên nhân do tâm lý:
Mấy năm nay, mỗi lần Nhà nước nâng lương là thị trường lại tăng giátrước khi lương được tăng Người dân vẫn quan niệm Nhà nước in thêm tiền đểnâng lương cho cán bộ công nhân, cho nên phải nâng giá để người sản xuất vàngười buôn bán tăng thêm thu nhập Các phương tiện thông tin đại chúng lạikhông giải thích việc nâng lương không đồng nghĩa với in thêm tiền vào lưuthông Một số thông tin lại được đưa tin không chính xác, không giải thích kỹ,không bình luận để định hướng dư luận Ví dụ, việc đưa tin các ngân hàng, công
ty trích tiền thưởng từ vài chục triệu đến vài trăm triệu đồng một người trong dịptrước Tết Nguyên đán Nhưng đi sâu tìm hiểu thì thực tế không phải như vậy,đây chủ yếu là tiền lương cả năm còn lại của các nhân viên ngân hàng (vì hàngtháng họ chỉ được tạm ứng một ít tiền sinh hoạt, cuối năm quyết toán mới tính