1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGUYỄN THỊ CHỨC PHÂN TÍCH KIẾN THỨC, THÁI độ, THỰC HÀNH của NGƯỜI bán lẻ THUỐC đối với BỆNH SA sút TRÍ TUỆ tại một số HUYỆN TRÊN địa bàn TỈNH HƯNG yên năm 2021 LUẬN văn dược sĩ CHUYÊN KHOA cấp i

76 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN (11)
    • 1.1. Tổng quan về sa sút trí tuệ (11)
      • 1.1.1. Khái niệm sa sút trí tuệ (11)
      • 1.1.2. Dịch tễ học sa sút trí tuệ (11)
      • 1.1.3. Yếu tố nguy cơ sa sút trí tuệ (12)
      • 1.1.4. Phân loại sa sút trí tuệ (13)
      • 1.1.5. Cơ chế bệnh sinh của sa sút trí tuệ (14)
      • 1.1.6. Tổng quan về trí nhớ (17)
      • 1.1.7. Thuốc điều trị sa sút trí tuệ (22)
    • 1.2. Một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành liên quan đến bệnh (23)
    • 1.3. Vài nét về hệ thống bán lẻ thuốc trên địa bàn tỉnh Hưng Yên (25)
    • 1.4. Tính cấp thiết của đề tài (26)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (27)
    • 2.1. Đối tượng và thời gian nghiên cứu (27)
      • 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu (27)
      • 2.1.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (27)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (27)
      • 2.2.1. Biến số nghiên cứu (27)
      • 2.2.2. Thiết kế nghiên cứu (32)
      • 2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu (32)
        • 2.2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu (32)
      • 2.2.4. Mẫu và phương pháp chọn mẫu (32)
      • 2.2.5. Xử lý và phân tích số liệu (33)
    • 2.3. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu (34)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (36)
    • 3.1. Kiến thức của NBL về SSTT (0)
    • 3.2. Thái độ của NBL về SSTT (43)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (50)
    • 4.1. Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (50)
    • 4.2. Kiến thức của NBL thuốc về SSTT (50)
    • 4.3. Thái độ của dược sĩ cộng đồng về SSTT (53)
    • 4.4. Thái độ thực hành của dược sĩ cộng đồng đồi với SSTT (54)
    • 4.5. Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành của NBL thuốc đối với SSTT (55)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (59)

Nội dung

có nghiên cứu nào tìm hiểu về kiến thức, thái độ, thực hành của người bán lẻ thuốc đối với người bệnh bị SSTT.. Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Phân tích kiến thức,

TỔNG QUAN

Tổng quan về sa sút trí tuệ

1.1.1 Khái niệm sa sút trí tuệ

ICD-10 (International Classification of Diseases) định nghĩa sa sút trí tuệ là một hội chứng do bệnh lý của não, thường có tính chất mãn tính hoặc tiến triển, với sự xáo trộn nhiều chức năng cấp cao của vỏ não như trí nhớ, suy nghĩ, định hướng, hiểu, tính toán, khả năng học tập, ngôn ngữ và phán đoán Không có rối loạn ý thức Sự suy giảm chức năng nhận thức thường đi kèm, và đôi khi xảy ra trước sự suy giảm trong kiểm soát cảm xúc, hành vi xã hội hoặc vận động Hội chứng sa sút trí tuệ xuất hiện trong các bệnh như Alzheimer, bệnh mạch máu não, và trong các điều kiện khác chủ yếu hoặc ảnh hưởng đến não bộ.

Sa sút trí tuệ là một hội chứng lâm sàng do thoái hóa thần kinh, gặp phổ biến ở người cao tuổi, đặc trưng bởi sự suy giảm trí nhớ và nhiều chức năng nhận thức khác Bên cạnh đó, bệnh còn kèm theo rối loạn hành vi và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động hàng ngày cũng như chất lượng cuộc sống của người bệnh.

1.1.2.Dịch tễ học sa sút trí tuệ

Chứng sa sút trí tuệ là vấn đề sức khỏe cộng đồng lớn ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Ước tính có 50 triệu người sống chung với chứng sa sút trí tuệ vào năm 2020, và con số này dự kiến lên đến 152 triệu người vào năm 2050, mỗi 20 năm lại tăng gấp đôi Đáng chú ý, tại các khu vực đang phát triển và kém phát triển, tỷ lệ sa sút trí tuệ đang gia tăng ở mức đáng báo động Số ca mắc sa sút trí tuệ ở các nước đang phát triển chiếm tới 60% tổng số ca mắc trên toàn cầu.

2001, ước tính sẽ tăng lên 71% vào năm 2040 Ở Việt Nam chưa có các

Có 4 nghiên cứu mang tính đại diện về tỷ lệ sa sút trí tuệ Ở khu vực Đông Nam Á, số người mắc sa sút trí tuệ năm 2010 là 2,48 triệu người và dự báo đến năm 2030 sẽ tăng lên 5,30 triệu người, tương đương mức tăng 114% so với năm 2010.

Đến năm 2050, ước tính có khoảng 11,13 triệu người mắc sa sút trí tuệ trên toàn cầu, tăng 349% so với năm 2010 Tỷ lệ sa sút trí tuệ đang gia tăng đáng báo động ở mọi vùng, liên quan mật thiết đến quá trình già hóa dân số Tỷ lệ mắc sa sút trí tuệ tăng nhanh theo tuổi, từ khoảng 2–3% ở nhóm 70–75 tuổi lên 20–25% ở nhóm 85 tuổi trở lên Alzheimer là thể phổ biến nhất của sa sút trí tuệ và tỷ lệ mắc Alzheimer cũng tăng theo tuổi, với dự báo 1/85 người sẽ mắc Alzheimer vào năm 2050 Gánh nặng bệnh tật do chứng sa sút trí tuệ được ước tính cao hơn hầu hết các tình trạng sức khỏe khác, chỉ sau chấn thương tủy sống và ung thư giai đoạn cuối.

1.1.3 Yếu tố nguy cơ sa sút trí tuệ

1.1.3.1 Các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi

- Tuổi: tỷ lệ mắc sa sút trí tuệ tăng theo tuổi

- Giới tính: tỷ lệ mắc sa sút trí tuệ ở phụ nữ cao hơn nam giới

Di truyền đóng vai trò quan trọng trong sa sút trí tuệ khởi phát sớm, thường gặp ở những người có tiền sử gia đình mắc bệnh; yếu tố di truyền liên quan đến xơ vữa động mạch và biến đổi trên gen apolipoprotein E (APOE), đặc biệt các alel APOE ε4, làm tăng nguy cơ phát triển sa sút trí tuệ khởi phát sớm.

1.1.3.2 Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi

- Các yếu tố nguy cơ gây bệnh mạch máu, nồng độ HDL-cholesterol thấp và LDL-cholesterol cao, tăng huyết áp không được điều trị

- Tình trạng thừa cân, béo phì, đái tháo đường ở tuổi trung niên và tuổi già

- Trầm cảm hoặc có tiền sử trầm cảm [14]

1.1.4 Phân loại sa sút trí tuệ

Phân loại theo ICD- 10: Sa sút trí tuệ (F00 - F03) [15], gồm các thể: F00: Sa sút trí tuệ trong bệnh Alzheimer

F01: Sa sút trí tuệ thể trong bệnh mạch máu

F02: Sa sút trí tuệ khác:

- Sa sút trí tuệ do nhiễm virus gây suy giảm miễn dịch (HIV)

- Các thể sa sút trí tuệ khác

F03: Các thể sa sút trí tuệ không xác định

Trong các loại sa sút trí tuệ, sa sút trí tuệ do Alzheimer là phổ biến nhất, chiếm khoảng 60% số ca, tiếp đến là sa sút trí tuệ do mạch máu với tỷ lệ khoảng 30% Những dữ liệu này cho thấy hai dạng sa sút trí tuệ này chiếm phần lớn tổng số trường hợp và nhấn mạnh tầm quan trọng của nghiên cứu và chăm sóc chuyên sâu cho Alzheimer và sa sút trí tuệ do mạch máu.

Chứng sa sút trí tuệ do mạch máu được định nghĩa là mất chức năng nhận thức do các bệnh mạch máu não và các thay đổi bệnh lý của tim mạch; biểu hiện chính là sự suy giảm trong học tập và trí nhớ, đồng thời đây là một yếu tố nguy cơ tiềm ẩn góp phần vào sự phát triển của bệnh Alzheimer Bệnh Alzheimer được mô tả lần đầu vào năm 1906 tại một hội nghị ở Tubingen, Đức bởi Alois Alzheimer, như một quá trình bệnh nghiêm trọng đặc biệt của vỏ não Gần đây, Alzheimer được coi là một bệnh mạn tính hoặc tiến triển, đặc trưng bởi sự suy giảm khả năng nhận thức vượt ra khỏi những gì có thể được coi là hậu quả của sự lão hóa bình thường, ảnh hưởng đến trí nhớ, suy nghĩ, định hướng, hiểu, học tập và ngôn ngữ.

Trong so sánh giữa sa sút trí tuệ do mạch máu và sa sút trí tuệ do Alzheimer, sa sút trí tuệ do mạch máu có tỷ lệ tử vong cao hơn đáng kể vì người bệnh thường xuyên đối mặt với các yếu tố nguy cơ mạch máu và sự suy giảm vận động Các yếu tố nguy cơ tim mạch và tình trạng suy giảm chức năng vận động được cho là tác động trực tiếp làm tăng nguy cơ tử vong ở sa sút trí tuệ do mạch máu so với Alzheimer.

Sa sút trí tuệ do mạch máu có tỷ lệ sống trung bình thấp hơn 50%, với 3–4 năm sống ở bệnh nhân sa sút trí tuệ thể do mạch máu so với 6–7 năm ở bệnh nhân Alzheimer; đồng thời chi phí chăm sóc sức khỏe cho sa sút trí tuệ do mạch máu cao hơn, tỷ lệ biến chứng hôn mê lớn hơn và nhu cầu về dịch vụ y tế cùng người chăm sóc cũng cao hơn [19].

1.1.5 Cơ chế bệnh sinh của sa sút trí tuệ

1.1.5.1 Cơ chế sa sút trí tuệ thể do mạch máu

Hồi hải mã là cấu trúc chủ chốt trong hình thành khả năng học tập và trí nhớ Thiếu máu não cục bộ gây biến đổi cấu trúc và chức năng hệ thần kinh, kể cả sự suy giảm của synap thần kinh, từ đó góp phần suy giảm nhận thức [17] Việc điều hòa lưu lượng máu và kiểm soát trao đổi qua hàng rào máu-não đóng vai trò quan trọng trong miễn dịch và din dưỡng cho tế bào não, giúp duy trì cơ chế thần kinh Sự toàn vẹn cấu trúc và chức năng não phụ thuộc vào lượng máu được cung cấp liên tục và kiểm soát tốt; sự gián đoạn dòng máu não có thể dẫn đến rối loạn chức năng não và thậm chí tử vong Do đó não có các cơ chế tự điều chỉnh để đảm bảo cấp máu đáp ứng nhu cầu năng lượng Thiếu máu não cục bộ có thể làm tăng tích tụ peptid Aβ bằng cách làm giảm đào thải qua đường hàng rào máu-não Ngoài ra, thiếu oxy và/hoặc thiếu máu cục bộ thúc đẩy quá trình hình thành Aβ từ protein tiền chất amyloid (APP); sự tăng sản xuất và giảm thải trừ Aβ làm tăng lắng đọng Aβ trong não và tạo điều kiện hình thành các mảng amyloid ở não và mạch máu não, gây rối loạn chức năng não, có nguy cơ phù nề và giảm dự trữ máu, làm tăng nguy cơ tổn thương não [20].

Tổn thương mạch máu do nhiều yếu tố nguy cơ mạch máu là đặc điểm nổi bật của căn bệnh này Thiếu máu não cục bộ kích hoạt hệ miễn dịch tự nhiên, làm sạch các tổ chức hoại tử Trong quá trình sửa chữa mô, các tế bào tham gia tích cực vào quá trình tái cấu trúc và phục hồi mô bị tổn thương.

Trong cơ chế miễn dịch não, tế bào microglia có thể giải phóng các cytokin gây viêm Sự kích hoạt của các tế bào miễn dịch và sự tích tụ của các cytokin gây viêm trong thiếu máu não cục bộ mạn tính góp phần vào rối loạn chức năng nhận thức ở cả động vật và con người [21].

Giống Alzheimer, rối loạn chức năng nhận thức ở bệnh nhân sa sút trí tuệ do mạch máu có liên quan đến bất thường của hệ cholinergic Các tế bào thần kinh cholinergic ở hồi hải mã đóng vai trò then chốt trong quá trình học tập và trí nhớ Các đầu mút synap ở màng trước của tế bào thần kinh cholinergic lại rất nhạy cảm với tình trạng thiếu máu cục bộ, làm tăng nguy cơ rối loạn nhận thức ở nhóm bệnh này.

1.1.5.2 Cơ chế sa sút trí tuệ thể Alzheimer

Cơ chế bệnh sinh của Alzheimer vẫn chưa được làm rõ đầy đủ Hiện nay có ba giả thuyết chính được đề xuất để giải thích quá trình này, phản ánh các yếu tố sinh học và tế bào não có thể đóng vai trò then chốt trong sự tiến triển của căn bệnh Những giả thuyết này là cơ sở cho nghiên cứu và hướng tới phát triển các chiến lược chẩn đoán và điều trị hiệu quả hơn.

Một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành liên quan đến bệnh

Trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng đã có nhiều nghiên cứu về SSTT, từ nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh cho đến đặc điểm lâm sàng và điều trị SSTT Dưới đây là tổng hợp một số nghiên cứu về SSTT của các tác giả, phản ánh đóng góp của nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực này.

Nghiên cứu năm 2013 của Anthony Scerri và Charles Scerri trên 280 sinh viên đại học điều dưỡng cho thấy các sinh viên có kiến thức đầy đủ về SSTT và thể hiện thái độ tích cực đối với căn bệnh này.

- Tiến sĩ Melina Evripidou và cộng sự (2019) tiến hành nghiên cứu kiến thức, thái độ của người điều dưỡng đối với việc chăm sóc bệnh nhân SSTT

Kết quả từ 16 nghiên cứu cho thấy điều dưỡng viên thiếu kiến thức, kỹ năng giao tiếp và sự tự tin trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc người sa sút trí tuệ Các nghiên cứu can thiệp cho thấy sau các chương trình đào tạo, kiến thức và thái độ của điều dưỡng viên được cải thiện [27].

Trong nghiên cứu của Wenhong Zhao và cộng sự (2020) với 603 nhân viên y tế, điểm kiến thức trung bình tổng thể đạt 20,7 (SD = 2,9) trên thang 30, và điểm thái độ trung bình là 91,3 (SD = 15,9) trên thang 140 Phân tích hồi quy tuyến tính nhiều chuẩn cho thấy trình độ học vấn cao nhất, kinh nghiệm tìm kiếm thông tin liên quan đến chứng sa sút trí tuệ và sự sẵn sàng được đào tạo hoặc giáo dục về sa sút trí tuệ là những yếu tố dự báo quan trọng về điểm kiến thức; trong khi bộ phận công tác, kinh nghiệm làm việc với người bị sa sút trí tuệ, thời gian chăm sóc người bị sa sút trí tuệ, sự quan tâm đến chăm sóc và loại hình đào tạo lại là những yếu tố dự báo quan trọng về điểm số thái độ [46].

Trong nghiên cứu của Brian Keogh (2020) trên 1795 nhân viên y tế tại 3 bệnh viện đa khoa, kết quả cho thấy nhân viên y tế thể hiện thái độ tích cực đối với SSTT (sa sút trí tuệ) và có kiến thức từ trung bình đến cao về chứng SSTT, bao gồm cả những người được đào tạo về sa sút trí tuệ và những người có người thân bị SSTT Nghiên cứu cũng cho thấy các yếu tố như trình độ học vấn và vị trí công việc của nhân viên y tế ảnh hưởng đến kiến thức và thái độ đối với SSTT [29].

Nghiên cứu của Ahmad, S., Orrell, M., Iliffe, S và Gracie, A (2010) khảo sát thái độ, nhận thức và thực hành của 1011 bác sĩ đa khoa về chẩn đoán sớm bệnh sa sút trí tuệ Kết quả cho thấy tuổi tác và thời gian công tác ảnh hưởng đến khả năng chẩn đoán sớm và thái độ tích cực đối với SSTT Thái độ không có mối tương quan với giới tính Nhiều bác sĩ đa khoa cho rằng họ chưa được đào tạo đầy đủ để nhận diện và quản lý SSTT.

17 cơ bản về chứng sa sút trí tuệ, và kiến thức tổng thể về chứng sa sút trí tuệ còn thấp[28]

Nghiên cứu của Hernán Ramos và cộng sự (2021) đánh giá kiến thức của dược sĩ về các yếu tố liên quan đến chứng sa sút trí tuệ Kết quả cho thấy dược sĩ tham gia nghiên cứu còn thiếu kiến thức nền tảng, kỹ năng giao tiếp và sự tự tin khi tư vấn chăm sóc người bị sa sút trí tuệ Nghiên cứu nhấn mạnh nhu cầu triển khai các can thiệp nhằm cải thiện kiến thức, kỹ năng giao tiếp và sự tự tin của dược sĩ trong công tác tư vấn chăm sóc người sa sút trí tuệ [32].

Bài nghiên cứu của Nguyễn Trung Anh và cộng sự (2019) surveyed 142 nhân viên y tế tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương về kiến thức và thái độ đối với bệnh Sa sút trí tuệ (SSTT) Kết quả cho thấy sự phân bổ không đồng đều của nhân viên y tế giữa các khoa khi tham gia phỏng vấn, nhưng phần lớn nhân viên tiếp xúc với SSTT và tự tin với kiến thức cũng như thái độ của mình đối với bệnh nhân SSTT Tuy nhiên, 2,8% nhân viên vẫn chưa thực sự am hiểu về SSTT Mặt khác, tỉ lệ cán bộ tham gia các khóa học về SSTT trên 1 năm tại bệnh viện vẫn còn khá thấp [1].

Vài nét về hệ thống bán lẻ thuốc trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

Mạng lưới bán lẻ thuốc được phân bổ rộng khắp trên địa bàn tỉnh, tương đối đồng đều giữa các huyện, thành phố Tuy nhiên, ở các huyện vùng nông thôn có điều kiện kinh tế và giao thông khó khăn như Khoái Châu và Phù Cừ, mật độ cửa hàng bán lẻ thuốc (CSBL) thấp hơn.

Trong cơ cấu các loại hình bán lẻ thuốc tại thị trường, loại hình quầy thuốc chiếm tỷ lệ lớn nhất với 58,23%, trong khi loại hình nhà thuốc có tỷ lệ nhỏ nhất với 4,93% Loại hình tủ thuốc trạm y tế đạt 15,86%, còn đại lý thuốc chiếm 20,98% và sẽ giảm dần trong các năm tiếp theo.

- Loại hình nhà thuốc tập trung chủ yếu ở thành phố, trong khi đó ở huyện rất ít

Bình quân một điểm bán thuốc trong tỉnh phục vụ khoảng 1.193,8 người dân, cho thấy mạng lưới cung cấp thuốc thiết yếu có mức bao phủ cao Tỷ lệ trung bình có 1,1 CSBL thuốc phục vụ 2.000 dân cho thấy mỗi CSBL thuốc đáp ứng gần hai nghìn người, đảm bảo nhu cầu dùng thuốc của cộng đồng được đáp ứng kịp thời Chỉ số này tương đối đồng đều trên địa bàn các huyện, thành phố, phản ánh sự phân bố các điểm bán thuốc được thực hiện hiệu quả và ổn định khắp tỉnh.

Ở toàn tỉnh, mật độ điểm bán thuốc được phân bổ trung bình trên mỗi vùng diện tích 0,91 km2 với bán kính phục vụ khoảng 0,54 km Chỉ số này thể hiện sự phân bổ khá đồng đều trên địa bàn các huyện và thành phố của tỉnh Đáng chú ý, huyện Phù Cừ có chỉ số này cao hơn so với các huyện, thành phố còn lại (theo nguồn [18]).

- Nhìn chung mạng lưới bán lẻ thuốc đảm bảo 100% thuốc được cung ứng kịp thời cho nhu cầu phòng bệnh, chữa bệnh của người dân trong tỉnh.

Tính cấp thiết của đề tài

Trong hoàn cảnh khối dược cộng đồng ngày càng phát triển ở Việt Nam và cùng với khối bệnh viện trở thành hai khu vực chính cung ứng thuốc trực tiếp đến tay người tiêu dùng, dược sĩ cộng đồng đóng vai trò then chốt trong vấn đề phân phối thuốc cho người bệnh SSTT Do đó việc cải thiện thái độ của dược sĩ đối với SSTT là rất quan trọng và cần có nhiều chương trình đào tạo cũng như nghiên cứu nhằm nâng cao kiến thức và thái độ của dược sĩ đối với SSTT Thực tế trên thế giới đã có một số nghiên cứu đánh giá vấn đề này, tuy nhiên ở Việt Nam hiện chưa có nghiên cứu nào về kiến thức, thái độ và thực hành của dược sĩ cộng đồng về SSTT, vì vậy chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu này.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng và thời gian nghiên cứu

Người bán lẻ thuốc trên địa bàn một số huyện, thị tại tỉnh Hưng Yên

Tiêu chuẩn lựa chọn: Người bán lẻ thuốc đang hành nghề trong quá trình đi phỏng vấn trên một số huyện, thị, thành phố tại Hưng Yên

Tiêu chuẩn loại trừ quy định rằng người bán lẻ thuốc sẽ bị loại nếu họ từ chối trả lời phỏng vấn hoặc cho biết họ chưa tốt nghiệp một trường đào tạo về dược Những trường hợp này được xem là không đáp ứng yêu cầu và loại khỏi mẫu nghiên cứu để đảm bảo tính đầy đủ và tin cậy của kết quả.

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ 03/01/2022 đến 03/5/2022

Địa điểm nghiên cứu là các cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, gồm các huyện Ân Thi, Kim Động, Tiên Lữ và TP Hưng Yên.

Phương pháp nghiên cứu

Bảng 2.1 Biến số về một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

STT Tên biến Định nghĩa/Mô tả Giá trị biến

Năm sinh Năm sinh do NBL thuốc điền Số

2 2 Giới tính Giới tính của người bán lẻ thuốc

Phân loại/Định danh (1: Nam; 2 Nữ)

Trình độ chuyên môn cao nhất của NBL thuốc

Phân loại/Thứ tự (1: NBLT trung cấp; 2: NBLT cao đẳng; tên trường ĐH)

Tổng số năm người bán lẻ đã hành nghề Năm

Loại hình cửa hàng bán lẻ thuốc

Loại hình cửa hàng bán lẻ mà NBL thuốc đang kinh doanh

Phân loại/ Định danh (QT: quầy thuốc; NT: nhà thuốc; Nhập tên chuỗi cửa hàng )

Nguồn kiến thức về bệnh SSTT mà NBL thuốc đã biết

Phân loại/Định danh nguồn tin nhằm xác định độ tin cậy và nguồn gốc thông tin theo các cấp độ: K cho 'không biết' khi nguồn chưa được xác minh; C cho 'có' khi nguồn tin được xác thực; 1: đồng nghiệp, bạn bè; 2: sách, báo, tạp chí; 3: báo điện tử, các trang web chính thống; 4: mạng xã hội; 5: các phương tiện thông tin đại chúng Việc phân loại này giúp người đọc đánh giá tính xác thực của nội dung và chọn nguồn tin phù hợp cho bài viết chuẩn SEO và đảm bảo thông tin đầy đủ, khách quan.

Bảng 2.2: Biến số về kiến thức của người bán lẻ trong cộng đồng

STT Các biến thu thập về kiến thức Định nghĩa/Mô tả Giá trị biến

1 Các yếu tố nguy cơ của SSTT

Mức độ kiến thức của NBL thuốc về yếu tố nguy cơ của SSTT

Phân loại (Trả lời đúng;

Các đáp án đúng, sai, không biết Đáp án của câu hỏi do

2 Các yếu tố liên quan đến SSTT

Mức độ kiến thức của NBL thuốc về yếu tố liên quan đến SSTT

3 Chẩn đoán sa sút trí tuệ

Mức độ kiến thức của NBL thuốc về chẩn đoán SSTT

4 Triệu chứng của Mức độ kiến thức của NBL

SSTT thuốc về triệu chứng của

5 Tiến triển triệu chứng của SSTT

Mức độ kiến thức của NBL thuốc về tiến triển triệu chứng của SSTT

Mức độ kiến thức của NBL thuốc về nguyên nhân của SSTT

Mức độ kiến thức của NBL thuốc về về triệu chứng của SSTT ở giai đoạn đầu

SSTT mức độ trung bình Đánh giá kiến thức của NBL thuốc về triệu chứng của SSTT mức độ trung bình

9 Chăm sóc người bệnh SSTT

Mức độ kiến thức của NBL thuốc về chăm sóc người bệnh SSTT

SSTT tuệ giai đoạn nặng

Mức độ kiến thức của NBL thuốc về triệu chứng của SSTT tuệ giai đoạn nặng

11 Thuốc điều trị SSTT Mức độ kiến thức của NBL thuốc về thuốc điều trị SSTT

Bảng 2.3: Biến số về thái độ của người bán lẻ trong cộng đồng

TT Các biến thu thập về Định nghĩa/Mô tả Giá trị

1 Thói quen làm việc với người bị SSTT Đánh giá thái độ làm việc của NBL thuốc đối với người SSTT

(Thang likert 5 mức độ: 1 Rất không đồng ý;

Các nghĩ của NBL về tính cách của người bị SSTT

3 Khả năng phục hồi của

SSTT Đánh giá thái độ về hi vọng tiến triển tốt của bệnh

4 Khả năng tự đưa ra quyết định của người bị SSTT

Các nghĩ của NBL về khả năng quyết đoán của người bị SSTT

5 Cách chiếm thời gian của người bị SSTT Đánh giá cách đưa ra các hoạt động với người SST

6 Chăm sóc người SSTT Đánh giá thái độ khi chăm sóc người SSTT

7 Cách làm người SSTT hài lòng Đánh giá thái độ khi chăm sóc người SSTT

8 Thái độ về diễn biến của bệnh Đánh giá thái độ về diễn biến của bệnh

9 Sự gắn bó với người bị

Mức độ gắn bó với người bị SSTT

10 Cách đáp lại những người bị SSTT

Thái độ khi đáp lại những người bị SSTT

11 Năng lực làm việc của người bị SSTT

Thái độ về năng lực làm việc của người bị SSTT

12 Cách đáp ứng nhu cầu của người bị SSTT

Những hiểu biết để đáp ứng nhu cầu của người bị SSTT

Bảng 2.4: Biến số về thực hành của người bán lẻ trong cộng đồng với người bệnh SSTT

TT Các biến thu thập về thực hành của

NBL Định nghĩa/Mô tả Giá trị biến

Thuốc điều trị SSTT Đánh giá mức độ phổ biến của các loại thuốc điều trị SSTT

2 Người hỏi về SSTT Đánh giá mức độ tiếp cận với bệnh SSTT của NBL thuốc

Nhị phân (1: đã từng; 0: chưa

SSTT muốn gì Đánh giá trình độ, năng lực khi tiếp cận với người bệnh SSTT của NBL thuốc

Nhị phân (1: đã từng; 0: chưa

4 Người bị SSTT không hiểu NBL nói gì Đánh giá trình độ, năng lực khi tiếp cận với người bệnh SSTT của NBL thuốc

Nhị phân (1: đã từng; 0: chưa

5 Giao tiếp với người bị SSTT Đánh giá kĩ năng khi giao tiếp với người bệnh SSTT của NBL thuốc

6 Tư vấn và bán loại thuốc hỗ trợ và thực phẩm chức năng đắt tiền Đánh giá phương pháp tư vấn của NBL với người bệnh SSTT

7 Tư vấn về lối sống, sinh hoạt Đánh giá kĩ năng chăm sóc ban đầu của NBL với người bị SSTT

Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành bằng phương pháp định lượng nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ và thực hành của người bán lẻ thuốc về bệnh sa sút trí tuệ Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá mức độ nhận thức, quan điểm và hành vi tư vấn, cung cấp thuốc và hướng dẫn sử dụng cho bệnh nhân và người chăm sóc liên quan đến sa sút trí tuệ, đồng thời xác định các yếu tố dự đoán sự chuẩn bị và ứng xử của người bán thuốc Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần đề xuất các biện pháp giáo dục sức khỏe và can thiệp nhằm nâng cao kiến thức, cải thiện thái độ và thực hành của hệ thống bán lẻ thuốc, từ đó tăng cường chăm sóc người bệnh sa sút trí tuệ và phòng ngừa sai lệch thông tin hay lạm dụng thuốc.

Sơ đồ nội dung nghiên cứu được thể hiện như sau

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

Để thu thập số liệu một cách hiệu quả, nghiên cứu sẽ áp dụng phương pháp điều tra kết hợp với phỏng vấn Nhà nghiên cứu sẽ tới các cơ sở bán lẻ thuốc để phát bộ câu hỏi và mời người bán lẻ đồng ý trả lời phỏng vấn nhằm thu thập thông tin liên quan Quá trình thu thập dữ liệu được tiến hành có hệ thống, đảm bảo thông tin thu được chính xác và phục vụ cho công tác phân tích nhằm đánh giá thực trạng thị trường thuốc.

2.2.3.2 Công cụ thu thập số liệu

Sử dụng bộ câu hỏi tự điền làm công cụ thu thập số liệu (Phụ lục 01)

Bộ câu hỏi được tham khảo từ các nghiên cứu trước và đã được thử nghiệm tại 5 cơ sở bán lẻ, sau đó được hoàn thiện để đảm bảo tính phù hợp và độ tin cậy với mẫu nghiên cứu; cuối cùng, chúng tôi tiến hành phỏng vấn tất cả các cơ sở bán lẻ thuộc mẫu nghiên cứu nhằm thu thập dữ liệu đầy đủ cho phân tích.

2.2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

Công thức ước tính cỡ mẫu cho quần thể:

Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành của NBL đối với bệnh

Phân tích mối liên quan giữa kiến thức và thực hành của NBL đối với bệnh SSTT

Z P n     n: là cỡ mẫu cần cho nghiên cứu

P: là tỷ lệ biết về bệnh sa sút trí tuệ Do chưa có nghiên cứu trước đó nên chọn P = 0,5 để P(l-P) lớn nhất d: là khoảng sai lệch cho phép giữa tỷ lệ thu được từ mẫu và tỷ lệ của quần thể (theo ước tính của người nghiên cứu) Chọn d = 0,15

: Mức độ tin cậy Chọn  =0,05 ứng với độ tin cậy là 95%

Z(1-2); Hệ số tin cậy phụ thuộc vào giới hạn tin cậy (1- /2).tra bảng ta có

Để tính kích thước mẫu, n được xác định theo công thức n = (1,96)^2 × 0,5 × 0,5 / (0,15)^2, cho kết quả khoảng 42,7 Vì vậy, đề tài chọn cỡ mẫu là 60 người bán thuốc tại 60 cơ sở bán lẻ thuốc, sử dụng kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện Các cơ sở bán lẻ thuốc tham gia nằm ở 4 huyện: Tiên Lữ, Kim Động, Ân Thi và TP Hưng Yên.

Bảng 2.5 Đặc điểm các cơ sở bán lẻ trong nghiên cứu

TT Huyện Nhà thuốc Quầy thuốc

2.2.5 Xử lý và phân tích số liệu

- Kết quả trả lời phỏng vấn được mã hóa theo thang điểm

+ Phần kiến thức gồm 15 câu hỏi Trả lời đúng thì được 1 điểm, trả lời sai/không biết = 0 điểm Điểm nhỏ nhất là 0, lớn nhất là 15

Phần thái độ được đánh giá dựa trên nguyên tắc: thái độ tích cực nhận điểm cao, còn thái độ tiêu cực nhận điểm thấp Thang đo này được chia thành hai phần là Hope và phần Person-centred, nhằm đo lường mức độ hy vọng và tính lấy người làm trọng tâm trong cách thể hiện thái độ của người tham gia đánh giá.

Nhóm Hy vọng (Hope): Các câu 1,2,3,4,6,8,10,13,14 thì nếu chọn Hoàn toàn không đồng ý được 5 điểm, Hoàn toàn đồng ý 1 điểm

Nhóm Person-centred (Lấy con người làm trung tâm) có 19 câu hỏi; các câu 5, 7, 9, 11, 12, 15, 16, 17, 18 và 19 được đánh giá trên thang điểm 5, với 5 điểm cho hoàn toàn đồng ý và 1 điểm cho hoàn toàn không đồng ý Điểm tối thiểu của nhóm là 19 và tối đa là 95.

Phần thực hành: Phần thực hành thống kê các câu trả lời, không đánh giá đúng sai

- Xử lý trước khi nhập số liệu: làm sạch, kiểm tra thông tin để đảm bảo tính đầy đủ và chính xác

- Phần mềm nhập số liệu: Excel for Windows

- Xử lý sau khi nhập số liệu: kiểm tra lại số liệu đã nhập để đảm bảo chính xác

- Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 25.0

- Công thức tính toán: Tỷ lệ %, giá trị trung bình, trung vị…

Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Thông tin riêng tư, cá nhân của đối tượng nghiên cứu được bảo mật và giữ kín Người bán lẻ thuốc đã được thông báo rằng mọi dữ liệu sẽ được ẩn danh và bảo vệ kín đáo, nhằm đảm bảo quyền riêng tư và tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc bảo mật dữ liệu trong nghiên cứu.

Đề tài này thuộc lĩnh vực khoa học quản lý, và tôi cam kết duy trì tính trung thực ở mọi bước của quá trình thu thập, tổng hợp và xử lý số liệu để đảm bảo đánh giá khách quan và kết luận đúng với thực tế tại địa bàn nghiên cứu Những yếu tố này đảm bảo giá trị tham khảo cho các quyết định quản lý dựa trên bằng chứng tại khu vực nghiên cứu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thái độ của NBL về SSTT

Bảng 3.11 Thái độ của NBL thuốc đối với bệnh sa sút trí tuệ

TT Nội dung MĐ1 MĐ2 MĐ3 MĐ4 MĐ5 Điểm TB

1 Khi làm việc với những người bị sa sút trí tuệ, phải có thói quen làm việc rất nghiêm ngặt

2 Những người bị sa sút trí tuệ rất giống trẻ em

3 Chẳng có hy vọng hồi phục gì cho những người bị sa sút trí tuệ cả

4 Những người bị sa sút trí tuệ không có khả năng tự đưa ra quyết định

5 Một điều quan trọng đối với những người bị sa sút trí tuệ là cần có những hoạt động thú vị và kích thích để chiếm đi thời gian của họ

6 Những người bị sa sút trí tuệ là những người bị bệnh và cần được

7 Những người bị sa sút trí tuệ phải được quyền quyết định các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày của họ

8 Chẳng thể làm gì cho những người bị sa sút trí tuệ ngoài việc giữ cho họ sạch sẽ và cảm thấy thoải mái

9 Những người bị sa sút trí tuệ sẽ cảm thấy hài lòng hơn khi được thấu hiểu và an ủi, dỗ dành

10 Khi sa sút trí tuệ xuất hiện, chắc chắn là người đó sẽ bị suy yếu rất nhanh

11 Những người bị sa sút trí tuệ cần cảm thấy được tôn trọng giống như bất kỳ ai khác

12 Để chăm sóc tốt cho những người bị sa sút trí tuệ, phải quan tâm đến nhu cầu tâm lý lẫn nhu cầu thể chất của họ

13 Không nên quá gắn bó với những bệnh nhân sa sút trí tuệ

14 Chẳng quan trọng là bạn có nói gì với những người bị sa sút trí tuệ hay không vì dù sao họ cũng sẽ quên thôi

15 Những người bị sa sút trí tuệ thường có những lý do chính đáng cho việc họ làm

16 Dành thời gian cho những người bị sa sút trí tuệ có thể rất thú vị

17 Cần đáp lại những người bị sa sút trí tuệ bằng sự đồng cảm và sự thấu hiểu

18 Những người bị sa sút trí tuệ vẫn có thể làm được rất nhiều việc

19 Những người bị sa sút trí tuệ chỉ là những người bình thường

Bạn cần có sự hiểu biết đặc biệt để có thể đáp ứng được nhu cầu của họ

Nhận xét cho thấy thái độ của đối tượng nghiên cứu đối với SSTT tương đối tốt, với mức điểm trung bình ở phần lớn các câu trên 2.5; riêng câu C6 có điểm trung bình dưới 2.5, đạt 1.68 điểm.

Bảng 3.12 Điểm thái độ của NBL thuốc về sa sút trí tuệ

TT Nhóm Điểm tối thiểu- tối đa (điểm) Điểm trung bình (điểm)

3 Nhóm Tập trung vào con người

Nhận xét: Câu hỏi thuộc nhóm Hi vọng có điểm trung bình thấp (27.67 điểm) hơn so với nhóm câu hỏi Tập trung vào con người (35.73 điểm)

Bảng 3.13 So sánh điểm thái độ trung bình của NBL theo giới tính

TT Giới tính Điểm trung bình

Nhận xét: Điểm thái độ trung bình của nam và nữ trong nghiên cứu là tương đương nhau, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0.05

Bảng 3.14 So sánh điểm thái độ trung bình của NBL theo tuổi

TT Tuổi Điểm trung bình

Nhận xét: Điểm thái độ trung bình của các nhóm tuổi trong nghiên cứu là tương đương nhau, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0.05

Bảng 3.15 So sánh điểm thái độ trung bình của NBL theo trình độ học vấn

TT Tuổi Điểm trung bình

Nhận xét: Điểm thái độ trung bình của các nhóm trình độ trong nghiên cứu là tương đương nhau, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0.05

Bảng 3.16 So sánh điểm thái độ trung bình của dược sĩ theo qui mô hoạt động của cửa hàng thuốc

TT Mô hình cửa hàng thuốc Điểm trung bình

Nhận xét: Điểm thái độ trung bình của các nhóm nghiên cứu chia theo quy mô cửa hàng thuốc trong nghiên cứu là tương đương nhau, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0.05

Bảng 3.17 So sánh điểm thái độ trung bình của dược sĩ theo số năm kinh nghiệm

TT Số năm kinh nghiệm Điểm trung bình

Những nhận xét cho thấy điểm thái độ trung bình của các nhóm đối tượng nghiên cứu được chia theo số năm kinh nghiệm trong nghiên cứu là tương đồng với nhau; sự khác biệt giữa các nhóm này không có ý nghĩa thống kê khi p>0,05 Kết quả cho thấy kinh nghiệm nghiên cứu không ảnh hưởng đáng kể đến điểm thái độ trong mẫu nghiên cứu này.

Bảng 3.18 Thái độ thực hành của dược sĩ đối với bệnh sa sút trí tuệ

1 Cửa hàng thuốc có bán loại thuốc nào để điều trị bệnh sa sút trí tuệ

2 Đã từng có ai đó đến mua thuốc và hỏi về bệnh sa sút trí tuệ

3 Đã từng có bệnh nhân bị sa sút trí tuệ ra cửa hàng thuốc mua thuốc và anh/chị không hiểu họ muốn nói gì

4 Anh/chị đã từng tư vấn nhiệt tình cho một bệnh nhân bị sa sút trí tuệ nhưng họ không hiểu anh/chị đang nói gì

5 Anh/chị cảm thấy khó khăn trong giao tiếp với bệnh nhân sa sút trí tuệ nên anh/chị không muốn tư vấn hay bán thuốc trực tiếp cho những bệnh

41 nhân bị sa sút trí tuệ

6 Anh/chị sẵn sàng tư vấn và bán cho bệnh nhân sa sút trí tuệ nhiều loại thuốc hỗ trợ và thực phẩm chức năng đắt tiền

7 Đối với những bệnh nhân cao tuổi bị sa sút trí tuệ, bên cạnh việc bán thuốc, anh/chị sẽ khuyên họ thường xuyên tập thể dục thể thao, ăn uống khoa học, luôn giữ tinh thần lạc quan, tránh sử dụng rượu bia

Nhận xét từ bảng 18 cho thấy số lượng cửa hàng thuốc có các loại thuốc điều trị SSTT còn chưa nhiều Đa phần nhân viên bán lẻ thuốc sẵn sàng tư vấn về chế độ dinh dưỡng và nghỉ ngơi, đồng thời giới thiệu một số loại thuốc và thực phẩm chức năng đắt tiền cho người bệnh SSTT.

BÀN LUẬN

Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

60 NBL thuốc trên địa bàn các huyện Ân Thi, Tiên Lữ, Kim Động, TP

Hưng Yên đã trả lời phiếu nghiên cứu và cho kết quả như sau:

Phần lớn đối tượng nghiên cứu ở độ tuổi trên 35 tuổi với 51,7% gấp gần

4 đối tượng thuộc nhóm tuổi 26–30 chiếm 13,3%; không có NBL thuốc nào thuộc nhóm tuổi 20–25 tham gia nghiên cứu; tỉ lệ NBL thuốc ở nhóm tuổi 31–35 đạt 35%; các đối tượng có kinh nghiệm từ 6–10 năm chiếm 43,3%, cao hơn các nhóm khác; kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Ninh Thế Vũ về phân bố NBL thuốc trên địa bàn.

Tỉ lệ dược sĩ nữ chiếm phần lớn với 65%, điều này cũng tương đồng với nghiên cứu của của Ninh Thế Vũ khi nghiên cứu tỉ lệ phân bố NBL thuốc trên địa bàn Hà Nội [13]

Hình 1 cho thấy phần lớn đối tượng nghiên cứu có trình độ từ cao đẳng đến sau đại học Tỷ lệ này cho thấy cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội và y học, trình độ của NBL thuốc ngày càng được nâng cao nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu cho cộng đồng.

Kiến thức của NBL thuốc về SSTT

Đặc điểm chung được ghi nhận trên Bảng 3.3 cho thấy kiến thức của NBL thuốc trong nghiên cứu ở mức độ trung bình; trong 15 câu hỏi kiến thức về SSTT, không có câu hỏi nào có tỉ lệ trả lời đúng 100%, và câu có tỉ lệ trả lời đúng cao nhất chỉ đạt 88,3% Đáng chú ý là câu B3: “Bài kiểm tra Trạng thái Tâm thần tối thiểu (Mini-Mental State Examination - MMSE) có thể giúp chẩn đoán sa sút trí tuệ” và câu hỏi này cho thấy không có NBL thuốc nào trả lời đúng; phần lớn trả lời không biết hoặc trả lời sai Điều này tương đồng với kết quả của một khảo sát ở Quần đảo Maltese sử dụng ADKS và các biện pháp liên quan.

Pháp Dược trị liệu Bệnh Alzheimer (ADPM) cho thấy dược sĩ cộng đồng có kiến thức chưa đầy đủ về các yếu tố nguy cơ sa sút trí tuệ Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có sự khác biệt lớn so với nghiên cứu của Nguyễn Trung Anh (2019) tại Viện Lão khoa Trung ương, nơi tỉ lệ có kiến thức tốt về SSTT của nhân viên y tế lên tới 92,7% Sự khác biệt này được giải thích do đặc thù công việc: các đối tượng nghiên cứu của Nguyễn Trung Anh thường xuyên tiếp xúc, làm việc và được cập nhật kiến thức thường xuyên hơn so với các đối tượng trong nghiên cứu của chúng tôi.

4.2.1 Kiến thức của NBL thuốc về nguyên nhân, triệu chứng và chẩn đoán SSTT

Về nguyên nhân của SSTT: ở các câu hỏi B1: “Tuổi là một trong những yếu tố nguy cơ gây ra bệnh sa sút trí tuệ”; B7: “Sa sút trí tuệ do nhiều nguyên nhân gây ra và một số loại sa sút trí tuệ là có thể hồi phục (có thể cải thiện sau khi điều trị)”; B8: “Một số loại sa sút trí tuệ là do các bệnh mạch máu não gây ra” NBL thuốc trong nghiên cứu có kiến thức tương đối tốt về nguyên nhân của SSTT Tỉ lệ trả lời đúng lần lượt là 85%, 63,33%, 83,33% Với câu hỏi B2 đánh giá mối liên quan giữa yếu tố gia đình, di truyền với SSTT, phần này NBL thuốc trong nghiên cứu đa phần trả lời sai hoặc không biết (chiếm 75%) Như vậy, kiến thức về nguyên nhân, yếu tố nguy cơ SSTT của các dược sĩ trong nghiên cứu vẫn chưa được đầy đủ Điều này cũng tương đồng với một cuộc khảo sát ở Quần đảo Maltese sử dụng ADKS và Biện pháp Dược trị liệu Bệnh Alzheimer (ADPM) cho thấy rằng các dược sĩ cộng đồng có kiến thức không đầy đủ về các yếu tố nguy cơ sa sút trí tuệ.

Về triệu chứng, chẩn đoán SSTT: trong 8 câu hỏi về triệu chứng của

SSTT (B3: “Bài kiểm tra Trạng thái Tâm thần tối thiểu (Mini-Mental State Examination - một bài trắc nghiệm đánh giá tâm thần) có thể giúp chẩn đoán

Bản phân tích cho thấy ba câu B4, B6 và B13 có tỉ lệ trả lời đúng cao lần lượt 83,33%, 65% và 71,67%, cho thấy sa sút trí tuệ là sự phối hợp của các triệu chứng (B4) và các triệu chứng có thể phát triển trong thời gian ngắn (B6) cũng như ở mức độ trung bình có thể bị sụt giảm trí nhớ, ảo tưởng và các triệu chứng loạn thần khác (B13) Tuy nhiên khi đánh giá sâu hơn về tiến triển và diễn biến của các triệu chứng, kiến thức còn thiếu ở B9 về triệu chứng ở giai đoạn đầu (58,33% đúng) và B10 về mức độ trung bình (51,67% đúng), cho thấy tỷ lệ đúng và sai gần bằng nhau Câu B15 cho thấy ở mức độ trung bình, NBL thuốc trong nghiên cứu có kiến thức chưa tốt, với 65% trả lời sai và chỉ 35% đúng Đặc biệt với câu B3 đánh giá kiến thức về bài kiểm tra Trạng thái Tâm thần tối thiểu (Mini-Mental State Examination - MMSE) không có đối tượng nghiên cứu nào trả lời đúng, điều này cho thấy kiến thức về sàng lọc SSTT còn rất hạn chế Điều này có thể lý giải do các dược sĩ

Nghiên cứu cho thấy sự hạn chế trong tiếp cận bệnh nhân và thiếu kinh nghiệm khiến dược sĩ chưa thành thạo các test sàng lọc Để khắc phục điều này, cần tăng cường tập huấn cho dược sĩ và cho phép họ luyện tập các test sàng lọc nhiều lần, đồng thời áp dụng tại thực tế lâm sàng để nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân.

4.2.2 Kiến thức của dược sĩ cộng đồng về chăm sóc, điều trị SSTT

Bảng 4 cho thấy kiến thức chăm sóc người SSTT của NBL thuốc trong nghiên cứu tương đối tốt với tỉ lệ trả lời đúng cao; cụ thể, câu B11 về phương pháp tác động để tránh tình trạng quá kích và tăng mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng có tỉ lệ trả lời đúng cao nhất, đạt 88,33%, câu B14 về các loại thuốc điều trị SSTT có tỉ lệ trả lời đúng lên tới 80% Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Hernán Ramos (2021) là 74% [32], cho thấy sự khác biệt do Ramos chủ yếu đánh giá các yếu tố liên quan đến SSTT mà chưa đi sâu vào kiến thức chăm sóc tổng quát Câu B12 đánh giá kiến thức về tư vấn chăm sóc người bệnh SSTT và có tỉ lệ đúng là 78,33%, cho thấy một tín hiệu tích cực về sự quan tâm và chăm sóc của các dược sĩ trong cộng đồng đối với người bệnh.

Bảng 3.4 cho thấy điểm kiến thức đạt được là 9 ± 1.4 trên tối đa 15 điểm, với tỉ lệ đúng tổng hợp là 60.93% Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Huỳnh Phương Anh (2021) với 68.45%, và sự khác biệt này được giải thích là do đối tượng nghiên cứu khác nhau: Nguyễn Huỳnh Phương Anh đánh giá kiến thức của sinh viên bác sĩ đa khoa năm thứ 6, những đối tượng được đào tạo kỹ hơn, bài bản hơn về SSTT so với NBL thuốc trong nghiên cứu hiện tại [2]

Thái độ của dược sĩ cộng đồng về SSTT

Bảng 3.12 cho thấy nhóm câu hỏi tập trung vào con người có điểm trung bình cao hơn nhóm câu hỏi về hy vọng, cho thấy yếu tố con người được coi trọng và có ảnh hưởng lớn đến kết quả nghiên cứu Rất nhiều dược sĩ cộng đồng tham gia nghiên cứu đồng tình với quan điểm rằng những người bị SSTT cần sự quan tâm và hỗ trợ thích đáng để bảo đảm quá trình chăm sóc sức khỏe được hiệu quả.

46 người tham gia cho biết họ cảm thấy được tôn trọng hơn bất kỳ ai khác, với điểm trung bình rất tích cực là 4.18 ± 0.5 Những người bị SSTT cho thấy họ sẽ cảm thấy hài lòng hơn khi được thấu hiểu và an ủi, dỗ dành, với điểm trung bình là 4.1 ± 0.63/5 điểm.

Về thái độ chăm sóc người sa sút trí tuệ (SSTT), các dược sĩ trong nghiên cứu cho rằng để chăm sóc tốt cho những người bị SSTT, cần quan tâm đồng thời đến nhu cầu tâm lý lẫn nhu cầu thể chất của họ, với điểm trung bình là 4.12 ±.

Thái độ thực hành của dược sĩ cộng đồng đồi với SSTT

Bảng 3.18 cho thấy phần lớn các cơ sở bán lẻ thuốc tham gia nghiên cứu không có các loại thuốc điều trị SSTT, ở mức tới 90% Điều này cho thấy thuốc điều trị SSTT hiện nay chưa được phân bố rộng rãi trên mạng lưới phân phối thuốc, khiến người bệnh gặp khó khăn trong việc tiếp cận các thuốc thiết yếu Để cải thiện sức khỏe cộng đồng và củng cố hệ thống y tế, cần tăng cường dự trữ và phân phối thuốc SSTT tại các cơ sở bán lẻ, nâng cao khả năng tiếp cận thuốc cho người dân.

Khoảng 47% người được tiếp cận với các phương pháp điều trị đặc hiệu Theo nghiên cứu, đa số nhà bán lẻ thuốc (NBL) sẵn sàng tư vấn và bán cho người bị SSTT các loại thuốc và thực phẩm chức năng đắt tiền, với tỉ lệ lên tới 75%.

Với câu hỏi D7 về chăm sóc bệnh nhân cao tuổi bị sa sút trí tuệ, ngoài việc bán thuốc, các nhà thuốc nên khuyên họ tập thể dục đều đặn, ăn uống hợp lý, giữ tinh thần lạc quan và tránh rượu bia Tỷ lệ đồng ý với các khuyến nghị này đạt 98,33% Điều này cho thấy thuốc NBL trong nghiên cứu có thái độ thực hành chăm sóc sức khỏe tinh thần, dinh dưỡng và tập luyện cho người bị sa sút trí tuệ ở mức tương đối tốt.

Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành của NBL thuốc đối với SSTT

Kết quả nghiên cứu cho thấy NBL thuốc có kiến thức về chăm sóc và điều trị SSTT tương đối tốt; do đó, phần đánh giá thực hành của NBL thuốc trong việc tư vấn chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người bị SSTT cũng đạt kết quả tốt.

Kiến thức của NBL thuốc về các triệu chứng, tiến triển và mức độ của bệnh còn chưa tốt Điều này có thể lý giải do NBL thuốc chưa được đào tạo về SSTT trong quá trình học tập hoặc chưa có các chương trình cập nhật kiến thức chuyên môn phù hợp Đa phần các NBL thuốc tự tìm hiểu về SSTT qua sách báo và Internet.

Nghiên cứu cũng chưa thấy mối liên hệ giữa kiến thức về chẩn đoán SSTT với thái độ thực hành của NBL thuốc Điều này được lý giải do cỡ mẫu trong nghiên cứu còn nhỏ và phương pháp lấy mẫu thuận tiện nên chưa đại diện được cho đa số NBL thuốc trong cộng đồng Mặt khác, NBL thuốc tham gia nghiên cứu chưa được đào tạo bài bản, theo một quy trình SSTT; vì vậy kiến thức về chẩn đoán và các thang đánh giá mức độ tiến triển của SSTT ở NBL thuốc còn thiếu và yếu.

Với xu hướng phát triển bệnh tật ngày càng tăng, tỉ lệ mắc sa sút trí tuệ (SSTT) đang tăng lên nhanh chóng Ước tính trên toàn cầu có khoảng 50 triệu người sống chung với chứng sa sút trí tuệ vào năm 2020, và con số này được dự báo sẽ lên tới 152 triệu người trong tương lai.

Theo dự báo đến năm 2050 [22], con số này sẽ tăng gấp đôi sau mỗi 20 năm, cho thấy sự cấp thiết của việc cập nhật kiến thức cho nhà bán lẻ thuốc (NBL thuốc) nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người bị SSTT Trong bối cảnh khối dược phẩm cộng đồng đang phát triển ở Việt Nam và cùng với khối bệnh viện trở thành hai khu vực chính cung ứng thuốc trực tiếp đến người tiêu dùng, NBL thuốc đóng vai trò quan trọng trong công tác phân phối thuốc cho người bệnh SSTT Vì vậy, cải thiện thái độ của NBL thuốc đối với SSTT là rất cần thiết và cần triển khai nhiều chương trình đào tạo cũng như nghiên cứu nhằm cải thiện kiến thức và thái độ của NBL thuốc đối với SSTT.

4.6 Một số hạn chế của đề tài

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, với cỡ mẫu nhỏ

(60 NBL) trên một số huyện của tỉnh Hưng Yên nên chưa thể đánh giá một cách tổng quát toàn bộ NBL trên địa bàn tình Hưng Yên

Hiện tại, bộ công cụ chưa đi sát với tình hình thực tế của địa phương và thiếu sự cụ thể, khiến việc triển khai còn gặp khó khăn Vì vậy, cần tiến hành các cuộc phỏng vấn chuyên sâu với người dùng, nhà quản lý và các bên liên quan tại địa phương để thu thập thông tin chi tiết, đánh giá đúng thực trạng và từ đó điều chỉnh công cụ cho phù hợp với điều kiện thực tế, nâng cao hiệu quả và khả năng áp dụng trong quản trị địa phương.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ KẾT LUẬN

1 Kiến thức, thái độ thực hành của người bán lẻ thuốc về bệnh SSTT

Người bán lẻ thuốc tại một số huyện trên địa bàn tỉnh Hưng Yên có kiến thức tổng hợp về sa sút trí tuệ chưa đầy đủ

Trong các nhóm kiến thức được phân theo nội dung, nhóm kiến thức về điều trị và chăm sóc cho thấy kết quả tương đối tốt với tỉ lệ trả lời đúng lên tới 83,3%, trong khi nhóm kiến thức về đặc điểm lâm sàng và bệnh học còn chưa tốt với tỉ lệ trả lời đúng chỉ khoảng 35%.

Trong nghiên cứu này, thái độ của người bán lẻ thuộc nhóm lấy con người làm trung tâm được đánh giá tốt hơn so với nhóm có thái độ hi vọng vào tiến triển tốt của SSTT Cụ thể, điểm trung bình của nhóm lấy con người làm trung tâm là 27,67 ± 2,64, trong khi nhóm hi vọng vào sự tiến triển tốt của SSTT đạt 35,73 ± 2,78 Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa hai nhóm về thái độ liên quan đến SSTT, nhấn mạnh vai trò của việc tiếp cận khách hàng dựa trên con người trong bán lẻ và tác động của nó đến đánh giá tiến triển của SSTT.

Chưa nhiều người bán lẻ thuốc được tiếp cận, thực hành về chăm sóc điều trị SSTT Một số thái độ thực hành còn chưa tốt

2 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành của người bán lẻ thuốc đối với SSTT

Trong nghiên cứu, NBL thuốc cho thấy kiến thức về chăm sóc và điều trị SSTT tương đối tốt, nhưng mức độ tiếp cận thực hành chăm sóc SSTT còn chưa được áp dụng rộng rãi Thái độ thực hành của NBL thuốc khi tư vấn về mức độ nghiêm trọng hoặc diễn biến của bệnh vẫn chưa đáp ứng kỳ vọng, cho thấy cần cải thiện kỹ năng giao tiếp và tư vấn để nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân SSTT.

1 Đối với sở Y tế tỉnh Hưng Yên

Cần đưa SSTT vào chương trình cập nhật kiến thức thường xuyên cho người bán lẻ thuốc

2 Đối với người bán lẻ thuốc trên địa bàn Hưng Yên

Trong quá trình tư vấn cho người cao tuổi, cần chú ý đến việc không phân biệt chuyên khoa và tôn trọng mọi trường hợp Người tư vấn nên khuyến khích họ tự tạo cơ hội để thực hành các test đánh giá SSTT nhằm làm chủ kỹ thuật và trở nên nhuần nhuyễn Việc luyện tập đều đặn sẽ nâng cao khả năng đánh giá, tăng sự tự tin và cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi.

3 Đối với các nghiên cứu khác

Nếu có điều kiện, tiến hành trên qui mô lớn hơn, trên toàn bộ tỉnh Hưng Yên, với những cuộc phỏng vấn chuyên sâu

Ngoài ra nên nghiên cứu thêm đối tượng dược sĩ trong các cơ sở y tế, để có cái nhìn tổng quát hơn.

Ngày đăng: 21/08/2022, 18:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Trung Anh, (2019). Kiến thức và thái độ của nhân viên y tế đối với sa sút trí tuệ tại bệnh viện Lão khoa Trung ương năm 2019, Tạp Chí Y học Việt Nam, Tập 500 số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức và thái độ của nhân viên y tế đối với sa sút trí tuệ tại bệnh viện Lão khoa Trung ương năm 2019
Tác giả: Nguyễn Trung Anh
Năm: 2019
2. Nguyễn Huỳnh Phương Anh (2021). Kiến thức thái độ của sinh viên Y6 đa khoa trường Đại học Y Hà Nội về sa sút trí tuệ năm 2021, Khóa luận tốt nghiệp bá sĩ đa khoa, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức thái độ của sinh viên Y6 đa khoa trường Đại học Y Hà Nội về sa sút trí tuệ năm 2021
Tác giả: Nguyễn Huỳnh Phương Anh
Nhà XB: Đại học Y Hà Nội
Năm: 2021
3. Trịnh Bỉnh Dy (2005), Sinh lý học, Nhà xuất bản Y học, Bộ môn Sinh lý học - Trường Đạo học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học
Tác giả: Trịnh Bỉnh Dy
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2005
4. Phạm Thắng (2010), Bệnh Alzheimer và các thể sa sút trí tuệ khác, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh Alzheimer và các thể sa sút trí tuệ khác
Tác giả: Phạm Thắng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2010
7. Phạm Khuê và Phạm Thắng. Sa sút tâm thần ở người cao tuổi. Nhà Xuất Bản Học. Nội san Bệnh viện tâm thần Biên Hòa. 10pp. 5-15. 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sa sút tâm thần ở người cao tuổi
Tác giả: Phạm Khuê, Phạm Thắng
Nhà XB: Nội san Bệnh viện tâm thần Biên Hòa
Năm: 1998
8. Trần Viết Lực. Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ của sa sút trí tuệ ở bệnh nhân Alzheimer. Nội san Hội Tâm thần học. 5pp. 40-45. 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ của sa sút trí tuệ ở bệnh nhân Alzheimer
Tác giả: Trần Viết Lực
Nhà XB: Nội san Hội Tâm thần học
Năm: 2011
9. Quyết định 2058/QĐ-BYT 2020 tài liệu Hướng dẫn chẩn đoán điều trị rối loạn tâm thần thường gặp Accessed June 12, 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tài liệu Hướng dẫn chẩn đoán điều trị rối loạn tâm thần thường gặp
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2020
10. Lương Hữu Thông và cộng sự. Kết quả khảo sát tình hình sa sút trí tuệ và bệnh Alzheimer. Nội san Bệnh viện tâm thần Biên Hóa. 10pp. 5-15. 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo sát tình hình sa sút trí tuệ và bệnh Alzheimer
Tác giả: Lương Hữu Thông và cộng sự
Nhà XB: Nội san Bệnh viện tâm thần Biên Hóa
Năm: 1998
11. Trần Viết Nghị và cộng sự (2001). Bước đầu đánh giá sa sút trí tuệ ở người già tại một quần thể dân cư TP. Thái Nguyên với sự áp dụng test sàng lọc MMSE. Nội san Hội Tân thần học. 5pp. 40-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu đánh giá sa sút trí tuệ ở người già tại một quần thể dân cư TP. Thái Nguyên với sự áp dụng test sàng lọc MMSE
Tác giả: Trần Viết Nghị và cộng sự
Năm: 2001
13. Ninh Thế Vũ (2019). Khảo sát kiến thức thái độ thực hành của người bán lẻ về thuốc Generic. Khóa luận tốt nghiệp dược sĩ, Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Khảo sát kiến thức thái độ thực hành của người bán lẻ về thuốc Generic
Tác giả: Ninh Thế Vũ
Năm: 2019
16. Lê Văn Tuấn. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) ở người cao tuổi Hà Nội. Đề tài nghiên cứu cấp thành phố Hà Nội. 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) ở người cao tuổi Hà Nội
Tác giả: Lê Văn Tuấn
Năm: 2010
17. Phạm Thắng. Lương Chí Thành. Nghiên cứu dịch tễ về sa sút trí tuệ ở người cao tuổi tại cộng đồng. Y học Thực Hành 715 7 53-55. 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu dịch tễ về sa sút trí tuệ ở người cao tuổi tại cộng đồng
Tác giả: Phạm Thắng, Lương Chí Thành
Nhà XB: Y học Thực Hành
Năm: 2010
18. Đặng Trần Ngọc Thanh. Kiến thức và thái độ của sinh viên điều dưỡng về sa sút trí tuệ người cao tuổi 2015-2016. Tạp Chí Học Thành Phố Hồ Chí Minh.2017;21(6):33-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức và thái độ của sinh viên điều dưỡng về sa sút trí tuệ người cao tuổi 2015-2016
Tác giả: Đặng Trần Ngọc Thanh
Nhà XB: Tạp Chí Học Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm: 2017
5. Phạm Thắng và cộng sự (2010). Hợp tác nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ của hội chứng sa sút trí tuệ ở người cao tuổi và đề xuất biện pháp can thiệp dự phòng. Báo Cáo Nghiệm Thu Đề Tài Cấp Nhà Nước Hà Nội Khác
6. Lê Văn Tuấn (2014). Đặc điểm dịch tễ học sa sút trí tuệ người cao tuổi tại 2 quận, huyện Hà Nội. Viện Vệ Sinh Dịch Tễ TW. Luận Án Tiến Sĩ Học Khác
12. Nguyễn Kim Việt. Nghiên cứu chẩn đoán bệnh Alzheimer. 2005. Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội Khác
14. Nguyễn Ngọc Hòa. Nghiên cứu tỷ lệ mắc và một số yếu tố liên quan đến SSTT ở người cao tuổi huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây 2005-2006. Hà Nội. 2006 15. Lê Quốc Nam, Trần Duy Tám. Khảo sát sơ bộ tỷ lệ sa sút tâm thần trongcộng đồng dân. Nghiên cứu khoa học tại Bệnh viện Tâm thần TP. Hồ Chí Minh. 2007 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm