1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng nhận thức về vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản giới tính cho trẻ vị thành niên

72 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng nhận thức về vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản – giới tính cho trẻ vị thành niên
Tác giả Trịnh Thị Thủy
Người hướng dẫn Phạm Thị Oanh, Giảng viên
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Chuyên ngành Công tác xã hội
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2014
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lí do chọn đề tài (9)
  • 2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài (10)
    • 2.1. Ý nghĩa khoa học (11)
    • 2.2. Ý nghĩa thực tiễn (11)
  • 3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu (12)
    • 3.1. Mục đích nghiên cứu (12)
    • 3.2. Phạm vi nghiên cứu (12)
  • 4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu (12)
    • 4.1. Đối tƣợng nghiên cứu (0)
    • 4.2. Khách thể nghiên cứu (12)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (12)
    • 5.1. Phương pháp luận (12)
    • 5.2. Các phương pháp nghiên cứu (13)
      • 5.2.1. Phương pháp phỏng vấn sâu (13)
      • 5.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (14)
      • 5.2.3. Phương pháp thảo luận nhóm (14)
      • 5.2.4. Phương pháp quan sát (14)
      • 5.2.5. Phương pháp phân tích tài liệu (15)
  • 6. Giả thiết nghiên cứu (15)
  • 7. Bố cục bài khóa luận (15)
  • CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU (16)
    • 1.1. Cơ sở lý luận của đề tài (16)
      • 1.1.1. Các lý thuyết làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu (16)
        • 1.1.1.1. Thuyết nhu cầu của A.Maslow (16)
        • 1.1.1.2. Thuyết nhận thức hành vi (18)
        • 1.1.2.2. Khái niệm sức khỏe sinh sản (20)
        • 1.1.2.3 Khái niệm giáo dục giới tính (21)
        • 1.1.2.4. Khái niệm về giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên (22)
        • 1.1.2.5. Đặc điểm phát triển thể chất, tâm sinh lí của lứa tuổi vị thành niên (22)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu (23)
      • 1.2.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu (23)
        • 1.2.1.1. Trên thế giới (23)
        • 1.2.1.2. Ở Việt Nam (25)
      • 1.2.2. Quan điểm của Đảng, nhà nước về vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản - giới tính cho trẻ vị thành niên (26)
      • 1.2.3. Tổng quan về xã Yên Phú, Yên Định, Thanh Hóa (28)
        • 1.2.3.4. Vài nét về trường THCS Yên Phú (32)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN - GIỚI TÍNH CHO TRẺ VỊ THÀNH NIÊN TẠI TRƯỜNG (34)
    • 2.1. Thực trạng nhận thức về vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản - giới tính cho trẻ VTN (34)
      • 2.1.1. Tình hình chung về giáo dục sức khỏe sinh sản - giới tính cho trẻ vị thành niên (34)
        • 2.1.1.1. Trong cả nước (34)
        • 2.1.1.2. Tại Thanh Hóa (34)
      • 2.1.2. Thực trạng nhận thức về vấn đề GDSKSS - GT cho trẻ VTN tại địa bàn nghiên cứu (35)
        • 2.1.2.1. Thực trạng nhận thức của học sinh về vấn đề GDSKSS - GT (35)
        • 2.1.2.2. Thực trạng nhận thức của nhà trường về vấn đề GDSKSS - GT cho học (44)
        • 2.1.2.3. Nhận thức của gia đình về vấn đề GDSKSS - GT cho học sinh (49)
      • 2.2.1. Nguyên nhân chủ quan (52)
      • 2.2.2. Nguyên nhân khách quan (52)
    • 2.3. Một số biện pháp trong việc nâng cao nhận thức về việc GDSKSS - GT cho trẻ VTN (54)
    • 2.4. Vai trò của NVXH trong việc nâng cao nhận thức về vấn đề GDSKSS - GT (58)
  • PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (61)
    • 1. Kết luận (61)
    • 2. Kiến nghị (63)
  • PHỤ LỤC (66)
    • A. Maslow (0)

Nội dung

Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu đã cung cấp cái nhìn toàn diện về nhận thức của học sinh, gia đình và nhà trường về vấn đề GDSKSS - GT, qua đó làm sáng tỏ những hạn chế và khó khăn mà các em học sinh đang gặp phải trong quá trình tiếp cận kiến thức Thông qua phân tích này, chúng ta có thể nâng cao nhận thức của các tầng lớp xã hội về tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe sinh sản và giới tính Việc nâng cao nhận thức giúp thúc đẩy các hoạt động giáo dục phù hợp hơn, góp phần hướng tới việc xây dựng cộng đồng hiểu biết và có trách nhiệm hơn về sức khỏe sinh sản và giới tính của thế hệ trẻ.

Nghiên cứu đã tập trung vào việc khảo sát cách học sinh tiếp cận các thông tin và dịch vụ về GDSKSS - GT, từ đó đánh giá và phân tích vấn đề dưới góc độ của công tác xã hội Đề tài vận dụng các lý thuyết như nhu cầu của A Maslow, thuyết nhận thức hành vi và thuyết cấu trúc chức năng, cùng các phương pháp và kỹ năng của ngành CTXH để làm rõ các yếu tố liên quan đến vấn đề GDSKSS - GT Việc áp dụng lý thuyết vào nghiên cứu giúp liên kết lý luận với thực tiễn, từ đó tạo nền tảng phát triển các lý thuyết sau này và mở ra cách tiếp cận mới trong việc tiếp cận vấn đề này.

Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu này giúp cho các em học sinh tại Trường THCS Yên Phú nâng cao đƣợc nhận thức, hiểu biết về vấn đề GDSKSS - GT

Giúp ban lãnh đạo và cán bộ giáo viên nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của việc truyền đạt kiến thức về GDSKSS - GT, góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong công tác giáo dục sức khỏe giới tính cho học sinh Đồng thời, hỗ trợ các cán bộ giáo viên trang bị kỹ năng cần thiết để tổ chức các hoạt động truyền thông hiệu quả, từ đó giúp các em phát triển toàn diện về kiến thức và kỹ năng sống.

Nghiên cứu này giúp gia đình, các cơ quan chức năng, hội phụ nữ và đoàn thanh niên có cái nhìn đúng đắn và thực tiễn về công tác tuyên truyền và phổ biến kiến thức về giới tính, sức khỏe sinh sản và kỹ năng giao tiếp cho các em Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng các hoạt động giáo dục giới tính phù hợp, góp phần nâng cao nhận thức và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của trẻ Việc tuyên truyền đúng hướng sẽ giúp các em hiểu rõ hơn về sức khỏe sinh sản, tránh những hiểu lầm và nguy cơ tiềm ẩn, từ đó đảm bảo môi trường giáo dục an toàn và lành mạnh.

Mục đích và phạm vi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng nhận thức của các em học sinh, nhà trường và gia đình về vấn đề GDSKSS - GT

- Đƣa ra các giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao nhận thức của học sinh, thầy cô, gia đình và xã hội về vấn đề này

- Vai trò của nhân viên xã hội trong việc nâng cao nhận thức về GDSKSS -

Phạm vi nghiên cứu

Thời gian: Nghiên cứu đƣợc tiến hành từ ngày 17/02-5/2014

Không gian: Nghiên cứu tại Trường THCS Yên Phú, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa

Nhận thức về việc giữ gìn sức khỏe sinh sản và giới tính cho học sinh THCS là vấn đề toàn xã hội cần được quan tâm Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian, kiến thức và kinh nghiệm cá nhân, nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc tìm hiểu thực trạng và đề xuất các biện pháp nâng cao ý thức cho học sinh THCS về GDSKSS - GT Việc nâng cao nhận thức này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các hành vi tích cực và bảo vệ sức khỏe sinh sản cho giới trẻ.

Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu

Học sinh, thầy cô Trường THCS Yên Phú, gia đình và những người có liên quan.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận

Phương pháp luận Mácxit nhấn mạnh việc phân tích các sự kiện và hiện tượng trong bối cảnh lịch sử cụ thể, giúp hiểu rõ mối liên hệ giữa chúng và các hệ thống xung quanh Đặt các hiện tượng trong hoàn cảnh lịch sử là yếu tố quan trọng để xác định bản chất và đặc điểm riêng của từng vấn đề nghiên cứu Phương pháp này yêu cầu phân tích tác động của các yếu tố lịch sử, xã hội và kinh tế đối với sự phát triển của các hiện tượng, từ đó đưa ra các nhận định chính xác và toàn diện hơn.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội và thách thức lớn, đặc biệt là những tác động tích cực và tiêu cực đến nền kinh tế, văn hóa và xã hội Sự du nhập của các nền văn hóa thiếu lành mạnh và lối sống buông thả đang ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị văn hóa truyền thống và các phong tục tập quán dân tộc Các hành vi lệch chuẩn ngày càng gia tăng, cùng với sự xuất hiện của các tệ nạn xã hội đa dạng và phức tạp, đòi hỏi sự chú trọng đặc biệt đến công tác giáo dục xã hội nhằm hạn chế các tiêu cực này Chính vì vậy, nâng cao nhận thức xã hội và thực hiện các hoạt động giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản (GDSKSS – GT) trở thành nhiệm vụ cấp thiết, cần được triển khai ngay trong giai đoạn hiện nay.

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã phối hợp với các tổ chức đoàn thể như nhà trường, đoàn trường, hội phụ nữ xã và đoàn thanh niên để thực hiện các hoạt động một cách đồng bộ và hiệu quả Sự hợp tác này nhằm tạo ra tác động lâu dài và duy trì giá trị cho các thế hệ học sinh tiếp theo, góp phần nâng cao hiệu quả của phương pháp nghiên cứu đã áp dụng.

Các phương pháp nghiên cứu

Phỏng vấn là phương pháp thu thập dữ liệu quan trọng trong nghiên cứu xã hội học, thông qua việc tiếp xúc trực tiếp để tác động tâm lý - xã hội giữa người hỏi và người được hỏi Phương pháp này giúp thu thập thông tin chính xác, phù hợp với mục tiêu nghiên cứu Đặc biệt, phỏng vấn là công cụ hiệu quả để hiểu rõ các khía cạnh tâm lý và xã hội của đối tượng nghiên cứu.

Phỏng vấn sâu là phương pháp nghiên cứu giúp đi vào từng vấn đề một cách chi tiết để hiểu rõ hơn về chủ đề mong muốn Người phỏng vấn tự do trong việc dẫn dắt cuộc trò chuyện và đặt câu hỏi, nhằm thu thập thông tin chính xác theo mục tiêu nghiên cứu Mục đích của phỏng vấn sâu không phải để có cái nhìn tổng thể, mà để đào sâu vào một vấn đề cụ thể, đặc biệt là những vấn đề nhạy cảm như sức khỏe sinh sản tuổi học sinh Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu 10 học sinh lớp 9 để đánh giá nhận thức về sức khỏe sinh sản và giới tính, cũng như các hoạt động đã thực hiện trước đó, nhằm xác định nhu cầu và xây dựng các chương trình phù hợp Ngoài ra, chúng tôi cũng phỏng vấn sâu ban lãnh đạo, giáo viên và các đối tượng liên quan để có cái nhìn toàn diện hơn về thực trạng và nhu cầu của học sinh.

5.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Chưa có nghiên cứu chính thức nào về nhận thức GDSKSS - GT tại cơ sở, dẫn đến thiếu dữ liệu thống kê chính xác để đánh giá thực trạng này Để khắc phục, tôi đã thực hiện khảo sát bằng bảng hỏi với 100 phiếu, trong đó 20 câu hỏi được chọn mẫu ngẫu nhiên từ 100 học sinh lớp 8, 9 tại trường THCS Yên Phú Phương pháp này kết hợp phân tích tài liệu và xử lý dữ liệu nhằm đưa ra đánh giá toàn diện về nhận thức của học sinh, nhà trường và gia đình về vấn đề này.

Từ đó đƣa ra đƣợc các giải pháp phù hợp đối với vấn đề này

5.2.3 Phương pháp thảo luận nhóm

Phương pháp thảo luận nhóm là một kỹ thuật phổ biến trong công tác xã hội, nơi nhân viên xã hội đặt ra các vấn đề hoặc câu hỏi gợi ý để các thành viên nhóm thảo luận trong thời gian quy định Thảo luận nhóm giúp thu thập thông tin hiệu quả và được ứng dụng rộng rãi trong ngành công tác xã hội để phân tích, hiểu rõ hơn về các chủ đề nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã tổ chức thành công 3 buổi thảo luận nhóm với sự tham gia của các em học sinh nam nữ, nhằm làm rõ các nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu.

Phương pháp này giúp nâng cao khả năng hiểu rõ những thắc mắc, mong muốn và nguyện vọng của các em Qua đó, chúng ta có thể nắm bắt được suy nghĩ của các em về các vấn đề liên quan đến GDSKSS - GT, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp và hiệu quả hơn trong công tác giáo dục giới tính.

Quan sát là một trong những phương pháp được sử dụng xuyên suốt, gắn liền với tiến trình nghiên cứu

Quan sát là phương pháp thu thập thông tin về đối tượng một cách đầy đủ và toàn diện Phương pháp này giúp ghi nhận các chi tiết về nhận thức, thái độ, suy nghĩ, hành vi, cử chỉ (bao gồm ngôn ngữ và phi ngôn ngữ) của đối tượng, từ đó làm rõ và bổ sung câu trả lời của họ Nhờ vào việc quan sát kỹ lưỡng, người nghiên cứu có thể có cái nhìn chính xác hơn về đặc điểm và hành vi của đối tượng cần khảo sát.

5.2.5 Phương pháp phân tích tài liệu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để khai thác các nguồn tư liệu sơ cấp và thứ cấp liên quan đến xã Yên Phú, trường THCS và các vấn đề về sức khỏe sinh sản – giới tính Các tài liệu này bao gồm các tài liệu chung về địa bàn, tài liệu thu thập từ internet và các nguồn chính thống khác nhằm thu thập dữ liệu chính xác, đầy đủ để phục vụ công trình nghiên cứu Việc phân tích tài liệu giúp xác định các thông tin quan trọng về tình hình địa phương, hoạt động giáo dục, cũng như thực trạng sức khỏe sinh sản – giới tính của cộng đồng để từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp.

Giả thiết nghiên cứu

Nhận thức của học sinh, các thầy cô và những người có liên quan về vấn đề này đang còn hạn chế

Việc GDSKSS - GT cho trẻ VTN chƣa nhận đƣợc sự quan tâm đúng mức từ phía gia đình, nhà trường và xã hội

Các giải pháp thúc đẩy nâng cao nhận thức về giới và sức khỏe sinh sản cho trẻ vị thành niên đóng vai trò quan trọng trong việc giúp học sinh, thầy cô, gia đình và xã hội hiểu rõ hơn về vai trò của kiến thức này Việc tăng cường giáo dục giới tính sẽ góp phần giảm thiểu các nguy cơ về sức khỏe sinh sản và nâng cao kỹ năng phòng tránh hình thành các hành vi an toàn Các chương trình giáo dục phù hợp, truyền thông hiệu quả và sự phối hợp giữa các bên liên quan sẽ thúc đẩy nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản cho trẻ vị thành niên Nhờ đó, hình thành môi trường hỗ trợ, bảo vệ và nâng cao nhận thức cho các em về vấn đề này ngày càng hiệu quả hơn.

Bố cục bài khóa luận

Bài khóa luận kết cấu gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung, kết luận và khuyến nghị

Ngoài phần mở đầu và kết luận thì phần nội dung được chia làm 2 chương Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Thực trạng nhận thức về vấn đề GDSKSS - GT cho trẻ vị thành niên tại Trường THCS Yên Phú, Yên Định, Thanh Hóa.

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý luận của đề tài

Việc tìm hiểu thực trạng và phân tích những khó khăn, thuận lợi trong công tác giáo dục sức khỏe sinh sản và giới tính cho trẻ vị thành niên sẽ đạt hiệu quả cao hơn khi nhân viên công tác xã hội được trang bị nền tảng lý thuyết vững chắc Điều này giúp nhân viên dễ tiếp cận đối tượng hơn và tích hợp các lý thuyết vào quá trình làm việc để giải quyết các vấn đề liên quan Trong nghiên cứu này, tôi đã dựa trên các lý thuyết như Thuyết nhu cầu của A Maslow, thuyết phát triển nhận thức - hành vi và thuyết chức năng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác giáo dục sức khỏe sinh sản giới tính cho trẻ vị thành niên.

1.1.1 Các lý thuyết làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu 1.1.1.1 Thuyết nhu cầu của A.Maslow

Theo thuyết nhu cầu của A Maslow, con người cần đáp ứng các nhu cầu cơ bản để tồn tại và phát triển Ông chia các nhu cầu thành 5 cấp bậc theo thứ tự từ thấp đến cao, trong đó mỗi cấp độ đóng vai trò quan trọng đối với sự tiến bộ của cá nhân Nhu cầu sơ cấp như ăn uống, ngủ nghỉ là nền tảng cho những nhu cầu cao hơn như an toàn, xã hội, tự lập, và self-actualization Các cấp độ này được sắp xếp theo thang thứ bậc, nhằm nhấn mạnh rằng nhu cầu ở mức thấp phải được đáp ứng trước khi con người có thể hướng tới các nhu cầu cao hơn, góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện.

 Nhu cầu xã hội hay nhu cầu được yêu thương

 Nhu cầu đƣợc tôn trọng

 Nhu cầu đƣợc thể hiện mình

Dưới đây là bậc thang nhu cầu nhằm đánh giá nhu cầu của trẻ VTN được sắp xếp theo bậc thang tầm quan trọng từ thấp đến cao

Hình 1.1: Bậc thang nhu cầu của Trẻ VTN chiếu theo bậc thang nhu cầu của A.Maslow

Nhu cầu khẳng định mình Nhu cầu đƣợc tôn trọng Nhu cầu đƣợc an toàn Nhu cầu xã hội

Nhu cầu thể chất và sinh lí

Theo bậc thang nhu cầu của Maslow, bản chất của con người luôn mang trong mình những nhu cầu khác nhau, từ những nhu cầu thiết yếu như ăn uống, đi lại đến những nhu cầu cao hơn như được tôn trọng và khẳng định bản thân Trẻ em cũng không ngoại lệ, luôn mong muốn được thỏa mãn các nhu cầu học tập và vui chơi, cùng với việc nhận được các điều kiện phù hợp để phát triển và hoàn thiện bản thân Hiểu rõ các nhu cầu này giúp tạo môi trường hỗ trợ, giúp trẻ phát triển toàn diện và tự tin hơn trong cuộc sống.

Nhu cầu cơ bản là những yếu tố thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày như ăn, ở, mặc, đi lại và chăm sóc sức khỏe Đối với trẻ vị thành niên (VTN), việc đáp ứng các nhu cầu này vô cùng quan trọng để họ có thể phát triển toàn diện về thể chất và tâm sinh lý Việc đảm bảo các nhu cầu cơ bản giúp VTN có nền tảng vững chắc để phát triển tốt về mặt thể chất, tinh thần và cảm xúc.

Trẻ vị thành niên (VTN) luôn mong muốn nhận được sự yêu thương, tôn trọng và quan tâm từ gia đình, thầy cô và bạn bè, điều này rất quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của các em Trong giai đoạn dậy thì, tâm lý của VTN có những bước phát triển mạnh mẽ về thể chất, nhưng các em vẫn chưa đạt đến mức trưởng thành hoàn chỉnh, vì cơ thể và nhân cách vẫn đang trong quá trình hoàn thiện Sự quan tâm, chia sẻ từ môi trường xung quanh giúp các em hình thành nhân cách vững vàng và tự tin bước vào sự trưởng thành.

Trẻ em cần được yêu thương và quan tâm để đáp ứng các nhu cầu, nguyện vọng cá nhân Gia đình và nhà trường cần lắng nghe những chia sẻ, thắc mắc của trẻ về vấn đề sức khỏe sinh sản - giới tính để thúc đẩy sự hiểu biết và tự tin của các em Bên cạnh đó, cung cấp kiến thức cơ bản về SKSS - GT từ các trung tâm giáo dục giúp trẻ nhận thức đúng đắn và hình thành thái độ tích cực về vấn đề này.

Nhu cầu an toàn về sức khỏe sinh sản và giới tính là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với trẻ vị thành niên Nếu không được gia đình quan tâm và cung cấp kiến thức đầy đủ về SKSS-GT, các em dễ rơi vào các cám dỗ xã hội dẫn đến hậu quả nghiêm trọng như mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai và lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục Đảm bảo an toàn cho trẻ là nhiệm vụ cần thiết để phòng tránh các hệ lụy tiêu cực và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của tuổi vị thành niên.

Trong giai đoạn này, nhu cầu được tôn trọng đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là trong các mối quan hệ bạn bè, khi trẻ em muốn thể hiện bản thân và khẳng định vị trí trong nhóm bạn Đồng thời, trẻ VTN ngày càng xác lập giá trị bản thân và phát triển vai trò tự lập cả trong gia đình lẫn cộng đồng xung quanh.

Nhu cầu tự khẳng định mình là mong muốn tham gia các hoạt động đoàn thể xã hội để thể hiện bản thân Các em muốn tự do bày tỏ ý kiến, quan điểm cá nhân về những vấn đề mà mình quan tâm, qua đó khẳng định giá trị bản thân trong cộng đồng.

Trong quá trình tìm hiểu, tôi nhận thấy các em có nhu cầu tham gia các hoạt động ngoại khóa để bổ sung kiến thức về sức khỏe sinh sản - giới tính Những hoạt động này giúp các em xây dựng cuộc sống lành mạnh hơn, nâng cao nhận thức và hỗ trợ việc học tập hiệu quả hơn.

Do đó những người giáo dục cần chú trọng đền việc giúp đỡ các em hình thành biểu tƣợng đúng đắn về bản thân

Nghiên cứu về vấn đề này nhằm cung cấp kiến thức căn bản về sức khỏe sinh sản - giới tính, giúp các em hiểu rõ các biến đổi thể chất, tâm lý trong tuổi dậy thì và các vấn đề liên quan đến đời sống tình dục, phương pháp tránh thai Đồng thời, việc phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội là yếu tố quan trọng trong việc hỗ trợ, hướng dẫn các em phát triển toàn diện và tự tin hơn trong quá trình trưởng thành.

1.1.1.2 Thuyết nhận thức hành vi

Lý thuyết nhận thức-hành vi giải thích quá trình học hỏi dựa trên nhận thức về môi trường Qua nhận thức, con người xác định mục tiêu ngắn hạn và dài hạn để định hướng hành động Khi hành vi của con người thay đổi, cách tư duy cũng cần được điều chỉnh để phù hợp với những thay đổi đó.

Lý thuyết nhận thức hành vi cho rằng hành vi của con người được hình thành dựa trên nhận thức và cách lý giải về môi trường xung quanh Các hành vi sai lệch như quan hệ tình dục trước hôn nhân hay nạo phá thai bắt nguồn từ nhận thức lệch lạc hoặc thiếu hiểu biết về sức khỏe sinh sản và giới tính Việc thay đổi cách nhìn nhận và tư duy sẽ dẫn đến sự thay đổi trong hành động, từ đó giúp giảm thiểu các hành vi không chuẩn mực Vì vậy, việc nâng cao kiến thức về SKSS-GT cho giới trẻ là giải pháp quan trọng nhằm hình thành những nhận thức đúng đắn và hạn chế các hành vi sai lệch.

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, tôi đã lập kế hoạch cụ thể để ứng dụng lý thuyết nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết của các em về SKSS - GT Điều này giúp các em nắm vững kiến thức cơ bản và hành động đúng đắn, phù hợp với lứa tuổi của mình.

1.1.1.3 Thuyết cấu trúc chức năng

Thuyết chức năng cấu trúc gắn liền với tên tuổi của các nhà khoa học nhƣ August Comte, Hebert Spencer, Emile Durkheim, Vilfredo Pareto, Athurt Radiliffe- Brown, Peter Plau…

Chức năng được định nghĩa là nhu cầu lợi ích, sự cần thiết, hệ quả, tác dụng mà một thành phần hoặc bộ phận tạo ra để đảm bảo sự tồn tại và vận động của hệ thống Thuyết này nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ giữa các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể, trong đó mỗi bộ phận đều có chức năng nhất định góp phần duy trì sự ổn định và bền vững của toàn bộ hệ thống Trong thực tiễn, lý thuyết này cho thấy rõ sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các hệ thống tổ chức xã hội, hướng tới phát triển toàn diện các vấn đề về GDSKSS - GT cho trẻ em và trẻ vị thành niên.

Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu

1.2.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1.2.1.1 Trên thế giới

Vấn đề GDGT nói chung được nhiều nước ở Châu Âu quan tâm từ rất sớm

Thụy Điển là quốc gia tiên phong trong nghiên cứu và ứng dụng giáo dục, đặc biệt về GDGT Năm 1942, Bộ Giáo dục Thụy Điển đã quyết định thử nghiệm tích hợp GDGT vào chương trình giảng dạy trong các trường học Đến năm 1956, chính sách giảng dạy rộng rãi GDGT đã được triển khai từ cấp tiểu học đến trung học phổ thông, đánh dấu bước tiến lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục tại quốc gia này.

Tại châu Phi, giáo dục giới tính nhằm ngăn chặn sự lây truyền của dịch bệnh AIDS Hầu hết các chính phủ trong khu vực đã triển khai các chương trình giáo dục về AIDS, có sự hỗ trợ từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và các tổ chức phi chính phủ của các quốc gia phát triển.

Trong chương trình giáo dục quốc gia của Ai Cập, học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 được giảng dạy về các hệ thống sinh sản nam và nữ, cơ chế sinh sản, các biện pháp tránh thai và bệnh lây qua đường tình dục Chương trình này nhằm nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản và phòng tránh bệnh tật ở lứa tuổi vị thành niên từ 11-14 tuổi tại các trường công lập.

Nghiên cứu của tổ chức SiFCUS tại Hoa Kỳ cho thấy có tới 93% người lớn ủng hộ việc giáo dục giới tính ở trường trung học phổ thông và 84% ủng hộ thành lập các trường trung học cơ sở, đảm bảo học sinh nhận được giáo dục giới tính từ lớp 7 đến lớp 12, thậm chí từ lớp 5 hoặc 6 trong một số trường Trong khi đó, ở châu Á, giáo dục giới tính thường bị xem là lĩnh vực cấm kỵ do ảnh hưởng của quan niệm phong kiến và tôn giáo, nhưng sự gia tăng nhanh dân số đã khiến các quốc gia nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của giáo dục giới tính trẻ em và thanh thiếu niên, thúc đẩy việc triển khai giáo dục về sức khoẻ sinh sản và giới tính phù hợp với tiến bộ xã hội.

The 1994 International Conference on Population and Development (ICPD) held in Cairo marked a significant milestone in the evolution of population policies worldwide This landmark event emphasized the importance of sexual and reproductive health and rights (SRHR) as central to sustainable development The conference shifted focus from demographic targets to comprehensive approaches that promote gender equality, reproductive health services, and individual rights By addressing these vital issues, ICPD 1994 set the foundation for global efforts to improve population health and empower women.

GT cho VTN được xem là ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển Trước năm 1994, GDDS tập trung vào nội dung phát triển dân số, nhưng sau Hội nghị Cairo, nội dung này đã chuyển hướng tập trung vào GDSKSS – Giới tính và sức khỏe sinh sản cho vănn đề phát triển bền vững.

Trong Hội nghị Quốc tế về “Dân số và Phát triển” tại Cairo, Ai Cập, vấn đề về sức khỏe sinh sản và giới tính vị thành niên được xác định là trọng tâm chỉ đạo các chương trình dân số toàn cầu Hội nghị đã thống nhất xây dựng chương trình hành động về dân số và phát triển trong 20 năm tới, đồng thời đề ra một chiến lược mới về sức khỏe sinh sản và giới tính của vị thành niên Sau sự kiện này, nhiều quốc gia trên thế giới đã tổ chức các hội nghị nhằm thúc đẩy và nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản và giới tính cho vị thành niên, góp phần xây dựng các chính sách hiệu quả trong lĩnh vực này.

- Hội nghị quốc tế tại Bắc kinh (1995)

Hội nghị dân số cấp cao của Uỷ ban Kinh tế và Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) và Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) diễn ra tại Bangkok, Thái Lan Sự kiện tập trung thảo luận về các vấn đề dân số, phát triển bền vững và các chiến lược ứng phó với thách thức dân số trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Hội nghị nhằm thúc đẩy hợp tác quốc tế và xây dựng các giải pháp toàn diện để phát triển dân số bền vững, góp phần vào mục tiêu phát triển dài hạn của khu vực.

Nhân dịp Ngày Dân số Thế giới (11/7/1998), UNFPA đã gửi thông điệp gửi các nước trên thế giới về tầm quan trọng của chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên Thông điệp nhấn mạnh rằng các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản của vị thành niên hiện đang được đặt lên hàng đầu trong các ưu tiên toàn cầu Đây là dịp để tăng cường nhận thức và thúc đẩy các chính sách hỗ trợ sức khỏe sinh sản cho thanh thiếu niên, góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đã coi công tác giáo dục sức khỏe sinh sản và giới tính cho trẻ vị thành niên là một ưu tiên hàng đầu Đây là vấn đề mang tính chiến lược quốc gia nhằm đảm bảo sức khỏe và phát triển toàn diện của trẻ em và thanh thiếu niên Chính sự quan tâm này thể hiện tầm quan trọng của việc giáo dục giới tính trong việc xây dựng cộng đồng khỏe mạnh và giảm thiểu các rủi ro liên quan đến sức khỏe sinh sản của trẻ vị thành niên.

1.2.1.2 Ở Việt Nam Ở nước ta vấn đề GDSKSS - GT cho trẻ VTN đã được bàn nhiều, nói nhiều là nội dung đƣợc nhiều tác giả lựa chọn lựa chọn làm công trình nghiên cứu của mình

Báo cáo kết quả cuộc khảo sát về kiến thức, thái độ và thực hành về sức khỏe sinh sản của tuổi vị thành niên do tác giả Khuất Thu Hồng thực hiện, được phối hợp và tài trợ bởi tổ chức UNFPA cùng Sở, đã phản ánh rõ tình hình nhận thức và hành vi của giới trẻ trong vấn đề sức khỏe sinh sản.

Cuộc khảo sát tại Khánh Hòa cung cấp các thông tin về kiến thức, thái độ và hành vi liên quan đến sức khoẻ sinh sản của học sinh, cùng nhận thức của phụ huynh và giáo viên địa phương Nghiên cứu về “Sức khoẻ vị thành niên ở Việt Nam” do Bộ Y tế Việt Nam phối hợp với Thụy Điển và Đại học Thái Bình thực hiện đã cung cấp dữ liệu đáng kể về kiến thức, thái độ và thực trạng sức khoẻ sinh sản của vị thành niên, đồng thời đề xuất chiến lược tăng cường giáo dục giới tính giai đoạn 2003-2010 Các nghiên cứu khoa học, như của Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Hồng, đã làm rõ tâm lý và phương pháp giáo dục trẻ vị thành niên, nhưng còn thiếu phân tích về các yếu tố ảnh hưởng, mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường, xã hội đối với giáo dục giới tính Đề tài “Vai trò của gia đình và xã hội trong giáo dục giới tính” sẽ góp phần làm sáng rõ các yếu tố ảnh hưởng và mối liên hệ trong công tác giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên Việt Nam.

Ngoài ra, trong những năm gần đây có thể kể đến nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực GDSKSS - GT nhƣ:

- Dự án VIE/97/P13 của Bộ GDĐT đã xuất bản tài liệu: phương pháp giảng dạy về các chủ đề liên quan đến SKSS cho VTN

- Nguyễn Thế Hùng (2005): “Biện pháp bồi dưỡng năng lực GDSKSS cho

VTN đối với các bậc cha mẹ”

- Nguyễn Thị Hải Lý (2008): “Ảnh hưởng của giáo dục nhà trường tới nhận thức của học sinh THPT về SKSS”

Các nghiên cứu, chương trình dự án về phát triển con người hiện nay còn chưa đồng bộ và chưa bao phủ toàn diện các vùng miền của đất nước, chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn Trẻ em VTN ở các tỉnh, vùng trung du miền núi, vùng sâu vùng xa thiếu điều kiện tiếp xúc với phương tiện truyền thông và các chương trình tuyên truyền về giới tính và sức khỏe sinh sản, gây ra những hạn chế trong công tác giáo dục và nâng cao nhận thức Chính vì vậy, các cấp, ban ngành, đoàn thể cần phối hợp tích cực tham gia các hoạt động nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện của con người và xã hội.

1.2.2 Quan điểm của Đảng, nhà nước về vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản - giới tính cho trẻ vị thành niên Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và coi trọng các quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ VTN Nhƣ chúng ta đã biết, trẻ VTN là một lực lƣợng xã hội to lớn, là chủ nhân tương lai của đất nước, đầu tư vào thế hệ thanh thiếu niên hôm nay sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước

THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN - GIỚI TÍNH CHO TRẺ VỊ THÀNH NIÊN TẠI TRƯỜNG

Thực trạng nhận thức về vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản - giới tính cho trẻ VTN

2.1.1 Tình hình chung về giáo dục sức khỏe sinh sản - giới tính cho trẻ vị thành niên 2.1.1.1 Trong cả nước

Hiện nay, Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ gia tăng dân số nhanh và mất cân bằng giới tính, gây ra những thách thức lớn trong công tác GDSKSS - GT cho trẻ vị thành niên Những khó khăn về thay đổi nhận thức của người dân đang ảnh hưởng đến hiệu quả các hoạt động truyền thông và giáo dục về sức khỏe sinh sản, giới tính, đặc biệt là đối với nhóm trẻ VTN Tình trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng và xây dựng các chiến lược phù hợp để kiểm soát dân số, giảm thiểu mất cân bằng giới tính và đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia.

Theo số liệu của Ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em, Việt Nam đứng thứ 3 trên thế giới về tỷ lệ phá thai, với khoảng 300 nghìn ca nạo phá thai mỗi năm, trong đó 30% là từ nhóm tuổi vị thành niên Tuy nhiên, đây chỉ là số liệu phản ánh bề nổi của "tảng băng chìm", bởi thực tế con số này còn cao hơn nhiều.

Vấn đề về GDSKSS-GT đã được đề cập nhiều và triển khai tại một số tỉnh thành trên toàn quốc, tuy nhiên, hiệu quả đạt được còn hạn chế Các vùng trung du miền núi, vùng sâu, vùng xa vẫn gặp nhiều bất cập trong việc thực hiện, đòi hỏi các giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả chương trình.

Chính vì thế các cấp các ngành cần chung tay vào các hoạt động để phát triển con người, xã hội tiến bộ và toàn diện hơn.

Theo số liệu của Trung tâm Chăm sóc SKSS tỉnh, năm 2012 trung tâm đã tiếp nhận khoảng 3.000 ca nạo phá thai, thể hiện quy mô và tần suất thực hiện các dịch vụ này trong cộng đồng Từ đầu năm 2014 đến nay, trung tâm đã xử lý khoảng 2.320 trường hợp nạo phá thai, trong đó có khoảng 20% là các nữ thanh niên vị thành niên và thanh niên chưa lập gia đình, cho thấy mức độ phổ biến của vấn đề phá thai trong nhóm đối tượng trẻ tuổi chưa kết hôn.

Để nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản và giới tính cho học sinh, huyện Hoằng Hóa đã phối hợp với Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tổ chức chương trình tư vấn giáo dục giới tính và chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, thu hút gần 2.000 đoàn viên, thanh niên thuộc các trường THCS và THPT Ngoài ra, Huyện đoàn Yên Định đã tập trung chỉ đạo trong tháng Thanh niên năm 2014 nhằm trang bị kiến thức cơ bản về phát triển tâm sinh lý tuổi vị thành niên, sức khỏe sinh sản, các biện pháp tránh thai an toàn và phòng tránh bệnh lây truyền qua đường tình dục cho học sinh THCS và THPT Các em còn được tư vấn, giải đáp trực tiếp những thắc mắc liên quan đến sức khỏe tình dục và giới tính Tuy nhiên, các chương trình này vẫn chưa được triển khai một cách sâu rộng, đồng bộ, dẫn đến kết quả chưa đạt mức cao như mong đợi.

Công việc tuyên truyền về sức khỏe là một nhiệm vụ phức tạp và đòi hỏi sự nhạy bén, trách nhiệm không chỉ của ngành y tế mà còn của cả xã hội Để đạt hiệu quả cao, việc này cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức đoàn thể, nhà trường và gia đình, nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về vấn đề sức khỏe.

2.1.2 Thực trạng nhận thức về vấn đề GDSKSS - GT cho trẻ VTN tại địa bàn nghiên cứu

2.1.2.1 Thực trạng nhận thức của học sinh về vấn đề GDSKSS - GT

Theo nghiên cứu của nhiều trường THCS trên toàn quốc, chỉ có khoảng một phần ba số trẻ trong độ tuổi này hiểu biết về các chủ đề quan trọng như tình dục, tránh thai, dấu hiệu mang thai và các bệnh lây truyền qua đường tình dục Điều này đặt ra một hồi chuông báo động về mức độ nhận thức giới trẻ, góp phần vào các nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn và quan hệ tình dục không an toàn ngày càng gia tăng.

*Những hiểu biết về tình yêu, tình dục

Các em học sinh THCS đang trong giai đoạn hoàn thiện về mặt hình thể và có sự phát triển mạnh mẽ về nhận thức, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quá trình trưởng thành Trẻ VTN từ sớm, bắt đầu từ độ tuổi 10 trở đi, cần có sự chú ý đặc biệt về chế độ dinh dưỡng và hoạt động thể chất để hỗ trợ sự phát triển toàn diện Việc hiểu rõ về quá trình phát triển của học sinh trung học cơ sở giúp phụ huynh và giáo viên có các biện pháp hướng dẫn phù hợp, từ đó thúc đẩy sự phát triển thể chất và tinh thần của các em một cách hiệu quả.

Ở tuổi 15, phần lớn trẻ đã bước vào tuổi dậy thì, chuyển từ thời kỳ không có hoạt động tình dục sang giai đoạn có thể sinh sản Điểm mốc của quá trình này là xuất hiện kinh nguyệt ở nữ và xuất tinh (mộng tinh) ở nam giới Tuy nhiên, khảo sát trên 100 học sinh THCS Yên Phú cho thấy đến 85% em chưa biết rõ về các biểu hiện của tuổi dậy thì, chỉ một số em nhận biết được những dấu hiệu cơ bản như mọc lông mu, chiều cao tăng hoặc giọng nói ồm ở nam, mọc mụn.

Trong quá trình điều tra về vấn đề tình yêu trong lứa tuổi học đường, có 16% học sinh cho biết đã có người yêu, trong khi 84% vẫn chưa có người yêu, như thể hiện rõ qua biểu đồ dự kiến.

Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ học sinh THCS có người yêu

0 0 có người yêu chưa có người yêu

Theo số liệu nghiên cứu điều tra qua bảng hỏi năm 2014, tỷ lệ học sinh có người yêu đạt 16%, cho thấy đây không phải là một tỷ lệ cao trong tổng thể Tuy nhiên, việc các em bắt đầu yêu sớm so với độ tuổi quy định có thể dẫn đến các vấn đề như mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai và lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục nếu không được cung cấp kiến thức về sức khỏe sinh sản và giới tính cơ bản.

Yêu sớm tuổi VTN có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như quan hệ tình dục trước hôn nhân, kết hôn sớm và mang thai ngoài ý muốn, dẫn đến việc phải nạo phá thai Ngoài ra, vấn đề này còn gây ảnh hưởng tâm lý nặng nề, có thể dẫn đến trầm cảm và tự tử do tác động của các vấn đề tình cảm không được giải quyết kịp thời.

Sự nhận thức của các em về SKSS - GT còn hạn chế, chỉ mới dừng lại ở mức độ nghe nói chứ chưa hiểu sâu về các vấn đề liên quan Theo khảo sát, có đến 85% các em nhận thức rằng quan hệ tình dục trước hôn nhân là không tốt, trong khi 15% cho là rất không tốt; tất cả các em đều chưa từng thực hiện hành vi quan hệ tình dục Mặc dù chưa có số liệu thống kê chính thức về vấn đề này, điều đó là một tín hiệu tích cực, nhưng các nhà nghiên cứu lo ngại rằng, mặc dù hiện tại các em chưa có hành vi quan hệ tình dục, nhưng vẫn cần nâng cao nhận thức và giáo dục về SKSS - GT.

“Theo em là việc quan hệ tình dục trước hôn nhân sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và học tập vì quan hệ tình dục rất dễ mang thai”

(PVS, em H, học sih lớp 9A)

Các em học sinh đang đối mặt với lo lắng về các biểu hiện của tuổi dậy thì và thiếu kiến thức cơ bản về giới tính - tình dục Việc cung cấp hướng dẫn đúng đắn về nhận thức giới tính và sức khỏe sinh sản (GDSKSS - GT) đóng vai trò vô cùng cần thiết để giúp các em đủ tự tin, hiểu biết cơ bản, cũng như xây dựng nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện về thể chất và tâm lý trong giai đoạn này.

*Nhận thức về các biện pháp tránh thai

Hiện nay, tỷ lệ thanh thiếu niên Việt Nam có thai ngoài ý muốn còn cao, do đó việc nâng cao kiến thức về sức khỏe sinh sản và các biện pháp tránh thai là vô cùng cần thiết Mặc dù các em tuổi vị thành niên chưa hoàn thiện về mặt thể chất, nhưng đã có khả năng sinh sản, nên cần cung cấp thông tin về tình dục an toàn, thụ thai, mang thai sớm và hậu quả của nó đối với bản thân, gia đình và xã hội Qua các khảo sát, có tới 35% học sinh biết về biện pháp tránh thai cơ bản như dùng bao cao su, 40% uống thuốc tránh thai, nhưng chỉ 2% biết về biện pháp triệt sản, cho thấy sự phổ biến của kiến thức này còn hạn chế và cần được phổ biến rộng rãi hơn.

Một số biện pháp trong việc nâng cao nhận thức về việc GDSKSS - GT cho trẻ VTN

Dưới đây là các nội dung trọng tâm trong GDSKSS và GT cho trẻ vị thành niên (VTN): Cung cấp kiến thức cơ bản về chu kỳ kinh nguyệt, thời kỳ thụ thai theo từng độ tuổi để giúp các bạn trẻ hiểu rõ hơn về quá trình sinh sản Tuyên truyền về cách sử dụng và tác dụng phụ của các biện pháp tránh thai nhằm thúc đẩy hành vi phòng tránh thai an toàn Đồng thời, nâng cao nhận thức của trẻ VTN về các bệnh lây qua đường tình dục, triệu chứng và phương pháp phòng chống, điều trị để giảm thiểu rủi ro và bảo vệ sức khỏe Các thông tin về dịch vụ tư vấn tránh thai, nạo phá thai và quan hệ tình dục an toàn cũng rất cần thiết để đáp ứng tốt nhu cầu kiến thức, giúp các bạn trẻ đưa ra quyết định đúng đắn trong cuộc sống.

Gia đình đóng vai trò là tế bào nền tảng của xã hội, là nơi nuôi dưỡng và hình thành nhân cách của con người Gia đình là môi trường văn hóa đầu tiên, để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm trí các thành viên qua những giá trị truyền thống và chuẩn mực đạo đức Ngay từ khi sinh ra, trẻ đã tiếp nhận các giá trị văn hóa cao quý và mô hình ứng xử từ cha mẹ, góp phần hình thành nhân cách và thái độ sống tích cực Chính vì vậy, các bậc cha mẹ cần trang bị cho trẻ kiến thức về giới tính và tình dục một cách phù hợp, nhằm giúp trẻ tự tin và chuẩn bị tốt hơn khi bước vào đời đầy thử thách và cám dỗ.

Cha mẹ cần dành thời gian và tạo không khí thoải mái, cởi mở để chia sẻ với con cái về chủ đề giới tính Sự tự nhiên và thoải mái của cha mẹ trong quá trình trò chuyện sẽ giúp trẻ dễ mở lòng và tin tưởng hơn trong việc thảo luận về các vấn đề này Giáo dục giới tính không phải là một nội dung cấp thiết chỉ cần thực hiện một lần, mà cần duy trì đều đặn hàng ngày qua các cuộc trò chuyện và hành động thực tế Cách đối xử của cha mẹ với nhau và với con cái đóng vai trò quan trọng trong việc truyền đạt giá trị và kiến thức về giới tính cho trẻ.

Tuổi VTN là giai đoạn phát triển đặc biệt với những biến đổi lớn lao trong cơ thể và tâm sinh lý Do đó, bố mẹ cần áp dụng phương pháp giáo dục phù hợp để hỗ trợ con hiệu quả, như tổ chức các buổi nói chuyện, làm gương trong cuộc sống hàng ngày, hướng dẫn đọc sách báo về sức khỏe sinh sản và giới tính, cũng như tổ chức các buổi thảo luận gia đình tạo môi trường giao tiếp cởi mở.

Các bậc cha mẹ có thể truyền đạt kiến thức cho con qua việc đọc sách báo, tạp chí, tuy nhiên cần xem xét nội dung trước khi giới thiệu cho trẻ hoặc tham khảo ý kiến từ các nguồn uy tín như tác giả nổi tiếng và nhà xuất bản đáng tin cậy để đảm bảo thông tin chính xác Việc lắng nghe ý kiến của con giúp cha mẹ hiểu rõ hơn về cảm xúc và suy nghĩ của trẻ, từ đó tạo ra sự gần gũi và tin tưởng Thường xuyên trò chuyện mở về vấn đề giới tính và sức khỏe sinh sản là cách xây dựng mối quan hệ mở, giúp cha mẹ trở thành những người bạn thân thiết, chia sẻ và giải đáp mọi thắc mắc, hình thành quan điểm giá trị tích cực và niềm tin trong cuộc sống của trẻ.

Vai trò của gia đình trong giáo dục con cái là không thể phủ nhận, đặc biệt trong việc xây dựng một gia đình hạnh phúc Các bậc cha mẹ nên làm gương trong lối sống, dành nhiều thời gian lắng nghe con và không né tránh các vấn đề liên quan đến việc giáo dục con từ sớm Chủ động đi vào cội nguồn của vấn đề sẽ giúp phòng tránh những hậu quả tiêu cực trong tương lai.

Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục và hình thành nhân cách của con người Các bậc cha mẹ ngày càng nhận thức rõ tầm quan trọng của các hình thức giáo dục gia đình trong việc trang bị kiến thức về kinh tế, văn hóa và xã hội cho con Việc tích hợp nội dung GDSKSS - GT vào giáo dục gia đình giúp con phát triển tự tin và toàn diện hơn.

Nhà trường cần cung cấp nhiều kiến thức hơn ngoài chương trình đào tạo của Bộ Giáo dục, bao gồm các kiến thức về thời sự, văn hóa, xã hội và cuộc sống để giúp các em phát triển toàn diện Hiện nay, kiến thức về sức khỏe sinh sản đóng vai trò thiết yếu, đặc biệt dành cho lứa tuổi VTN, những người đang trải qua những biến đổi lớn về tâm sinh lý Chính vì vậy, nhà trường cần chủ động đào tạo và phổ cập kiến thức về sức khỏe sinh sản nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng chăm sóc bản thân cho học sinh trong giai đoạn quan trọng này.

Chương trình giáo dục cần tập trung hơn vào kết quả học tập, lối sống và đạo đức của học sinh Việc quan tâm đến các biểu hiện trong cách ứng xử và hành vi giúp nhà trường và phụ huynh có thể định hướng và giáo dục hành vi phù hợp, góp phần hình thành nhân cách toàn diện cho các em.

Tạo ra các sân chơi bổ ích và lành mạnh với nội dung về giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản giúp thúc đẩy nhận thức của các em về vấn đề này Khuyến khích các em tham gia các cuộc thi tìm hiểu về các biện pháp tránh thai và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục nhằm nâng cao kiến thức và tự bảo vệ bản thân Đồng thời, tổ chức các buổi trò chuyện, thảo luận và tuyên truyền về nội dung này giúp các em hiểu rõ hơn về các vấn đề liên quan, góp phần xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh.

Tạo điều kiện cho các em tiếp xúc với kiến thức về sức khỏe sinh sản thông qua sách báo, tạp chí và các cuốn sách chuyên sâu về chủ đề này, giúp các em nắm bắt các thông tin cần thiết Đồng thời, lồng ghép nội dung về sức khỏe sinh sản vào trong các buổi sinh hoạt để tạo sân chơi giúp các em chủ động tìm hiểu, trao đổi và chia sẻ kiến thức với nhau Việc này không những nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản mà còn giúp các em hình thành thái độ tích cực, tự tin trong việc chăm sóc bản thân và cộng đồng.

Các thầy cô cần trang bị kiến thức và phương pháp giảng dạy phù hợp để tạo ra môi trường học tập thoải mái, cởi mở, giúp học sinh tin tưởng và sẵn lòng chia sẻ những thắc mắc của mình Việc xây dựng sự thân thiện và tin cậy trong quá trình trao đổi sẽ thúc đẩy học sinh cảm thấy tự nhiên hơn khi giao tiếp, từ đó nâng cao hiệu quả học tập và phát triển kỹ năng giao tiếp cho các em.

Nhà trường nên tổ chức các hoạt động tuyên truyền như hội thi, sân khấu để nâng cao kiến thức về sức khỏe sinh sản - giới tính cho học sinh Giáo viên cần thường xuyên cập nhật kiến thức, nâng cao hiểu biết để có thể chia sẻ và giáo dục học sinh một cách hiệu quả nhất Việc giáo dục về sức khỏe sinh sản và giới tính đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng môi trường học tập an toàn, lành mạnh cho các em.

Giáo dục giới tính là vấn đề quan trọng và cần thiết, góp phần hình thành nhân cách và mở rộng hiểu biết về cơ thể Tuy nhiên, lĩnh vực này vô cùng phức tạp và tế nhị, đòi hỏi áp dụng nguyên tắc khoa học, giáo dục và thực tiễn Ngoài ra, giáo dục giới tính cần phải gắn liền với giáo dục đạo đức và nhân cách để giúp hình thành thế giới trực quan sinh động và khoa học cho học sinh.

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục sức khỏe sinh sản và giới tính cho học sinh, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các tổ chức khác nhau trong việc tổ chức thực hiện các hoạt động Ví dụ như hưởng ứng các cuộc vận động tuyên truyền của địa phương và tổ chức các buổi trao đổi với phụ huynh nhằm tạo ra môi trường giáo dục toàn diện, mang lại kiến thức bổ ích nhất cho các em trong cuộc sống.

Vai trò của NVXH trong việc nâng cao nhận thức về vấn đề GDSKSS - GT

Trong vai trò là người tham vấn, nhân viên xã hội cần sử dụng kiến thức và kỹ năng chuyên môn để hỗ trợ học sinh gặp khó khăn trong đời sống cá nhân, phát triển nhân cách và xây dựng các mối quan hệ Đặc biệt, vấn đề về SKSS - GT đòi hỏi sự nhạy cảm, thông cảm và lắng nghe tâm tư, cảm xúc của trẻ vì các em đang trong giai đoạn phát triển thể chất và tâm lý thay đổi Nhân viên xã hội cần thể hiện sự quan tâm, hiểu biết để giúp trẻ giải đáp thắc mắc, hướng nghiệp, hình thành lối sống lành mạnh và xử lý các rối loạn cảm xúc, nhân cách.

Vai trò của NVXH là người tư vấn cung cấp thông tin về GDSKSS - GT như kiến thức về tình yêu, tình dục, biện pháp phòng tránh thai và bệnh lây truyền qua đường tình dục, giúp các em tiếp cận nguồn thông tin chính thống để trang bị kiến thức cơ bản Đồng thời, NVXH còn hỗ trợ và tư vấn cho các trẻ VTN mang thai ngoài ý muốn, phối hợp cùng phụ huynh để đưa ra các biện pháp giải quyết phù hợp, giúp các em ổn định tâm lý và phát triển toàn diện về thể chất.

Vai trò của người giáo dục trong công tác GDSKSS-GT là cung cấp kiến thức, kỹ năng cần thiết nhằm giải quyết các vấn đề liên quan, nâng cao nhận thức cho trẻ, gia đình, nhóm và cộng đồng Qua đó, giúp cộng đồng hiểu biết, đánh giá vấn đề theo hướng tích cực và nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản, đặc biệt trong bối cảnh xã hội biến động hiện nay Việc thực hiện đồng bộ và hiệu quả công tác này sẽ góp phần nâng cao kết quả phòng, tránh các vấn đề liên quan đến GDSKSS-GT cho trẻ vị thành niên, đảm bảo sự phát triển toàn diện và an toàn cho giới trẻ.

Người tạo sự thay đổi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự chuyển biến tích cực về suy nghĩ và hành vi của các em NVXH giúp thay đổi những tư duy tiêu cực thành những suy nghĩ và hành động tích cực, góp phần phát triển bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội Vai trò của họ là nhân tố quyết định trong quá trình hình thành các giá trị tốt đẹp, hướng tới xây dựng cộng đồng văn minh và lành mạnh.

Vai trò của người làm công tác xã hội (NVXH) là người kết nối quan trọng trong việc cung cấp thông tin về dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe sinh sản cho trẻ vị thành niên, giúp các em nâng cao nhận thức về vấn đề GDSKSS Bên cạnh đó, NVXH đóng vai trò là cầu nối giữa học sinh, gia đình và nhà trường, tạo điều kiện thuận lợi để các em tiếp thu kiến thức và phát triển ý thức về chăm sóc sức khỏe cá nhân.

GT can thiệp nhằm hỗ trợ các em trong việc giải quyết vấn đề, giúp các em phục hồi tâm lý và nâng cao khả năng đối phó với các rủi ro trong tương lai Các biện pháp này giúp các em xây dựng kỹ năng ứng phó hiệu quả, tạo nền tảng vững chắc để vượt qua các thử thách sắp tới Việc hỗ trợ tâm lý từ GT góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của các em, giúp các em tự tin hơn trong cuộc sống và học tập.

* Vai trò là người vận động, hỗ trợ:

Học sinh sử dụng NVXH để giảm thiểu căng thẳng và khủng hoảng tâm lý, giúp phát huy điểm mạnh và khắc phục hạn chế Điều này góp phần nâng cao khả năng tự tin trong việc đưa ra quyết định cá nhân.

Các bậc phụ huynh nên tham gia một cách hiệu quả vào quá trình giáo dục và hỗ trợ con cái, hiểu rõ nhu cầu phát triển cũng như giáo dục của trẻ để đồng hành cùng con trong mọi giai đoạn Việc tiếp cận các nguồn lực từ trường học và cộng đồng giúp phụ huynh có thêm kiến thức về sức khỏe sinh sản và giới tính, từ đó hỗ trợ trẻ tốt hơn Đặc biệt, tăng cường kỹ năng làm cha mẹ để hiểu tâm lý, các thắc mắc, mong muốn và nhu cầu của con liên quan đến vấn đề này là điều rất cần thiết nhằm tạo môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn cho trẻ phát triển toàn diện.

Thầy cô giáo đóng vai trò quan trọng trong quá trình GDSKSS-GT, giúp tiếp cận học sinh hiệu quả để nhận biết nhanh các vấn đề và nhu cầu của các em về sức khỏe sinh sản và giới tính tuổi vị thành niên Việc tham gia tích cực vào hoạt động này giúp các thầy cô kịp thời giải đáp, tư vấn và hỗ trợ các em trong việc nâng cao kiến thức và thái độ tích cực về SKSS-GT, góp phần hình thành kỹ năng tự bảo vệ và phát triển toàn diện cho học sinh lứa tuổi vị thành niên.

Để nâng cao nhận thức của các em về vấn đề GDSKSS - GT, cần phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể trong việc tuyên truyền các chương trình liên quan, nhằm nâng cao kiến thức và ý thức của các em về sức khỏe sinh sản và giới tính.

Ngày đăng: 21/08/2023, 00:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. ThS. Lê Thị Hồng An (2004), Giáo trình giáo dục dân số sức khỏe sinh sản, NXB Đại học sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giáo dục dân số sức khỏe sinh sản
Tác giả: ThS. Lê Thị Hồng An
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2004
2. Bộ GDĐT, Nội dung và phương pháp giáo dục sức khỏe dân số- sức khỏe sinh sản VTN trong nhà trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung và phương pháp giáo dục sức khỏe dân số- sức khỏe sinh sản VTN trong nhà trường
Tác giả: Bộ GDĐT
3. Bộ GDĐT - Dự án VIE/01/P11, Giáo dục sức khỏe sinh sản VTN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục sức khỏe sinh sản VTN
Tác giả: Bộ GDĐT, Dự án VIE/01/P11
4. TS. Nguyễn Thanh Bình (chủ biên) (2001), Giáo dục giới tính cho con, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục giới tính cho con
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2001
5. Lịch sử Đảng bộ xã Yên Phú (1945 - 2010), NXB Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ xã Yên Phú (1945 - 2010)
Nhà XB: NXB Thanh Hóa
Năm: 2010
6. Nguyễn Ngọc Bích (1998), Tâm lí học nhân cách, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học nhân cách
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1998
7. Chìa khóa vàng tâm lí và sinh lí, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chìa khóa vàng tâm lí và sinh lí
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
8. Nguyễn Hữu Dũng (1998), Giáo dục giới tính, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục giới tính
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
9. Nhị Hà, Chăm sóc sức khỏe tuổi học trò, NXB Phụ nữ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc sức khỏe tuổi học trò
Tác giả: Nhị Hà
Nhà XB: NXB Phụ nữ Hà Nội
10. Trần Văn Miều (2006), Đoàn Thanh niên với việc chăm sóc sức khỏe cho vị thành niên và thanh niên, NXB Thanh niên Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoàn Thanh niên với việc chăm sóc sức khỏe cho vị thành niên và thanh niên
Tác giả: Trần Văn Miều
Nhà XB: NXB Thanh niên Hà Nội
Năm: 2006
11. Tạ Thúy Lan (2011), Một số vấn đề sinh lí tình dục và sinh sản, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề sinh lí tình dục và sinh sản
Tác giả: Tạ Thúy Lan
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
12. PGS.TS. Bùi Ngọc Oánh (chủ biên), Tâm lí học giới tính và giáo dục giới tính, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học giới tính và giáo dục giới tính
Tác giả: Bùi Ngọc Oánh
Nhà XB: NXB Giáo dục
13. Hoàng Bá Thịnh (chủ biên) (1999), Một số nghiên cứu về sức khỏe sinh sản ở Việt Nam sau hội nghị Cairo, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nghiên cứu về sức khỏe sinh sản ở Việt Nam sau hội nghị Cairo
Tác giả: Hoàng Bá Thịnh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
14. Ủy ban DS/KHHGĐ (1999), Dự thảo chiến lược dân số Việt Nam 2010 và định hướng đến 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo chiến lược dân số Việt Nam 2010 và định hướng đến 2020
Tác giả: Ủy ban DS/KHHGĐ
Năm: 1999
15. Một số trang Web có liên quan. http://www.gioitinhtuoiteen.org.com.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Bậc thang nhu cầu của Trẻ VTN chiếu theo bậc thang nhu - Thực trạng nhận thức về vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản giới tính cho trẻ vị thành niên
Hình 1.1 Bậc thang nhu cầu của Trẻ VTN chiếu theo bậc thang nhu (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN