TỔNG QUAN
Danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện và xây dựng danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện
1.1.1 Các bước xây dựng danh mục thuốc trong bệnh viện
Theo thông tư 21/2013/TT-BYT, các bước xây dựng danh mục thuốc trong bệnh viện được hướng dẫn như sau:
Trong bước đầu tiên, cần thu thập và phân tích tình hình sử dụng thuốc trong năm qua về số lượng và giá trị, đồng thời áp dụng phương pháp phân tích ABC/VEN để xác định các nhóm thuốc chủ yếu chiếm phần lớn ngân sách và phát hiện các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc như thuốc kém chất lượng, thuốc hỏng, phản ứng có hại và sai sót trong điều trị từ các nguồn tin cậy.
Bước 2: Đánh giá các thuốc đề nghị bổ sung hoặc loại bỏ từ các khoa lâm sàng một cách khách quan;
Bước 3: Xây dựng DMT và phân loại các thuốc trong danh mục theo nhóm điều trị và phân loại VEN;
Bước 4 trong việc xây dựng nội dung là tạo ra các hướng dẫn sử dụng danh mục sản phẩm, bao gồm các loại thuốc hạn chế sử dụng, thuốc cần hội chẩn trước khi kê đơn, thuốc gây nghiện và thuốc hướng tâm thần Việc này giúp nâng cao tính an toàn và hiệu quả trong quản lý thuốc, đồng thời đáp ứng yêu cầu về an toàn thuốc trong bệnh viện hoặc tổ chức y tế Nội dung hướng dẫn rõ ràng, chi tiết sẽ hỗ trợ các nhân viên y tế tuân thủ đúng quy định, giảm thiểu rủi ro sử dụng thuốc không đúng cách, nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân.
1.1.2 Các tiêu chí lựa chọn thuốc
Việc lựa chọn thuốc cho DMT bệnh viện cần dựa trên các tiêu chí do HĐT&ĐT xây dựng, theo Thông tư 21/2013/TT-BYT của Bộ Y tế Các tiêu chí này bao gồm: thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị và độ an toàn qua các kết quả thử nghiệm lâm sàng; thuốc phải có dạng bào chế phù hợp đảm bảo sinh khả dụng và ổn định chất lượng trong điều kiện bảo quản và sử dụng theo quy định; khi có nhiều thuốc tương đương, việc lựa chọn dựa trên đánh giá kỹ thuật về hiệu quả, an toàn, chất lượng, giá cả và khả năng cung ứng; và đối với thuốc cùng tác dụng nhưng khác dạng bào chế hoặc cơ chế tác dụng, cần phân tích chi phíhiệu quả để chọn lựa phù hợp.
Trong quá trình lựa chọn thuốc, cần so sánh tổng chi phí liên quan đến điều trị thay vì tập trung vào chi phí đơn vị của từng thuốc Ưu tiên sử dụng thuốc đơn chất và đối với thuốc phối hợp nhiều thành phần, phải có đầy đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị cho quần thể bệnh nhân đặc biệt, đồng thời vượt trội về hiệu quả, an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc đơn chất Đồng thời, nên ưu tiên dùng thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế sử dụng tên biệt dược hoặc của nhà sản xuất cụ thể để tối ưu hóa hiệu quả điều trị và kiểm soát chi phí.
Trong một số trường hợp, việc đánh giá có thể dựa vào các yếu tố như đặc tính dược động học của sản phẩm, điều kiện bảo quản thiết bị hoặc hệ thống kho chứa, cũng như nguồn cung ứng và nhà sản xuất để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của thuốc.
Một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, có ba phương pháp chính để làm rõ các vấn đề sử dụng thuốc tại bệnh viện mà Hội đồng thuốc và Đầu tư nên thường xuyên áp dụng Các phương pháp này giúp nâng cao hiệu quả quản lý thuốc, đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và tối ưu hóa chi phí điều trị Việc sử dụng các phương pháp này định kỳ sẽ góp phần phát hiện sớm các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc, từ đó đưa ra các giải pháp cải thiện phù hợp Do đó, Hội đồng thuốc và Đầu tư cần chú trọng đến việc áp dụng liên tục các phương pháp này để nâng cao chất lượng chăm sóc y tế và quản lý dược phẩm hiệu quả.
Việc thu thập thông tin cá nhân từ người dùng không kê đơn giúp xác định các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thuốc Tuy nhiên, phương pháp này thường gặp hạn chế khi thiếu dữ liệu đủ để điều chỉnh liều lượng hoặc loại thuốc phù hợp với chẩn đoán chính xác, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị.
Các phương pháp định tính như thảo luận nhóm tập trung và phỏng vấn sâu là những công cụ hữu ích để xác định nguyên nhân của vấn đề sử dụng thuốc Bộ câu hỏi phù hợp sẽ hỗ trợ quá trình nghiên cứu, giúp làm rõ các yếu tố ảnh hưởng và cung cấp hiểu biết chi tiết về các nguyên nhân tiềm ẩn.
Các phương pháp tổng hợp dữ liệu bao gồm các kỹ thuật thu thập và phân tích dữ liệu tổng hợp thay vì dữ liệu cá thể, giúp dễ dàng xác định các xu hướng lớn trong sử dụng thuốc Trong đó, phương pháp xác định liều DDD (Liều dùng chuẩn bộ phận), phân tích ABC và phân tích VEN là những công cụ quan trọng để đánh giá và phân loại thuốc, nhằm phát hiện các vấn đề lớn liên quan đến sử dụng thuốc trong hệ thống y tế Những phương pháp này giúp tối ưu hóa quản lý thuốc, nâng cao hiệu quả điều trị và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.
Phân tích danh mục thuốc, bao gồm phân tích ABC và VEN, là các phương pháp hữu ích giúp xác định các vấn đề lớn liên quan đến việc sử dụng thuốc Phương pháp này đóng vai trò là công cụ quan trọng trong hoạt động quản lý danh mục thuốc, hỗ trợ hoạt động đảm bảo hiệu quả và an toàn trong sử dụng thuốc Áp dụng phân tích ABC và VEN sẽ nâng cao khả năng kiểm soát và tối ưu hóa chi tiêu thuốc, góp phần cải thiện chất lượng dịch vụ y tế.
5 Để phân tích DMT được sử dụng tại bệnh viện thường sử dụng các phương pháp sau:
1.2.1 Phương pháp phân tích nhóm điều trị a) Khái niệm: là phương pháp phân tích việc sử dụng thuốc dựa vào đánh giá số lượng sử dụng và giá trị tiền thuốc của các nhóm điều trị [4] b) Vai trò và ý nghĩa
+ Giúp xác định các nhóm điều trị có lượng tiêu thụ, chi phí cao nhất
Dựa trên thông tin về mô hình bệnh tật (MHBT), chúng tôi xác định các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thuốc một cách bất hợp lý, đồng thời nhận diện các loại thuốc bị lạm dụng hoặc có mức tiêu thụ không phản ánh đúng thực tế Việc phân tích này giúp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng thuốc trong cộng đồng, hạn chế các tác dụng phụ và rủi ro liên quan đến thuốc.Dựa trên dữ liệu về mô hình bệnh tật (MHBT), chúng tôi xác định các vấn đề sử dụng thuốc không hợp lý, lạm dụng thuốc và các thuốc có mức tiêu thụ không điển hình Điều này giúp nâng cao hiệu quả quản lý thuốc và đảm bảo an toàn cho cộng đồng.
Giúp hội đồng thần kinh và điều trị (HĐT&ĐT) lựa chọn các loại thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị, từ đó tối ưu hóa ngân sách y tế Đồng thời, hỗ trợ xác định thuốc phù hợp cho các liệu pháp điều trị thay thế, nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân và giảm thiểu chi phí không cần thiết Việc này đảm bảo sự lựa chọn thuốc hợp lý dựa trên hiệu quả điều trị và khả năng tài chính, góp phần thúc đẩy hệ thống y tế phát triển bền vững và hiệu quả hơn.
Từ năm 2019, TCYTTG đã giới thiệu công cụ phân loại “AwaRe” nhằm kiểm soát việc sử dụng kháng sinh và giảm nguy cơ đề kháng kháng sinh ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, đồng thời giảm chi phí điều trị “AwaRe” chia các loại kháng sinh thành ba nhóm chính: Nhóm Tiếp cận (Access), Nhóm Theo dõi (Watch) và Nhóm Dự trữ (Reserve), giúp tối ưu hóa việc sử dụng thuốc và hạn chế kháng thuốc phát triển.
Nhóm tiếp cận (Access) gồm các kháng sinh có hệ thống bằng chứng rõ ràng, an toàn và không làm nặng thêm tình trạng kháng thuốc Các kháng sinh trong nhóm này là một phần của danh sách thuốc thiết yếu (EML), đảm bảo sẵn có rộng rãi tại các cơ sở y tế Việc sử dụng phù hợp các kháng sinh nhóm Access là ưu tiên hàng đầu để duy trì hiệu quả điều trị và hạn chế tình trạng kháng thuốc Nhiều kháng sinh thuộc nhóm penicillin nằm trong nhóm Access, đóng vai trò quan trọng trong điều trị nhiễm trùng hiệu quả và an toàn.
Nhóm theo dõi (Watch) là nhóm kháng sinh có nguy cơ cao gây tác động tiêu cực đến tình trạng kháng thuốc Một số thuốc trong nhóm này vẫn được đưa vào danh sách thuốc thiết yếu do tính hiệu quả trong điều trị các hội chứng lâm sàng rõ ràng, tuy nhiên việc sử dụng phải được theo dõi chặt chẽ và chỉ định hạn chế Các nhóm fluoroquinolones thuộc nhóm Watch nên được sử dụng khi không còn các lựa chọn điều trị hàng đầu hoặc thứ hai.
Nhóm tình trạng kháng thuốc đang trở thành một vấn đề đáng quan tâm trong y học hiện nay Một số kháng sinh nhóm Watch đã được đưa vào danh sách thuốc thiết yếu nhờ vào hiệu quả vượt trội trong việc điều trị các hội chứng nhiễm trùng nghiêm trọng Việc lựa chọn các thuốc kháng sinh phù hợp, đặc biệt là nhóm Watch, giúp nâng cao khả năng kiểm soát và điều trị hiệu quả các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn kháng thuốc gây ra Do đó, việc cập nhật và sử dụng hợp lý các thuốc kháng sinh này đóng vai trò quan trọng trong công tác phòng chống kháng thuốc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
6 chứng lâm sàng được xác định rõ, nhưng việc sử dụnêm được, nên được sử dụng một cách tiết kiệm nhất có thể
Phân nhóm kháng sinh theo Aware của TCYTTG nhằm tăng tỷ lệ tiêu thụ kháng sinh nhóm Access lên ít nhất 60% và giảm sử dụng kháng sinh nhóm Watch và Reserve có nguy cơ kháng thuốc cao nhất Sử dụng kháng sinh nhóm Access giúp giảm nguy cơ kháng thuốc do chúng có phổ diện hẹp và nhắm vào loại vi khuẩn cụ thể, đồng thời ít tốn kém hơn vì có sẵn trong nhóm generic Phân tích nhóm điều trị giúp xác định các nhóm thuốc tiêu thụ nhiều nhất và có chi phí cao nhất, từ đó phát hiện các vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý, lạm dụng hoặc không phản ánh đúng bệnh lý như sốt rét hay sốt xuất huyết Hội đồng thuốc và điều trị lựa chọn các thuốc có hiệu quả chi phí cao nhất trong các nhóm điều trị và các liệu pháp thay thế phù hợp.
1.2.2 Phương pháp phân tích ABC a) Khái niệm: Phương pháp phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỉ lệ lớn trong ngân sách cho thuốc của bệnh viện b) Vai trò và ý nghĩa phân tích ABC:
Phân tích ABC tạo ra cơ sở đưa ra những quyết định quan trọng trong tồn trữ, mua sắm, lựa chọn nhà cung cấp
Các thuốc thay thế có sẵn trên thị trường với lượng lớn và chi phí thấp được xác định để giảm thiểu chi phí điều trị, giúp lựa chọn những phương pháp điều trị tiết kiệm hơn Thông tin về các thuốc này hỗ trợ trong việc tìm kiếm các liệu pháp thay thế hiệu quả về mặt chi phí hoặc thương lượng với nhà cung cấp để mua thuốc với giá thấp hơn, góp phần giảm gánh nặng tài chính cho bệnh nhân và hệ thống y tế.
Tổng hợp các nghiên cứu áp dụng các phương pháp phân tích danh mục thuốc đã sử dụng thuốc tại các Trung tâm Y tế tại Việt Nam
thuốc đã sử dụng thuốc tại các Trung tâm Y tế tại Việt Nam
Các bệnh viện và trung tâm y tế thường áp dụng phân tích ABC/VEN để xác định danh mục thuốc ưu tiên kiểm soát và đánh giá hiệu quả các giải pháp nâng cao quản lý, sử dụng thuốc Phân tích nhóm điều trị và ABC được sử dụng rộng rãi trong khi phân tích VEN ít phổ biến hơn do tiêu tốn nhiều thời gian và khó thực hiện Trong đó, phân loại thuốc theo nhóm V, E, N gặp khó khăn do hiện tại tại Việt Nam mới chỉ có định nghĩa chứ chưa có tiêu chí xếp loại chính xác, và cần sự đồng thuận của tất cả thành viên trong Hội đồng thuốc và Đầu tư (HĐT&ĐT).
1.3.1 Cơ cấu nhóm tác dụng dược lý
Kết quả nghiên cứu tại một số Trung tâm y tế huyện cho thấy, chi phí thuốc BHYT được chi trả đầy đủ theo các nhóm dược lý quy định tại Thông tư số 30/2018/TT-BYT của Bộ Y tế, đảm bảo yêu cầu điều trị Phân tích cơ cấu sử dụng thuốc theo nhóm tác dụng dược lý cho thấy phần lớn chi phí thuốc BHYT tập trung vào 20 nhóm thuốc chính, chiếm 89% tổng chi phí thuốc BHYT năm 2020 Trong đó, các nhóm thuốc có chi phí cao nhất bao gồm kháng sinh, thuốc điều trị ung thư, thuốc điều trị tăng huyết áp, vitamin và khoáng chất So sánh giữa năm 2019 và 2020, một số nhóm thuốc có xu hướng tăng hoặc giảm về chi phí sử dụng, phản ánh sự thay đổi trong quá trình điều trị và ngân sách chi tiêu. -Tối ưu hóa nội dung và SEO bài viết y tế của bạn dễ dàng với dịch vụ biên tập chuyên nghiệp tại [Learn more](https://pollinations.ai/redirect/letsenhance).
Trong năm 2020, giá trị của các nhóm thuốc tăng hơn 25% so với năm 2019, đặc biệt nhóm thuốc điều trị ung thư tăng 62%, insulin và các thuốc hạ đường huyết tăng 38%, trong khi nhóm thuốc kháng axit và thuốc chống loét tăng mạnh nhất với mức 89% Các nhóm thuốc này chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng giá trị thị trường, thể hiện xu hướng tăng đáng kể trong tiêu dùng các loại thuốc quan trọng này.
Bảng 1.2 Nhóm thuốc có giá trị sử dụng cao tại một số trung tâm y tế
STT Trung tâm Y tế Nhóm thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất
TTYT huyện Cần Đước tỉnh Long An năm 2018 [29]
Nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
STT Trung tâm Y tế Nhóm thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất % SKM %
Tân tỉnh An Giang năm 2017 [30]
Nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
Biên, tỉnh Tây Ninh năm 2019 [28]
Nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
Các kết quả nghiên cứu cho thấy tại một số trung tâm y tế huyện, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn có giá trị sử dụng cao nhất Cụ thể, năm 2017 tại Trung tâm y tế huyện Cần Đước, tỉnh Long An, nhóm thuốc này chiếm tới 99,4% về giá trị sử dụng Tại Trung tâm y tế huyện Phú Tân, tỉnh An Giang năm 2017, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn chiếm 78,3% về giá trị sử dụng Trong khi đó, năm 2019 tại Trung tâm y tế huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, tỷ lệ này là 85,3%.
1.3.2 Về sử dụng thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu Ở Việt Nam, thị trường dược phẩm cũng rất phong phú, từ chỗ thiếu thuốc chủ yếu là nhập khẩu đến thuốc sản xuất trong nước đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu của nhân dân Tuy nhiên, Thuốc sản xuất trong nước chủ yếu là Generic, mới chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu tiêu thụ thuốc tại các cơ sở y tế [11]
Trong năm 2018, thuốc sản xuất trong nước chiếm tới 84,5% về khoản mục và 85,0% về giá trị sử dụng tại Trung tâm y tế huyện Cần Đước, Long An, thể hiện sự tự chủ trong nguồn cung ứng thuốc của địa phương Tương tự, trong năm 2017, Trung tâm y tế huyện Phú Tân, An Giang có tỷ trọng thuốc nội địa đạt 69,6% về khoản mục và 66,7% về giá trị sử dụng, góp phần thúc đẩy ngành sản xuất trong nước Ngoài ra, tại Trung tâm Y tế huyện Tân Biên, Tây Ninh năm 2019, thuốc nội địa chiếm 70,5% về khoản mục và 58,5% về giá trị sử dụng, phản ánh xu hướng tăng cường sử dụng thuốc trong nước trong hệ thống y tế địa phương.
1.3.3 Về sử dụng thuốc theo đường dùng
Hiện nay, việc sử dụng thuốc tại các bệnh viện và trung tâm y tế ưu tiên sử dụng thuốc đường uống và đường tiêm truyền nhằm đảm bảo hiệu quả điều trị và an toàn cho bệnh nhân Năm 2011, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 23/2011/TT-BYT hướng dẫn việc sử dụng thuốc tại các cơ sở y tế có giường bệnh, giúp các cơ sở y tế lựa chọn loại thuốc phù hợp dựa trên tình trạng bệnh lý của người bệnh Thông tư này góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và quản lý thuốc hiệu quả trong các cơ sở y tế.
Bảng 1.3 Cơ cấu thuốc sử dụng phân loại theo đường dùng tại một số
TTYT huyện Cần Đước tỉnh Long An năm 2018 [29]
Tân tỉnh An Giang năm 2017 [30]
TTYT huyện Văn Giang, tỉnh
Kết quả cho thấy, tại các trung tâm y tế tuyến huyện, thuốc đường uống chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số khoản mục thuốc, thường từ 64% đến 84% Cụ thể, Trung tâm y tế huyện Cần Đước, Long An năm 2018, thuốc đường uống chiếm 71,0% về số khoản mục và 87,8% về giá trị sử dụng Tại Trung tâm y tế huyện Phú Tân, An Giang năm 2017, tỷ lệ này lần lượt là 83,4% về số khoản mục và 85,3% về giá trị sử dụng Trong khi đó, Trung tâm y tế huyện Văn Giang, Hưng Yên năm 2019 ghi nhận thuốc đường uống chiếm 64,8% về số khoản mục và 69,0% về giá trị sử dụng, cho thấy thuốc dạng này đóng vai trò chủ đạo trong công tác cung ứng thuốc tại tuyến huyện.
1.3.4 Cơ cấu danh mục thuốc theo phương pháp phân tích ABC
Trong các trung tâm y tế, thuốc nhóm A chiếm tỷ lệ cao về giá trị sử dụng nhưng lại chiếm tỷ lệ thấp về số khoản mục, thể hiện rõ trong dữ liệu của Trung tâm y tế huyện Cần Đước, Long An năm 2018 Cụ thể, thuốc hạng A chiếm 79,6% tổng giá trị sử dụng nhưng chỉ chiếm 17,0% số khoản mục, cho thấy vai trò quan trọng của thuốc nhóm A trong chi tiêu y tế dù số lượng không nhiều Trong khi đó, thuốc hạng B chiếm 20,0% số khoản mục nhưng chỉ 15,4% giá trị sử dụng, còn thuốc hạng C chiếm 63,0% số khoản mục nhưng chỉ 5,0% giá trị sử dụng, phản ánh sự phân bố không đều giữa số lượng và giá trị của các nhóm thuốc trong các trung tâm y tế.
Trong năm 2017, Trung tâm y tế huyện Phú Tân, tỉnh An Giang ghi nhận thuốc hạng A chiếm 24,6% số khoản mục nhưng lại chiếm đến 79,97% giá trị sử dụng, cho thấy sự ưu tiên trong sử dụng thuốc hạng A Trong khi đó, thuốc hạng B chiếm 29,1% số khoản mục và 15,01% giá trị sử dụng, còn thuốc hạng C chiếm 46,3% số khoản mục nhưng chỉ chiếm 5,02% giá trị sử dụng, phản ánh sự phân bổ giữa các loại thuốc theo mức độ ưu tiên và hiệu quả kinh tế Thống kê tương tự cũng được ghi nhận tại Trung tâm y tế huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, thể hiện xu hướng sử dụng thuốc theo phân hạng và ảnh hưởng đến ngân sách y tế địa phương.
2019 các thuốc hạng A chiếm 15,58% số khoản mục và 79,96% giá trị sử dụng, các thuốc hạng B chiếm 19,62% số khoản mục và 15,0% giá trị sử dụng, các thuốc hạng
C chiếm 61,8% số khoản mục và 5,04% giá trị sử dụng [28]
1.3.5 Cơ cấu danh mục thuốc theo phương pháp phân tích VEN
Trong hầu hết các trường hợp, việc kết hợp phân tích VEN và ABC giúp xác định mối quan hệ giữa các thuốc có chi phí cao nhưng mức độ ưu tiên thấp hơn Đặc biệt, cần cố gắng loại bỏ các thuốc nhóm N có giá cao hoặc tiêu thụ lớn trong nhóm A Tuy nhiên, việc ứng dụng phân tích VEN sẽ khác nhau giữa các bệnh viện và trung tâm y tế do sự đa dạng về số lượng, tỷ lệ các khoản mục thuốc và giá trị sử dụng của các nhóm V, E, N Vì vậy, các bệnh viện và trung tâm y tế cần cân nhắc kỹ lưỡng về việc sử dụng thuốc nhóm N để tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao hiệu quả điều trị.
Dựa trên kết quả nghiên cứu tại các trung tâm y tế, thuốc nhóm V chiếm 15,5% số khoản mục và 8,4% giá trị sử dụng tại Trung tâm y tế huyện Cần Đước, Long An năm 2018, trong khi thuốc nhóm E chiếm tới 71,9% số khoản mục và 66% giá trị sử dụng, còn thuốc nhóm N chiếm 12,5% số khoản mục và 25,7% giá trị sử dụng Tại Trung tâm y tế huyện Phú Tân, tỉnh An Giang năm 2017, các số liệu liên quan đến việc sử dụng thuốc cũng cho thấy sự phân bổ theo nhóm thuốc, phản ánh xu hướng tiêu thụ và quản lý thuốc tại các trung tâm y tế địa phương.
Trong tổng số các khoản mục, nhóm V chiếm 18,74%, nhưng chỉ chiếm 14,06% giá trị sử dụng, trong khi đó, nhóm thuốc E chiếm đa số về cả số khoản mục (54,63%) và giá trị sử dụng (60,33%), phản ánh vai trò quan trọng của nhóm này trong hoạt động y tế Ngoài ra, nhóm thuốc N chiếm 26,63% số khoản mục và 25,61% giá trị sử dụng, thể hiện tầm quan trọng của nhóm này trong danh mục thuốc của Trung tâm Y tế huyện Tân Biên, tỉnh.
Trong năm 2019 tại Tây Ninh, thuốc nhóm V chiếm 5,4% số khoản mục và 1,2% giá trị sử dụng, cho thấy mức độ sử dụng hạn chế trong phân nhóm này Thuốc nhóm E mạnh mẽ chiếm tới 81,4% số khoản mục và chiếm 87,0% tổng giá trị sử dụng, phản ánh vai trò chủ đạo của nhóm thuốc này trong điều trị y tế tại địa phương Trong khi đó, thuốc nhóm N chiếm 13,2% số khoản mục và 11,8% giá trị sử dụng, cho thấy mức độ phổ biến và sử dụng trung bình của nhóm thuốc này.
Một vài nét về Trung tâm Y tế huyện Đắk Tô tỉnh Kon Tum
1.4.1 Giới thiệu về trung tâm Y tế huyện Đắk Tô
Trung tâm y tế huyện Đăk Tô là đơn vị sự nghiệp y tế công lập trực thuộc Sở
Y tế có chức năng cung cấp dịch vụ chuyên môn, kỹ thuật về y tế dự phòng, khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng và các dịch vụ y tế khác theo quy định của pháp luật Các tổ chức y tế có tư cách pháp nhân, có trụ sở riêng, con dấu và tài khoản riêng, được phép mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và ngân hàng theo quy định của pháp luật.
Trung tâm y tế huyện Đăk Tô chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp về tổ chức, nhân lực, hoạt động, tài chính và cơ sở vật chất của Sở Y tế Đồng thời, trung tâm nhận hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ từ các đơn vị y tế tuyến tỉnh và trung ương Ngoài ra, trung tâm còn chịu sự quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân huyện Đăk Tô theo quy định của pháp luật Mô hình tổ chức tại Trung tâm Y tế huyện Đắk Tô được xây dựng phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động y tế địa phương.
Hình 1.1 Mô hình tổ chức của Trung tâm Y tế huyện Đắk Tô
Trung tâm Y tế huyện Đắk Tô gồm có giám đốc và 02 phó giám đốc
Phòng chức năng bao gồm các lĩnh vực quan trọng như Tổ chức - Hành chính - Tài chính - Kế toán, đảm bảo hoạt động nội bộ hiệu quả và minh bạch Ngoài ra, các phòng chuyên môn về Kế hoạch - Nghiệp vụ - Điều Dưỡng - Kiểm Soát nhiễm khuẩn đóng vai trò then chốt trong việc duy trì chất lượng dịch vụ y tế và kiểm soát các nguy cơ lây nhiễm Phòng dân số - Truyền Thông và Giáo dục sức khỏe tiếp tục nâng cao nhận thức cộng đồng, thúc đẩy các phong trào chăm sóc sức khỏe cộng đồng và phòng tránh dịch bệnh hiệu quả.
Trung tâm Y tế huyện Đắk Tô gồm 08 khoa KSBT và HIV/AIDS – Tư vấn và điều trị
1.4.4 Hoạt động khám chữa bệnh và mô hình bệnh tật của Trung tâm Y tế huyện Đắk Tô năm 2021
Trong 6 tháng đầu năm, tính đến 30/12/2021 tổng số lượt khám chữa bệnh đạt 14.136 lượt Tổng số bệnh nhân điều trị nội trú 1.624 lượt, số ngày điều trị nội trú 9.552 ngày, công suất sử dụng giường bệnh đạt 34,9% Tính đến 30/12/2021 tỷ lệ phụ nữ đẻ được khám thai 4 lần trong 3 thời kỳ đạt 72,7% Tỷ lệ phụ nữ đẻ được cán bộ có kỹ năng đỡ đạt 87,7%, tỷ lệ bà mẹ/trẻ sơ sinh được chăm sóc sau sinh đật 96,6%, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng cân nặng/tuổi 15,8%, tỷ lệ trẻ em dưới
5 tuổi suy dinh dưỡng chiều cao/tuổi 25,4%
Bảng 1.4 Mô hình bệnh tật tại Trung tâm Y tế huyện Đắk Tô năm 2021 được phân loại theo mã quốc tế ICD-10
STT Chương bệnh Mã bệnh
1 Chương X: Bệnh hệ hô hấp J00-J99 18.939 33,79
2 Chương IX: Bệnh hệ tuần hoàn I00-I99 9.707 17,32
3 Chương XIII: Bệnh hệ cơ, xương, khớp và mô liên kết M00-M99 4.760 8,49
4 Chương XI: Bệnh hệ tiêu hoá K00-K93 4.721 8,42
5 Chương I: Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng A00-B99 3.410 6,08
6 Chương VIII: Bệnh tai và xương chũm H60-H95 3.001 5,36
7 Chương XIX: Tổn thương, ngộ độc và hậu quả của một số nguyên nhân từ bên ngoài S00-T98 2.999 5,35
8 Chương XII: Bệnh da và tổ chức dưới da L00-L99 1.642 2,93
9 Chương IV: Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hoá E00-E90 1.564 2,79
10 Chương VI: Bệnh hệ thần kinh G00-G99 1.028 1,83
STT Chương bệnh Mã bệnh
11 Chương XIV: Bệnh hệ sinh dục, tiết niệu N00-N99 979 1,75
12 Chương VII: Bệnh mắt và phần phụ H00-H59 690 1,23
13 Chương XV: Mang thai, sinh đẻ và hậu sản O00-O99 686 1,22
Chương XVIII: Các triệu chứng và bất thường về lâm sàng, cận lâm sàng không phân loại nơi khác
15 Chương V: Rối loạn tâm thần và hành vi F00-F99 466 0,83
16 Chương XXI: Các yếu tố liên quan đến tình trạng sức khỏe và tiếp cận dịch vụ y tế Z00-Z99 249 0,44
17 Chương III: Bệnh máu, cơ quan tạo máu và các bệnh lý liên quan đến cơ chế miễn dịch D50-D89 239 0,43
19 Chương XX: Các nguyên nhân bên ngoài của bệnh tật và tử vong V01-Y98 141 0,25
20 Chương XXII: Mã dành cho những mục đích đặc biệt U00-U99 60 0,11
21 Chương XVI: Một số bệnh lý khởi phát trong thời kỳ chu sinh P00-P96 42 0,07
22 Chương XVII: Dị tật bẩm sinh, biến dạng và bất thường về nhiễm sắc thể Q00-Q99 10 0,02
Tổng 56.041 100 hình bệnh tật tại Trung tâm Y tế huyện Đăk Tô năm 2021 khá đa dạng Trong đó:
- Chiếm tỷ lệ cao nhất 33,79% là nhóm bệnh hệ hô hấp
- Chiếm tỷ lệ cao thứ hai 17,32% là bệnh hệ tuần hoàn
Theo số liệu, nhóm bệnh hệ cơ, xương, khớp và mô liên kết chiếm tỷ lệ cao thứ ba trong các loại bệnh, với tỷ lệ 8,49% Tiếp theo là nhóm bệnh hệ tiêu hóa, chiếm tỷ lệ 8,42%, đứng vị trí thứ tư trong danh sách các bệnh phổ biến Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc chú trọng chăm sóc sức khỏe các hệ cơ, xương, khớp và tiêu hóa để giảm thiểu nguy cơ mắc các bệnh này.
1.4.6 Chức năng, nhiệm vụ Khoa Dược trung tâm Y tế huyện Đắk Tô
Khoa Dược được tổ chức và hoạt động theo Thông tư 22/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế, đảm bảo thực hiện các quy chuẩn về quản lý và vận hành phòng xét nghiệm dược Là khoa chuyên môn nằm trong khối cận lâm sàng, Khoa Dược chịu sự quản lý trực tiếp từ Giám đốc bệnh viện để đảm bảo hoạt động hiệu quả và đúng quy định của ngành y tế.
Khoa Dược có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc bệnh viện về toàn bộ công tác dược, nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, an toàn và hiệu quả thuốc cho quá trình điều trị Khoa chịu trách nhiệm kiểm soát chất lượng thuốc, quản lý tồn kho và phối hợp với các bộ phận y tế để đáp ứng kịp thời các nhu cầu thuốc của bệnh nhân Ngoài ra, khoa còn có vai trò hướng dẫn, đào tạo nhân viên y tế về sử dụng thuốc và cập nhật các quy định liên quan đến dược phẩm nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
17 kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý
Lập kế hoạch và cung ứng thuốc đúng số lượng, đảm bảo chất lượng để phục vụ công tác điều trị và các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng Điều này nhằm đáp ứng các yêu cầu chẩn đoán, điều trị, phòng chống dịch bệnh, thiên tai và thảm họa một cách hiệu quả.
+ Quản lý, theo dõi việc nhập thuốc, cấp phát thuốc cho nhu cầu điều trị và các nhu cầu đột xuất khác khi có yêu cầu
+ Đầu mối tổ chức, triển khai hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị + Bảo quản thuốc theo đúng nguyên tắc “Thực hành tốt bảo quản thuốc”
+ Tổ chức pha chế thuốc, hóa chất sát khuẩn, bào chế thuốc đông y, sản xuất thuốc từ dược liệu sử dụng trong bệnh viện
Thực hiện công tác dược lâm sàng, cung cấp thông tin và tư vấn về sử dụng thuốc đúng cách, đồng thời tham gia công tác cảnh giác dược để đảm bảo an toàn cho người bệnh Bên cạnh đó, công việc còn bao gồm việc theo dõi và báo cáo các tác dụng không mong muốn của thuốc, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và đảm bảo an toàn thuốc cho cộng đồng.
+ Quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy định chuyên môn về dược tại các khoa trong bệnh viện
+ Nghiên cứu khoa học và đào tạo; là cơ sở thực hành của các trường - đại học, Cao đẳng và Trung học về dược
Chúng tôi phối hợp chặt chẽ với khoa cận lâm sàng và lâm sàng để theo dõi, kiểm tra, đánh giá, giám sát việc sử dụng thuốc an toàn và hợp lý, đặc biệt là việc sử dụng kháng sinh Điều này nhằm đảm bảo việc sử dụng thuốc đúng quy trình, hạn chế tình trạng lạm dụng kháng sinh và kiểm soát diễn biến kháng kháng sinh trong bệnh viện Việc giám sát chặt chẽ giúp nâng cao hiệu quả điều trị, hạn chế kháng thuốc và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.
+ Tham gia chỉ đạo tuyến
+ Tham gia hội chẩn khi được yêu cầu
+ Tham gia theo dõi, quản lý kinh phí sử dụng thuốc
+ Quản lý hoạt động của Nhà thuốc bệnh viện theo đúng quy định
Chuyên trách cung ứng, theo dõi và quản lý vật tư y tế tiêu hao như bông, băng, gạc, cồn, cùng hóa chất xét nghiệm để đảm bảo cung cấp đầy đủ và đúng quy định Thực hiện giám sát, kiểm tra định kỳ và báo cáo về tình hình tồn kho, chất lượng và tiêu hao vật tư y tế nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.
Hình 1.2 Sơ đồ khoa Dược tại trung tâm y tế huyện Đắk Tô
KHO CHÍNH KHO LẺ NỘI
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thuốc đã sử dụng tại Trung tâm y tế huyện Đắk Tô tỉnh Kon Tum năm 2021
2.1.2 Thời gian nghiên cứu và địa điểm
- Thời gian nghiên cứu: 01/01/2021 đến 31/12/2021
- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm y tế huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum.
Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Các biến số nghiên cứu
Các biến số nghiên cứu được trình bày tại bảng 2.5
Bảng 2.5 Các biến số nghiên cứu
Tên biến Định nghĩa/Giải thích biến Giá trị biến Kỹ thuật thu thập
Mục tiêu 1: Mô tả cơ cấu danh mục thuốc đã được sử dụng tại trung tâm Y tế huyện Đắk Tô tỉnh Kon Tum năm 2021
Thuốc hóa dược, thuốc nguồn gốc dược liệu
- Thuốc hóa dược quy định tại Thông tư số 30/2018/TT- BYT [14]
- Thuốc nguồn gốc dược liệu quy định tại Thông tư 05/2015/TT-BYT
Tài liệu sẵn có (Bảng thu thập số liệu)
Thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý
- Thông tư số 30/2018/TT- BYT
Tài liệu sẵn có (Bảng thu thập số liệu)
Nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
- Nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn được quy định tại Thông tư số
Tài liệu sẵn có (Bảng thu thập số liệu)
Thuốc nhóm kháng sinh phân loại theo phân loại
Căn cứ phân loại kháng sinh theo Aware của TCYTTG [33]
1.Nhóm tiếp cận (Access) 2.Nhóm thận trọng (Watch) 3.Nhóm dự trữ (Reserve)
Từ nguồn thông tin sẵn có
Tên biến Định nghĩa/Giải thích biến Giá trị biến Kỹ thuật thu thập
Nguồn gốc xuất xứ của thuốc
1 Thuốc sản xuất trong nước do các công ty dược phẩm trong nước và công ty liên doanh tại Việt Nam sản xuất
2 ngoài sản xuất được nhập khẩu vào Việt Nam
Tài liệu sẵn có (Bảng thu thập số liệu)
Thuốc đơn thành phần/ thuốc đa thành phần
1 Thuốc đơn thành phần là thuốc chỉ có 1 thành phần hoạt chất chính
2 Thuốc đa thành phần là thuốc có từ hai thành phần hoạt chất trở lên
Tài liệu sẵn có (Bảng thu thập số liệu)
Thuốc sử dụng theo đường dùng
Tài liệu sẵn có (Bảng thu thập số liệu)
Thuốc biệt dược gốc/generic
1 Thuốc Biệt dược gốc: thuốc được xếp vào danh mục Biệt dược gốc do Cục quản lý dược công bố
2 Thuốc generic: thuốc có cùng dược chất, hàm lượng, dạng bào chế với biệt dược gốc, không có trong danh mục Biệt dược gốc do Cục quản lý dược công bố
Biến phân loại: Biến định danh
Từ nguồn thông tin sẵn có
Mục tiêu 2: Phân tích Danh mục thuốc đã sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Đắk
Tô, tỉnh Kon Tum năm 2021 bằng phương pháp ABC/VEN
Là giá tiền tính theo đơn vị đóng gói nhỏ nhất của mỗi thuốc
Biến dạng số (đơn vị tính:
Số lượng sử dụng của từng thuốc
Là số lượng xuất sử dụng của mỗi thuốc tính theo đơn vị đóng gói nhỏ nhất
Biến dạng số (đơn vị tính: viên/lọ/chai/
Từ nguồn thông tin sẵn có
Thuốc sử dụng theo phân tích
Các học viên đã phân loại SKM và GTSD của các loại thuốc tân dược, chế phẩm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu theo từng nhóm V, E, N dựa trên quy định tại Thông tư 21/2013/TT-BYT, đảm bảo tuân thủ đúng quy chuẩn.
Tài liệu sẵn có (Danh mục thuốc phân loại VEN)
Phương pháp Hồi cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu dữ liệu thời gian từ 01/01/2021 đến 31/12/2021
Hình 2.1 Nội dung nghiên cứu
Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm y tế huyện Đăk Tô năm 2021
Mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm y tế huyện Đăk Tô năm
Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại tại Trung tâm y tế huyện Đăk Tô năm theo các phương pháp ABC, VEN và ABC/VEN
- Cơ cấu DMT theo thành phần
- Cơ cấu DMT theo nhóm tác dụng dược lý
- Cơ cấu DMT theo nguồn gốc-xuất xứ
- Cơ cấu DMT theo đường dùng
- Cơ cấu DMT theo biệt dược gốc-thuốc generic
- Cơ cấu DMT theo quy chế quản lý thuốc GN-HT-TC
- Cơ cấu thuốc sử dụng theo phân tích ABC
- Cơ cấu thuốc sử dụng theo phân tích VEN
- Cơ cấu thuốc sử dụng theo ma trận ABC/VEN
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
Nguồn thu thập số liệu Để phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm y tế huyện Đắk Tô năm
2021, đề tài đã sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu từ tài liệu sẵn có bao gồm:
- Danh mục thuốc đã sử dụng tại trung tâm năm 2021
- Số liệu thuốc sử dụng lấy từ báo cáo xuất nhập tồn của bệnh viện năm 2021
- Danh mục phân loại VEN của khoa Dược
Để quản lý thuốc hiệu quả, cần thu thập đầy đủ các thông tin quan trọng như tên thuốc, hoạt chất chính, nồng độ, hàm lượng, đơn vị tính, số lượng sử dụng, đơn giá, thành tiền, nước sản xuất, nhóm tác dụng và đường dùng của tất cả các khoản mục thuốc đã sử dụng trong năm 2021 Việc ghi nhận chính xác các dữ liệu này giúp đảm bảo quản lý thuốc hợp lý và tuân thủ quy định y tế, đồng thời hỗ trợ công tác lập báo cáo và kiểm tra kiểm soát nguồn cung cấp thuốc tại cơ sở y tế.
Vui lòng thu thập đầy đủ thông tin chi tiết về các biến số được liệt kê trong bảng 2.4 về tất cả các loại thuốc tân dược, thuốc y học cổ truyền, và thuốc từ dược liệu đã được sử dụng tại Trung tâm trong năm 2021 Việc này giúp đảm bảo dữ liệu chính xác, đầy đủ và phục vụ cho các nghiên cứu và phân tích hiệu quả Thông tin này đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá đa dạng loại thuốc, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, cũng như đảm bảo an toàn cho người sử dụng.
- Lấy thông tin từ nguồn thu thập điền và bảng thu thập số liệu (theo mẫu phụ lục 1)
Thiết kế bộ công cụ thu thập số liệu bao gồm các biểu mẫu thu thập dữ liệu trên phần mềm Microsoft Excel 2013, phù hợp với biểu mẫu phân tích danh mục thuốc (Phụ lục 01) Việc tạo các biểu mẫu này giúp đảm bảo thu thập dữ liệu chính xác, thống nhất, hỗ trợ quá trình phân tích danh mục thuốc hiệu quả Sử dụng các biểu mẫu này là bước cần thiết để tối ưu quá trình khảo sát, đánh giá thông tin thuốc trong nghiên cứu hoặc quản lý dược phẩm.
2.2.4 Mẫu nghiên cứu và cỡ mẫu
Toàn bộ 314 số khoản mục thuốc đã được sử dụng tại trung tâm y tế huyện Đắk Tô năm 2021
Tiêu chuẩn loại trừ: Vị thuốc y học cổ truyền
2.2.5 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- Số liệu sau khi thu thập được mã hóa, làm sạch và đưa vào phần mềm Microsof office excel 2010 để xử lý và phân tích
Trong quá trình xử lý danh mục thuốc, khi một loại thuốc có nhiều đơn giá khác nhau và được tách thành nhiều khoản mục trong danh sách, cần tính tổng số lượng của thuốc đó để phản ánh chính xác số lượng thực tế Điều này đảm bảo tính thống nhất và rõ ràng trong quản lý, đồng thời giúp tối ưu hóa quá trình ghi nhận và tính toán chi phí thuốc Việc này cũng hỗ trợ nâng cao hiệu quả kiểm soát kho và chính xác trong lập báo cáo tài chính.
Trong ngành dược phẩm, giá trị sử dụng để thuốc chỉ là một khoản mục, giúp xác định hiệu quả sử dụng của thuốc Đơn giá thuốc được tính ngược lại từ tổng giá trị sử dụng và tổng số lượng sử dụng, gọi là đơn giá bình quân, giúp đánh giá chính xác chi phí cho mỗi đơn vị thuốc Việc tính đơn giá bình quân là bước quan trọng trong quản lý chi phí và xác định giá bán phù hợp trên thị trường.
- Sắp xếp theo mục đích phân tích
- Tính số liệu, giá trị và tỷ lệ phầm trăm của từng biến
+ Phương pháp phân tích thống kê
- Là phương pháp tính giá trị trung bình, tỷ lệ phầm trăm giá trị số liệu của một hoặc một nhóm đối tượng số lượng nghiên cứu
Bảng 2.6 Công thức tính các chỉ số nghiên cứu
+ Phân tích theo nhóm điều trị
Bước 1 Tiến hành 3 bước đầu tiên của phân tích ABC để thiết lập danh mục thuốc bao gồm cả số lượng và giá trị
Bước 2, sắp xếp nhóm điều trị cho từng loại thuốc dựa trên các nhóm tác dụng dược lý theo Thông tư 30/2018/TT-BYT Thông tư này quy định rõ danh mục, tỷ lệ và điều kiện thanh toán cho thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế Việc phân nhóm này giúp đảm bảo việc thanh toán đúng quy định và hỗ trợ quản lý hiệu quả các loại thuốc trong hệ thống bảo hiểm y tế.
Nội dung Chỉ số Công thức
Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng
Tỷ lệ % số khoản mục
TL % SKM = (SKM thuốc mỗi nhóm / tổng SKM thuốc trong toàn danh mục) *100
Tỷ lệ % giá trị sử dụng mỗi nhóm
TL % GTSD của mỗi nhóm = (tổng GTĐSD thuốc mỗi nhóm / tổng giá trị sử dụng thuốc trong toàn danh mục) *100
Tỷ lệ % số khoản mục
TL % SKM = (Số khoản mục thuốc mỗi nhóm / tổng SKM thuốc trong toàn danh mục) * 100
Tỷ lệ % giá trị sử dụng mỗi nhóm
TL % GTSD của mỗi nhóm = (tổng GTSD thuốc mỗi nhóm / tổng GTSD thuốc trong toàn danh mục) *100
Trong bước 3, cần sắp xếp lại danh mục thuốc theo nhóm điều trị, đồng thời tổng hợp giá trị phần trăm của từng loại thuốc trong từng nhóm để xác định nhóm điều trị chiếm phần lớn chi phí nhất Việc này giúp phân tích rõ ràng hơn về cơ cấu chi phí thuốc theo từng nhóm điều trị, từ đó hỗ trợ đưa ra các chiến lược quản lý phù hợp Sắp xếp và tổng hợp dữ liệu về phần trăm chi phí thuốc theo nhóm điều trị là bước quan trọng để đánh giá hiệu quả sử dụng thuốc và tối ưu hóa ngân sách y tế.
+ Phương pháp phân tích ABC
Phân hạng ABC các thuốc trong DMTSD của bệnh viện theo các bước:
Bước 1 Liệt kê các sản phẩm thuốc
Bước 2 Điền các thông tin sau mỗi sản phẩm thuốc:
+ Đơn giá của sản phẩm;
+ Số lượng tiêu thụ của các sản phẩm thuốc tại bệnh viện
Bước 3 trong quá trình tính toán chi phí là nhân đơn giá từng sản phẩm với số lượng sản phẩm để xác định số tiền cho từng mặt hàng Tổng số tiền cần thanh toán chính là tổng của tất cả các khoản chi phí cho từng sản phẩm thuốc, giúp người dùng dễ dàng kiểm soát ngân sách Đây là bước quan trọng để đảm bảo tính chính xác trong việc lập kế hoạch tài chính cho dự án hoặc mua hàng.
Bước 4 Tính giá trị phần trăm của mỗi sản phẩm bằng cách lấy số tiền của mỗi sản phẩm thuốc chia cho tổng số tiền
Trong bước 5, cần sắp xếp các sản phẩm theo thứ tự giảm dần của tỷ lệ phần trăm giá trị, giúp xác định các sản phẩm có giá trị cao nhất Tiếp tục, bước 6 yêu cầu tính giá trị phần trăm tích lũy của tổng giá trị cho từng sản phẩm, bắt đầu từ sản phẩm đầu tiên và cộng dồn với các sản phẩm tiếp theo trong danh sách Việc này giúp phân tích rõ ràng tỷ lệ đóng góp của từng sản phẩm đối với tổng giá trị, tối ưu hoá quản lý và ra quyết định kinh doanh.
Bước 7 Phân hạng sản phẩm như sau:
+ Hạng A: Gồm những sản phẩm chiếm 75 - 80 % tổng giá trị tiền;
+ Hạng B: Gồm những sản phẩm chiếm 15 - 20 % tổng giá trị tiền;
+ Hạng C: Gồm những sản phẩm chiếm 5-10% tổng giá trị tiền
Bước 8 Thông thường, sản phẩm hạng A chiếm 10 – 20% tổng số sản phẩm, hạng B chiếm 10 – 20% và còn lại là hạng C chiếm 60 - 80%
Trong bước 9, kết quả thu được có thể được trình bày dưới dạng đồ thị để dễ dàng phân tích Bạn cần đánh dấu phần trăm của tổng giá trị tích lũy vào trục tung của đồ thị, còn số sản phẩm (tương đương giá trị tích lũy) sẽ được thể hiện trên trục hoành Việc này giúp hình ảnh hóa dữ liệu một cách rõ ràng, thuận tiện cho việc đánh giá kết quả Theo hướng dẫn tại nguồn [4], cách trình bày này đảm bảo thể hiện chính xác mối quan hệ giữa các yếu tố trong phân tích dữ liệu.
+ Phương pháp phân tích ma trận ABC/VEN
Sự kết hợp phân tích VEN và ABC sẽ tạo thành ma trận ABC/VEN:
Trong quá trình phân loại thuốc V-E-N theo nhóm A, đã xác định được các nhóm nhỏ AV, AE, và AN Tiếp theo, tiến hành tính tổng số lượng thuốc cũng như tỷ lệ phần trăm giá trị sử dụng thuốc trong từng nhóm nhỏ này, nhằm đánh giá chính xác hơn về cách phân bổ và tiêu thụ thuốc theo các nhóm nhỏ đã phân loại.
+ Làm tương tự với nhóm B và C thu được ma trận ABC/VEN
Bảng 2.7 Phân tích ma trận ABC - VEN
+ Trình bày số liệu: Các số liệu nghiên cứu được trình bày bằng các bảng biểu, biểu đồ trên phần mềm Microsof office excel 2013
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Mô tả cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại Trung tâm y tế huyện Đắk Tô năm 2021 theo một số chỉ tiêu
3.1.1 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo nguồn gốc thuốc hóa dược, thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu
Năm 2021 Trung tâm y tế huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum đã sử dụng tổng số
314 khoản mục thuốc, được phân loại gồm: thuốc hóa dược, thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu Kết quả trình bày tại Bảng 3.8
Bảng 3.8 Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc thuốc hóa dược/thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu
Khoản mục Giá trị sử dụng
% Giá trị (VNĐ) Tỷ lệ
2 Thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền 27 8,60 1.315.791.403 13,62
Nghiên cứu cho thấy Trung tâm Y tế huyện Đắk Tô sử dụng chủ yếu thuốc hóa dược, chiếm 91,40% về số lượng khoản mục và 86,38% tổng giá trị sử dụng, trong khi thuốc cổ truyền và thuốc dược liệu chỉ chiếm 8,60% về số lượng và 13,62% về tổng giá trị.
3.1.2 Cơ cấu thuốc đã sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý
Kết quả phân tích DMTSD năm 2021 của Trung tâm Y tế theo nhóm tác dụng dược lý thuốc hóa dược, thuốc cổ truyền được trình bày tại bảng 3.9
Bảng 3.9 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng năm 2021 theo nhóm tác dụng dược lý
Khoản mục Giá trị sử dụng
Số lượng Tỷ lệ % Giá trị
I Phân nhóm thuốc hóa dược
1 Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn 52 16,56 2.603.401.772 26,95
2 Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết 18 5,73 985.159.463 10,20
4 Thuốc chống rối loạn tâm thần và thuốc tác động lên hệ thần kinh 12 3,82 88.837.237 0,92
Thuốc giảm đau, hạ sốt; chống viêm không steroid; thuốc điều trị gút và các bệnh xương khớp
7 Thuốc tác dụng trên đường hô hấp 13 4,14 474.412.493 4,91
Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng acid-base và các dung dịch tiêm truyền khác
10 Thuốc chống dị ứng và dùng trong các trường hợp quá mẫn 8 2,55 171.644.773 1,78
11 Thuốc giải độc và các thuốc dùng trong trường hợp ngộ độc 4 1,27 11.317.548 0,12
12 Thuốc có tác dụng thúc đẻ, cầm máu sau đẻ và chống đẻ non 7 2,23 256.159.302 2,65
13 Thuốc gây tê, gây mê, thuốc giãn cơ, giải giãn cơ 11 3,50 22.509.505 0,23
14 Thuốc tẩy trùng và sát khuẩn 6 1,91 96.054.455 0,99
15 Thuốc điều trị bệnh mắt, tai mũi họng 2 0,64 3.486.816 0,04
16 Thuốc chống co giật, động kinh 3 0,96 19.591.860 0,20
17 Thuốc tác dụng đối với máu 3 0,96 4.691.193 0,05
18 Thuốc điều trị bệnh da liễu 4 1,27 7.323.345 0,08
Khoản mục Giá trị sử dụng
Số lượng Tỷ lệ % Giá trị
I Phân nhóm thuốc hóa dược
20 Thuốc làm mềm cơ và ức chế cholinesterase 1 0,32 1.541.949 0,02
21 Thuốc điều trị đau nửa đầu 3 0,96 22.400.208 0,23
22 Thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch 1 0,32 9.575.300 0,10
II Phân nhóm thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu
1 Nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm 6 1,91 713.058.842 7,38
2 Nhóm thuốc chữa các bệnh về phế 2 0,64 87.576.584 0,91
3 Nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy 6 1,91 116.704.506 1,21
4 Nhóm thuốc khu phong trừ thấp 5 1,59 207.909.234 2,15
5 Nhóm thuốc chữa các bệnh về Âm, về Huyết 1 0,32 17.182.772 0,18
7 Nhóm thuốc nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tì 2 0,64 22.912.417 0,24
8 Nhóm thuốc chữa bệnh về ngũ quan 1 0,32 7.519.619 0,08
9 Nhóm thuốc chữa các bệnh về
Kết quả cho thấy phân nhóm thuốc hóa dược đã sử dụng tại Trung tâm năm
Năm 2021, có 23 nhóm tác dụng dược lý theo Thông tư 30/2018/TT-BYT, trong đó thuốc YHCT và thuốc dược liệu được phân thành 10 nhóm theo Thông tư 05/2015/TT-BYT Đáng chú ý, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn chiếm số khoản mục lớn nhất trong bảng DMT, với 16,56% tổng số khoản mục, nhưng lại chiếm tới hơn 1/4 tổng GTSD (26,95%), cho thấy tần suất sử dụng nhóm thuốc này rất cao Do đó, cần phân tích kỹ hơn về việc sử dụng nhóm thuốc này để hiểu rõ hơn về xu hướng và tác động đến thị trường dược phẩm.
Trong năm 2021, nhóm thuốc đường tiêu hóa chiếm 11,26% tổng giá trị sử dụng (GTSD) và đứng thứ 3 về số khoản mục (34 khoản mục) tại Trung tâm Y tế, cho thấy mức độ tiêu thụ khá cao trong lĩnh vực dược phẩm Bên cạnh đó, các nhóm thuốc khác có tỷ lệ GTSD dao động từ 7,38% đến 10,20%, trong khi các nhóm còn lại có tỷ lệ thấp hoặc rất nhỏ, từ approximately 0,00% đến 4,91%, phản ánh sự phân bổ tiêu thụ không đồng đều giữa các nhóm thuốc Đặc biệt, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn chiếm số lượng lớn và tỷ trọng GTSD cao nhất, như đã trình bày trong bảng 3.10, cho thấy tầm quan trọng của nhóm này trong hoạt động sử dụng thuốc tại trung tâm.
Bảng 3.10 Cơ cấu nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
Khoản mục Giá trị sử dụng
Số lượng Tỷ lệ % Giá trị
Trong lĩnh vực điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn, thuốc kháng sinh chiếm lĩnh đáng kể với 43 loại khác nhau, thể hiện vai trò chủ đạo trong chăm sóc bệnh nhân Bên cạnh đó, còn có 9 loại thuốc chống nấm, thuốc trị giun sán và các loại thuốc chống vi rút khác, đáp ứng đa dạng các nhu cầu điều trị trong nhóm bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng.
Xem xét nhóm kháng sinh cho thấy, Beta-lactam có số lượng tiêu thụ và GTSD lớn nhất: 22 khoản mục (42,31%), tương ứng với giá trị sử dụng 2.118.296.822 VNĐ (84,06%)
Trong nhóm thuốc Betalactam, phân nhóm Penicillin chiếm tỷ lệ tiêu thụ cao nhất với 9 khoản mục (17,31%) và tổng giá trị sử dụng gần 900 triệu đồng, chiếm gần 34% tổng giá trị Phân nhóm Cephalosporin thế hệ 2 và thế hệ 3 cũng có tỷ trọng giá trị sử dụng vượt trội, lần lượt là 20,37% và 24,81%, cao hơn nhiều so với các nhóm còn lại, đều dưới 9%.
Để đánh giá riêng về nhóm kháng sinh, Trung tâm Y tế Đắk Tô đã phân tích các loại kháng sinh được sử dụng dựa trên công cụ phân loại AwaRe của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) Kết quả cho thấy mức độ sử dụng các nhóm kháng sinh khác nhau, giúp xác định xu hướng tiêu thụ và đảm bảo việc sử dụng kháng sinh đúng mục đích nhằm phòng ngừa kháng thuốc Phân tích này đóng vai trò quan trọng trong việc hướng tới sử dụng kháng sinh hợp lý, an toàn và hiệu quả tại trung tâm y tế.
Bảng 3.11 Cơ cấu nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn phân loại AWARE
Khoản mục Giá trị sử dụng
Số lượng Tỷ lệ % Giá trị
Tại Trung tâm Y tế Đăk Tô, các kháng sinh được sử dụng đều thuộc nhóm tiếp cận và thận trọng, không có loại nào nằm trong nhóm dự trữ phù hợp với mục tiêu hướng tới kháng thuốc Việc chỉ sử dụng các kháng sinh thông thường, an toàn phù hợp với phân hạng của TTYT Đăk Tô (là TTYT hạng III) giúp giảm nguy cơ kháng thuốc hiệu quả.
Mức độ tiêu thụ kháng sinh ở nhóm thận trọng cao hơn so với nhóm tiếp cận, chiếm 58,52% tổng giá trị sử dụng, cho thấy việc phân loại Aware giúp trung tâm xác định các nhóm điều trị có mức tiêu thụ thuốc cao nhất Việc này hỗ trợ trong việc phân tích tình hình bệnh tật và xác định các vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý, cũng như nhận diện các loại thuốc đã bị lạm dụng tại trung tâm.
3.1.3 Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc xuất xứ
Việc lựa chọn sử dụng thuốc sản xuất trong nước và nhập khẩu phản ánh quan điểm của cán bộ y tế tại Trung tâm trong việc cung cấp phương pháp điều trị phù hợp Thông tin về tiêu thụ thuốc trong năm 2021, bao gồm thuốc sản xuất trong nước và nhập khẩu, được trình bày rõ ràng trong bảng số liệu 3.12, thể hiện xu hướng sử dụng thuốc tại trung tâm.
Bảng 3.12 Cơ cấu thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu
Khoản mục Giá trị sử dụng
Số lượng Tỷ lệ % Giá trị
Thuốc sản xuất trong nước 250 79,62 7.469.808.443 77,32
Kết quả cho thấy, thuốc DMT sử dụng tại TTYT chủ yếu là thuốc sản xuất trong nước, chiếm tới 79,62% số lượng với tổng giá trị sử dụng đạt hơn 7,46 tỷ VNĐ, chiếm 77,32% tổng giá trị Trong khi đó, thuốc nhập khẩu chiếm 20,38 về số lượng với 64 khoản mục, nhưng lại chiếm 22,68% tổng giá trị sử dụng, tương đương hơn 2,19 tỷ VNĐ.
3.1.4 Cơ cấu thuốc đơn thành phần/đa thành phần trong danh mục thuốc đã được sử dụng Đề tài tiến hành khảo sát số liệu nghiên cứu từ 314 thuốc trong danh mục thuốc đã được sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Đăk Tô năm 2021 Kết quả khảo sát của đề tài được trình bày trong Bảng 3.13
Bảng 3.13 Cơ cấu thuốc đơn thành phần/đa thành phần trong danh mục thuốc sử dụng năm 2021
TT Nhóm thuốc Số lượng mặt hàng Giá trị sử dụng
Số lượng Tỷ lệ % Giá trị (VNĐ) Tỷ lệ %
Trong năm 2021, DMT được sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Đắk Tô, trong đó thuốc đơn thành phần chiếm tỷ lệ vượt trội cả về số lượng thống kê kê đơn (86,06%) và giá trị sử dụng (73,55%) Điều này cho thấy xu hướng ưu tiên sử dụng các loại thuốc đơn để đảm bảo hiệu quả điều trị và kiểm soát chi phí trong hoạt động điều trị tại địa phương.
3.1.5 Cơ cấu thuốc theo đường dùng
Số liệu phân tích DMT sử dụng theo đường dùng trình bày ở bảng sau:
Bảng 3.14 Cơ cấu thuốc theo đường dùng
TT Nhóm thuốc Số lượng mặt hàng Giá trị sử dụng
Số lượng Tỷ lệ % Giá trị (VNĐ) Tỷ lệ %
Trung tâm Y tế chủ yếu sử dụng các loại thuốc theo đường uống, chiếm 68,47% về số khoản mục và đóng góp gần 80% giá trị sử dụng với tổng cộng 7.701.620.867 đồng Thuốc tiêm truyền chiếm 14,57% về giá trị sử dụng và 24,52% số khoản mục, trong khi các loại thuốc dùng theo đường khác chiếm 7,01% GTSD và 5,71% số khoản mục.
Phân tích ABC/VEN của danh mục thuốc đã sử dụng tại Trung tâm Y tế huện Đắk Tô năm 2021
3.2.1 Phân loại danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện theo phương pháp phân tích ABC
Bảng 3.15 Kết quả phân tích ABC
STT Nhóm thuốc Giá trị sử dụng Số khoản mục
Giá trị (VNĐ) Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ %
Kết quả phân tích chỉ ra rằng, cơ cấu sử dụng thuốc tại trung tâm theo phân nhóm thuốc A, B, C như sau:
DMT hạng A có GTSD 7.701.863.620 đồng (79,72%) bao gồm 78 khoản mục tương ứng với 24,84% tổng DMT, tỉ lệ 24,84% này cao hơn so với khuyến cáo của Bộ
DMT hạng B có GTSD 1.475.039.514 đồng (15,27%) bao gồm 73 khoản mục tương ứng với 23,25% tổng DMT, tỉ lệ 23,25% này cao hơn so với khuyến cáo của Bộ
DMT hạng C có GTSD 484.051.166 đồng (5,04%) bao gồm 163 khoản mục tương ứng với 51,91% tổng DMT, tỷ lệ 51,91% này thấp hơn so với khuyến cáo của
Nguyên nhân gây ra các khoản mục chưa hợp lý là do quá trình lựa chọn thuốc chưa phù hợp và thói quen kê đơn của bác sĩ Do đó, cần tiến hành rà soát và điều chỉnh quy trình kê đơn thuốc của các nhóm nhân viên y tế để đảm bảo tính chính xác và phù hợp, nâng cao hiệu quả điều trị và đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân.
3.2.2 Cơ cấu thuốc hạng A theo tác dụng dược lý
Bảng 3.16 Cơ cấu nhóm thuốc A theo tác dụng dược lý
STT Nhóm tác dụng dược lý
Danh mục thuốc nhóm A Giá trị sử dụng
Tỷ lệ (%) Giá trị (VNĐ) Tỷ lệ
1 Thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn 19 24,36 2.260.343.929 29,35
2 Hormon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết 6 7,69 896.883.794 11,65
4 Thuốc khoáng chất và Vitamin 9 11,54 647.618.551 8,41
6 Thuốc giảm đau hạ sốt, chống viêm không steroid 7 8,97 506.988.015 6,58
7 Thuốc tác dụng trên đường hô hấp 3 3 377.363.210 4,90
8 Thuốc có tác dụng thúc đẻ, cầm máu sau đẻ, chống đẻ non 3 3,85 243.058.207 3,16
9 Thuốc tẩy trùng và sát khuẩn 1 1,28 42.675.873 0,55
10 Thuốc chống rối loạn tâm thần và thuốc tác động lên hệ thần kinh 1 1,28 45.857.217 0,60
11 Thuốc chống dị ứng và dùng trong các trường hợp quá mẫn 1 1,28 140.135.487 1,82
II Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu
1 Nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm 4 5,13 710.876.432 9,23
2 Nhóm thuốc chữa các bệnh về phế 1 1,28 87.051.576 1,13
3 Nhóm thuốc chữa các bệnh về
II Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu
4 Nhóm thuốc khu phong trừ thấp 2 2,56 169.447.266 2,20
6 Nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy 2 2,56 81.380.547 1,06
Trong 78 thuốc nhóm A, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn vẫn là nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất cả về số KM (19 KM – 24,36%) và về giá trị sử dụng 2.260.343.929 đồng (29,35%) Đứng thứ 2 và thứ 3 về tổng GTSD là nhóm Hormon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết và nhóm Thuốc đường tiêu hóa Các nhóm còn lại đều có GTSD chiếm dưới 10%
Nhóm thuốc vitamin và khoáng chất chiếm 11,54% số khoản mục (9 KM) với giá trị sử dụng đạt 647.618.551 đồng, chiếm 8,41% tổng giá trị và đứng thứ 5 về giá trị sử dụng Trong khi đó, nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu gồm 11 KM (14,10%) với tổng giá trị sử dụng là 1.141.736.627 đồng, chiếm 14,82% Mặc dù hai nhóm thuốc này chỉ mang tính hỗ trợ trong điều trị, nhưng giá trị sử dụng lại khá cao, phản ánh sự tập trung dịch vụ vào nhóm bệnh nhân cao tuổi tại trung tâm.
Trong nhóm DMT nhóm A, không nên bao gồm các nhóm thuốc không thiết yếu như Khoáng chất, Vitamin, Thuốc đông y và thuốc từ dược liệu Tuy nhiên, trong bảng phân tích, hai nhóm này lại xuất hiện, do đó cần xem xét và điều chỉnh để tập trung ngân sách vào các nhóm thuốc điều trị cần thiết hơn Ngoài ra, cần xem xét kỹ 10 mục thuốc có giá trị sử dụng cao nhất trong danh mục thuốc thuốc nhóm A năm 2021 tại Trung tâm, như đã trình bày trong bảng 3.167, nhằm tối ưu hóa việc phân bổ nguồn lực và sử dụng thuốc hiệu quả hơn.
Bảng 3.1 Danh mục 10 thuốc có giá trị sử dụng nhiều nhất
Tên dược chất/Thành phần
Tên thương mại - Nồng độ/Hàm lượng Đơn vị tính Đường dùng
Giá trị sử dụng (VNĐ)
Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa
Hoạt huyết dưỡng não Đông Dược Việt -
Tên dược chất/Thành phần
Tên thương mại - Nồng độ/Hàm lượng Đơn vị tính Đường dùng
Giá trị sử dụng (VNĐ)
Ama Power – 1g + 0,5g Lọ Tiêm - truyền 4.429 274.622.199,06 2,8426 12,31
Medsolu 4mg – 4mg Viên Uống 198.020 175.841.584,16 1,8201 26,16
Trong tổng giá trị sử dụng của toàn bộ DMT, 10 khoản mục thuốc có giá trị lớn nhất chiếm 26,16%, phản ánh tầm quan trọng của các loại thuốc này trong lĩnh vực y tế Trong đó, có một khoản mục là thuốc y học cổ truyền, thể hiện sự đa dạng trong lựa chọn điều trị Ngoài ra, còn có bốn khoản mục là thuốc kháng sinh, góp phần quan trọng vào việc điều trị các bệnh nhiễm trùng Các khoản mục này đóng vai trò then chốt trong việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Gliclada 60 mg điều trị bệnh đái tháo đường và Hoạt huyết dưỡng não Đông Dược Việt là 2 thuốc có giá trị sử dụng cao nhất năm 2021 tại Trung tâm Y tế huyện Đắk Tô đạt giá trị lần lượt là 349.306.930,69 đồng và 287.984.559,76 đồng Medsolu
4mg và Cefuroxim 500mg là 2 thuốc có số lượng sử dụng cao nhất trong 10 thuốc nhóm A đạt giá trị lần lượt là 198.020 và 75.560 số lượng thuốc sử dụng
Kết quả phân tích cơ cấu thuốc sử dụng theo phương pháp VEN của TTYT dựa vào các nhóm V, E, N được trình bày bản tóm tắt sau:
Bảng 3.2 Kết quả phân tích VEN Nhóm Số khoản mục Tỷ lệ % Giá trị sử dụng Tỷ lệ %
+ Nhóm thuốc thiết yếu (nhóm E) có số KM cao nhất với 240 KM chiếm 76,43% và 75,33% về GTSD với 7.277.133.246 đồng
Nhóm thuốc không cần thiết (nhóm N) chiếm 15,29% tổng kho hàng, với 48 khoản mục kho (KM) có giá trị sử dụng lên đến 2.168.779.418 đồng, chiếm 22,45% tổng giá trị kho Tỷ lệ sử dụng thuốc nhóm N cao cho thấy cần xem xét lại và hạn chế số lượng danh mục thuốc này Trung tâm nên giảm bớt hoặc loại bỏ những thuốc không còn phù hợp hoặc không có hiệu quả điều trị rõ ràng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý kho và tiết kiệm ngân sách.
+ Nhóm thuốc tối cần (nhóm V) lại chiếm ít nhất với 26 KM chiếm 8,28% và 215.041.636 đồng chiếm 2,23% GTSD
3.2.4 Phân tích ma trận ABC/VEN
Kết quả phân tích ma trận ABC/VEN được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 3.3 Kết quả phân tích ma trận ABC/VEN
Khoản mục Giá trị sử dụng
Số lượng Tỷ lệ % Giá trị sử dụng
- Các tiểu nhóm cần thiết trong quá trình điều trị gồm:
Trong các nhóm nhóm chứng khoán, nhóm AV có giá trị sản phẩm dài hạn (GTSD) cao nhất đạt 141.583.481 đồng, chiếm 1,47% tổng GTSD, với 2 sự kiện thương lượng (SKM) chiếm 0,64% Ngược lại, nhóm BV có GTSD thấp nhất chỉ 24.778.061 đồng, chiếm 0,26%, với 2 SKM cũng chiếm 0,64% Nhóm CV có GTSD khoảng 48.680.094 đồng, chiếm 0,50%, đi kèm với 22 SKM chiếm 7,01% Trong các nhóm nhà đầu tư, nhóm AE có GTSD lớn nhất lên đến 5.702.139.135 đồng, chiếm 59,02%, với 55 SKM chiếm 17,52%, trong khi nhóm BE đứng thứ hai về GTSD với 1.187.213.705 đồng, chiếm 12,29%, và 59 SKM chiếm 18,79% Nhóm CE có GTSD thấp nhất chỉ 387.780.406 đồng, chiếm 4,01%, nhưng lại có số lượng SKM cao nhất là 126, chiếm 40,13%, thể hiện sự đa dạng trong hoạt động giao dịch của các nhóm nhà đầu tư.
- Các tiểu nhóm không cần thiết trong quá trình điều trị bao gồm:
+ Nhóm AN có GTSD chiếm 1.858.141.004 đồng (19,23%) với SKM là 21 thuốc (6,69%)
+ Nhóm BN có GTSD chiếm 263.047.748 đồng (2,72%) với SKM là 12 thuốc (3,82%)
Nhóm thuốc có giá trị sử dụng cao nhưng lại ít cần thiết, như nhóm AN, cần được phân tích kỹ hơn để đánh giá tính hợp lý trong phân bổ Resources, nhằm tối ưu hóa hiệu quả chi tiêu y tế Trong đó, nhóm nhà cung cấp có giá trị tổng cộng 47.590.666 đồng (chiếm 0,49%), với số lượng thuốc tiết kiệm là 15 loại (4,78%) Để hiểu rõ hơn về hiệu quả sử dụng thuốc và phân phối ngân sách, nghiên cứu sâu hơn về kết quả phân tích ma trận ABC/VEN là cần thiết nhằm cải thiện quản lý thuốc và tối ưu hóa ngân sách y tế.
3.2.5 Phân tích cơ cấu các thuốc trong nhóm AN
Nhóm thuốc AN gồm các thuốc không thiết yếu mà giá trị sử dụng lớn nhưng không hợp lý
Bảng 3.20 Phân tích cụ thể nhóm AN
STT Thuốc nhóm AN Số lượng
KM Tỷ lệ % Thành tiền Tỷ lệ %
2 Thuốc cổ truyền, thuốc từ dược liệu 11 52,38 1.141.736.027 61,45
Kết quả phân tích cho thấy, nhóm N trong hạng A chủ yếu gồm hai nhóm tác dụng dược lý chính là vitamin và khoáng chất, cùng với nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu Tuy chỉ hỗ trợ trong quá trình điều trị, nhưng giá trị sử dụng của các nhóm này rất cao, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị Để hiểu rõ hơn về 21 thuốc được sử dụng trong nhóm AN, chúng tôi đã tiến hành phân tích cụ thể từng loại thuốc này.
Bảng 3.21 Cơ cấu các thuốc trong nhóm AN
STT Tên thuốc Hoạt chất/Thành phần Đơn vị tính
Nước sản xuất Đơn giá (VNĐ)
Hoạt huyết dưỡng não Đông Dược
Việt Địa long, Hoàng kỳ, Đương quy, Xích thược, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa
Cao Đinh lăng, Cao Bạch quả Viên Việt Nam 980 161.384.871,93
Dương Đinh lăng, bạch quả, cao đậu tương lên men
4 Vitamin C Vitamin C Ống Việt Nam 2960 123.397.602,92
Cao đặc rễ Đinh lăng, cao khô lá Bạch quả
Nam Dược Độc hoạt, Phòng phong, Tang ký sinh, Đỗ trọng, Ngưu tất, Trinh nữ, Hồng hoa,
STT Tên thuốc Hoạt chất/Thành phần Đơn vị tính
Nước sản xuất Đơn giá (VNĐ)
9 Thuốc ho bổ phế chỉ khái lộ
Tỳ bà diệp, Tang Bạch bì, Ma hoàng, Mạch môn, Bạc hà, Bán hạ chế, Bách bộ, Mơ muối, Cam thảo, Bạch phàn, Tinh dầu bạc hà
10 Grazincure Kẽm sulfat Chai Ấn Độ 30.000 68.785.825,95
Mã tiền chế, Hy thiêm, Ngũ gia bì Gói Việt Nam 3700 65.512.62,62
Calci lactat gluconat Viên Việt Nam 3200 60.031.266,28
14 Effe-C TP Vitamin C Viên Việt Nam 1545 57.967.691,51
15 DEBOMIN Magnesi lactat+Vitamin B6 Viên Việt Nam 2600 54.194.893,17
Nguyên Ô đầu, Địa liền, Đại hồi, Quế nhục/Quế chi, Thiên niên kiện, (Uy Linh tiên), (Mã tiền), Huyết giác, (Xuyên khung), Methyl salicylat/Camphora, (Tế tân), (Riềng)
Cao đặc Actiso; Cao đặc rau đắng đất;
Nam Hà Đương quy, Bạch truật, Đảng sâm, Quế nhục, Thục địa, Cam thảo, Hoàng
STT Tên thuốc Hoạt chất/Thành phần Đơn vị tính
Nước sản xuất Đơn giá (VNĐ)
Giá trị sử dụng kỳ, Phục linh, Xuyên khung, Bạch thược
20 Femancia Sắt Fumarat; Acid folic Viên Việt Nam 630 35.455.966,65
21 Actisô HĐ Actisô Viên Việt Nam 2290 34.799.009,32
Phân tích cho thấy, trong tổng số 21 thuốc nhóm AN, phần lớn là thuốc đông y, thuốc từ dược liệu, cùng với các loại vitamin và khoáng chất Trong đó, 5 thuốc có giá trị tiêu thụ cao nhất đều thuộc hai nhóm này, với 4 thuốc là thuốc đông y và thuốc từ dược liệu Thuốc có giá trị tiêu thụ lớn nhất trong nhóm là Hoạt huyết dưỡng não Đông Dược Việt, với doanh thu 287.984.559,76 đồng, tiếp đó là Hoạt huyết dưỡng não ATM đạt 161.384.871,93 đồng, kế đến là Tuần hoàn não Thái Dương với 152.684.177,50 đồng, còn Actisô HĐ có doanh thu 34.799.009,32 đồng.
Trong nhóm AN, hai thuốc Hoạt huyết dưỡng não Đông Dược Việt và Hoạt huyết dưỡng não ATM chiếm thị phần tiêu thụ cao nhất, có công dụng điều trị tương đương nhau Ngoài ra, các thuốc vitamin và khoáng chất cũng chiếm tỷ lệ tiêu thụ đáng kể Vì vậy, trung tâm cần xem xét kỹ lưỡng nhu cầu sử dụng để điều chỉnh và cân đối lượng thuốc phù hợp, giúp tiết kiệm chi phí điều trị và nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc.
Cơ cấu danh mục thuốc đã được sử dụng tại trung tâm năm 2021
4.1.1 Về cơ cấu danh mục thuốc theo nguồn gốc thuốc hóa dược/thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu
Trung tâm Y tế huyện Đăk Tô năm 2021 đã xây dựng DMT sử dụng bao gồm
Thuốc hóa dược và thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu chiếm tỷ lệ lớn trong thị trường dược phẩm, trong đó thuốc hóa dược chiếm 91,40% với 287 SKU và giá trị sử dụng (GTSD) đạt hơn 8,3 tỷ đồng, chiếm 86,38% tổng GTSD Ngược lại, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền chỉ chiếm 8,60% với 27 SKU nhưng lại có GTSD khoảng 1,3 tỷ đồng, chiếm 13,62% Nhóm thuốc hóa dược gồm các loại phổ biến như Gliclazide, Cefotaxim, nằm trong danh sách thuốc thiết yếu đáp ứng đầy đủ nhu cầu khám chữa bệnh Trong khi đó, nhóm thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền chủ yếu tập trung vào các loại thuốc bổ trợ như hoạt huyết, dưỡng não, tuần hoàn não Việt, Thái Dương, góp phần làm tăng giá trị sử dụng nhóm này Tuy nhiên, do đa phần các thuốc này dùng đường uống, kê dài ngày, số lượng lớn và có mức giá cao, nên kinh phí dành cho nhóm thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng chi phí mua sắm dược phẩm.
Trung tâm Y tế huyện Đăk Tô có giá trị sử dụng thuốc dược liệu và thuốc cổ truyền cao hơn Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên là 9,5%, cho thấy sự ưu tiên và phát triển mạnh mẽ hơn trong việc sử dụng các loại thuốc này Ngoài ra, mức độ sử dụng thuốc tại trung tâm Đăk Tô cũng vượt xa so với Trung tâm Y tế huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, phản ánh sự khác biệt rõ nét trong hoạt động khám chữa bệnh dựa trên thuốc cổ truyền của các địa phương.
Năm 2019, giá trị sử dụng đạt 7,4%, cho thấy cần tập trung điều chỉnh và giảm bớt giá trị không cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng Việc hạn chế trong thực hành kê đơn thuốc điều trị ngoại trú là vấn đề trung tâm cần được quan tâm để tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
4.1.2 Về cơ cấu phân nhóm thuốc điều trị theo tác dụng dược lý
DMT hóa dược đã được sử dụng tại Trung tâm y tế huyện Đăk Tô với tổng giá trị sử dụng là 8.345.162.897 đồng Các loại thuốc này đã được phân loại thành 23 nhóm tác dụng dược lý khác nhau, phản ánh sự đa dạng trong điều trị y tế tại địa phương Trong đó, tổng số thuốc thuộc các nhóm này là 287 loại, cho thấy nhu cầu lớn về thuốc DMT trong cộng đồng Các nhóm tác dụng dược lý đã được khảo sát đã cho kết quả rõ ràng về hiệu quả và phù hợp với nhu cầu điều trị, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe Việc phân nhóm này giúp tối ưu hoá quản lý và sử dụng thuốc, đồng thời phù hợp với các quy định về an toàn và hiệu quả của thuốc.
Thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng kinh phí sử dụng thuốc, chiếm 26,95% tổng giá trị sử dụng thuốc Trong đó, có 52 loại thuốc hoặc phương pháp điều trị (SKM) đóng vai trò quan trọng Đây là nhóm thuốc thiết yếu trong chăm sóc sức khỏe, phản ánh mức độ ưu tiên điều trị các bệnh liên quan đến ký sinh trùng và nhiễm khuẩn Việc sử dụng rộng rãi các loại thuốc này cho thấy rõ tầm quan trọng của chúng trong hệ thống y tế.
Trong nhóm này, chủ yếu là thuốc kháng sinh, chiếm tỷ lệ 16,56%, cao hơn so với TTYT huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình năm 2019 với 26 SKM và tỷ lệ GTSD là 10,44% Ngoài ra, TTYT Tân Biên, tỉnh Tây Ninh năm 2019 cũng ghi nhận tỷ lệ GTSD lên tới 29,0% từ 15 SKM, trong khi TTYT huyện Cần Đước, tỉnh Long An năm 2018 có 69 SKM.
Chi phí thuốc kháng sinh chiếm khoảng 22,3% trong tổng chi phí dược của bệnh viện [29], trong đó, theo báo cáo của Bộ Y tế, tỷ lệ sử dụng thuốc kháng sinh trung bình tại các trung tâm y tế tuyến tỉnh khoảng 34%, cho thấy mức độ sử dụng khá cao Điều này có thể phản ánh tình trạng lạm dụng kháng sinh trong bệnh viện, đòi hỏi các nghiên cứu sâu hơn để xác định rõ hơn về mức độ và nguyên nhân của vấn đề này.
Hiện tại, Trung tâm Aware đang sử dụng nhóm kháng sinh theo phân loại thận trọng nhiều hơn so với nhóm tiếp cận Cần xem xét giảm thiểu việc sử dụng nhóm thận trọng và tăng cường sử dụng nhóm tiếp cận để phù hợp với khuyến cáo của WHO, vì tỷ lệ sử dụng nhóm tiếp cận chỉ đạt 48%, chưa đạt mức 60% Việc điều chỉnh này sẽ giúp giảm tình trạng kháng kháng sinh và thúc đẩy sử dụng kháng sinh hợp lý hơn.
+ Nhóm thuốc hormon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết đứng thứ 2 với
Trong các đơn vị y tế, tỷ lệ SKM chiếm 5,30% và GTSD chiếm 10,02%, cho thấy mức độ sử dụng thuốc còn ở mức thấp Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn thấp hơn so với một số trung tâm y tế cùng hạng như TTYT huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình, vào cùng thời kỳ Việc đánh giá này giúp nhận biết thực trạng sử dụng thuốc, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý và sử dụng thuốc tại các trung tâm y tế địa phương.
Trong các năm khác nhau, tỷ lệ sử dụng các loại phương tiện truyền thông (SKM) và giao thông số (GTSD) đều biến động đáng kể Cụ thể, năm 2019, SKM chiếm tỷ lệ 9,57% và GTSD chiếm 22,72%; năm 2017 tại TTYT huyện Phú Tân, An Giang, SKM chiếm tới 80,8% trong khi GTSD chiếm 79,9%; còn năm 2018 tại TTYT huyện Cần Đước, Long An, SKM chỉ chiếm 5,7% và GTSD chiếm 8,9%.
Nhóm thuốc cổ truyền, thuốc có nguồn gốc từ dược liệu chiếm tỷ lệ 8,61% về số lượng khám, chữa bệnh (SKM) và 13,62% về giá trị dịch vụ khám, chữa bệnh (GTSD), thấp hơn nhiều so với các trung tâm y tế khác như TTYT huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh năm 2019 với 8,8% SKM và 7,4% GTSD, TTYT huyện Cần Đước tỉnh Long An năm 2018 với 7,5% SKM và 21,7% GTSD, hoặc TTYT huyện Phú Tân tỉnh An Giang năm 2017 với 12,5% SKM và 85,04% GTSD.
4.1.3 Về cơ cấu thuốc theo nguồn gốc xuất xứ
Việc lựa chọn thuốc thành phẩm để mua sắm và sử dụng cho người bệnh nên tuân thủ nguyên tắc ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước Điều này giúp thúc đẩy ngành dược phẩm nội địa phát triển bền vững và đảm bảo nguồn cung thuốc ổn định Sử dụng thuốc sản xuất trong nước còn góp phần giảm chi phí điều trị cho người bệnh và đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn Việt Nam Chính sách khuyến khích tiêu dùng thuốc nội địa là bước quan trọng trong việc nâng cao an toàn và hiệu quả điều trị cho cộng đồng.
Trong điều trị nội trú, việc sử dụng thuốc sản xuất trong nước giúp giảm chi phí cho người bệnh, giảm ngân sách chi trả của quỹ bảo hiểm y tế, đồng thời thúc đẩy phát triển ngành dược nội địa Theo nghiên cứu tại Trung tâm Y tế huyện Đăk Tô, thuốc sản xuất trong nước chiếm tỷ lệ 79,62% về số lượng thuốc sử dụng (SKM) và 77,32% về giá trị sử dụng (GTSD), trong khi thuốc nhập khẩu chiếm 20,38% SKM và 22,68% GTSD Điều này cho thấy xu hướng sử dụng thuốc nội địa ngày càng tăng, góp phần nâng cao hiệu quả chi phí và phát triển ngành dược trong nước.
Kết quả này cho thấy sự khác biệt so với các nghiên cứu tại các trung tâm y tế cùng hạng như TTYT huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh năm 2019, với thuốc sản xuất trong nước chiếm 87,90% về số lượng SKM và 75,5% về GTSD; TTYT huyện Cần Đước, tỉnh Long An năm 2018, với tỷ lệ thuốc nội chiếm 84,5% SKM và 85,0% GTSD; và TTYT huyện Phú Tân, tỉnh An Giang năm 2017, với thuốc nội chiếm 69,60% SKM và 66,17% GTSD Điều này phản ánh rõ ràng rằng, tình hình sử dụng thuốc ngoại tại Trung tâm còn có những khác biệt so với các địa phương khác.
Y tế huyện Đăk Tô hiện vẫn chiếm tỷ lệ cao trong tổng chi phí sử dụng thuốc, cần ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước để giảm chi phí và thúc đẩy ngành dược phẩm nội địa Tuy nhiên, do các yếu tố khách quan về tình hình sản xuất thuốc trong nước và mô hình bệnh tật địa phương, việc sử dụng thuốc ngoại vẫn cần thiết để đảm bảo chất lượng và nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân.
4.1.4 Về cơ cấu thuốchóa dược theo đơn thành phần/đa thành phần
Hạn chế của nghiên cứu
Do hạn chế về mặt thời gian, đề tài chưa đi sâu phân tích các vấn đề liên quan như các thuốc có cùng hoạt chất nhưng khác tên thương mại trong danh mục, cũng như chưa thực hiện các nghiên cứu định tính để xác định những bất cập trong sử dụng thuốc tại bệnh viện.
Việc phân loại các nhóm V, E, N chưa được thực hiện qua họp Hội đồng thuốc và Điều trị, cũng như chưa có ý kiến đồng thuận từ các khoa lâm sàng Hiện tại, quy trình này chỉ mới dừng lại tại Khoa Dược.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1.1 Mô tả cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Đắk Tô tỉnh Kon Tum năm 2021
Trong năm 2021, DMTSD của Trung tâm Y tế huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum, ghi nhận 314 loại thuốc, với tổng giá trị sử dụng đạt 9.660.954.300 đồng Trong đó, thuốc hóa dược được sử dụng phổ biến nhất, chiếm 91,40% số lượng SKM và 86,38% tổng GTSD, bao gồm 23 nhóm tác dụng dược lý Bên cạnh đó, thuốc dược liệu và thuốc cổ truyền chiếm tỷ lệ 8,60% về số SKM và 13,62% về GTSD, hoạt động trên 10 nhóm tác dụng dược lý, phản ánh sự đa dạng trong phân phối thuốc tại trung tâm y tế trong năm này.
Thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ cao, với 52 SKM (16,56%) và GTSD (26,95%) là các nhóm tác dụng dược lý phổ biến của thuốc hóa dược Trong nhóm kháng sinh, tỷ lệ sử dụng ở nhóm "Thận trọng" (Watch) đạt 58,52%, cao hơn so với nhóm "Tiếp cận" (Access), cho thấy xu hướng ưu tiên sử dụng kháng sinh cẩn thận nhằm hạn chế kháng thuốc.
+ Nhóm thuốc Hormon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết đứng thứ hai với
18 SKM chiếm tỷ lệ (5,30%) và GTSD chiếm 10,02%
- Thuốc sản xuất trong nước 250 SKM chiếm tỷ lệ 79,62% và GTSD chiếm 77,32%, thuốc nhập khẩu với 64 SKM chiếm tỷ lệ 20,38% và GTSD chiếm 22,68%
- Thuốc đa thành phần 67 SKM (21,34%) chiếm 36,46% về GTSD Chủ yếu là thuốc đơn thành phần 247 SKM (78,66%), GTSD chiếm 63,54%
Thuốc dùng theo đường uống chiếm đa số về cả số lượng và giá trị sử dụng, với 215 SKM chiếm tỷ lệ 68,47% và GTSD đạt 79,72% Trong khi đó, thuốc tiêm, truyền chiếm tỷ lệ 24,52% về số lượng (77 SKM) và 14,57% về giá trị sử dụng Các loại thuốc dùng theo đường khác chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ, với 7,01% về số lượng (22 SKM) và 5,71% về GTSD, phản ánh sự phổ biến và ưu thế của thuốc đường uống trong sử dụng y tế.
1.2 Phân tích DMT sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Đắk Tô năm 2021 theo ABC/VEN
Kết quả phân tích ABC của trung tâm cho thấy DMT sử dụng bao gồm:
- Nhóm A có GTSD chiếm 79,72% và 78 SKM thuốc chiếm tỷ lệ 24,84%
- Nhóm B có GTSD chiếm 15,27% và 73 SKM thuốc chiếm tỷ lệ 23,25%
- Nhóm C có GTSD chiếm 5,01% và 163 SKM thuốc chiếm tỷ lệ 51,91%
Cơ cấu thuốc các nhóm hạng A, B, C về tổng số lượng sử dụng tương đối hợp lý với khuyến cáo của Bộ Y tế Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng nhóm A (24,84%) vượt quá khuyến cáo của Bộ Y tế là từ 10-20%, trong khi nhóm B (23,25%) cũng cao hơn mức khuyến cáo từ 10-20% Ngược lại, nhóm C lại chiếm tỷ lệ 51,91%, thấp hơn mức khuyến cáo của Bộ Y tế là từ 60-80%, cho thấy sự bất hợp lý trong phân bổ thuốc giữa các nhóm này.
Phân tích VEN, ma trận ABC/VEN
Kết quả phân tích VEN và ma trận ABC/VEN của trung tâm cho thấy DMT sử dụng bao gồm:
- Nhóm V chiếm 2,23% về GTSD và 26 SKM chiếm tỷ lệ 8,28%
- Nhóm E chiếm 75,33% về GTSD và 240 SKM cao nhất chiếm 76,43%
- Nhóm N chiếm 22,45% về GTSD và 48 SKM chiếm tỷ lệ 15,29%
Nhóm AN chủ yếu gồm các loại vitamin, khoáng chất và thuốc đông y, thuốc từ dược liệu Các hoạt chất trong nhóm này bao gồm rễ đinh lăng, lá bạch quả, cao đậu tương lên men, vitamin C, vitamin B6, B9, B12, nhằm hỗ trợ điều trị và mang lại hiệu quả cao Do tác dụng hỗ trợ điều trị, mức sử dụng của nhóm vitamin, khoáng chất và thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền ghi nhận tỷ lệ cao.
Từ kết quả phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Đắk
Tô, đề tài đưa ra một số kiến nghị sau:
1 Xem xét, rà soát việc kê đơn các thuốc YHCT, thuốc từ dược liệu
2 Xem xét giám sát và hạn chế việc sử dụng 21 thuốc thuộc nhóm AN Lựa chọn các thuốc YHCT có giá thành hợp lý để tiết kiệm cho ngân sách
3 Hội đồng thuốc và điều trị cần tiếp tục tiến hành phân tích danh mục thuốc sử dụng hàng năm bằng phương pháp ABC/VEN để đánh giá tính hợp lý và làm rõ những bất cập trong sử dụng thuốc nhằm điều chỉnh danh mục thuốc sử dụng cho năm tiếp theo hợp lý hơn
Tài liệu tham khảo tiếng Việt
1 Bộ Y tế (2011) Thông tư 22/2011/TT-BYT, ngày 10/06/2011 Quy định về tổ chức và hoạt động của khoa dược bệnh viện
2 Bộ Y tế (2013) Thông tư số 21/2013/TT-BYT, ngày 8/8/2013 của Bộ Y tế quy định tổ chức hoạt động của Hội đồng thuốc & Điều trị
3 Bộ Y tế (2015) Thông tư số 05/2015/TT-BYT ngày 17/3/2015 của Bộ Y tế ban hành danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế
4 Bộ Y tế (2011), Thông tư 23/2011/TT-BYT ngày 10/06/2011 Hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh
5 Bộ Y Tế (2016), Thông tư 11/2016/TT-BYT ngày 11/5/2016 Quy định việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập
6 Bộ Y tế (2016), Thông tư 10/2016/TT-BYT ngày 05/5/2016 v/v ban hành danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp
7 Bộ Y tế (2021), Thông tư 03/2021/TT-BYT ngày 28/3/2021 v/v ban hành danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp
8 Bộ Y tế (2015), Quyết định 3870/QĐ-BYT ngày 24/09/2015 ban hành Bảng phân loại quốc tế về bệnh tật tử vong theo ICD-10
9 Bộ Y tế (2012), Quyết định số 4824/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc phê duyệt Đề án “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”
10 Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2017), Công văn số 3794/BHXH-DVT, V/v thống nhất tỷ lệ sử dụng Biệt Dược gốc tại các tuyến điều trị theo chỉ đạo của Chính phủ
11 Bộ Y Tế (2017), Báo cáo tổng kết công tác năm 2021 và Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu năm 2020
12 Bộ Y Tế (2018), Thông tư 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018 Ban hành danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế
13 Bộ Y tế (2017), Thông tư số 20/2017/TT-BYT ngày 10/5/2017 quy định chi tiết một số điều của luật dược và nghị định số 54/2017/NĐ-CP ngày 08 tháng 5 năm
2017 của chính phủ về thuốc và nguyên liệu làm thuốc phải kiểm soát đặc biệt
14 Bộ Y tế (2017) Báo cáo Tổng kết công tác năm 2016 và phương hướng nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu năm 2017
15 Hà Thanh Vân (2017), Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm y tế huyện Di Linh tỉnh Lâm Đồng năm 2017, Luận văn dược sĩ chuyên khoa I, Trường Đại học Dược Hà Nội
16 Đỗ Văn Quyết (2017), Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm y tế huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc năm 2017, Luận văn dược sĩ chuyên khoa I,
Trường Đại học Dược Hà Nội
17 Lê Thùy Dung (2017), Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm y tế huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc năm 201, Luận văn dược sĩ chuyên khoa I,
Trường Đại học Dược Hà Nội