1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khoá luận Bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

211 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Tác giả Nguyễn Lê Thảo Vi
Người hướng dẫn ThS. Hoàng Vũ Cường
Trường học Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân sự
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 211
Dung lượng 4,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VỀ (14)
    • 1.1. Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (15)
      • 1.1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (15)
        • 1.1.1.1. Khái niệm về danh dự, nhân phẩm, uy tín và quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (15)
        • 1.1.1.2. Khái niệm về thiệt hại tinh thần trong pháp luật dân sự (18)
        • 1.1.1.3. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (22)
      • 1.1.2. Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (23)
    • 1.2. Quy định pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (27)
      • 1.2.1. Căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần khi (27)
        • 1.2.2.1. Có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác (27)
        • 1.2.2.2. Có thiệt hại về tinh thần (30)
        • 1.2.2.3. Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín và thiệt hại về tinh thần (32)
      • 1.2.2. Về yếu tố “lỗi” trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần do (36)
        • 1.2.3.1. Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (38)
        • 1.2.3.2. Chủ thể được bồi thường thiệt hại (40)
      • 1.2.4. Mức bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (44)
    • 1.3. Lịch sử phát triển các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, uy tín, nhân phẩm bị xâm phạm ở Việt Nam (49)
      • 1.3.1. Trước năm 1945 (49)
      • 1.3.2. Từ năm 1945 đến trước khi có Bộ luật Dân sự 1995 (50)
      • 1.3.3. Từ khi có Bộ luật Dân sự 1995 đến nay (51)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VỀ TINH THẦN KHI DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN BỊ XÂM PHẠM (14)
    • 2.1. Mức bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, uy tín của pháp nhân bị xâm phạm (54)
    • 2.2. Quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần của người thân thích của người bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín (56)
    • 2.3. Bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm trên mạng xã hội (58)
    • 2.4. Bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm trong trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (62)
    • 2.5. Bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm trong trường hợp có hành vi khởi kiện vô căn cứ (64)
    • 2.7. Kết hợp bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm và khi sức khỏe bị xâm phạm (69)
  • KẾT LUẬN (53)
  • PHỤ LỤC (2)

Nội dung

Với những nhận thức trên cùng mong muốn được góp một viên gạch vào công cuộc bảo vệ những lợi ích tinh thần của chủ thể trong việc giải quyết những trường hợp xâm phạm danh dự, nhân phẩm

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VỀ

Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1.1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

Việc nhận thức về khái niệm về danh dự, nhân phẩm, uy tín cũng như tầm quan trọng của quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của chủ thể là bước đầu tiên để có hướng đi đúng trong việc tích cực bảo vệ sự toàn vẹn quyền này cho các chủ thể trong xã hội Bên cạnh đó, hiểu rõ khái niệm trách nhiệm BTTH về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm và các yếu tố cấu thành của nó giúp chúng ta có cái nhìn khái quát về trách nhiệm này, từ đó vận dụng nó một cách hiệu quả để bảo vệ các quyền về danh dự, nhân phẩm, uy tín cho các chủ thể trên thực tế

1.1.1.1 Khái niệm về danh dự, nhân phẩm, uy tín và quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín

Danh dự, nhân phẩm, uy tín là những yếu tố gắn bó mật thiết với mỗi cá nhân, đó là giá trị được tạo nên từ nỗ lực cả đời người, là yếu tố mà mỗi cá nhân dùng để khẳng định vị trí của mình trong xã hội Bởi ý nghĩa to lớn đó mà quyền được có danh dự, nhân phẩm, uy tín và được bảo vệ những giá trị này không chỉ tồn tại trong quan niệm, đạo đức xã hội mà còn được pháp luật nước ta công nhận và bảo đảm

Cần hiểu rõ khái niệm “danh dự”, “nhân phẩm” và “uy tín” là gì để có cái nhìn tổng quát về những giá trị của nó, từ đó hiểu được sự cần thiết của việc ghi nhận, bảo vệ quyền này Pháp luật không định nghĩa những yếu tố này, do đó chúng ta sẽ hiểu những từ này bằng cách chiết tự chúng theo Từ điển Hán Việt 1 và tham khảo định nghĩa trong

Từ điển Tiếng Việt 2 , theo đó:

Về khái niệm danh dự: “danh” nghĩa là tên gọi, cũng có thể hiểu là tiếng tăm của một chủ thể xác định; “dự” nghĩa là khen, xưng tán, tiếng tốt Vậy có thể hiểu “danh dự” của một người là sự khen ngợi, coi trọng, sự công nhân tốt đẹp của xã hội, tập thể dành

1 Đặng Thế Kiệt, Hán Việt từ điển trích dẫn, http://hanviet.org.free.fr/td/index.php, 20/4/2021

2 Hoàng Phê (Chủ biên) (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng cho chủ thể đó dựa trên những giá trị về đạo đức mà người này tạo ra trước xã hội, phù hợp với tiêu chuẩn, nguyên tắc của xã hội

Về khái niệm uy tín: “uy” là quyền thế, là tôn nghiêm, oai phong khiến người khác kính phục hay sợ hãi; “tín” là sự tin tưởng, không nghi ngờ, kính ngưỡng, sùng bái “Uy tín” của một chủ thể là sự tin tưởng và mến phục của mọi người dành cho chủ thể đó, khiến chủ thể này có một sự ảnh hưởng nhất định lên những chủ thể khác trong xã hội

Về khái niệm nhân phẩm: “nhân” là con người; “phẩm” là tư cách, đức tính Nhân phẩm là những giá trị, đức tính bên trong của một người, và thông qua các hoạt động xã hội, con người bộc lộ những đức tính ấy ra Với những tiêu chuẩn, quan niệm đạo đức của mình, xã hội sẽ đánh giá tư cách làm người - tức “nhân phẩm” của cá nhân đó

Danh dự, nhân phẩm, uy tín đều thuộc phạm trù đạo đức - xã hội, là những yếu tố thể hiện giá trị bên trong của chủ thể nhưng được phản ánh, đánh giá bởi những chủ thể khác Vào mỗi thời kỳ, chuẩn mực đánh giá danh dự, uy tín, nhân phẩm sẽ khác biệt và phản ánh tư tưởng của xã hội, tập thể đó Nhân phẩm của mọi người trong xã hội tại xuất phát điểm là ngang nhau, còn danh dự và uy tín của mỗi người khác nhau là khác nhau tùy thuộc vào những giá trị mà họ thể hiện

Trên thực tế, ranh giới của những yếu tố này rất mong manh vì giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau, ràng buộc rất chặt chẽ, đôi khi là tiền đề cho sự tồn tại của nhau: Ví dụ một người có nhân phẩm được xã hội đánh giá là tốt thì sẽ tạo được uy tín; một người có uy tín thì sẽ có danh dự - tiếng tốt trong xã hội Khi một yếu tố bị suy giảm thì ít nhiều gì cũng sẽ ảnh hưởng tới những yếu tố còn lại, ví dụ: Một người bị đánh giá là lừa đảo, tức là bị ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm thì sau đó sẽ mất đi uy tín Danh dự có nội hàm rộng và ở một số trường hợp, còn bao hàm cả nhân phẩm và uy tín

Với những phân tích trên, ta thấy được danh dự, nhân phẩm, uy tín là những yếu tố vô cùng quý giá gắn liền với cuộc sống của mỗi chủ thể, do đó, việc được bảo vệ sự vẹn toàn, tốt đẹp cho danh dự, nhân phẩm, uy tín đã được nhân loại nhận thức là một quyền tất yếu cho con người Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín là quyền con người cơ bản thiêng liêng được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế Quyền này được xuất hiện lần đầu trong văn bản là tại Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, theo đó: “Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán hay bị xúc phạm đến danh dự hay thanh danh Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy” Sau đó, điều này được lặp lại và nhấn mạnh trong các văn bản quốc tế khác và được các quốc gia cụ thể hóa trong pháp luật nước mình Trong thời đại ngày nay, vấn đề bảo vệ quyền con người nói chung và quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín nói riêng còn là tiêu chí quan trọng để đánh giá về sự văn minh, tiến bộ của một quốc gia Ở Việt Nam, trước hết đây là quyền Hiến định của nước ta 3 và được BLDS 2015 cụ thể tại Điều 34 trong Mục Quyền nhân thân Ngay tại khoản đầu tiên, BLDS đã khẳng định: “1 Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.” Vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, cá nhân là một quyền nhân thân được pháp luật dân sự nói chung và BLDS 2015 nói riêng ghi nhận điều chỉnh

Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín - với đặc điểm của một quyền nhân thân - gắn liền với mỗi chủ thể và về nguyên tắc là không thể chuyển giao 4 Quyền được có một danh dự, nhân phẩm tốt đẹp và tạo dựng uy tín với người khác là quyền tự nhiên mà tạo hoá ban cho mỗi chủ thể, gắn bó với họ trong suốt cuộc đời và do đó, cần được pháp luật bảo vệ một cách tuyệt đối mà không ai được phép xâm phạm Danh dự, nhân phẩm, uy tín của mọi chủ thể dù giống hay khác nhau thì trước pháp luật, đều được bảo vệ một cách bình đẳng

Cần lưu ý Điều 25 BLDS 2015 quy định rằng quyền nhân thân “là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân”, vậy thì các tổ chức có quyền nhân thân của mình không? Có thể thấy, các tổ chức vẫn tồn tại như một thực thể xã hội, có giá trị nhân thân thực tế gắn liền với hoạt động của chúng như tên gọi, danh dự, uy tín Khoản 1 Điều 86 BLDS 2015 quy định: “Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp

Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”, và các văn bản luật hiện nay không hề có quy định nào loại trừ việc pháp nhân được hưởng các quyền nhân thân Việc pháp nhân, tổ chức có quyền nhân thân nói chung và quyền về danh dự, uy tín nói riêng không chỉ thể hiện trong BLDS còn được ghi nhận trong các luật khác, ví dụ: Luật Báo chí 2016 tại Điều 9 có quy định nghiêm cấm việc “thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc

3 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”

4 Khoản 1 Điều 25 BLDS 2015 quy định: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.” phạm uy tín của cơ quan, tổ chức” Các quy định trên cho thấy pháp luật nước ta hướng tới sự thừa nhận các quyền nhân thân đối với pháp nhân và các chủ thể khác 5

Quy định pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1.2.1 Căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

Pháp luật dân sự không quy định riêng các căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH về tinh thần do danh dự, nhân phẩm và uy tín bị xâm phạm mà chỉ quy định chung các căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Là một nội dung trong BTTH ngoài hợp đồng nên căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH về tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cũng tuân thủ các điều kiện chung là: Có hành vi trái pháp luật; có thiệt hại xảy ra; và có mối quan hệ nhân quả 19 , cụ thể trong trách nhiệm này là:

1.2.2.1 Có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác

Theo quy định của BLDS 2015, căn cứ phát sinh quyền dân sự, ở đây là quyền được đòi BTTH của người có quyền là “bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật” 20 , đối ứng với quyền này là nghĩa vụ BTTH của bên có nghĩa vụ và nghĩa vụ này phát sinh vì họ đã

“gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” 21 Quy định của BLDS 2015 mang tính liệt kê các quyền mà pháp luật ghi nhận bảo vệ để xác định phạm vi của hành vi trái pháp luật chứ chưa nói rõ nội hàm của “hành vi trái pháp luật” được hiểu như thế nào

Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP đưa ra khái niệm cụ thể hơn: “Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật.” Để xem một hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác là hành vi làm phát sinh trách nhiệm BTTH về tinh thần thì phải có các yếu tố sau:

Thứ nhất, đây là “những xử sự cụ thể của con người”

Chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải là con người Con người gây thiệt hại thông qua hành vi của chính mình Trên thực tế, không thiếu trường hợp tổ chức là bên “có hành vi trái pháp luật” và phải chịu trách nhiệm bồi thường, nhưng suy cho cùng hành vi của pháp nhân là do con người trong pháp nhân đó thực hiện, do đó vẫn thỏa mãn điều kiện về hành vi

19 Kết hợp quy định tại Điều 584 BLDS 2015 và tham khảo quy định tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP

20 Xem khoản 7 Điều 8 BLDS 2015 về Căn cứ xác lập quyền dân sự

21 Xem khoản 5 Điều 275 BLDS 2015 về Căn cứ phát sinh nghĩa vụ

Hành vi này phải “cụ thể”, tức là thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động và hành vi này có khả năng làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động Pháp luật chỉ điều chỉnh hành vi đã được bộc lộ ra bên ngoài thế giới khách quan bằng những “biểu hiện” nhất định chứ không điều chỉnh các “hành vi” còn trong ý nghĩ của chủ thể 22

Hành vi xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm người khác thì hầu hết đều ở dạng hành động và rất dễ nhận ra Đó có thể là hành động xâm phạm trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm, uy tín như chửi mắng, bôi nhọ, phỉ báng, làm nhục, hiếp dâm, bạo lực học đường Hoặc từ hành vi trái pháp luật khác như cạnh tranh không lành mạnh, xâm phạm quyền hình ảnh, bí mật đời tư, xâm phạm sức khỏe, vi phạm các quy tắc nghề nghiệp, trong đó đồng thời có hành vi xâm phạm và gây thiệt hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của chủ thể khác Ở dạng không hành động thì nó được biểu hiện bởi việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật quy định bắt buộc phải làm, mặc dù có đầy đủ các điều kiện để làm, nhưng trong thực tế thì rất khó khi chứng minh được hành vi dạng không hành động mà xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của chủ thể khác

Thứ hai, là tính “trái pháp luật” của hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác Ở Việt Nam, trước đây “trái pháp luật” được hiểu rất rộng, vượt qua khỏi biên giới việc làm trái quy định của pháp luật, những quy tắc xã hội, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước dù không phải là quy định pháp luật nhưng nếu làm trái thì vẫn coi là “hành vi trái pháp luật” 23 Đến Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP điều chỉnh BLDS

2005 thì tính trái pháp luật được hiểu hẹp hơn, là “trái với các quy định của pháp luật”, tức là nếu một hành vi có gây thiệt hại nhưng hành vi này không có quy định nào của pháp luật điều chỉnh thì sẽ không phát sinh trách nhiệm bồi thường

Hiện nay, chiếu theo quy định tại khoản 1 Điều 584 BLDS 2015 thì nhiều ý kiến cho rằng, không giới hạn về cách thức của hành động mà khi xâm phạm đến quyền lợi mà pháp luật ghi nhận bảo hộ thì đủ để kết luận đây là hành vi trái pháp luật 24 Dự thảo

22 Đỗ Văn Đại (2016), tlđd (14), tr.53

23 Thông tư số 173/UBTP-TANDTC ngày 23 tháng 3 năm 1972 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn xét xử về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

24 Hoàng Thế Liên (chủ biên) (2013), Bình luận khoa học BLDS năm 2005 - Tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, tr

712, có đoạn: “Chỉ những quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ thì các hành vi xâm phạm đến quyền

Nghị quyết hướng dẫn BLDS 2015 trình Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân (TAND) tối cao năm 2020 25 tại điểm b khoản 1 Điều 2 đã quy định một trong ba căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH là: “Phải có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.”, qua quy định này có thể thấy các nhà lập pháp cũng theo hướng coi việc xâm phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của người khác là “hành vi trái pháp luật” Hướng hiểu này khá gần gũi với pháp luật của Đức và Thụy Sĩ vì ở các nước này theo quan điểm “trái pháp luật được định nghĩa là vi phạm một quy tắc có mục đích bảo vệ lợi ích của người khác” 26

Hiểu theo cách phân tích trên thì vì danh dự, nhân phẩm, uy tín là giá trị được pháp luật bảo vệ tuyệt đối, do đó chỉ cần có hành vi xâm phạm đến các yếu tố này thì đã được coi là có hành vi trái pháp luật Tuy nhiên, cần lưu ý là khoản 1 Điều 584 cũng ghi nhận loại trừ trường hợp “Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”, nghĩa là những hành vi dù đụng chạm, gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác nhưng lý do xuất phát từ việc tuân thủ pháp luật, thực hiện theo quy định của nghề nghiệp một cách hợp pháp, thi hành các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì không bị coi là hành vi trái pháp luật Thực tế đã có trường hợp như sau: ông A đã nói với báo chí rằng bà B đã cầm xăng vào dọa đốt bệnh viện, thông tin này được đăng trên báo khiến danh dự, nhân phẩm của bà bị suy giảm, do đó bà kiện ông A yêu cầu bồi thường Tuy nhiên, Tòa án xác định thông tin ông A nói là sự thật nên “không có hành vi trái pháp luật”, ông A không phải BTTH 27 Trong trường hợp này, ta thấy danh dự, nhân phẩm của bà B chịu thiệt hại từ việc cung cấp thông tin của ông A, tuy nhiên, hành vi của ông A là việc thực hiện quyền tự do báo chí đúng với quy định của Luật Báo chí, do đó dù đã có “đụng chạm” đến danh dự, nhân phẩm của bà B nhưng không coi là hành vi trái pháp luật và lợi ích đó mới là hành vi trái pháp luật” Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng (2007), Luật dân sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr 472, có đoạn: “Chỉ các hành vi ảnh hưởng tới các lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần của chủ thể khác được pháp luật bảo vệ mới là hành vi trái pháp luật”

25 Dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học năm 2020

26 Trích theo: Đỗ Văn Đại (2016), tlđd (14), tr.58

27 Bản án số 17/2016/DSPT ngày 09/3/2016 của TAND tỉnh Phú Yên (Trích theo: Đỗ Văn Đại (2016), tlđd (14), tr 52

Tóm lại, ở Việt Nam, để phát sinh trách nhiệm BTTH về tinh thần khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm thì đầu tiên cần có hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác Điều kiện này rất quan trọng, nếu không có nó thì sẽ không phát sinh trách nhiệm bồi thường

Một số quốc gia trên thế giới như Nhật Bản, Thái Lan thì hành vi “vi phạm” để phát sinh trách nhiệm BTTH được định nghĩa là hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác, tính trái pháp luật của hành vi bao gồm việc có thiệt hại xảy ra, trên cơ sở đó làm phát sinh trách nhiệm của người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại 28

1.2.2.2 Có thiệt hại về tinh thần

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VỀ TINH THẦN KHI DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN BỊ XÂM PHẠM

Ngày đăng: 27/10/2022, 11:20

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w