1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thiệt hại và cách xác định bồi thường thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng(9.5 điểm)

15 22 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 39,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến ThS Nguyễn Đình Phong Trong quá trình học tập và tìm hiểu bộ môn Luật dân sự module 2, em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ, hướng dẫn.

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến ThS Nguyễn Đình Phong

Trong quá trình học tập và tìm hiểu bộ môn Luật dân sự module 2, em đã nhận được sự

quan tâm giúp đỡ, hướng dẫn rất tận tình, tâm huyết của thầy thầy đã giúp em tích lũy thêm

nhiều kiến thức để có cái nhìn sâu sắc và hoàn thiện hơn trong cuộc sống Từ những kiến

thức mà thầy truyền tải, em đã dần trả lời được những câu hỏi trong cuộc sống thông qua

những lí luận về Luật dân sự module 2 Thông qua bài tập này, em xin trình bày lại những gì

mà mình đã tìm hiểu về vấn đề Thiệt hại và cách xác định bồi thường thiệt hại trong trách

nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Luật dân sự module 2 gửi đến thầy

Có lẽ kiến thức là vô hạn mà sự tiếp nhận kiến thức của bản thân mỗi người luôn tồn

tại những hạn chế nhất định Do đó, trong quá trình hoàn thành bài tập, chắc chắn không

tránh khỏi những thiếu sót Bản thân em rất mong nhận được những góp ý đến từ thầy để

bài tập của em được hoàn thiện hơn

Kính chúc thầy sức khỏe, hạnh phúc thành công trên con đường sự nghiệp giảng dạy

Hà Nội, Ngày…tháng…năm 2020

Sinh viên

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ST

Trang 3

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 6

1 Tính cấp thiết đề tài 6

B NỘI DUNG 6

1 Thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 6

2 Cách xác định thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 7

2.1 Thiệt hại về tài sản: 8

2.2 Thiệt hại về sức khỏe: 9

2.3 Thiệt hại do tính mạng bị xâm hại: 11

2.4 Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm: 13

2.5 Thời gian hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm 14

C KẾT LUẬN 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 4

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết đề tài

Bồi thường thiệt hại (BTTH) là một trong những chế định có sớm nhất và quan trọng nhất của luật dân sự Trong đời sống có rất nhiều sự việc thực tế tranh chấp dẫn đến việc các cá nhân, tổ chức…phải phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Bộ luật Dân sự (BLDS) đã giành hẳn một chương riêng để quy định về vấn đề này Trong đó, tranh chấp yêu cầu BTTH đã có một số Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao (TANDTC) hướng dẫn áp dụng pháp luật nên việc giải quyết tranh chấp của các cấp Tòa án khá toàn diện, triệt để, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên đướng sự Tuy nhiên, cách hiểu và áp dụng luật trong việc xác định thiệt hại và mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất còn nhiều vướng mắc trên thực tế Sau gần 10 năm đi vào đời sống thực tiễn, BLDS đã bộc lộ nhiều điểm bất cập và có nhiều quy định không còn phù hợp với thực tế xã hội không ngừng phát triển Xuất phát từ tình hình trên đây, em đã chọn

đề tài: “Thiệt hại và cách xác định bồi thường thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.” Và trình bày một số tìm hiểu của mình cho bài tập học kì

B NỘI DUNG

1 Thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Mỗi người sống đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội Khi một người vi phạm nghĩa vụ của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi do hành

vi của mình gây ra Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội, lợi ích của Nhà nước luôn được bảo vệ, BLDS đã quy định trách nhiệm BTTH với tư cách

là một chế định dân sự độc lập Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, trách nhiệm BTTH

Trang 5

thường được phân thành trách nhiệm BTTH theo hợp đồng và trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng

Khác với trách nhiệm BTTH theo hợp đồng có căn cứ phát sinh trên cơ sở một hợp đồng có trước thì trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng được hiểu là một loại trách nhiệm dân sự mà khi người nào đó có hành vi vi phạm nghĩa vụ ngoài hợp đồng do pháp luật quy định, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải BTTH do mình gây ra Hiện nay, pháp luật Việt Nam đã quy định về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng

và cách xác định BTTH ngoài hợp đồng Căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là có thiệt hại xảy ra; có hành vi trái pháp luật hoặc hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật; có mối liên hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại; lỗi của người gây thiệt hại

Chúng ta hiểu thiệt hại trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là gì? Thiệt hại

trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng xảy ra là tiền đề của trách nhiệm BTTH Về

pháp lý thì “Bồi thường thiệt hại” là “hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất tinh thần cho bên bị thiệt hại” do đó, không có thiệt hại thì không đặt ra

vấn đề bồi thường cho dù có đầy đủ các điểu kiện khác “Thiệt hại” được hiểu là “bị mất mát về người, của cải vật chất hoặc tinh thần” hay là những tổn thất thực tế được tính

thành tiền, do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức

Trong trách nhiệm hình sự đối với một số tội có cấu thành hình thức thì không đòi hỏi có hậu quả vật chất Ngay đối với một số tội có cấu thành vật chất thì trong một số trường hợp cá biệt, hậu quả chưa xảy ra nhưng do tính chất của hành vi nguy hiểm có khả năng gây ra hậu quả lớn cũng đã cấu thành tội phạm hoặc ngược lại, đối với một số tội như tội thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc vi phạm các quy định về an toàn giao thông thì phải có thiệt hại nghiêm trọng mới cấu thành tội phạm Nhưng trong trách nhiệm dân sự chỉ cần có thiệt hại là làm phát sinh trách nhiệm bồi thường Vì thiệt hại là điều kiện bắt buộc phải có trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng

Trang 6

2 Cách xác định thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Thiệt hại là một điều kiện có tính bắt buộc và là tiền đề làm phát sinh trách nhiệm BTTH, do đó chỉ cần có thiệt hại là phải bồi thường và nếu không có thiệt hại thì sẽ không đặt ra vấn đề bồi thường Việc xác định thiệt hại hiện nay vẫn là vấn đề rất khó khăn và phức tạp Mục 2 chương XX Phần thứ ba BLDS quy định về các loại thiệt hại được bồi thường và cách xác định thiệt hại một cách khái quát Những thiệt hại phải bồi thường là thiệt hại về tài sản (Điều 589 BLDS), thiệt hại về sức khỏe (Điều 590 BLDS), thiệt hại về tính mạng (Điều 591 BLDS), thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 592 BLDS)

Đặc biệt, nếu do sự kiện bất khả kháng hoặc thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại thì không phải BTTH Như vậy, một người chỉ phải bồi thường khi có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác và có thiệt hại thực tế xảy ra.

2.1 Thiệt hại về tài sản:

Điều 589 BLDS 2015 quy định về thiệt hại do tài sản bị xâm hại được bồi thường

bao gồm tài sản “ bị mất, bị hủy hoại hoặc hư hỏng”, “lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút”, “chi phí hợp lí để ngắn chặn, hạn chế và khắc phụ thiệt hại” Đây là những thiệt hại vật chất của người bị thiệt hại.Như vậy, thiệt hại về tài

sản bao gồm thiệt hại trực tiếp nhằm phục hồi tình trạng tài sản ban đầu của người bị thiệt hại và thiệt hại gián tiếp liên quan đến việc khai thác, sử dụng trong thời gian từ khi xẩy ra thiệt hại đến khi bồi thường Thiệt hại về tài sản có thể tính toán được thành một số tiền nhất định bao gồm các khoản sau:

* Thiệt hại trực tiếp:

Thiệt hại do tài sản bị mất (có tính đền tình trạng tài sản, thời giá trị thị trường tại thời điểm tài sản bị mất); Tài sản bị hủy hoại là những tài sản không thể phục hồi chức năng ban đầu; tài sản bị hư hỏng là những cho phí hợp lí, cần thiết để phục hồi tài sản, bảo đảm tính năng sử dụng ban đầu như trước khi bị thiệt hại; Những chi phí phải bỏ ra bao gồm chi phí để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại hoặc khắc phục thiệt hại

Có thể giải quyết việc BTTH trực tiếp bằng các cách: bồi thường bằng hiện vật và bồi thường bằng tiền hoặc thực hiện một công việc Bồi thường bằng hiện vật là sửa chữa

Trang 7

những chỗ hư hỏng để khôi phục lại tình trạng cũ của tài sản hoặc nếu đối bên đương sự thoả thuận và Toà án thấy hợp lý, hợp tình, thì đền bù bằng một tài sản cùng loại hoặc khác loại, có giá trị tương đương; nếu tài sản đền bù có giá trị chênh lệch thì thanh toán phần giá trị chênh lệch đó Trường hợp không thể bồi thường bằng hiện vật được thì bồi thường bằng tiền Khi trị giá tài sản phải ăn cứ vào giá trị thị trường của loại tài sản đó có tính khấu hao tài sản do đã sử dụng tài sản Nếu hao mòn không đáng kể, thì không tính

* Thiệt hại gián tiếp:

Lợi ích gắn liền với việc khai thác tài sản (không thể khai thác tài sản trong suốt thời gian sửa chữa, khắc phục thiệt hại) Những hoa lợi, lợi tức chắc chắn thu được nếu không

có thiệt hại xẩy ra và những chi phí cần thiết để hạn chế thiệt hại

2.2 Thiệt hại về sức khỏe:

Sức khỏe con người là vốn quý, khó có thể xác định chính xác bằng một khoản tiền

Vì vậy, BTTH về sức khỏe thực chất có ý nghĩa là đền bù một phần thiệt hại về vật chất, tạo điều kiện cho nạn nhân hay gia đình họ khắc phục khó khăn do tai nạn gây nên và trong một số trường hợp chỉ có ý nghĩa là một trợ cấp cho nạn nhân, gia đình nạn nhân Ngoài các quy định trong Điều 590 BLDS thì thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm còn được hướng dẫn bởi Mục 1 Phần II Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: Tiền thuê phương tiện đi cấp cứu, tiền thuốc, tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chụp theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, phẫu thuật thẩm mỹ, mua xe lăn… để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khỏe bị xâm phạm

họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút

Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bao gồm: phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian

Trang 8

điều trị; tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí (nếu có) cho một trong những người chăm sóc cho người bị thiệt hại trong thời gian điều trị do cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế

* Xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại:

Bước một: Xác định thu nhập thực tế của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị

có hay không Nếu có thì tổng hợp số thu nhập là bao nhiêu.

Nếu người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ

hợp đồng lao động, thì thu nhập thực tế bị mất = tiền lương, tiền công/tháng x thời gian điều

trị

Nếu người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập thực tế nhưng mức thu

nhập của các tháng khác nhau, thì thu nhập thực tế bị mất = thu nhập trung bình 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) x thời gian điều trị.

Nếu người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng không ổn định, không xác định được, thì

thu nhập thực tế bị mất = thu nhập trung bình của lao động cùng loại/tháng x thời gian điều trị.

Bước hai: Lấy tổng số thu nhập thực tế mà người bị thiệt hại có được trong thời

gian điều trị so sánh với thu nhập thực tế tương ứng Nếu không có khoản thu nhập thực

tế nào của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị mất; nếu thấp hơn thì khoản chênh lệch đó là thu nhập thực tế của người bị thiệt hại

bị giảm sút; nếu bằng thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không bị mất.

Ví dụ 1: K làm nghề thợ đục tự do Thu nhập thực tế của A trước khi sức khỏe bị

xâm phạm là ổn định, trung bình mỗi tháng là 7 triệu đồng Do sức khỏe bị xâm phạm, K phải điều trị một thời gian nên không có khoản thu nhập nào Trong trường hợp này thu nhập thực tế của K bị mất

Ví dụ 2: B làm công cho một công ty D Thu nhập thực tế của B trước khi sức khỏe

bị xâm phạm là ổn định, trung bình mỗi tháng là 8 triệu đồng Do sức khỏe bị xâm phạm,

B phải điều trị và trong thời gian điều trị công ty trả cho B 50% tiền lương là 4 triệu đồng Trong trường hợp này thu nhập thực tế của B mỗi tháng bị giảm sút 4 triệu đồng

Ví dụ 3: C là công chức có thu nhập hàng tháng ổn định 5 tri đồng Do sức khỏe bị

xâm phạm, C phải điều trị và trong thời gian điều trị cơ quan vẫn trả đủ các khoản thu nhập cho C Trong trường hợp này thu nhập thực tế của C không bị mất

Trang 9

* Xác định thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại:

Nếu người chăm sóc có thu nhập thực tế ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền

công từ hợp đồng lao động thì thì thu nhập thực tế bị mất = tiền lương, tiền công/tháng x

thời gian chăm sóc

Nếu người chăm sóc có làm việc và hàng tháng có thu nhập ổn định, nhưng có mức

thu nhập khác nhau thì thì thu nhập thực tế bị mất = thu nhập trung bình 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) x thời gian chăm sóc.

Nếu người chăm sóc vẫn được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội thì họ không bị mất thu nhập thực tế do đó không được bồi thường; Nếu người chăm sóc không có thu nhập ổn định thì được hưởng tiền công chăm sóc bằng tiền công trung bình của người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người

bị thiệt hại không còn khả năng lao động bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại, bao gồm: chi phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại và chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú Về nguyên tắc, chỉ tính BTTH cho một người chăm sóc

* Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm:

Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm được bồi thường cho chính người bị thiệt hại Trong mọi trường hợp, khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần cần căn cứ vào sự ảnh hưởng đến nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao tiếp xã hội…Mức bồi thường khoản tiền bù đắp trước hết do các bên thỏa thuận Nếu không thỏa thuận được, thì mức bồi thường phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 50 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường

Xét Bản án dân sự phúc thẩm số 46/2019/DS-PT ngày 07/11/2019 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về vụ án “Yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại” giữa nguyên

Trang 10

đơn chị Phan Thị Thu V và bị đơn anh Trần Văn T, người kháng cáo bị đơn anh Trần Văn

T, nội dung vụ án: Chị V và anh T là vợ chồng nhưng trong thời gian chung sống có xảy

ra mâu thuẫn Ngày 07/5/2019, chị V về lấy đồ cho con thì bị anh T đánh gãy sống mũi và được điều trị tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ngãi Chị V yêu cầu anh T bồi thường cho

chị các khoản như sau: Chi phí điều trị tại bệnh viện; tiền thu nhập bị mất trong thời gian điều trị; tiền công người chăm sóc trong thời gian điều trị; tiền tổn thất tinh thần; tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe; tiền xe đi lại; tiền thẩm mỹ Trong quá trình giải quyết, chị V rút

yêu cầu tiền thẩm mỹ Anh T đã đưa trước cho chị 10.000.000 đồng Chị yêu cầu anh T phải bồi thường các chi phí còn lại Đối với bị đơn trần văn T: Thừa nhận vì mâu thuẫn mà

đã dùng tay đánh chị Phan Thị Thu V Chấp nhận bồi thường các khoản chị V yêu cầu Nhưng đối với khoản tiền tổn thất tinh thần: 20.000.000 đồng, anh không đồng ý

Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2019/DS-ST ngày 23/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện huyện Đức Phổ tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị V Ngày 06/9/2019, bị đơn anh Trần Văn T kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét đối với khoản tiền tổn thất tinh thần là 20.000.000 đồng, với lí do mức bồi thường này quá cao; vợ bỏ đi nên anh không đi làm biển được, phải nuôi hai con nhỏ, trong đó một con đang bị bệnh hiểm nghèo phải đi chữa bệnh thường xuyên và đang nuôi mẹ già 85 tuổi Đồng thời, chị V cũng có thái độ xử sự không chuẩn mực khi nói chuyện với anh

Xét thấy theo quy định của BLDS 2015 thì các lý do anh T trình bày không phải là căn cứ để xem xét giảm mức bồi thường Do đó, hành vi dùng tay đánh gãy sống mũi chị Vcủa anh T không chỉ gây nên tổn thất tinh thần cho chị V mà còn ảnh hưởng lớn đến thẩm mỹ đối với gương mặt của người phụ nữ Vì vậy, chị V yêu cầu bồi thưởng tiền tổn thất tinh thần 20.000.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật, tại khoản 2 Điều

590 BLDS 2015 quy định: “Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định” Hiện nay mức lương cơ sở là 1.490.000 đồng/tháng (Nghị định

38/2019/NĐ-CP Quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang) Như vậy, Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật

Ngày đăng: 24/08/2022, 21:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w