1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá Luận Bồi Thường Thiệt Hại Về Tinh Thần Khi Danh Dự Nhân Phẩm, Uy Tín Bị Xâm Phạm Trong Trách Nhiệm Bồi Thường Thiệt Hại Ngoài Hợp Đồng.pdf

211 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Tác giả Nguyễn Lê Thảo Vi
Người hướng dẫn ThS. Hoàng Vũ Cường
Trường học Trường Đại Học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 211
Dung lượng 4,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VỀ (14)
    • 1.1. Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (15)
      • 1.1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (15)
        • 1.1.1.1. Khái niệm về danh dự, nhân phẩm, uy tín và quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (15)
        • 1.1.1.2. Khái niệm về thiệt hại tinh thần trong pháp luật dân sự (18)
        • 1.1.1.3. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (22)
      • 1.1.2. Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (23)
    • 1.2. Quy định pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (27)
      • 1.2.1. Căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần khi (27)
        • 1.2.2.1. Có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác (27)
        • 1.2.2.2. Có thiệt hại về tinh thần (30)
        • 1.2.2.3. Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín và thiệt hại về tinh thần (32)
      • 1.2.2. Về yếu tố “lỗi” trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần do (36)
        • 1.2.3.1. Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (38)
        • 1.2.3.2. Chủ thể được bồi thường thiệt hại (40)
      • 1.2.4. Mức bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (44)
    • 1.3. Lịch sử phát triển các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, uy tín, nhân phẩm bị xâm phạm ở Việt Nam (49)
      • 1.3.1. Trước năm 1945 (49)
      • 1.3.2. Từ năm 1945 đến trước khi có Bộ luật Dân sự 1995 (50)
      • 1.3.3. Từ khi có Bộ luật Dân sự 1995 đến nay (51)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VỀ TINH THẦN KHI DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN BỊ XÂM PHẠM (14)
    • 2.1. Mức bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, uy tín của pháp nhân bị xâm phạm (54)
    • 2.2. Quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần của người thân thích của người bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín (56)
    • 2.3. Bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm trên mạng xã hội (58)
    • 2.4. Bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm trong trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (62)
    • 2.5. Bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm trong trường hợp có hành vi khởi kiện vô căn cứ (64)
    • 2.7. Kết hợp bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm và khi sức khỏe bị xâm phạm (69)
  • KẾT LUẬN (53)
  • PHỤ LỤC (2)

Nội dung

Với những nhận thức trên cùng mong muốn được góp một viên gạch vào công cuộc bảo vệ những lợi ích tinh thần của chủ thể trong việc giải quyết những trường hợp xâm phạm danh dự, nhân phẩm

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VỀ

Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1.1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

Hiểu rõ khái niệm danh dự, nhân phẩm, uy tín cùng tầm quan trọng của quyền được tôn trọng những giá trị này là bước đầu quan trọng để xác định hướng đi đúng trong việc bảo vệ quyền của các chủ thể xã hội Bên cạnh đó, nắm vững trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần khi quyền danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về trách nhiệm này Việc hiểu rõ các yếu tố cấu thành trách nhiệm sẽ giúp vận dụng hiệu quả các biện pháp bảo vệ quyền về danh dự, nhân phẩm, uy tín trong thực tế.

1.1.1.1 Khái niệm về danh dự, nhân phẩm, uy tín và quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín

Danh dự, nhân phẩm và uy tín là những giá trị cốt lõi gắn bó mật thiết với mỗi cá nhân, phản ánh sự nỗ lực suốt đời để xây dựng và khẳng định vị trí trong xã hội Những giá trị này không chỉ mang ý nghĩa đạo đức và quan niệm xã hội mà còn được pháp luật nước ta công nhận, bảo vệ nhằm đảm bảo quyền lợi và danh dự của mỗi người Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm và uy tín là trách nhiệm của cả cộng đồng và pháp luật, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, văn minh.

