Như vậy, việc cho rằng toàn bộ sinh viên các trường được nghiên cứu đều tham gia BHYT sau khi triển khai thực hiện BHYT bắt buộc đối với sinh viên nói chung và sinh viên ở trọ nói riêng
Trang 1CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
CẤP TRƯỜNG NĂM 2011
Tên công trình:
THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ CỦA SINH VIÊN Ở TRỌ HIỆN NAY (Nghiên cứu trường hợp sinh viên ở trọ làng ĐHQG TP.HCM)
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Thúy, XHHK14B, 2008-2012 Trương Anh Tuấn, XHHK14B, 2008-2012 Nguyễn Thị Minh Trang, XHHK13B, 2007-2011
Người hướng dẫn: Th.s Mai Thị Kim Khánh, GV khoa Xã hội học
Tp Hồ Chí Minh, Ngày 12 tháng 4 năm 2012
Trang 2rộn với công việc giảng dạy của mình nhưng cô vẫn giành thời gian và tâm huyết trong việc hướng dẫn nhóm Cô đã cung cấp cho nhóm chúng em một số tài liệu rất cần thiết, góp ý và sửa chữa những sai sót mà nhóm đã mắc phải trong quá trình làm bài
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong khoa Xã hội học, phòng Quản lý dự án đã tạo điều kiện cho nhóm chúng thực hiện đề tài nghiên cứu này
Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Trung tâm y tế Kí túc xá Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh cũng như phòng y tế trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ cung cấp những số liệu thống kê cũng như chia sẻ những thông tin quan trọng, cần thiết để nhóm hoàn thành nghiên cứu của mình
Cuối cùng, nhóm cũng xin được gửi lời cảm ơn các bạn sinh viên của các trường được khảo sát trong nghiên cứu này, các bạn đã nhiệt tình hợp tác giúp đỡ nhóm chúng tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này
NHÓM NGHIÊN CỨU
Trang 3BHYT HS-SV : Bảo hiểm y tế học sinh- sinh viên
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ HỌC SINH SINH VIÊN 20
1.1 M ỘT SỐ KHÁI NIỆM SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU 20
1.2 L Ý THUYẾT ÁP DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU 29
1.3 K HUNG PHÂN TÍCH 32
CHƯƠNG II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đ ẶC ĐIỂM MẪU NGHIÊN CỨU 33
2.2 N HẬN THỨC VỀ BHYT CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 34
2.3 T HỰC TRẠNG SV THAM GIA BHYT 37
2.4 SV VỚI VIỆC SỬ DỤNG THẺ BHYT TRONG KCB 51
2.5 C ÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC THAM GIA BHYT 58
CHƯƠNG III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 74
3.1 K ẾT LUẬN 74
3.2 K HUYẾN NGHỊ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 82
Trang 5ngày 01/01/2010 Tuy nhiên, sau hơn hai năm triển khai BHYT bắt buộc đối với học sinh sinh viên, thực tế cho thấy vẫn còn nhiều bất cập Đặc biệt là nhóm đối tượng sinh
viên sống xa nhà hiện nay
Làng Đại học Quốc Gia TPHCM là nơi tập trung một lượng lớn sinh viên ở trọ Ngoài áp lực học tập các bạn còn phải đối mặt với nhiều vấn đề mà theo đó sức khỏe được các bạn đánh giá là một trong những vấn đề đáng quan tâm Điều này được thể hiện một phần qua việc tham gia BHYT của các bạn trong thời gian học tập tại trường Vậy thực trạng tham gia BHYT của sinh viên ở trọ tại đây hiện nay như thế nào? Đâu
là những yếu tố tác động đến việc tham gia BHYT của sinh viên, theo đó yếu tố nào có tác động nhiều nhất? Tìm hiểu những vấn đề này tại bốn trường Đại học tại đây bao gồm: ĐH KHXH&NV, ĐHKHTN, ĐH CNTT, ĐH Kinh tế-Luật, đề tài sẽ làm rõ câu hỏi đó, đồng thời một số phát hiện sẽ đem lại nhiều suy nghĩ cho những nhà có chức trách đối với vấn đề này
Đề tài được thực hiện với hai mục tiêu chính: thứ nhất là tìm hiểu thực trạng tham gia BHYT của sinh viên tại làng ĐHQG Tp HCM từ khi BHYT mang tính bắt buộc đối với sinh viên; thứ hai là tìm hiểu việc sử dụng BHYT trong KCB của sinh viên ở trọ hiện nay Từ đó, xác định các yếu tố có tác động thực trạng tham gia BHYT của sinh viên hiện nay
Thực hiện đề tài này lý thuyết lựa chọn hợp lý và lý thuyết cấu trúc chức năng được sử dụng xuyên suốt quá trình tiếp cận và phân tích cho sự tham gia BHYT trong sinh viên hiện nay và ý nghĩa của sự tham gia đó
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài kết hợp sử dụng phương pháp thu thập thông tin định tính (phương pháp phân tích tư liệu sẵn có, phương pháp phỏng vấn sâu ) và phương pháp thu thập thông tin định lượng (phương pháp điều tra bằng bảng hỏi) Với
200 bảng hỏi chính thức và 20 bảng hỏi bổ sung được phát ra để thu thập thông tin của sinh viên ở trọ tại làng ĐHQG nhằm lấy ý kiến của sinh viên về việc tham gia và sử
Trang 6sinh viên các năm Tổng số lượng sinh viên tham gia BHYT trong năm học 2010-2011
là 156 sinh viên trên tổng số 200 sinh viên, chiếm 78% Tổng số sinh viên tham gia BHYT trong năm học 2011-2012 là 128 sinh viên, chiếm 64%, thấp hơn 12 % so với năm học 2010-2011 Số sinh viên không tham gia BHYT trong cả hai năm học trên là 14% Trong đó, sinh viên nữ có tỉ lệ tham gia BHYT trong cả hai năm cao hơn so với
sinh viên nam Tỉ lệ này ở nữ là 60,4%, còn đối với nam là 51,9%
Mặt khác, kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ giữa việc tham gia BHYT với thứ tự năm học của sinh viên Tỉ lệ tham gia BHYT của sinh viên năm nhất chiểm tỉ
lệ cao nhất so với các năm Đồng thời, tỉ lệ này giảm dần ở các năm lớn hơn Nếu như tỉ
lệ này ở năm nhất là 95.5% thì với năm hai tỉ lệ này giảm còn 86.7%, năm ba là 86,4%
và năm tư là 76.9% Như vậy, việc cho rằng toàn bộ sinh viên các trường được nghiên cứu đều tham gia BHYT sau khi triển khai thực hiện BHYT bắt buộc đối với sinh viên
nói chung và sinh viên ở trọ nói riêng là không đúng
Thứ hai, từ tổng kết hai năm thực hiện BHYT bắt buộc đối với sinh viên 4 trường, trường ĐH KHTN là trường có tỉ lệ trung bình sinh viên tham gia BHYT trong hai năm học 2010-2011 và 2011-2012 với tỉ lệ cao nhất, với 85% sinh viên có tham gia BHYT
Ở vị trí tiếp theo là ĐH Kinh tế-Luật với tỉ lệ 81% Trường ĐH KHXH&NV ở vị trí thứ
ba, với 68% Và cuối cùng, với tỉ lệ giảm nhiều nhất trong bốn trường trong năm học 2011-2012, ĐH CNTT có tỉ lệ trung bình sinh viên tham gia BHYT thấp nhất trong hai năm học nói trên với tỉ lệ 61%
Việc tham gia BHYT của sinh viên ở trọ hiện nay chủ yếu dựa trên tinh thần tự nguyện là chính, chiếm 61.6% Mặc dù vậy, tỉ lệ sinh viên cho rằng mình tham gia vì tính bắt buộc của BHYT theo đúng tên gọi vẫn còn chiếm tỉ lệ cao, 32%, nói đúng hơn
là vì nhà trường bắt buộc Tỉ lệ sinh viên tham gia BHYT theo nguyện vọng của gia đình chiếm tỉ lệ không đáng kể, 4.1% Thực tế, chỉ có trường ĐHKHTN với chế tài xử
lý khắt khe, áp dụng chính thức nên được sinh viên tham gia một cách đầy đủ Hoặc
Trang 7như trường ĐHKHXH&NV, trong số sinh viên không tham gia BHYT trong cả hai năm học thì có đến 60%, và trường ĐH CNTT với 40% thừa nhận rằng thiếu chế tài xử
lí là một trong số những nguyên nhân khiến các bạn không tham gia BHYT Do đó có thể thấy rằng chế tài xử lý là yếu tố quan trọng quyết định đến việc tham gia BHYT của sinh viên Trường nào có chế tài xử lý càng nghiêm đối với việc tham gia BHYT của
SV thì có tỷ lệ SV tham gia BHYT càng cao
Thứ ba, tỉ lệ sinh viên sử dụng thẻ BHYT trong KCB của sinh viên ở trọ hiện nay còn rất thấp, chỉ có 36.6% lựa chọn hình thức KCB bằng thẻ BHYT Sinh viên nữ có tỉ
lệ sử dung thẻ trong KCB cao hơn so với sinh viên nam Tỉ lệ sử dụng thẻ khi mắc bệnh của nữ là 50.8%, còn đối với nam là 49.2% Tỉ lệ KCB bằng thẻ cao nhất tập trung vào nhóm sinh viên cho rằng mức độ tình trạng sức khỏe của họ là bệnh rất nặng, nguy hiểm đến tính mạng, chiếm 55.6% Như vậy, tỉ lệ sinh viên sử dụng thẻ BHYT trong
KCB hiện nay vẫn còn thấp và chỉ được sử dụng trong trường hợp bệnh nặng
Cuối cùng, thông qua đánh giá của 63 sinh viên có tham gia sử dụng thẻ BHYT trong việc KCB thì có đến 27 người nhận xét về thái độ của nhân viên y tế là không nhiệt tình, có sự phân biệt (chiếm 42.9%); chỉ có 6 người (chiếm 9.5% ) cho rằng các nhân viên y tế có thái độ nhiệt tình và chỉ có 1 người đánh giá thái độ đó là rất nhiệt tình, tâm huyết, tỉ lệ này chiếm rất ít chỉ với 1.6% Như vậy có thể thấy là thái độ của các nhân viên y tế ngay từ đầu đã không gây được nhiều ấn tượng tốt đẹp đến những người sử dụng thẻ BHYT Về cơ sở vật chất tỉ lệ sinh viên cho rằng chất lượng tốt, hiện
đại đầy đủ chỉ chiếm 3.2% Về việc cấp phát thuốc, trong số những bạn sinh viên có sử
dụng thẻ BHYT trong việc KCB thì có tới 34 bạn đánh giá hiệu quả chữa bệnh của những loại thuốc được cấp phát đó không tốt, chiếm tỉ lệ 54%; 20.6% sinh viên đánh giá phần lớn là các loại thuốc rẻ tiền Đồng thời cũng với những minh chứng từ 8 trường hợp phỏng vấn sâu, đề tài đã chỉ ra rằng chất lượng KCB bằng thẻ BHYT chưa đáp ứng được nhu cầu KCB của sinh viên ở trọ hiện nay
Như vậy, thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng quyết định đến sự tham gia BHYT của sinh viên khi KCB nói chung Đồng thời, chế tài xử lý giữa các trường là yếu tố tác động mạnh mẽ đến sự khác biệt về sự tham gia BHYTcủa sinh viên
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sức khỏe tốt là một mục tiêu quan trọng của giáo dục toàn diện học sinh, sinh viên trong các trường học Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục sức khỏe cho thế hệ trẻ là mối quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước, của mỗi gia đình và toàn xã hội Trong nhiều năm qua, mối quan tâm này luôn được thể hiện qua các chính sách BHYT Những năm gần đây, sự quan tâm này càng được thể hiện rõ thông qua Luật bảo hiểm y tế được Quốc hội khóa XII, họp thứ 4 thông qua ngày 14 tháng 11 năm 2008
Luật BHYT là sự hoàn thiện các văn bản pháp luật về chính sách BHYT tại Việt Nam Luật được xây dựng trên cơ sở kế thừa những chính sách được quy định bởi văn bản pháp luật trước về BHYT Bên cạnh đó, Luật có những quy định mới Trước hết, Luật đã xác định lộ trình thực hiện BHYT toàn dân ở nước ta là mọi công dân Việt Nam đều có trách nhiệm tham gia BHYT, để đảm bảo hoàn thành lộ trình BHYT toàn dân vào năm 2014 Trong đó có những nhóm đối tượng được tham gia vào từng thời điểm khác nhau tùy theo lộ trình đã xác định Theo đó, học sinh, sinh viên tham gia BHYT bắt buộc theo lộ trình đã đề ra bắt đầu từ ngày 01/01/2010
Làng Đại học Quốc Gia TPHCM là nơi tập trung một lượng lớn sinh viên ở trọ từ các địa phương khác nhau đến đây học tập Ngoài áp lực học tập các bạn còn phải bảo đảm và nâng cao sức khỏe của chính bản thân mình Đây là điều kiện cần thiết để có thể hoàn thiện khóa học của mình tốt nhất, mang những kiến thức đã học để phục vụ đất nước sau này Tuy nhiên, việc tham gia BHYT HS-SV nói chung và đặc biệt là sinh viên nói riêng hiện nay còn nhiều hạn chế Vẫn còn một bộ phận lớn trong sinh viên chưa ý thức được hết một cách đầy đủ về tầm quan trọng của việc tham gia BHYT Hiện nay, xếp theo địa điểm ở trọ thì sinh viên được chia làm hai nhóm chính Thứ nhất, sinh viên ở trọ tại KTX của ĐHQG Thứ hai, là nhóm sinh viên ở trọ, bao gồm các nhà trọ trong làng ĐHQG và những nhà trọ ngoài làng ĐHQG Theo đó, đối với nhóm sinh viên thứ nhất, phần lớn đều tham gia BHYT khi đăng kí thủ tục vào trọ tại đây Riêng đối với nhóm thứ hai, điều này không phải là dễ thực hiện Do đó, không ít
Trang 9sinh viên chưa chủ động trong việc tham gia BHYT
Bên cạnh đó, đối với những sinh viên đã tham gia BHYT vẫn còn tồn tại một thực
tế là có rất ít sinh viên có khả năng tiếp cận với các dịch vụ KCB bằng BHYT Điều này làm ảnh hưởng đến quyền lợi của sinh viên khi tham gia BHYT hiện nay
Chính những vấn đề trên đã tác động đến cách nhìn của chúng tôi, thúc đẩy chúc
tôi tìm hiểu và thực thiện nghiên cứu về “Thực trạng và các yếu tố tác động đến việc
tham gia BHYT của sinh viên ở trọ hiện nay_ nghiên cứu trường hợp sinh viên ở trọ tại làng Đại học Quốc gia” để có cách nhìn toàn diện hơn với vấn đề tham gia bảo hiểm ở
sinh viên hiện nay
2 Tổng quan lịch sử nghiên cứu đề tài
Tại Hàn Quốc, BHYT có 3 loại hình khác nhau gồm: BHYT cho công chức, giáo viên và người phụ thuộc (10,4% dân số); BHYT cho người lao động trong ngành công nghiệp và người phụ thuộc (36% dân số); BHYT cho người lao động tự lập (50,1% dân số); đến năm 1998 chương trình Medicaid (trợ cấp y tế miễn phí) bao phủ 3,5% dân số còn lại Hàn Quốc chỉ mất 12 năm bắt đầu từ năm 1977 đến năm
1989 để mở rộng BHYT xã hội tới toàn bộ dân số Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, chế độ chính quyền quân sự, cùng với mô hình bảo hiểm đa dạng dựa trên nhiều tổ chức bảo hiểm tách biệt cho từng loại lao động khác nhau trong nền kinh tế, tất cả những điều này đã góp phần mở rộng nhanh chóng BHYT tại Hàn quốc1
Đối với Pháp, BHYT có tính bắt buộc và độc quyền kể cả những người nước ngoài cư trú tại đ â y đều phải đóng góp vào hệ thống BHYT này Tất cả mọi người đều có thẻ khám bệnh, trẻ em trên 16 tuổi thì có thẻ riêng, trước đó đăng ký trên thẻ của cha mẹ Hiện nay, người dân đi khám bệnh hoặc mua thuốc hầu như không phải trả tiền ngoại trừ các khoản đóng góp bắt buộc bắt đầu áp dụng từ năm 2005: như chuyển từ chế độ miễn phí hoàn toàn sang chế độ đóng góp - mỗi lần khám bệnh
1
Nguyễn Vinh Quang (2005), “Kinh nghiệm BHYT toàn dân”, Tạp chí BHXH Việt Nam, Tr.57
Trang 10phải trả 1 euro, mỗi lọ thuốc sẽ đóng 0,5 euro ; đặt ra chế độ bác sỹ theo dõi; chế
độ KCB hay mua thuốc của bệnh nhân1
Ở Philippines, BHYT tự nguyện được thực hiện với các đối tượng là người lao động tự do và người nghèo Các văn phòng Khu vực, Văn phòng các vùng đều có bộ phận “phát triển hội viên”- Đây là bộ phận có nhiệm vụ chính trong việc tổ chức thực hiện BHYT tự nguyện cho dân cư trong địa bàn phụ trách Nhà nước mua thẻ BHYT cho người nghèo nhưng do phụ thuộc vào kinh phí (của Trung ương và địa phương) nên hiện tại mới có khoảng 5 triệu người nghèo được mua BHYT trong số gần 35 triệu người nghèo của Philippines (chiếm khoảng 1/7) Do vậy, số người nghèo còn lại cùng với các bộ phận dân cư khác phải tham gia BHYT tự nguyện Tổ chức triển khai BHYT chủ yếu thông qua các hình thức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, bằng tờ gấp, các hội nghị, việc cán bộ xuống dân rất hạn chế do không đủ cán bộ Chính quyền các cấp giữ vai trò quan trọng đối với quá trình tổ chức thực hiện BHYT tự nguyện, bằng các văn bản chỉ đạo của chính quyền các cấp khẳng định chính sách BHYT xã hội do Nhà nước tổ chức và thực hiện để nhân dân yên tâm tham gia Mặt khác, giá dịch vụ y tế ở Philippines khá cao cũng là yếu tố tác động quan trọng đối với việc tham gia BHYT người dân2
Còn tại Trung Quốc, BHYT có hai loại: BHYT ở nông thôn (hợp tác y tế nông thôn) và BHYT ở thành phố (bảo hiểm cho nhân viên nhà nước; bảo hiểm cho các xí nghiệp nhà nước; bảo hiểm cho những người ăn theo công nhân xí nghiệp; bảo hiểm cho các xí nghiệp tuyến quận, huyện; bảo hiểm cho các xí nghiệp tuyến xã, phường; bảo hiểm cho những người ăn theo công nhân địa phương) Có hơn 400 triệu người (40% dân số) được BHYT tại Trung Quốc Cụ thể như sau: 22 triệu nhân viên nhà nước, 71 triệu công nhân xí nghiệp quốc doanh và 55 triệu người ăn theo, 136 triệu công nhân các xí nghiệp cấp huyện và 97 triệu người ăn theo, 30 triệu nông dân trong các hợp tác xã y tế nông thôn Trong số 40% dân số được BHYT chỉ có 20%
Trang 11được bảo hiểm tương đối đầy đủ, 20% còn lại chỉ được bảo hiểm một phần Vấn đề làm thế nào để mở rộng bao phủ BHYT cả thành phố và nông thôn vẫn còn là một câu hỏi chưa có câu trả lời cụ thể Trung Quốc xây dựng kế hoạch thực hiện BHYT toàn dân theo lộ trình đến 2011: Từ năm 2010, trên 90% người dân sẽ được nhận hỗ trợ
120 nhân dân tệ mỗi người để tham gia BHYT Đồng thời xây dựng một hệ thống sản xuất và phân phối các thuốc chủ yếu, nâng cấp các trung tâm y tế vùng sâu vùng xa cũng như thu hẹp khoảng cách về chất lượng giữa thành thị và nông thôn 1
Có thể thấy hầu hết các nước nói trên đã cố gắng mở rộng độ bao phủ của BHYT
ra toàn quốc, nhưng tập trung chủ yếu ở các nhóm đối tượng trẻ em dưới 18 tuổi, nhóm người lao động, nghỉ hưu và nhân viên trong các tổ chức, cơ quan nhà nước; riêng đối với nhóm đối tượng trên 18 tuổi nhưng chưa có việc làm ổn định, chính thức để nuôi sống bản thân, thì chưa thấy đề cập đến một cách cụ thể
Vậy đối với Việt Nam thì sao?
Tại Việt Nam, chính sách BHYT chính thức được thực hiện theo nghị định 299/HĐBT ngày 15/08/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Điều lệ BHYT đánh dấu sự ra đời của BHYT ở nước ta2 Trải qua hơn 20 năm thực hiện, BHYT đã chứng minh sự cần thiết và từng bước trở thành một nhu cầu tất yếu của đời sống xã hội Các chính sách BHYT đã có những bước phát triển đáng kể và đang dần được hoàn thiện về cơ sở pháp lý cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước, đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của nhân dân trong từng giai đoạn
* Những thay đổi về chính sách BHYT qua các giai đoạn
+ Giai đoạn 1: từ năm 1992 đến 28/9/1998 Giai đoạn này hệ thống BHYT ở Việt
Nam được tổ chức và quản lý theo qui định của Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và điều lệ BHYT
BHYT Việt Nam được thành lập và đi vào hoạt động Đây là một chủ trương
1
Nguyễn Khang (Theo Today in Asia & Pacific) (2009), “Trung Quốc xây dựng kế hoạch thực hiện BHYT toàn
dân”, Báo BHXH Việt Nam, Tr.11
2
Chính phủ (1992), Nghị định số 299/1999/HĐBT ngày 15 tháng 8 năm 1992 của Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành hệ thống BHYT Việt Nam.
Trang 12lớn của Đảng và Nhà nước nhằm huy động sự đóng góp của các nhân, tập thể và cộng đồng xã hội vừa để tạo nguồn ngân sách y tế ổn định theo cơ chế trả trước, vừa
là một hoạt động mang tính nhân đạo, nhiều người giúp một người khi bị ốm đau phải khám và điều trị1 Tuy nhiên do cơ cấu tổ chức và quản lý của hệ thống BHYT Việt Nam nên trong quá trình thực hiện nảy sinh một số tồn tại cơ bản là:
Quyền lợi của người tham gia BHYT chưa được đảm bảo thống nhất trong cả nước Một số tỉnh, thành phố tự ý đặt ra những qui định riêng trong việc thanh toán chi phí KCBBHYT
Một số địa phương có số thu BHYT ít phải hạn chế chi trả chi phí KCBtrong khi một số địa phương có số thu nhiều, quĩ BHYT còn dư nhưng không thể điều tiết được từ nơi thừa sang nơi thiếu
BHYT Việt Nam khó thực hiện chức năng giám sát, điều tiết hoạt động BHYT trên phạm vi toàn quốc
+ Giai đoạn 2: từ 29/9/1998 đến 31/12/2002 Giai đoạn này hệ thống BHYT
Việt Nam được tổ chức và quản lý theo Nghị định số 58/1998/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 1998 của Chính phủ đã ban hành điều lệ BHYT và Nghị định số 47/CP ngày 06/06/1994 của Chính phủ sửa đổi một số điều của Điều lệ BHYT với những điểm mới cơ bản là: mở rộng chính sách BHYT, đa dạng hóa các loại hình BHYT để đông đảo các tầng lớp dân cư có điều kiện tham gia hoạt động vì lợi ích của cá nhân và của cộng đồng, đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người có thẻ BHYT, xác định rõ hơn trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan, đơn vị trong việc tổ chức chế độ BHYT, thực hiện phương thức cùng chi trả chi phí KCBBHYT (cơ quan BHYT chi trả 80% cho các
cơ sở điều trị theo giá viện phí hiện hành, còn 20% người bệnh tự trả cho các cơ sở điều trị), thực hiện công bằng trong KCB, thống nhất công tác quản lý hệ thống BHYT theo ngành dọc để chính sách xã hội này được thực hiện đồng bộ, công bằng,
1
Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2004), Nghiệp vụ giám định y tế, giáo trình đào tạo giám định viên y tế
Bảo hiểm xã hội
Trang 13hiệu quả, đảm bảo an toàn và tăng trưởng quỹ BHYT1
+ Giai đoạn 3: từ năm 2002 đến 30/6 năm 2009 Thực hiện quyết định số
20/2002/QĐ-TTg ngày 24 tháng 01 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ, hệ thống BHYT Việt Nam được chuyển từ Bộ Y tế sang Bảo hiểm xã hội Việt Nam quản lý Theo đó BHXH Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năng thực hiện chính sách, chế độ BHXH, BHYT và quản lý các quỹ BHXH, BHYT theo qui định của pháp luật Trong giai đoạn này rất nhiều nghị định, thông tư hướng dẫn của Chính phủ, của ngành được ban hành nhằm mục đích đảm bảo nguồn tài chính phục vụ công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, từng bước xóa bỏ cơ chế bao cấp trong y
tế, xã hội hóa việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, công chức
và người lao động, đảm bảo sự ổn định và bền vững của hệ thống an sinh xã hội tại Việt Nam Đáng chú ý trong giai đoạn này là Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/05/2005 của Chính phủ ban hành Điều lệ BHYT, từ 1/7/2005 quyền lợi của người tham gia BHYT được mở rộng đó là: người có thẻ BHYT không cùng chi trả 20% chi phí KCB, không thực hiện trần điều trị nội trú; được thanh toán các dịch
vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn, bệnh bẩm sinh, tai nạn giao thông, chi phí vận chuyển Mức thanh toán KCB tự chọn tăng lên Gần 1000 loại dịch vụ kỹ thuật được bổ xung
Mở rộng các đối tượng BHYT bắt buộc2
+ Giai đoạn 4: từ ngày 01 tháng 07 năm 2009 đến nay Đây là giai đoạn quan
trọng nhất, Luật BHYT được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14 tháng 11 năm 2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009 Theo qui định của Chính phủ chậm nhất là ngày
01 tháng 01 năm 2014 thực hiện BHYT toàn dân Luật BHYT quy định về chế độ, chính sách BHYT, bao gồm đối tượng, mức đóng, trách nhiệm và phương thức
Trang 14đóng BHYT, phạm vi được hưởng BHYT, thanh toán chi phí KCB, quyền và trách nhiệm của các bên liên quan đến BHYT1
Đối với BHYT HS-SV, chính sách BHYT học sinh ở nước ta đã được người dân chấp nhận, thể hiện ở mức độ bao phủ tăng dần hàng năm, đến cuối năm 2006, số học sinh tham gia đạt 44% số học sinh cả nước Trên thế giới, không có nước nào thực hiện BHYT học sinh theo hình thức tự nguyện như ở Việt Nam, học sinh các nước thường tham gia BHYT bắt buộc theo hộ gia đình người lao động
Quyền lợi của HS-SV tham gia BHYT được mở rộng HS-SV tham gia BHYT từ chỗ chỉ được điều trị nội trú và chăm sóc sức khỏe tại y tế trường học đến được hưởng quyền lợi như đối tượng bắt buộc, có một số quyền lợi cao hơn các đối tượng bắt buộc như trợ cấp tử vong và có một tỷ lệ quỹ BHYT để chăm sóc sức khỏe ban đầu tại trường học
Có thể khẳng định, BHYT không phải là một thuật ngữ xa lạ đối với nhiều sinh viên hiện nay Nhiều sinh viên đã tham gia BHYT ngay từ những ngày còn là học sinh tiểu học Tham gia BHYT ngày càng trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hiện tại Tuy nhiên, BHYT cùng với KCB bằng thẻ BHYT đã và đang đặt ra những vấn đề chúng ta cần quan tâm Trong quá trình tìm hiểu đề tài này chúng tôi đã tiếp cận với nhiều bài viết, các đề tài nghiên cứu về khả năng tham gia với khả năng tiếp cận KCB bằng thẻ BHYT tại Việt Nam hiện nay
Nghiên cứu về “Những yếu tố quyết định khả năng tiếp cận BHYT ở Việt
Nam”2 của Đặng Nguyên Anh và cộng sự đã cho thấy khả năng sử dụng dịch vụ KCB
và tiếp cận BHYT của người dân trong xã hội Nghiên cứu tập trung vào ba nhóm dân
cư cơ bản là “người nghèo ở nông thôn”, “lao động di cư từ nông thôn ra thành thị” và
“cán bộ công chức ở đô thị”, chỉ ra sự khác nhau đặc trưng giữa ba nhóm đối tượng trên Trên quan điểm xã hội và cơ thể gắn liền với nghề nghiệp, nguồn lực kinh tế và vốn xã hội, nghiên cứu đã so sánh mức độ tiếp cận dịch vụ y tế của ba nhóm nhân khẩu
1
Quốc hội n ớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Luật BHYT
2 Tạp chí Xã hội học, số 1/2007, tr 44
Trang 15xã hội đó Ưu điểm của đề tài là đã chỉ ra được và làm sáng tỏ những yếu tố quyết định (chung và đặc thù) về khả năng tiếp cận BHYT vốn còn nhiều bất cập hiện nay Thông
qua bài nghiên cứu, chúng ta có thể rút ra một số kết luận chính sau: thứ nhất, khi so
sánh về mức độ tiếp cận BHYT giữa ba nhóm nhân khẩu trên, nhóm cán bộ công chức
ở đô thị có mức độ tham gia BHYT cao nhất Đối với nhóm người nghèo và lao động di
cư từ nông thôn ra thành thị, có sự hạn chế về nhận thức về tầm quan trọng đối với
BHYT; Thứ hai, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia bảo hiểm của hai đối
tượng kể trên, trong đó đáng chú ý là nguyên nhân xuất phát từ chính sách về đối tượng tham gia BHYT Như vậy, không phải bất cứ ai cũng có thể muốn tham gia BHYT cũng đều tham gia được Hạn chế trong đề tài này là chưa bao quát hết các nhóm dân
cư trong xã hội
Khác với nội dung của đề tài nói trên, đề tài của tác giả Trịnh Hòa Bình về
“BHYT: nhu cầu và khả năng mở rộng ở nông thôn” đã cho thấy nhu cầu thực tế,
hiệu quả sử dụng và khả năng mở rộng BHYT tại nông thôn _ xã Yên Thường Đề tài nghiên cứu tìm hiểu thực trạng tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân, mức độ tham gia bảo hiểm và tình hình sử dụng BHYT cũng như đánh giá được mức
độ hài lòng về bảo hiểm (hài lòng về dịch vụ, cán bộ y tế, dịch vụ KCBbằng thẻ BHYT), nhận thức của người dân về việc tham gia BHYT, từ đó cho thấy nhu cầu cần phải mở rộng thị trường bảo hiểm tại xã Hạn chế trong đề tài này là chưa so sánh được giữa các nhóm thu nhập khác nhau về mức độ, nhu cầu tham gia bảo hiểm sẽ khác nhau như thế nào
Khác với hai đề tài nói trên khi phương pháp nghiên cứu thu thập thông tin của đề tài chủ yếu sử dụng các phương pháp phỏng vấn sâu, điều tra bằng bảng hỏi thì đề tài
nghiên cứu “Phát triển BHYT ở nông thôn công bằng và bền vững nhằm nâng cao
chăm sóc sức khỏe người dân – báo cáo kết quả nghiên cứu định tính” của Đàm Viết
Cương, Trần Văn Tiến, Nguyễn Khánh Phương, Trần Thị Mai Oanh, Hoàng Thị Phượng, Dương Huy Lương và cộng sự do Viện Chiến lược và Chính sách Y tế công
bố năm 2007 lại chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính gồm phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Đề tại đã nêu ra được sự hạn chế của người dân trong nhận thức
Trang 16về BHYT và chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế đó Về phía cơ quan BHYT, đội ngũ tuyên truyền cung cấp thông tin về BHYT không được tập huấn đào tạo nâng cao kỹ năng truyền thông, kinh phí cho truyền thông còn hạn chế, cán bộ Bảo hiểm xã hội Việt Nam làm công tác giám định tại các cơ sở y tế còn thiếu, cơ chế giám sát triển khai BHYT chưa được thực hiện Về phía các cơ sở cung ứng dịch vụ y tế, trần thanh toán do bảo hiểm xã hội Việt Nam quy định còn hạn chế, nguy cơ bội chi và tình trạng quá tải tại bệnh viện thường xuyên xảy ra, Bảo hiểm xã hội Việt Nam chậm trễ hoàn phí BHYT và mức hoàn phí không đủ so với số chi, trang thiết bị và cơ sở vất chất còn hạn chế Từ đó tác giả đã đề xuất một số khuyến nghị như tăng cường các hoạt động truyền thông để nâng cao nhận thức và hiểu biết của người dân về BHYT, nâng cao năng lực của cán bộ bảo hiểm xã hội để triển khai BHYT hiệu quả hơn và nâng cao chất lượng dịch vụ KCB bằng thẻ BHYT ở các tuyến đặc biệt là tuyến xã nhằm tăng cường việc tiếp cận các dịch vụ y tế
Một trong số những ưu điểm nổi bật của đề tài đã chỉ ra được những hạn chế và khó khăn trong việc sử dụng thẻ BHYT khi KCB của người dân, nêu ra được sự yếu kém trong công tác quản lý và cung cấp dịch vụ KCBbằng thẻ BHYT của các cơ sỏ y
tế, đồng thời tác giả nghiên cứu cũng đã đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao dịch vụ KCB bằng thẻ BHYT cho người dân Tuy nhiên, vì đề tài chỉ sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nên chưa mang tính khách quan cao và chưa đưa ra được số liệu
cụ thể cho vấn đề nghiên cứu Đồng thời địa bàn nghiên cứu còn quá rộng, chưa khoanh vùng cụ thể khi tiến hành nghiên cứu
Bên cạnh những đề tài nói trên, đề tài “Đánh giá chính sách và tình hình thưc
bố năm 2007 cũng đã góp phần làm rõ bức tranh về BHYT ở Việt Nam tại thời điểm bấy giờ Thông qua đề tài, tác giả đã đánh giá tổng quát về chính sách BHYT hiện hành, thực trạng tình hình triển khai thực hiện chính sách BHYT và dự báo khả năng phát triển BHYT trong thời gian tới Kết quả đề tài nghiên cứu cho thấy BHYT bao phủ trên 30 triệu dân trong cả nước trong đó 1/3 là người nghèo và các đối tượng chính sách
1 Viện chiến lược và chính sách y tế
Trang 17xã hội; mức phí bảo hiểm bình quân năm 2005 là 170.000đồng/người/năm đối với khu vực bắt buộc và mức phí bình quân cho mọi đối tượng năm 2005 xấp xỉ 7,5 USD/người; Gói quyền lợi của bệnh nhân BHYT hiện nay chỉ giới hạn trong khu vực điều trị, quyền lợi trong sử dụng dịch vụ y tế kỹ thuật cao chi phí lớn có giới hạn nhất định; Chương trình BHYT cho người nghèo ngày càng đòi hỏi mức độ hỗ trợ lớn hơn của ngân sách nhà nước với mệnh giá thẻ BHYT ngày càng cao hơn Từ đó tác giả đưa
ra một số khuyến nghị như cần có quy định rõ ràng về gói quyền lợi BHYT trong văn bản luật hoặc dưới luật; mức phí BHYT cần được xác định sao cho có thể đáp ứng được chi phí của nhu cầu chăm sóc sức khỏe cơ bản, ít nhất mức phí BHYT bình quân phải bảo đảm bù đắp chi phí điều trị; cần quy định về các phương thức thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT giữa quỹ BHYT và nhà cung ứng dịch vụ; Cần tiếp tục hoàn thiện các văn bản luật có liên quan đảm bảo sự nhất quán về chính sách trong phát triển hệ thống y tế
Nghiên cứu “Các giải pháp tăng thu quỹ bảo hiểm y tế giai đoạn từ nay đến
2010” của tác giả Lưu Thị Thu Thủy Đây là chuyên đề phục vụ công tác đánh giá hoạt
động BHYT nói chung, công tác thu bảo hiểm nói riêng trong những năm vừa qua, đồng thời đề ra các giải pháp tăng trưởng từ nay đến năm 2010 Chuyên đề được nghiên cứu trong thời điểm Đảng và Chính phủ mới ban hành các nghị quyết nhằm đẩy mạnh phát triển BHYT ở Việt Nam vì thế chuyên đề có ý nghĩa đối với việc tìm kiếm thêm giải pháp, nhằm thực hiện mục tiêu mọi người dân được chăm sóc sức khỏe thông qua BHYT
Trong nghiên cứu này, tác giả Thu Thủy đã phân tích những vấn đề cơ bản của nguồn thu BHYT, trong đó đã đề cập đến khái niệm về BHYT, quỹ bảo hiểm y tế, nguồn hình thành quỹ, các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu, cơ chế quản lý và sử dụng quỹ, đồng thời nêu một số mô hình BHYT của các nước trong khu vực Đây là điều kiện cần thiết, là cơ sở để phân tích, đánh giá về thực trạng tình hình thu BHYT ở
VN trong thời gian qua, từ đó có những kiến nghị hoàn thiện Chuyên đề đã đề cập đầy
đủ thực trạng tình hình thực hiện BHYT ở Việt Nam trong các năm vừa qua, đặc biệt đi sâu phân tích công tác thu BHYT ở các nhóm đối tượng khác nhau Nghiên cứu đã đi
Trang 18sâu phân tích những bất cập trong nguồn thu BHYT, từ sự chênh lệch của mức đóng, phương thức đóng, công tác quản lý và sử dụng nguồn thu đến những khó khăn trong thực hiện công tác thu BHYT
Với nghiên cứu này tác giả Thu Thủy đã đi sâu nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước như Philippin, Hàn Quốc, Thái Lan trong việc phân nhóm đối tượng tham gia BHYT, tập hợp được mức đóng cho từng nhóm đối tượng cũng như cách thức tổ chức quản lý quỹ BHYT của các nước Đây là những tư liệu quan trọng để Việt Nam có thể học hỏi trong quá trình xây dựng chính sách BHYT nói chung và quản lý nguồn thu quỹ BHYT nói riêng Tuy nhiên, chuyên đề cũng mắc phải những hạn chế nhất định Trong
đó, hạn chế lớn nhất của chuyên đề là hai giải pháp thuộc nhóm các giải pháp tạo lập môi trường BHYT còn chung chung, chưa đưa ra các nội dung cụ thể của từng giải pháp Ví
dụ, giải pháp mở rộng đối tượng, phải cụ thể mở rộng đối tượng nào trước, đối tượng nào sau, thời gian thực hiện, biện pháp tổ chức thực hiện, hoặc nâng mức phí thì dự kiến nâng là bao nhiêu, thời gian nào…
Qua việc tổng quan các chính sách, bài viết, nghiên cứu có nội dung liên quan đến BHYT nói trên đã cho thấy được vai trò quan trọng của BHYT trong quá trình phát triển xã hội nói chung và chăm só sức khỏe cho người dân nói riêng Phần lớn các nghiên cứu đều tập trung vào các nhóm đối tượng chính yếu trong xã hội Trong khi đó, nhóm đối tượng là sinh viên_ khách hàng tiềm năng của bảo hiểm lại chưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt là sinh viên ở trọ Chính vì vậy, nhóm chúng tôi quyết định chọn nhóm đối tượng này trở thành đối tượng nghiên cứu về việc tiếp cận bảo hiểm và các dịch vụ KCB bẳng thẻ BHYT Đó cũng là điểm mới trong đề tài của nhóm chúng tôi
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm mục tiêu sau:
Tìm hiểu thực trạng tham gia BHYT của sinh viên tại làng ĐHQG Tp HCM
từ khi BHYT mang tính bắt buộc đối với sinh viên
Tìm hiểu việc sử dụng BHYT trong KCBcủa sinh viên hiện nay: thực trạng
sử dụng thẻ BHYT trong KCB, trường hợp sử dụng thẻ trong KCB của sinh viên
Trang 19 Từ đó, tìm hiểu các yếu tố tác động đến việc tham gia BHYT của sinh viên hiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1.1 Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng và các yếu tố tác động đến việc tham gia
BHYT của sinh viên ở trọ hiện nay
4.1.2 Khách thể nghiên cứu: Trong đề tài này, nhóm chúng tôi tập trung nghiên
cứu chính đối với nhóm sinh viên ở trọ tại làng ĐHQG TPHCM, hiện là sinh viên của trường ĐHKHXH&NV, ĐH KHTN, ĐH CNTT và ĐH Kinh tế-Luật TPHCM, cụ thể: Nhóm sinh viên chưa tham gia BHYT lần nào kể từ ngày 1-1-2010, là thời điểm luật BHYT quy định tính bắt buộc đối với HS-SV các trường Đây là các sinh viên chưa từng tham gia BHYT trong cả hai năm học trở lại đây Nhóm sinh viên có tham gia một hoặc đầy đủ cả hai lần trong hai kể từ khi BHYT mang tính bắt buộc đối với sinh viên
4.2.1 Nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu và khảo sảo thực trạng và các yếu tố tác động đến việc tham gia BHYT của sinh viên hiện nay Trong đó tập trung vào BHYT học đường và chỉ tập trung nghiên cứu đối với sinh viên ở trọ, cụ thể là sinh viên ở trọ tại làng ĐHQG TPHCM
Đối với các yếu tố tác động đến việc tham gia BHYT trong sinh viên hiện nay, thực tế cho thấy có rất nhiều yếu tố Tuy nhiên, do giới hạn về thời gian vì vậy nhóm tập trung vào những yếu tố chính, cụ thể:
Chế tài xử lí những sinh viên không tham gia BHYT: những hình thức kỉ luật được nhà trường qui định được áp dụng đối với sinh viên không tham gia BHYT
Mức phí tham gia BHYT: mức phí tham gia BHYT của sinh viên qua hai năm học 2010-2011 và 2011-2012
Tình hình sức khỏe: số lần ốm của sinh viên trong hai năm qua, tính chất bệnh tương ứng ốm
Trang 20 Chất lượng KCB bằng thẻ BHYT: bao gồm thời gian chờ đợi; thủ tục hành chính khi KCB, chuyển lên tuyến trên; hiểu quả thuốc được cấp
Sở dĩ chúng tôi đưa chất lượng KCB bằng thẻ BHYT trở thành một trong những yếu tố cần tìm hiểu để giải thích cho thực trạng tham gia BHYT của sinh viên hiện nay
vì chúng tôi cho rằng, những nhận xét hoặc quan điểm đã định hình sẵn có về chất lượng KCB bằng thẻ BHYT có ảnh hưởng rất lớn đến việc sinh viên có quyết định tham gia BHYT cho những năm học sau
4.2.2 Thời gian nghiên cứu
Nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng tham gia BHYT của sinh viên kể từ khi luật BHYT qui định tính bắt buộc đối với nhóm đối tượng này Chính vì vậy, nhóm chỉ tìm hiểu thực trạng tham gia BHYT trong hai năm học là 2010-2011 và 2011-2012 của sinh viên hiện đang ở trọ tại làng ĐHQG TP HCM
4.2.3 Không gian nghiên cứu
Các nhà trọ dành cho sinh viên theo học tại trường ĐHKHXH&NV, ĐH KHTN,
ĐH CNTT, và ĐH Kinh tế - Luật tại làng đại học quốc gia Tp HCM
Đề tài tập trung vào 4 trường nói trên vì:
Trường ĐH KHXH&NV đại diện cho khối ngành khoa học xã hội, có nhận thức sâu về các chính sách xã hội hiện nay Trường có phòng y tế và có lượng học sinh ở trọ tại làng ĐH khá đông Tỉ lệ nữ của trường chiếm tỉ lệ cao hơn hẳn so với tỉ lệ nam
Trường ĐH KHTN đại diện cho khối ngành tự nhiên, việc đăng kí tham gia BHYT của sinh viên do phòng công tác quản lí sinh viên thực hiện, đồng thời trường đang thực hiện các chế tài với những sinh viên chưa tham gia BHYT
Trường ĐH Kinh tế- Luật đại diện cho khối ngành kinh tế Cũng giống như trường ĐHKHTN việc đăng kí tham gia BHYT của sinh viên do phòng công tác quản lí sinh viên thực hiện
Trường ĐH CNTT đại diện cho khối ngành công nghệ thông tin, tỉ lệ sinh viên nam của trường cao hơn tỉ lệ sinh viên nữ Trường không ở gần so ba trường kể trên Mặt khác, trường mới thành lập nên hiện tại, trường vẫn chưa có phòng y tế Việc đăng
kí tham gia BHYT do nhà trường thực hiện
Trang 215 Câu hỏi nghiên cứu
Qui định mới về tính bắt buộc tham gia BHYT có ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHYT đối với sinh viên ở trọ hiện nay hay không?
Có hay không sự khác nhau về tỉ lệ sinh viên tham gia BHYT tại các trường được nghiên cứu Đâu là nguyên nhân chính của sự khác nhau này?
Việc sử dụng thẻ BHYT trong KCB của sinh viên ở trọ hiện nay như thế nào? Chất lượng KCB bằng thẻ BHYT đã đáp ứng được nhu cầu KCB của sinh viên ở trọ hiện nay chưa? Nếu chưa, đâu là yếu tố cần khắc phục?
6 Giả thuyết nghiên cứu
Việc tham gia BHYT mang tính bắt buộc theo qui định mới của luật BHYT
có tác động mạnh đến quyết định tham gia BHYT đối với sinh viên ở trọ hiện nay,
cụ thể là toàn bộ sinh viên các trường được nghiên cứu đều tham gia BHYT
Có sự khác biệt về tỉ lệ sinh viên tham gia BHYT tại các trường được nghiên cứu Trong đó, chế tài xử lí đối với các sinh viên không tham gia BHYT vẫn còn yếu là một yếu tố quan trọng làm cho tỉ lệ sinh viên tham gia BHYT không cao
Tỉ lệ sinh viên sử dụng thẻ BHYT trong KCB hiện nay là không cao và chỉ được sử dụng trong trường hợp bệnh nặng1
Chất lượng KCB bằng thẻ BHYT chưa đáp ứng được nhu cầu KCB cúa sinh viên ở trọ hiện nay, trong đó thủ tục hành chính được phần lớn sinh viên cho rằng đây là trở ngại lớn nhất khiến sinh viên ngại dùng thẻ để KCB tại các cơ sở đăng
kí
7 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng,nghiên cứu định tính, nguồn dữ liệu sử dụng bao gồm các dữ liệu thứ cấp, cũng như dữ liệu sơ cấp được khảo sát tại địa bàn nghiên cứu
Nguồn dữ liệu thứ cấp chính là các số liệu về tỉ lệ sinh viên tham gia BHYT trong
1 Thuật ngữ bênh nặng được hiểu theo tình trạng bệnh có mức độ nguy hiểm đến tính mạng
Trang 22hai năm học 2010-2011, 2011-2012 tại phòng y tế _ trung tâm KTX ĐHQG TP HCM Trong đó số liệu tập trung vào hai trường ĐH là ĐHKHXH&NV và ĐH CNTT TPHCM Đối với hai trường ĐHKHTN và ĐH Kinh tế- Luật, vì sinh viên mua BHYT theo nhà trường, ngoại trừ những sinh viên nội trú tại KTX được nhà trường gửi danh sách về phòng y tế KTX, nên số liệu về tỉ lệ sinh viên ở trọ tham gia BHYT tại hai trường này là không thể xác định vì trong khi đăng kí tham gia BHYT không có sự phân biệt đối với nhóm sinh viên ngoại trú tại thành phố và sinh viên ở trọ tại làng ĐH QGTP HCM
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Đây là nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập ở địa bàn nghiên cứu, với dung lượng mẫu là 200 bảng hỏi chia đều cho sinh viên ở trọ tại làng ĐGQG của 4 trường ĐH nói trên, tức là mỗi trường bao gồm 50 bảng hỏi Trong đó, nhóm nghiên cứu có phát thêm
20 bảng hỏi dự phòng Nội dung bảng hỏi bao gồm các chỉ tiêu sau:
1 Thực trạng sinh viên tham gia và sử dụng thẻ BHYT trong KCB
Số sinh viên tham gia BHYT (từ 2010-2012)
Số sinh viên tham gia BHYT phân bổ theo trường, giới tính, thứ tự năm học
Tỉ lệ sử dụng thẻ BHYT trong KCB ( từ 2010-2012)
Tình trạng bệnh tật của sinh viên khi mua BHYT: trong hai năm trở lại đây đã được khám và điều trị bất kỳ một bệnh nào đó (bệnh về đường hô hấp như: viêm họng, viêm phế quản, cúm ; bệnh về mắt như: viêm kết mạc, rối loạn điều tiết ; bệnh về đường tiêu hóa như: đau dạ dày, viêm đại tràng ; bệnh về đường tiết niệu như: viêm đường tiết niệu, sỏi thận ; bệnh về răng miệng như: sâu răng, viêm lợi )
2 Chất lượng KCB bằng thẻ BHYT
Thái độ phục vụ tốt, không tốt dựa vào cách ứng xử, sự tận tình, niềm nở, cách xử trí cấp cứu, chẩn đoán, điều trị, tư vấn và giải thích các vấn đề liên quan đến sức khỏe, các chế độ chính sách về BHYT
Trang 23 Chế độ thuốc: đầy đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, hàm lượng, phong phú về chủng loại, đủ liệu trình để điều trị bệnh, không phải mua thêm thuốc
Thủ tục hành chính đơn giản hay phức tạp dựa vào thời gian làm thủ tục chuyển viện, đăng kí khám bệnh, chờ đợi khám bệnh, thanh toán viện phí, đợi lấy thuốc
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Thông qua phỏng vấn sâu có thể tìm hiểu sự hiểu biết, thái độ và nguyện vọng của sinh viên về BHYT, nhận biết rõ hơn các yếu tố thực sự tác động đến việc tham gia BHYT của sinh viên ở trọ Thái độ của sinh viên với việc mua thẻ BHYT cũng như ý kiến của sinh viên về mức đóng BHYT hiện nay, về khả năng đáp ứng nhu cầu KCB cho người có thẻ BHYT Và cuối cùng, phòng vấn sâu sẽ làm rõ hơn nữa những lý do sinh viên không tham gia BHYT cũng với nguyện vọng của sinh viên về mức nộp BHYT hiện nay
Trong nghiên cứu này, nhóm tiến hành thực hiện 8s cuộc phỏng vấn sâu, trong đó
8 cuộc chia đều cho sinh viên bốn trường nói trên
8 Ý nghĩa đề tài 8.1 Ý nghĩa lí luận
Đề tài nghiên cứu về thực trạng và các yếu tố tác động đến việc tham gia BHYT của sinh viên, do đó đề tài sẽ đóng góp các phát hiện và kinh nghiệm cho các nghiên cứu về BHYT Những kiểm chứng và kết quả nghiên cứu của đề tài hy vọng góp phần làm phong phú hơn những hiểu biết của xã hội đối với việc tham gia BHYT của sinh viên hiện nay, đặc biệt là sinh viên ở trọ
8.2 Ý nghĩa thực tiễn
Qua đề tài này, các cơ sở cung cấp thẻ BHYT có thể nắm được thực trạng tham gia BHYT của sinh viên ở trọ, những yếu tố tác động đến hoạt động này cũng như khả năng tiếp cận KCB bằng thẻ BHYT của sinh viên ở trọ hiện nay, từ đó đưa ra những giải pháp thích hợp để thu hút bộ phận này tham gia vào BHYT, góp phần thực hiện chính sách đổi mới về BHYT bắt buộc đối với HS-SV mang tính tự nguyện nhiều hơn
là bắt buộc ngày càng thành công hơn
Trang 24PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ HỌC SINH SINH VIÊN
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến BHYT
Để thống nhất cách hiểu, trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng các khái niệm BHYT được trích theo Luật BHYT, đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14 tháng 11 năm 2008 Luật số: 25/2008/QH12
a BHYT:
BHYT là “hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe,
không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật này” 1
Thẻ bảo hiểm y tế được cấp cho người tham gia bảo hiểm y tế và làm căn cứ để được hưởng các quyền lợi về bảo hiểm y tế theo quy định của Luật này
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế là cơ sở y tế có ký hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh với tổ chức BHYT
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế bao gồm:
a) Trạm y tế xã và tương đương, nhà hộ sinh;
b) Phòng khám đa khoa, chuyên khoa;
c) Bệnh viện đa khoa, chuyên khoa
c Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT ban đầu là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đầu tiên
Trang 25theo đăng ký của người tham gia bảo hiểm y tế và được ghi trong thẻ bảo hiểm y tế.1Đối với sinh viên ở trọ tại làng Đại học quốc gia Thủ Đức, cơ sở khám chữa bệnh ban đầu của các bạn là trạm y tế trường nơi các bạn đang theo học hoặc trạm y tế tại KTX ĐHQG Tp HCM
Người tham gia bảo hiểm y tế có quyền đăng ký khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm
y tế ban đầu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến xã, tuyến huyện hoặc tương đương; trừ trường hợp được đăng ký tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến tỉnh hoặc tuyến trung ương theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế
Đây là một trong những yêu cầu của luật BHYT để đảm bảo lộ trình toàn dân tham gia BHYT vào năm 2014 Học sinh - sinh viên có thể đăng ký nơi khám chữa bệnh ban đầu tại các cơ sở y tế tư nhân (không bắt buộc phải là cơ sở công lập) Nếu học sinh – sinh viên chọn cơ sở y tế tư, thì phải trả khoản chênh lệch (nếu có) Nếu đăng ký ở hệ thống y tế công lập, các đối tượng trên ở quận/huyện này có quyền đăng
ký khám chữa bệnh tại cơ sở y tế ở quận/huyện khác, và có quyền khám chữa bệnh vượt tuyến Nếu vượt tuyến từ bệnh viện quận/huyện lên tuyến trên, thì đóng chênh lệch 70% tổng chi phí khám chữa bệnh; nếu chuyển từ bệnh viện quận/huyện này qua bệnh viện quận/huyện khác, thì được BHYT chi trả 70%3
Là trường hợp vượt quá khả năng chuyên môn kỹ thuật thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế có trách nhiệm chuyển người bệnh kịp thời đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế khác theo quy định về chuyển tuyến chuyên môn kỹ thuật
Trang 26chính sách xã hội, BHYT vừa mang tính chất xã hội, vừa mang bản chất kinh tế
Về bản chất xã hội BHYT là loại hình bảo hiểm vì mục tiêu an sinh xã hội Bản
chất xã hội của BHYT được thể hiện trên các khía cạnh sau:
Thứ nhất là sự bảo trợ của Nhà nước về chăm sóc y tế dành cho các thành viên tham gia thể hiện BHYT một bộ phận quan trọng trong chính sách xã hội của mỗi quốc gia nhằm đảm bảo một trong những quyền thiêng liêng của con người, đó là quyền được chăm sóc y tế Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe không phải thuần túy chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân riêng lẻ, mà là trách nhiệm chung của cả cộng đồng Lẽ đương việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe trước tiên thuộc về mỗi cá nhân, nhưng vẫn cần sự trợ giúp mang tính nhà nước Ở đó Nhà nước giữ vai trò quan trọng, là người tổ chức, quản
Tính xã hội tương trợ cộng đồng nhân văn của BHYT còn thể hiện ở sự đoàn kết
xã hội trong chăm sóc y tế Chăm sóc y tế thông qua BHYT không phân biệt đóng nhiều hay ít, không phân biệt thành phần xã hội, tôn giáo, giai cấp mà phụ thuộc vào mức độ rủi ro về bệnh tật Thực tế cho thấy những người nghèo, người có thu nhập thấp thường là người hay ốm đau và cần nhiều kinh phí chữa bệnh Hơn nữa khi ốm đau lại làm giảm hoặc mất thu nhập nên càng làm cho họ khó khăn hơn về tài chính để tiếp cận các dịch vụ y tế BHYT mang tính xã hội là một giải pháp thực tế đưa họ tiếp cận dịch
vụ chăm sóc sức khỏe
Như vậy bản chất xã hội của BHYT thể hiện sự trợ giúp mang tính Nhà nước và
sự tương hỗ mang tính cộng đồng BHYT thể hiện bản chất nhân đạo và trình độ văn minh của xã hội phát triển
Trang 27Về bản chất kinh tế BHYT là một chính sách xã hội, hoạt động vì mục tiêu trợ
giúp xã hội, không vì lợi nhuận nhưng nó lại mang yếu tố kinh tế, thuộc phạm trù kinh
tế – y tế Thực hiện BHYT có hiệu quả là thực hiện một bài toán kinh tế y tế BHYT có chức năng làm nhiệm vụ phân phối lại thu nhập Có thể thấy được điều này nay chính trong bản chất xã hội ở sự tương trợ xã hội mang tính cộng đồng của BHYT Có hai góc độ thể hiện chính đó là sự phân phối trực tiếp và sự phân phối gián tiếp Phân phối trực tiếp thể hiện ở sự chuyển phần thu nhập của người tạm thời khỏe mạnh sang người đang ốm, của người bệnh nhẹ sang người bệnh nặng, của người trẻ sang người già yếu, thông qua sự điều hành luân chuyển của chính phần thu nhập đóng trực tiếp cho quỹ BHYT
1.1.3 Sự cần thiết của BHYT
Ra đời từ cuối thế kỷ XIX, BHYT là một trong những biện pháp hiệu quả nhất nhằm giúp đỡ mọi người khi gặp rủi ro về sức khoẻ để trang trải phần nào chi phí KCB giúp ổn định đời sống góp phần bảo đảm an toàn xã hội
Ngày nay, BHYT có ý nghĩa quan trọng hơn khi chi phí y tế và nhu cầu KCB ngày càng tăng Không ai có thể phủ nhận những thành tựu của ngành y học mở ra cho con người những hy vọng mới, nhiều bệnh hiểm nghèo đã tìm được thuốc phòng và chữa bệnh Nhiều trang thiết bị y tế hiện đại được đưa vào để chuẩn đoán và điều trị Nhiều công trình nghiên cứu về các loại thuốc đặc trị đã thành công Tuy nhiên không phải ai cũng có thể tiếp cận với những thành tựu đó đặc biệt là những người nghèo Đại
đa số người dân bình thường không có đủ khả năng tài chính để KCB, còn những người khá giả hơn cũng có thể gặp “bẫy” đói nghèo bất cứ khi nào Vì vậy, BHYT càng khẳng định vai trò không thể thiếu của mình trong đời sống con người
BHYT là cần thiết với tất cả mọi người do nó có tác dụng rất thiết thực Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã triển khai BHYT dưới nhiều hình thức tổ chức khác nhau Tuy nhiên dù triển khai dưới hình thức nào thì BHYT cũng có chung những tác
dụng sau: một là, giúp những người tham gia BHYT khắc phục khó khăn về kinh tế khi
bất ngờ bị ốm đau, bệnh tật Chi phí KCB là mối lo rất lớn đối với mỗi con người Khi
bị ốm đau, họ không thể tham gia lao động hoặc lao động với hiệu quả thấp dẫn đến thu
Trang 28nhập bị mất hoặc giảm Trong khi đó chi phí y tế ngày càng tăng gây khó khăn, ảnh hưởng đến ngân sách của mỗi gia đình Nhờ có BHYT mà người bệnh yên tâm chữa bệnh vì khó khăn của họ đã đựơc nhiều người san sẻ Từ đó họ sẵn sàng chữa bệnh cho
đến khi khỏi hẳn Hai là, làm tăng chất lượng KCB và quản lý y tế Chất lượng KCB
ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, tăng chất lượng KCB là mục tiêu hàng đầu của BHYT Chất lượng KCB có tốt thì mới thu hút được các đối tượng tham gia BHYT Ngược lại, nhờ có BHYT mới có nguồn tài chính để đầu tư cho công tác KCB Một trong những nguyên tắc của BHYT là số đông nên sự đóng góp của một người là nhỏ bé nhưng của cả cộng đồng thì rất lớn nên nguồn tài chính là rất lớn
Ba là tạo ra sự công bằng trong KCB BHYT là phân phối lại thu nhập giữa những
người tham gia Tham gia BHYT, người bệnh được chi trả theo phác đồ điều trị riêng của từng người chứ không phân biệt địa vị giàu nghèo BHYT hoạt động theo nguyên tắc có đóng có hưởng và mang tính nhân văn sâu sắc Ai cũng được đảm bảo quyền lợi khi tham gia tránh tình trạng tiêu cực vì bị cơ quan BHYT giám sát chặt chẽ Nếu con mình không may mắc bệnh phải nằm viện điều trị thì chắc chắn phụ huynh sẽ không yên tâm làm việc, đồng thời với phần thu nhập bị mất còn cộng thêm chi phí KCB sẽ làm cho kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn Có BHYT thì chi phí KCB này sẽ được chia sẻ với nhiều người do vậy gia đình người bệnh sẽ giảm được gánh nặng kinh tế rất lớn, góp phần ổn định kinh tế gia đình và làm giàu cho xã hội
BHYT HS-SV là một giải pháp cơ bản để chăm sóc sức khoẻ cho HS-SV Đây là đối tượng gắn liền với trường học nên công tác chăm sóc sức khoẻ cho các em cũng gắn liền với công tác YTHĐ Hiện nay ở nhiều nước trên thế giới, công tác chăm sóc sức khoẻ tại các trường học rất được chú trọng Một số nước như: Anh, Mỹ, Nhật, Philippin…hệ thống YTHĐ phát triển mạnh và hoạt động rất có hiệu quả trong việc chăm sóc sức khỏe cũng như giáo dục kiến thức sức khoẻ cho HS-SV
BHYT HS-SV là chăm lo cho thế hệ trẻ một cách toàn diện, không những chăm lo
về mặt sức khoẻ mà còn giáo dục nhân cách và lối sống nhân ái Tham gia BHYT sẽ giúp thấy được tác dụng của BHYT đối với mọi người xung quanh, với bạn bè mình và chính bản thân mình Thông qua BHYT các em sẽ học được cách chia sẻ khó khăn,
Trang 29đồng cảm với người không may gặp rủi ro Nhân cách sống tốt đẹp ấy sẽ hình thành trong chính bản thân mình, điều này theo họ đi hết cuộc đời và truyền từ đời này sang đời khác
Nói tóm lại, cũng như sự cần thiết phải thực hiện BHYT nói chung, BHYT
HS-SV cũng rất cần thiết phải triển khai vì tương lai của các em và vì một xã hội phát triển
1.1.4 Quyền lợi và trách nhiệm của các bên tham gia BHYT
1.1.4.1 Đối với sinh viên có thẻ BHYT
Quyền lợi
Được cấp thẻ theo mẫu qui định thống nhất toàn quốc
Được đăng ký KCB ban đầu tại cơ sở gần nơi cư trú theo hướng dẫn của cơ quan BHYT
Được bảo hiểm 24/24 giờ trong ngày theo thời hạn sử dụng thẻ Trong trường hợp cấp cứu tại bất kỳ cơ sở y tế nào của nhà nước cũng đều được hưởng chế độ BHYT
Được KCB ngoại trú (đựơc chi trả các chi phí dịch vụ y tế như tiền công khám, xét nghiệm, x quang, thủ thuật Riêng tiền thuốc HS-SV tự túc)
Được chi trả trong trường hợp tai nạn ốm đau, nội trú tại các cơ sở của nhà nước theo quy định chuyên môn và các quy định BHYT
Trường hợp KCB không đúng quy định, KCB theo yêu cầu riêng, HS-SV sẽ phải tự trả các chi phí cho bệnh viện Sau đó trên cơ sở hoá đơn, chứng từ hợp lệ được cơ quan BHYT thanh toán lại một phần chi phí KCB theo giá viện tại viện phí tại tuyến chuyên môn kỹ thuật phù hợp theo quy định của bộ y tế
Trường hợp không may bị tử vong được cơ quan BHYT chi trả trợ cấp mai táng phí 1.000.000đồng/học sinh
HS-SV tham gia BHYT liên tục từ 24 tháng trở lên được cơ quan BHXH thanh toán chi phí KCB đối với một số trường hợp đặc biệt như sau:
+ Phẫu thuật tim: không quá 10 triệu đồng/ người/ năm + Chạy thận nhân tạo: không quá 10 triệu đồng/ người/ năm
Trang 30+ Tiêm phòng uốn ván, súc vật cắn tối đa là 300.000 đồng/ người/ năm + Trợ cấp tử vong: theo mức 1 triệu đồng/ trường hợp
Cơ quan BHYT không thanh toán cho các trường hợp sau:
Các bệnh được Nhà nước đài thọ, sử dụng thuốc đặc trị như: phong, lao phổi, sốt rét, tâm thần phân liệt, động kinh
Phòng và chữa bệnh dại, xét nghiệm HIV, lậu, giang mai
Tiêm chủng mở rộng, điều trị, an dưỡng
Các bệnh bẩm sinh, dị tật bẩm sinh
Chỉnh hình, thẩm mỹ như: mắt giả, răng giả, chan tay giả …
Dịch vụ kế hoạch hoá gia đình
Tai nạn chiếnh tranh, thiên tai
KCB cấp cứu do tự tử, cố ý gây thương tích, nghiện chất ma tuý, vi phạm pháp luật
Không cho người khác mượn thẻ
1.1.4.2 Thực hiện đúng quy định của Nhà nước và sự hướng dẫn của cơ quan BHYT Đối với nhà trường
Trang 31 Mỗi trường hoặc cụm trường bố trí y tế trường học theo qui định và đảm bảo các điều kiện cho YTHĐ hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ qui định của liên Bộ Giáo dục - Đào tạo – Bộ Y tế về công tác YTHĐ
Nhà trường có trách nhiệm: tổ chức tuyên truyền, thực hiện đăng ký, kê khai, thu tiền đóng BHYT của học sinh và sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả nguồn kinh phí BHYT HS - SV để lại nhà trường
1.1.4.3 Đối với cơ sở KCB
Thực hiện việc ghi chép và cung cấp các tài liệu liên quan đến KCB BHYT
HS - SV để làm cơ sở thanh quyết toán tài chính
Các bệnh viện cùng cơ quan BHXH ký kết hợp đồng trách nhiệm, tạm ứng kinh phí và định kỳ quyết toán chi phí KCB theo qui định và hợp đồng KCB đã được ký
Tổ chức tiếp đón HS-SV khi đến KCB, có thái độ phục vụ tốt tránh phiền hà
Giới hiệu HS-SV lên đúng tuyến chuyên môn kỹ thuật để điều trị bệnh nếu vượt quá khả năng của tuyến mình
1.1.5 Thủ tục hành chính
Thủ tục hành chính là “trình tự về thời gian, không gian và là cách thức giải quyết
công việc cuả cơ quan hành chính nhà nước trong mối quan hệ với các cơ quan tổ chức
và công dân 1
1 http://baigiang.violet.vn/present/show?entry_id=570845
Trang 32Thủ tục hành chính trong thanh toán KCB bao gồm: thủ tục đăng kí KCB, thủ tục làm kiểm tra xét nghiệm, thủ tục chuyển viện lên tuyến trên, thủ tục thanh toán viện phí,…
Trong đề tài này, chế tài được áp dụng đối với những sinh viên không tham gia
BHYT được hiểu là một hình thức chế tài chính thức được nhà trường quy định: “Các
sinh viên không đóng phí BHYT sẽ được xem là vi phạm pháp luật, vi phạm quy chế Công tác Sinh viên Nhà trường sẽ ra quyết định kỷ luật sinh viên với hình thức cảnh cáo, lưu trong hồ sơ, hạ điểm rèn luyện, hạn chế các chế độ chính sách, hạn chế các dịch vụ hỗ trợ cho sinh viên” 2
1.1.7 Sinh viên
Sinh viên là “một nhóm xã hội đặc biệt, đang tiếp thu những kiến thức, kỹ năng
chuyên môn ở các trường cao đẳng, đại học để chuẩn bị cho hoạt động nghề nghiệp sau khi ra trường” 3
1.1.8 Sinh viên ở trọ
Với đề tài nghiên cứu về thực trạng và các yếu tố tác động đến sự tham gia BHYT của sinh viên ở trọ hiện nay, chúng tôi tiếp cận khái niệm “sinh viên ở trọ” là những sinh viên hiện tại đang sống ngoại trú Đây là những sinh viên hiện đang cư trú tại nhà trọ, được chủ nhà cho thuê phòng để sinh hoạt và học tập Môi trường ở trọ của sinh
1 Nhập môn xã hội học- TS Trần Thị Kim Xuyến- NXB ĐHQGTP HCM 2
http://www.hcmus.edu.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=4877&Itemid=718 3
Viện tâm lý học, Mot_so_dac_diem_tam_ly_co_ban_cua_sinh_vien.html
Trang 33http://www.tamly.com.vn/home/?act=News-Detail-s-11-699-viên đơn giản và ít chịu sự kiểm soát của xã hội hơn so với sinh http://www.tamly.com.vn/home/?act=News-Detail-s-11-699-viên nội trú
1.2.1 Lý thuyết hành vi lựa chọn
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng lý thuyết hành vi lựa chọn của George Homans Lý thuyết này bắt nguồn từ lý thuyết gốc là thuyết lựa chọn duy lý1 Thuyết lựa chọn duy lý dựa vào tiền đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu2
Ở đây, thuật ngữ “lựa chọn” được hiểu và dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc,
tính toán để quyết định sử dụng loại phương tiện hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức hiện có để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực
Thông qua các định đề cơ bản về hành vi người, Homans cho rằng: “con người sẽ
quyết định lựa chọn một hành động nào đấy ngay cả khi giá trị của nó thấp nhưng được
bù lại, họ chọn hành động đó vì tính khả thi của nó rất cao3 Mặt khác, ông cũng cho rằng, sự lựa chọn hợp lý trên cơ sở đánh gía các yếu tố điều kiện khách quan của hành động từ phía bản thân chủ thể, từ góc độ chủ quan của người ra quyết định chứ khó có thể dựa vào những tính toán chính xác4”
Hơn nữa, Homans đã chỉ ra là con người rất quan tâm tới việc phần thưởng của họ
có tương ứng với sự đầu tư và đóng góp của họ hay không5 Trên cơ sở lý luận này, khi áp dụng vào thực hiện việc tham gia BHYT cũng như việc sử dụng thẻ BHYT trong KCB của sinh viên ở trọ hiện nay, cần thấy rằng, lựa chọn tham gia BHYT là một trong số những lựa chọn của sinh viên ở trọ hiện nay Họ
có thể lựa chọn tham gia hoặc không tham gia BHYT Sự lựa chọn này được xem là lựa chọn hợp lý sau khi họ đã cân nhắc, tính toán để quyết định có tham gia BHYT hay không Việc lựa chọn này chịu nhiều tác động từ các yếu tố bên ngoài, nhưng trọng tâm
1 Còn có tên gọi là thuyết lựa chọn hợp lý 2
Lịch sử và lý thuyết xã hội học, Lê Ngọc Hùng, NXB Khoa học xã hội, tr.354 3
Lịch sử và Lý thuyết xã hội học, Lê Ngọc Hùng, NXB khoa học xã hội, tr.366 4
Lịch sử và Lý thuyết xã hội học, Lê Ngọc Hùng, NXB khoa học xã hội, tr.366 5
Lịch sử và Lý thuyết xã hội học, Lê Ngọc Hùng, NXB khoa học xã hội, tr.367
Trang 34vẫn là từ phía bản thân của sinh viên
Mặt khác, cũng cần thấy rằng, sinh viên rất quan tâm đến việc phần thưởng (lợi ích) của việc tham gia BHYT có tương ứng với sự đầu tư và đóng góp của họ (chi phí tham gia BHYT)
Chính những điều này đã tạo nên tính hợp lý cho hành động có nên tham gia hoặc không tham gia, cũng như có sử dụng thẻ BHYT trong việc KCB bằng thẻ BHYT hay không của sinh viên ở trọ hiện nay
1.2.2 Lý thuyết cấu trúc-chức năng
Lý thuyết chức năng-cấu trúc gắn liền với các nhà xã hội học như Auguste Comte, Herbert Spencer, Emile Durkheim, Talcott Parson và nhiêù người khác Các tác giả của thuyết này đều nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể và mỗi bộ phận đều có chức năng nhất định góp phần bảo đảm sự tồn tại của chỉnh thể đó với tư cách là một cấu trúc tương đối ổn đinh, bền vững
Comte là người đầu tiên đưa ra hướng nghiên cứu tĩnh học xã hội tìm hiểu các qui luật duy trì sự ổn định, trật tự của cấu trúc xã hội Ông cho rằng do thiếu sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận mà cấu trúc xã hội bị rối loạn gây ra sự bất thường xã hội Riêng Spencer đã vận dụng hàng loạt các khái niệm sinh vật học như sự tiến hóa,
sự phân hóa chức năng và đặc biệt là khái niệm cấu trúc và khái niệm chức năng để giải thích các hiện tượng của sinh thể/cơ thể xã hội Ông chỉ ra rằng sự biến đổi chức năng của các bộ phận kéo theo sự biến đổi cáu trúc cảu các chính thể xã hội
Phương pháp luận: thuyết chức năng hướng vào giải quyết các vấn đề bản chất
của cấu trúc xã hội và hệ quả của cấu trúc xã hội Đối với bất kì sự kiện hiện tượng xã hội nào những người theo hướng chức hướng vào việc phân tích các thành phần tạo nên cấu trúc của chúng Và xem các thành phần đó có mối liên hệ với nhau như thế nào và đặc biệt xét quan hệ của chúng đối với nhu cầu chung của sự tồn tại, phát triển sự kiện, hiện tượng đó
Tóm lại các luận điểm gốc của thuyết cấu trúc – chức năng đều nhấn mạnh tính cân bằng, ổn định và khả năng thích nghi của cấu trúc Thuyết này cho rằng một xã hội tồn tại và phát triển được là do các bộ phận cấu thành của nó hoạt động nhịp nhàng với
Trang 35nhau để đảm bảo sự cân bằng chung của cả cấu trúc Bất kì sự thay đổi nào ở thành phần nào cũng kéo theo sự thay đổi ở các thành phần khác Sự biến đổi của cấu trúc tuân theo qui luật tiến hóa, thích nghi khi môi trường sống thay đổi
Trong đề tài nghiên cứu của mình chúng tôi tiếp cận vấn đề theo 2 hướng:
+ Ở cấp độ vĩ mô: BHYT có ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần vào
việc duy trì và phát triển xã hội, đảm bảo an sinh xã hội BHYT tác động mạnh mẽ đến cuộc sống mỗi con người Nó trở thành một phần không thể thiếu trong quá trình hình thành và duy trì xã hội
+ Ở cấp độ vi mô: Xét đến BHYT trong học đường, sinh viên là một bộ phận có thu
nhập chưa ổn định, còn phụ thuộc phần lớn vào gia đình Phần lớn sinh viên chưa có khả năng bảo vệ sức khỏe, dễ dàng gặp nhiều rủi ro trong cuộc sống BHYT có vai trò quan trọng trong học đường, nó giúp các sinh viên có thể vượt qua những bệnh tật, rủi ro trong cuộc sống BHYT vừa mang lại lợi ích bảo vệ sức khỏe, vừa bảo đảm kinh tế cho sinh viên, đảm bảo lợi ích thiết thực cho sinh viên để có sức khỏe và cuộc sống tốt cho sinh viên, đảm bảo cho họ có một thể trạng tốt để học tập và làm việc hiệu quả
Đề tài tiếp cận lý thuyết chức năng- cấu trúc ở cấp độ vi mô để thấy được tầm quan trọng của BHYT đối với sinh viên hiện nay trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
Trang 36Chế tài xử lý khi SV không tham
gia BHYT
Thủ tục hành chính trong KCB
bằng BHYT
Thực trạng tham gia BHYT của SV ở trọ
Thực trạng sử dụng thẻ BHYT trong KCB của SV ở trọ
Sinh viên ở trọ Các yếu tố tác động đến việc tham gia BHYT
Trang 37CHƯƠNG II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu về thực trạng về các yếu tố tác động đến việc tham gia BHYT của sinh viên có mẫu nghiên cứu là sinh viên thuộc bốn trường ở làng ĐH Thủ Đức –
Tp HCM Đó là trường ĐHKHXH&NV, trường ĐHCNTT, trường KHTN, trường ĐH Kinh tế- Luật Mẫu nghiên cứu có những đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, về giới tính: Theo như kết quả khảo sát thì có tỉ lệ nam, nữ không có
sự chênh lệch đáng kể Tỉ lệ nam có 104 trường hợp chiếm 52% trong tổng số mẫu được khảo sát Và nữ có 96 trường hợp chiếm tỉ lệ 48% tổng số mẫu nghiên cứu
Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát
Thứ hai, về số lượng sinh viên giữa các trường: Khi tiến hành khảo sát đối
tượng là sinh viên thuộc khu vực làng đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh Số lượng mẫu
khảo sát rơi vào các bạn đang theo học các trường như sau:
Bảng 2.2: Tỉ lệ sinh viên của các trường
Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát
Theo kết quả khảo sát thì mẫu nghiên cứu được chia đều đặn cho tất cả các trường Mỗi trường đều chiếm 25% tỉ lệ sinh viên thuộc mẫu nghiên cứu để có thể làm
rõ mục đích của bài nghiên cứu và để thuận tiện cho việc so sánh giữa sinh viên giữa các trường Sinh viên mỗi trường đều có đặc điểm khác nhau và nội quy trường học
Trang 38cũng khác nhau nên dễ dàng cho việc so sánh sự khác biệt giữa các trường
Thứ ba, về thứ tự năm học của sinh viên Tỉ lệ sinh viên giữa các năm học
không có sự chênh lệch nhiều Trong số mẫu nghiên cứu có tỉ lệ sinh viên năm ba nhiều nhất với 29.5% trong tổng số mẫu Kế tiếp là sinh viên năm thứ tư với tỉ lệ 26% trong tổng số mẫu nghiên cứu Còn đối với tỉ lệ sinh viên năm nhất và sinh viên năm hai chiếm tỉ lệ tương đương nhau lần lượt là 22% và 22.5% trong tổng số mẫu nghiên cứu
Bảng2.3: Sinh viên các năm học
Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát
Từ kết quả các câu trả lời thể hiện quan điểm, thái độ và ý thức của người trả lời với vấn đề Chúng tôi thu được kết quả cụ thể như sau:
Một là, về “hiểu biết quyền lợi khi tham gia BHYT” Với 200 sinh viên được
nghiên cứu cho thấy quyền lợi được sinh viên nhận thức cao nhất là quyền được các cơ
sở y tế thanh toán chi phí theo chế độ BHYT, với 139 sinh viên chiếm 69.5% Tiếp đến
là quyền được cấp thẻ BHYT với 126 sinh viên, chiếm 63%; tiếp theo là quyền được lựa chọn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi tham gia BHYT với 95 mẫu chiếm 47.5%; đáng chú ý khi tỉ lệ sinh viên cho rằng mình có quyền KCB vượt tuyến hay được yêu cầu cung cấp thông tin, giải thích về chế độ BHYT tại các cơ sở BHYT, cơ sở KCB bằng thẻ BHYT và cơ quan liên quan lại không cao Chỉ có 40 sinh viên cho rằng một trong những quyền lợi mình được hưởng hưởng khi tham gia BHYT có việc KCB vượt tuyến, chiếm 20.0% cũng như việc yêu cầu có 41 mẫu chiếm 20.5%; và trên hết, đối với tất cả các quyền lợi trên để thấy được nhận thức đầy đủ của sinh viên về quyền lợi khi tham gia BHYT lại chỉ, chiếm 18.5% Từ đó cho thấy nhận thức đầy đủ về quyền lợi của sinh viên hiện nay khi tham gia BHYT vẫn còn ở mức thấp
Trang 39Bảng:2.4 Hiểu biết về quyền lợi khi tham gia BHYT
Được BHYT thanh toán chi phí KCB 139 69.5%
Được yêu cầu giải thích, cung cấp thông tin về BHYT
Bảng 2.5: Khả năng được thanh toán chi phí KCB khi SV vượt tuyến
Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát
Ba là, về tỉ lệ phần trăm mức phí KCB mà sinh viên nhận lại được khi tham gia
KCB vượt tuyến Trong 130 sinh viên cho rằng mình sẽ được thanh toán lại chi phí KCB KCB vượt tuyến, với các mức tỉ lệ được thanh toán đưa ra khác nhau chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 2.6: Tỉ lệ phần trăm mức phí được thanh toán lại khi KCB vượt tuyến
Trang 40Như vậy, nhìn vào bảng trên ta có thể thấy mức tỉ lệ được các bạn sinh viên chọn
nhiều nhất là “khoảng 20-30%”, với 50 sinh viên lựa chọn, chiếm 38,5% Tiếp đến là
“khoảng 50%” với 39 sinh viên lựa chọn, chiếm 30% Lựa chọn “khoảng 70-80%”
được sinh viên lựa chọn ít hơn, với 26,2% lựa chọn Mặc dù, đây chỉ là một phép thử để đánh giá khả năng nhận thức của sinh viên trong KCB vượt tuyến, vì đối với những trường hợp vượt tuyến khác nhau sẽ có những mức tỉ lệ được thanh toán khác nhau Điều này phụ thuộc vào xếp hạng của bệnh viện mà sinh viên KCB vượt tuyến tại đó Chẳng hạn, khi sinh viên KCB vượt tuyến tại những bệnh viện được xếp hạng loại 3, 4 hay chưa qua xếp hạng thì mức phí được thanh toán lại cho sinh viên là 70%, đối với những bệnh viện loại 2 là 50%, và cuối cùng đối với những bệnh viện loại 1 là 30% Chỉ có một bộ phận nhỏ sinh viên đủ nhận thức về mức chi trả trong trường hợp KCB
vượt tuyến khi chọn đáp án khác với lí do “còn tùy bệnh viện vượt tuyến loại nào” Đây
là đáp án mà chúng tôi mong đợi nhất có thể phản ánh đầy đủ nhận thức về mức khả năng được thanh toán chi phí khi KCB vượt tuyến của sinh viên hiện nay Tuy nhiên số lượng sinh viên chọn đáp án này lại rất ít, chỉ có 7 sinh viên lựa chọn, chiếm 5.4% Qua bảng hỏi chúng ta có thể thấy sơ lượt qua các số liệu về hiểu biết của sinh viên về BHYT còn rất ít Nó được thể hiện rõ nhất qua bảng 4 với câu hỏi chọn nhiều đáp án, phần đáp án tất cả các ý kiến trên chỉ có 18.5% người chọn, còn những đáp án còn lại cho thấy sinh viên có hiểu biết những kiến thức về BHYT nhưng nó chỉ đừng lại
ở mức cơ bản
Điều đó được chứng minh rõ hơn trong bảng 5, 6 với khả năng được thanh toán và mức phí được thanh toán khi KCB vượt tuyến bằng thẻ BHYT Qua đó ta có thể nhìn thấy nhận thức về BHYT của sinh viên tham gia trả lời bảng hỏi rất thấp Điều này càng được thể hiện rõ thông qua kết quả các cuộc phỏng vân sâu với sinh viên Khi được hỏi về chế độ đóng BHYT, các hoạt động tuyên truyền về BHYT, hay về luật và quyền lợi khi đóng BHYT? Hầu hết sinh viên trả lời với những câu trả lời gần như là các bạn không hề biết gì về BHYT Những bạn biết về quy định đóng bảo hiểm bắt buộc thường thông qua cán bộ lớp hay thông báo của phòng y tế Tuy nhiên khi đóng BHYT các bạn thường chỉ được biết về địa điểm đóng, được chọn tuyến đăng ký tại các