Hiểu rõ khái niệm “danh dự”, “nhân phẩm” và “uy tín” là điều cần thiết để nhận thức toàn diện về giá trị của chúng, từ đó thấy được tầm quan trọng của việc ghi nhận và bảo vệ quyền này trong pháp luật Mặc dù pháp luật không chính thức định nghĩa các yếu tố này, nhưng chúng ta có thể hiểu chúng qua cách chiết tự theo Từ điển Hán Việt cùng với các tham khảo định nghĩa phù hợp Việc nắm bắt rõ các khái niệm này giúp nâng cao ý thức về quyền nhân thân và đảm bảo các quyền này được tôn trọng trong thực tiễn.

Từ điển Tiếng Việt 2 , theo đó:

Danh dự, còn gọi là "danh", tượng trưng cho tên tuổi và uy tín của một cá nhân hoặc tập thể trong xã hội Trong đó, "dự" có nghĩa là sự khen ngợi, tán dương và tiếng tốt, thể hiện sự công nhận giá trị tốt đẹp của người hoặc nhóm đó Chính vì vậy, danh dự là sự kính trọng, đánh giá cao và ghi nhận những đóng góp tích cực của một người trong cộng đồng và xã hội.

1 Đặng Thế Kiệt, Hán Việt từ điển trích dẫn, http://hanviet.org.free.fr/td/index.php, 20/4/2021

Chủ thể được xác định dựa trên những giá trị đạo đức mà họ đã tạo dựng trong xã hội, phù hợp với các tiêu chuẩn và nguyên tắc xã hội đề ra Theo Hoàng Phê (2003), trong Từ điển Tiếng Việt của NXB Đà Nẵng, những giá trị đạo đức này đóng vai trò quan trọng trong việc định hình và đánh giá cá nhân trong cộng đồng.

Uy tín thể hiện qua quyền thế, tôn nghiêm và oai phong khiến người khác kính phục hoặc sợ hãi Tín nghĩa là sự tin tưởng, không nghi ngờ, kính ngưỡng và sùng bái đối với một chủ thể Uy tín của một chủ thể là sự tin tưởng và mến phục từ cộng đồng, tạo nên ảnh hưởng nhất định lên các đối tượng xã hội khác.

Nhân phẩm là các giá trị, đức tính bên trong của mỗi người, phản ánh tư cách đạo đức và nhân cách "Nhân" tượng trưng cho con người, còn "phẩm" thể hiện tư cách, đức tính Qua các hoạt động xã hội, con người thể hiện và bộc lộ những đức tính này, từ đó xã hội dựa trên các tiêu chuẩn đạo đức để đánh giá nhân phẩm của một cá nhân.

Danh dự, nhân phẩm và uy tín đều thuộc phạm trù đạo đức - xã hội, thể hiện giá trị bên trong của cá nhân nhưng lại được phản ánh và đánh giá bởi các chủ thể khác Chuẩn mực đánh giá những yếu tố này thay đổi theo từng thời kỳ, phản ánh tư tưởng và giá trị của xã hội, tập thể đó Ban đầu, nhân phẩm của mọi người trong xã hội đều ngang nhau, tuy nhiên, danh dự và uy tín của mỗi người lại khác nhau dựa trên những giá trị mà họ thể hiện.

Các yếu tố như nhân phẩm, uy tín và danh dự có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ và tác động lẫn nhau trong xã hội Ví dụ, một người có nhân phẩm được xã hội đánh giá cao sẽ dễ dàng xây dựng uy tín và danh dự; ngược lại, khi một yếu tố này suy giảm, các yếu tố còn lại cũng sẽ bị ảnh hưởng Một người bị đánh giá là lừa đảo sẽ mất đi niềm tin và danh dự, đồng thời làm suy giảm uy tín của họ trong cộng đồng Danh dự có nội hàm rộng, đôi khi còn bao gồm cả nhân phẩm và uy tín, phản ánh hình ảnh tích cực của cá nhân trong xã hội.

Danh dự, nhân phẩm, uy tín là những yếu tố vô cùng quý giá gắn liền với cuộc sống của mỗi chủ thể, và việc bảo vệ sự toàn vẹn, tốt đẹp của chúng luôn được nhìn nhận như một quyền tất yếu của con người Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín là quyền con người cơ bản, thiêng liêng, đã được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế bắt nguồn từ Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, nêu rõ rằng “Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán hay bị xúc phạm đến danh dự hay thanh danh” và mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những xâm phạm đó Trong bối cảnh hiện nay, quyền bảo vệ danh dự và nhân phẩm còn là tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ văn minh, tiến bộ của một quốc gia Tại Việt Nam, quyền này được pháp luật Hiến định và BLDS 2015 xác định rõ ràng trong Điều 34, khẳng định rằng “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ,” qua đó thể hiện quyền nhân thân của cá nhân được ghi nhận và điều chỉnh trong pháp luật dân sự.

Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín là quyền nhân thân không thể chuyển giao, gắn liền với mỗi chủ thể suốt đời và cần được pháp luật bảo vệ tuyệt đối để tránh bị xâm phạm Việc có một danh dự, nhân phẩm tốt đẹp và uy tín cá nhân là quyền tự nhiên của mỗi người do tạo hóa ban tặng Dù chủ thể có đặc điểm khác nhau, pháp luật đều bảo vệ bình đẳng danh dự và nhân phẩm của tất cả mọi người, nhằm đảm bảo quyền tự do, danh dự cá nhân được tôn trọng và giữ gìn.

Điều 25 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rằng quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, tuy nhiên các tổ chức vẫn tồn tại như một thực thể xã hội và có các giá trị nhân thân thực tế liên quan đến hoạt động của mình như tên gọi, danh dự, uy tín Khoản 1 Điều 86 Bộ luật Dân sự 2015 xác nhận rằng năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không bị hạn chế, trừ những trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật.

Các văn bản pháp luật hiện hành không có quy định loại trừ pháp nhân khỏi việc hưởng các quyền nhân thân, bao gồm quyền về danh dự và uy tín Quyền nhân thân của pháp nhân được quy định không chỉ trong Bộ luật Dân sự mà còn được ghi nhận trong các luật liên quan, như Luật Báo chí 2016, Điều 9, quy định nghiêm cấm đưa thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống và xúc phạm danh dự của tổ chức, thể hiện rõ phạm vi bảo vệ quyền nhân thân của pháp nhân trong pháp luật Việt Nam.

Điều 20 của Hiến pháp năm 2013 bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về thân thể của mỗi người, khẳng định rằng mọi người có quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm Đồng thời, điều này nghiêm cấm mọi hành vi tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào xâm phạm thân thể, gây tổn hại sức khỏe hoặc xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân.

Khoản 1 Điều 25 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rằng quyền nhân thân là quyền dân sự không thể chuyển giao, gắn liền với từng cá nhân, trừ khi có quy định khác của luật Các quy định này thể hiện hướng đi của pháp luật Việt Nam trong việc thừa nhận quyền nhân thân đối với pháp nhân và các chủ thể khác, phù hợp với phạm vi uy tín của cơ quan, tổ chức.

Quy định pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1.2.1 Căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

Pháp luật dân sự không quy định riêng các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần do danh dự, nhân phẩm và uy tín bị xâm phạm, mà chỉ quy định chung các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Các căn cứ này bao gồm hành vi trái pháp luật, thiệt hại thực tế xảy ra, và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại Trong trường hợp này, trách nhiệm bồi thường về tinh thần cũng phải tuân thủ các điều kiện chung như vậy để đảm bảo tính hợp pháp và công bằng.

1.2.2.1 Có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác

Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, quyền dân sự phát sinh từ hành vi trái pháp luật gây thiệt hại, cụ thể là quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại (BTTH) Bên có quyền yêu cầu BTTH phải chứng minh rằng họ bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của bên kia gây ra Đối ứng với quyền này là nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của bên có nghĩa vụ, phát sinh từ việc họ gây thiệt hại cho người khác, phù hợp với các quy định về bồi thường thiệt hại trong luật dân sự.

Luật Dân sự 2015 quy định về "gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật" theo phương pháp liệt kê các quyền được pháp luật bảo vệ nhằm xác định phạm vi của hành vi trái pháp luật Tuy nhiên, tài liệu này chưa đề cập rõ ràng về nội hàm của khái niệm "hành vi trái pháp luật", khiến việc hiểu và áp dụng còn gặp nhiều hạn chế Việc xác định chính xác hành vi trái pháp luật cần dựa trên các quy định của luật pháp để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.

Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP định nghĩa hành vi trái pháp luật là những xử sự của con người thể hiện qua hành động hoặc không hành động trái với quy định của pháp luật Để xác định một hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác gây trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần, cần có các yếu tố nhất định.

Thứ nhất, đây là “những xử sự cụ thể của con người”

Chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải là con người, vì con người gây thiệt hại thông qua hành vi của chính mình Mặc dù có thể có trường hợp tổ chức là bên “có hành vi trái pháp luật” và phải chịu trách nhiệm bồi thường, nhưng hành vi của pháp nhân đều do con người trong tổ chức thực hiện, do đó vẫn đáp ứng điều kiện về hành vi xâm phạm.

19 Kết hợp quy định tại Điều 584 BLDS 2015 và tham khảo quy định tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP

20 Xem khoản 7 Điều 8 BLDS 2015 về Căn cứ xác lập quyền dân sự

21 Xem khoản 5 Điều 275 BLDS 2015 về Căn cứ phát sinh nghĩa vụ

Hành vi phải được thể hiện rõ ràng dưới dạng hành động hoặc không hành động, đồng thời có khả năng làm thay đổi trạng thái bình thường của đối tượng tác động Pháp luật chỉ điều chỉnh các hành vi đã được thể hiện ra bên ngoài qua các “biểu hiện” cụ thể trong thế giới khách quan, chứ không điều chỉnh các “hành vi” còn nằm trong ý nghĩ của chủ thể.

Hành vi xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác thường thể hiện qua các hành động rõ ràng như chửi mắng, bôi nhọ, phỉ báng, làm nhục, hiếp dâm, bạo lực học đường hoặc các hành vi trái pháp luật như cạnh tranh không lành mạnh, xâm phạm quyền hình ảnh, bí mật đời tư, xâm phạm sức khỏe và vi phạm đạo đức nghề nghiệp Những hành vi này đều dẫn đến thiệt hại về danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân bị xâm phạm Ngoài ra, còn có dạng không hành động, trong đó chủ thể không thực hiện những việc pháp luật bắt buộc nhưng không làm, mặc dù có điều kiện khả năng, gây thiệt hại đến danh dự và nhân phẩm của người khác, tuy nhiên rất khó chứng minh hành vi này trong thực tế.

Hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác được xem là trái pháp luật Ở Việt Nam, trước đây, "trái pháp luật" được hiểu rộng hơn, bao gồm cả những hành vi làm trái các quy định pháp luật, quy tắc xã hội, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, dù không phải là quy định pháp luật chính thức Theo Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP, nhận diện hành vi trái pháp luật đã được điều chỉnh phù hợp hơn trong Bộ luật Dân sự.

Từ năm 2005 trở về trước, khái niệm về tính trái pháp luật được hiểu một cách hẹp hơn, chỉ đơn thuần là “trái với các quy định của pháp luật” Điều này có nghĩa là, nếu một hành vi gây thiệt hại nhưng không có quy định pháp luật nào điều chỉnh thì sẽ không phát sinh trách nhiệm bồi thường.

Theo khoản 1 Điều 584 của Bộ luật Dân sự 2015, hành vi xâm phạm quyền lợi được pháp luật bảo hộ được xem là trái pháp luật, bất kể phương thức thực hiện Nhiều ý kiến cho rằng, không cần thiết phải giới hạn về cách thức của hành động để xác định hành vi đó là vi phạm pháp luật Việc xâm phạm quyền lợi được bảo vệ bởi pháp luật chính là căn cứ đủ để coi đó là hành vi trái pháp luật.

22 Đỗ Văn Đại (2016), tlđd (14), tr.53

23 Thông tư số 173/UBTP-TANDTC ngày 23 tháng 3 năm 1972 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn xét xử về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

24 Hoàng Thế Liên (chủ biên) (2013), Bình luận khoa học BLDS năm 2005 - Tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, tr

712, có đoạn: “Chỉ những quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ thì các hành vi xâm phạm đến quyền

Nghị quyết hướng dẫn BLDS 2015 trình Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao năm 2020 quy định rằng việc xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác là một trong ba căn cứ gây trách nhiệm bồi thường thiệt hại Điều này thể hiện quan điểm rằng việc xâm phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của người khác được coi là hành vi trái pháp luật Hướng hiểu này khá gần với pháp luật của Đức và Thụy Sĩ, nơi "trái pháp luật" được hiểu là vi phạm quy tắc nhằm bảo vệ lợi ích của người khác.

Dưới góc độ pháp lý, danh dự, nhân phẩm, uy tín là những giá trị được pháp luật bảo vệ tuyệt đối Một hành vi xâm phạm đến các yếu tố này được xem là vi phạm pháp luật trừ khi xuất phát từ việc tuân thủ pháp luật hoặc thực hiện nghĩa vụ nghề nghiệp hợp pháp, như đã quy định tại khoản 1 Điều 584 Ví dụ, trường hợp ông A cung cấp thông tin đúng sự thật về bà B trên báo chí, dù gây thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, nhưng nếu hành vi này phù hợp với quyền tự do báo chí theo quy định của Luật Báo chí, thì không coi là vi phạm pháp luật Bác bỏ quan điểm sai lạc, các hành vi chỉ được coi là trái pháp luật khi ảnh hưởng tới các lợi ích vật chất hoặc tinh thần của chủ thể khác mà pháp luật bảo vệ, như nhấn mạnh trong tài liệu của Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng.

Dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Được xây dựng bởi Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học năm 2020, dự thảo nhằm làm rõ các trường hợp và nguyên tắc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Nghị quyết này giúp hướng dẫn các cơ quan, tổ chức, cá nhân áp dụng đúng quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan Việc ban hành nghị quyết góp phần nâng cao hiệu quả thi hành các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015.

26 Trích theo: Đỗ Văn Đại (2016), tlđd (14), tr.58

27 Bản án số 17/2016/DSPT ngày 09/3/2016 của TAND tỉnh Phú Yên (Trích theo: Đỗ Văn Đại (2016), tlđd (14), tr 52

Ở Việt Nam, trách nhiệm bồi thường về danh dự, nhân phẩm, uy tín chỉ phát sinh khi có hành vi xâm phạm đến những giá trị này của người khác Điều kiện tiên quyết để phát sinh trách nhiệm này là cần có hành vi xâm phạm trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm hoặc uy tín của cá nhân Nếu không có hành vi xâm phạm rõ ràng, trách nhiệm bồi thường sẽ không được xác lập, đảm bảo tính chính xác và công bằng trong xử lý các vụ việc liên quan đến quyền nhân thân.

Ở Nhật Bản và Thái Lan, hành vi “vi phạm” để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được định nghĩa là hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác Tính trái pháp luật của hành vi bao gồm việc có thiệt hại xảy ra, từ đó làm phát sinh trách nhiệm của người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.

1.2.2.2 Có thiệt hại về tinh thần

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VỀ TINH THẦN KHI DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN BỊ XÂM PHẠM

Ngày đăng: 08/03/2023, 11:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w